Đề Xuất 12/2022 # Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “Liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới / 2023 # Top 14 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “Liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “Liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

 NGUYỄN THANH THỦY- Trường THPT Nguyễn Trường Tộ, HuếNGUYỄN MINH HẢI- Học viên Cao học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế ĐẶNG THỊ THUẬN AN- Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

1. MỞ ĐẦU

Liên kết hóa học là phần tương đối khó và hay trong chương trình môn hóa học ở trung học phổ thông, học sinh được nghiên cứu về quy tắc octet, ion,  sự hình thành các loại liên kết, đặc biệt là ứng dụng của chúng vào thực tiễn.

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ đến phương pháp giáo dục và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học.

2.2. Các yêu cầu đối với đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh

– Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất chủ yếu, giúp học sinh linh hoạt, độc lập, sáng tạo phát triển tư duy.

– Lựa chọn linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù bộ môn để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

– Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp…

– Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học bộ môn. Sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu phù hợp với nội dung học tập và đối tượng học sinh. Tích cực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học [5].

2.3. Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

– Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết, không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn.

– Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,… Cần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen,… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh.

– Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều

– Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.

2.4. Cơ sở xây dựng nội dung dạy học

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

Công văn số 791/HD-BGDĐT ngày 25 tháng 06 năm 2013 hướng dẫn triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông cho phép xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục, kế hoạch giáo dục định hướng phát triển NL HS, tăng cường năng lực thực hành, vận dụng kiến thức, giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật… do nhà trường phổ thông ban hành.

Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học, trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.

Công văn 3718/BGDĐT- GDTrH ngày 15 tháng 08 năm 2017 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học và tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

2.5. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

Bảng 1. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

2.6. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực trong  dạy học chương liên kết hóa học

2.6.1. Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Trước hết, giáo viên cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành thiết kế bài dạy lên lớp. Chẳng hạn như kỹ thuật mở bài hay hoạt động khởi động, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại,…. Cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn để tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề. 

Ví dụ minh họa: Hoạt động khởi động

2.6.2. Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Đây là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Hiện nay, học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn.

Ví dụ: Hoạt động tìm hiểu ion đơn nguyên tử, ion đa nguyên tử

1. Hoạt động cá nhân hoàn thành phiếu học tập. Hướng dẫn học sinh chốt kiến thức.

2.6.3. Vận dụng dạy học theo tình huống

Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập. Vận dụng dạy học theo tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống. 

2.8. Kết quả nhận xét, đánh giá của giáo viên THPT đối với bài “Liên kết ion”

Nội dung

Tỉ lệ %

Tốt

Khá

Trung bình

Không đạt

Về nội dung bài học

1. Thiết kế logic, đảm bảo được vai trò, vị trí của môn Hoá học trong giáo dục.

66,67

33,33

0

0

2. Đáp ứng được yêu cầu cần đạt của chương trình phổ thông mới.

88,89

11,11

0

0

3. Đảm bảo phát triển được các năng lực đặc thù của môn Hoá cho học sinh.

77,78

11,11

11,11

0

4. Có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm giúp học sinh dễ dàng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

88,89

11,11

0

0

5. Bài tập vận dụng phù hợp với kiến thức của học sinh, gắn liền với thực tiễn, mang bản chất hoá học.

66,67

22,22

11,11

0

6. Giáo viên dễ dàng đa dạng hoá các hình thức học tập, sử dụng công nghệ thông tin và thiết bị dạy học.

100

0

0

0

7. Có sự liên hệ với kiến thức liên môn Khoa học tự nhiên: Vật lí– Sinh học.

55,56

33,33

11,1

0

8. Thể hiện được yêu cầu phân hóa theo định hướng giáo dục nghề nghiệp.

66,67

11,11

22,22

0

9. Được tổ chức theo hướng khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo, phù hợp với quy luật nhận thức, thuận lợi cho việc tự học. 

88,89

11,11

0

0

10. Có lồng ghép các vấn đề mang tính quốc gia và toàn cầu như phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, biến đổi khí hậu…

77,78

11,11

11,11

0

Về hình thức trình bày

11. Cấu trúc bài học được thiết kế hợp lí, logic, kết hợp hài hoà giữa các phần: lí thuyết, thực nghiệm, bài tập.

100

0

0

0

12. Ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt phổ thông; văn phong trong sáng, dễ hiểu, phù hợp với học sinh.

100

0

0

0

13. Kênh chữ và hình chuyển tải được nội dung, tạo hứng thú cho học sinh và phù hợp với đặc trưng môn học.

88,89

11,11

0

0

14. Có sự cân đối, hài hòa giữa kênh chữ và kênh hình, giữa các thông tin và khoảng trống; hệ thống tín hiệu, biểu tượng, kiểu chữ.

77,78

22,22

0

0

15. Tranh, ảnh, bảng biểu, rõ ràng, chính xác, cập nhật, chỉ rõ nguồn dẫn.

88,89

11,11

0

0

3. KẾT LUẬN

Việc đổi mới phương pháp dạy học giúp giáo viên thực sự đóng vai trò là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập. Giáo viên phải có động lực đổi mới, nhiệt tình tâm huyết với nghề, tích cực học tập, trau dồi kiến thức chuyên môn và phương pháp dạy học, thành thạo ứng dụng công nghệ thông tin.

Qua kết quả thực nghiệm ở một số trường THPT, chúng tôi đã xác định yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất nội dung của chương, đó là căn cứ để  xây dựng kế hoạch dạy học, áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Đây là “bước đệm” để giáo viên và học sinh có thể dạy và học tốt chương trình mới, giúp học sinh biết cách phối hợp vận dụng kiến thức từ đó phát triển được năng lực, phẩm chất theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phạm Thị Kim Anh (2015), Chương trình đào tạo giáo viên ở Việt nam- Một số bất cập và định hướng phát triển, Hội thảo khoa học Quốc tế: “Phát triển chương trình đào tạo GV-Cơ hội và thách thức”. ĐHSP Thái Nguyên.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công văn 5555 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh trong nhà trường THPT môn Hóa học.

Vũ Thị Hiền và Trần Trung Ninh, (2016), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh số 6, Tạp chí Khoa học, p. 54-65.

Trần Kiểm (2017), Phát triển năng lực người học – xu thế dạy học hiện đại, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp.153-159.

Nguyễn Thị Sửu, Vũ Quốc Trung, Nguyễn Thị Phương Thúy, Lê Tùng (2015), Vận dụng dạy học dự án trong dạy học hóa học hữu cơ ở trường trung học cơ sở tỉnh Điện biên, HNUE, Tạp chí Khoa học, Vol.60, No.8, pp. 67-75.

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

Võ Thị Thiều (2017), Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp 483-488.

Đào Đình Thức (2010), Cấu tạo nguyên tử và Liên kết hóa học, Tập II, NXB Giáo dục Việt Nam.

Title: APPLY POSITIVE TEACHING METHODS IN TEACHING CHAPTER “CHEMICAL BOND” – CHEMISTRY GRADE 10 – NEW GENERAL EDUCATION CURRICULUM

Abstract: Positive teaching methods to develop competence for students are being concerned. From the aim of chapter “Chemical Bond”- Chemistry 10th grade – and based on the new general education curriculum, content and teaching plan to apply positive teaching methods were built. Experimental results shown effectiveness, possibility of content and methods were applied.

Keywords: Positive teaching methods, chemical bond. new general education.

Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “Liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới / 2023

1. MỞ ĐẦU

2.3. Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

Liên kết hóa học là phần tương đối khó và hay trong chương trình môn hóa học ở trung học phổ thông, học sinh được nghiên cứu về quy tắc octet, ion, sự hình thành các loại liên kết, đặc biệt là ứng dụng của chúng vào thực tiễn.

2.4. Cơ sở xây dựng nội dung dạy học

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ đến phương pháp giáo dục và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học.

– Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất chủ yếu, giúp học sinh linh hoạt, độc lập, sáng tạo phát triển tư duy.

– Lựa chọn linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù bộ môn để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

– Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp…

2.5. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

– Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học bộ môn. Sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu phù hợp với nội dung học tập và đối tượng học sinh. Tích cực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học [5].

– Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết, không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn.

– Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,… Cần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen,… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh.

– Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

Hoạt động tìm hiểu ion đơn nguyên tử, ion đa nguyên tử

Công văn số 791/HD-BGDĐT ngày 25 tháng 06 năm 2013 hướng dẫn triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông cho phép xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục, kế hoạch giáo dục định hướng phát triển NL HS, tăng cường năng lực thực hành, vận dụng kiến thức, giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật… do nhà trường phổ thông ban hành.

Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học, trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.

Công văn 3718/BGDĐT- GDTrH ngày 15 tháng 08 năm 2017 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học và tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

Bảng 1. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Trước hết, giáo viên cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành thiết kế bài dạy lên lớp. Chẳng hạn như kỹ thuật mở bài hay hoạt động khởi động, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại,…. Cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn để tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Đây là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Hiện nay, học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn.

1. Hoạt động cá nhân hoàn thành phiếu học tập. Hướng dẫn học sinh chốt kiến thức.

3. KẾT LUẬN

Việc đổi mới phương pháp dạy học giúp giáo viên thực sự đóng vai trò là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập. Giáo viên phải có động lực đổi mới, nhiệt tình tâm huyết với nghề, tích cực học tập, trau dồi kiến thức chuyên môn và phương pháp dạy học, thành thạo ứng dụng công nghệ thông tin.

Qua kết quả thực nghiệm ở một số trường THPT, chúng tôi đã xác định yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất nội dung của chương, đó là căn cứ để xây dựng kế hoạch dạy học, áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Đây là “bước đệm” để giáo viên và học sinh có thể dạy và học tốt chương trình mới, giúp học sinh biết cách phối hợp vận dụng kiến thức từ đó phát triển được năng lực, phẩm chất theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học.

Phạm Thị Kim Anh (2015), Chương trình đào tạo giáo viên ở Việt nam- Một số bất cập và định hướng phát triển, Hội thảo khoa học Quốc tế: “Phát triển chương trình đào tạo GV-Cơ hội và thách thức”. ĐHSP Thái Nguyên.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công văn 5555 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh trong nhà trường THPT môn Hóa học.

Trần Kiểm (2017), Phát triển năng lực người học – xu thế dạy học hiện đại, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp.153-159.

Nguyễn Thị Sửu, Vũ Quốc Trung, Nguyễn Thị Phương Thúy, Lê Tùng (2015), Vận dụng dạy học dự án trong dạy học hóa học hữu cơ ở trường trung học cơ sở tỉnh Điện biên, HNUE, Tạp chí Khoa học, Vol.60, No.8, pp. 67-75.

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

Võ Thị Thiều (2017), Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp 483-488.

Đào Đình Thức (2010), Cấu tạo nguyên tử và Liên kết hóa học, Tập II, NXB Giáo dục Việt Nam.

Title: APPLY POSITIVE TEACHING METHODS IN TEACHING CHAPTER “CHEMICAL BOND” – CHEMISTRY GRADE 10 – NEW GENERAL EDUCATION CURRICULUM

Abstract: Positive teaching methods to develop competence for students are being concerned. From the aim of chapter “Chemical Bond”- Chemistry 10 th grade – and based on the new general education curriculum, content and teaching plan to apply positive teaching methods were built. Experimental results shown effectiveness, possibility of content and methods were applied.

Keywords: Positive teaching methods, chemical bond. new general education.

Chương Trình Giáo Dục Stem: Bước Phát Triển Mới Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực / 2023

Cuối học kỳ 1 năm học 2018 – 2019, cô giáo Lưu Thị Oanh và học sinh lớp 10A5, Trường THPT Pác Khuông (Bình Gia) có một giờ học đặc biệt. Gọi là đặc biệt vì học sinh phải cùng nhau giải quyết yêu cầu của bài học là thực hiện dưới dạng bản vẽ và thực hành mô hình cây cầu Pác Khuông với tỷ lệ 1:150 bằng vật liệu đơn giản. Nó cũng đặc biệt bởi lẽ các em phải dùng kiến thức các môn khoa học, toán học, vật lý và công nghệ để giải quyết vấn đề.

STEM – mới nhưng không lạ

Chương trình giáo dục STEM đã manh nha từ cấp học mầm non với những bước cho trẻ quan sát, làm quen với tự nhiên, con người và cảnh vật. Cấp tiểu học và THCS được nâng lên một bước cao hơn bằng những buổi trải nghiệm sáng tạo, dạy học thực tế, đặc biệt là mô hình VNEN. Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột”, dạy kết hợp liên môn, học đi đôi với hành… ở những loại hình và phương pháp dạy học tích cực như trên, học sinh đã qua các bước nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy từu tượng đến thực tiễn.

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, vai trò của người thầy đã thay đổi: từ người cung cấp kiến thức cho học sinh trở thành người tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi, phát hiện thông qua nghiên cứu, thực hành. Cách học của học sinh cũng thay đổi: từ ghi ghép, học nhớ những kiến thức hàn lâm nay chuyển sang nghiên cứu, thực hành, vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết những vấn đề cụ thể. Chính vì vậy, phong trào nghiên cứu khoa học của học sinh cấp trung học đã nở rộ; nhiều dự án nghiên cứu khoa học đã đạt giải cấp tỉnh, cấp quốc gia xuất phát từ sự đam mê nghiên cứu và nắm vững kiến thức liên môn.

Chương trình STEM là bước phát triển cao của cách thức dạy và học tiên tiến; là sự tổng hợp của trải nghiệm sáng tạo, phương pháp ” bàn tay nặn bột” ở cấp trung học. Thay vì dạy từng môn tách biệt, STEM đã kết hợp một số môn khoa học tự nhiên và công nghệ lại thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế. Cách học STEM ngoài việc trang bị kiến thức cho học sinh còn rèn kỹ năng; rèn luyện con người có thể làm việc tức thì trong môi trường làm việc có tính sáng tạo cao.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, một mặt Sở Giáo dục và Đào tạo trình UBND tỉnh và triển khai đề án phát triển giáo dục STEM; mặt khác chỉ đạo tập huấn đội ngũ một cách chu đáo để các thầy cô áp dụng vào thực tiễn dạy học. Chương trình giáo dục STEM dựa trên nguyên lý “Học đi đôi với hành – giáo dục gắn với thực tiễn” rất phù hợp với công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Tin rằng trong một vài năm tới, STEM sẽ trở thành chương trình giảng dạy phổ biến tại các nhà trường trên địa bàn Lạng Sơn.

Những Điểm Mới Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Cấp Tiểu Học / 2023

14.01.2019 15:59

189540 đã xem

Bộ giáo dục và Đào  tạo ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 Chương trình tổng thể Chương trình giáo dục phổ thông mới, trong đó đối với cấp tiểu học bao gồm những điểm mới như sau:

I. Quan điểm xây dựng chương trình Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là: 1. Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.       2. Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình.       3. Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu của thực tế.       4.  So với chương trình TH2000 đang thực hiện, chương trình giáo dục phổ thông mới cấp tiểu học theo định hướng vừa hình thành kiến thức vừa phát triển năng lực, phẩm chất học sinh tiểu học, dạy học không chỉ cung cấp kiến thức mà phải phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực, chương trình GDPT mới 3 yếu tố này được hình thành và phát triển hài hòa trong một đứa trẻ và vững như ‘kiềng 3 chân”, nếu chỉ thiếu hay coi nhẹ 1 yếu tố thì sẽ không phát triển hài hòa đối với quá trình phát triển nhân cách, tư duy của học sinh tiểu học.        II. Mục tiêu của chương trình       Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.       III. Kế hoạch giáo dục       1. Các môn học        a) Các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lí (lớp 4, lớp 5); Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật); Hoạt động trải nghiệm.       b) Các môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 1 ( ở lớp 1, lớp 2).       Điểm mới rõ nhất lần đầu tiên ở tiểu học xuất hiện môn Hoạt động Trải nghiệm. Đó là trải nghiệm ở tiểu học và hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp ở bậc THCS, THPT. Nội dung cơ bản của chương trình này xoay quanh các mối quan hệ giữa cá nhân học sinh với bản thân, giữa học sinh với người khác, cộng đồng và xã hội; giữa học sinh với môi trường; học sinh với nghề nghiệp.       Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kỹ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động; năng lực thích ứng với sự biến động của nghề nghiệp và cuộc sống. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12.        Giáo dục thể chất góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh; đồng thời, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản lý sức khỏe và rèn luyện, giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hoá thể chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết thường xuyên tập luyện và phát triển năng khiếu thể thao phù hợp với bản thân; biết thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần.       Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục thể chất là Thể dục và Thể thao, rèn luyện kỹ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho học sinh bằng những bài tập thể chất đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản, đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động.       2. Thời lượng giáo dục       Chương trình Thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học, mỗi tiết học 35 phút, chương trình tiểu học mới dạy học thông qua các hoạt động, thời lượng dạy học từ 2,7 giờ/ngày của chương trình hiện nhành nay giảm xuống dạy học còn 1,8 giờ/ngày       Cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thực hiện kế hoạch giáo dục theo hướng dẫn của Bộ GDĐT.       IV. Định hướng về phương pháp và đánh giá kết quả       1. Định hướng về phương pháp giáo dục       Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển.        Các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của đồ dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số.       Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lý thuyết; thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng. Tùy theo mục tiêu cụ thể và mức độ phức tạp của hoạt động, học sinh được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học sinh đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế.       2. Định hướng về đánh giá kết quả giáo dục       Mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đạt chuẩn (yêu cầucần đạt) của chương trình và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, quản lý và phát triển chương trình, bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục.       Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình môn học. Phạm vi đánh giá bao gồm toàn bộ các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc. Đối tượng đánh giá là sản phẩm và quá trình học tập, rèn luyện của học sinh.       Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kỳ ở cơ sở giáo dục. Kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của học sinh trong từng năm học và trong cả quá trình học tập.       Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp.Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức.        Phương thức đánh giá bảo đảm độ tin cậy, khách quan, phù hợp với từng lứa tuổi, không gây áp lực lên học sinh, hạn chế tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình học sinh và xã hội.       V. Điều kiệm thực hiện chương trình       Trường phổ thông được đổi mới căn bản và toàn diện về tổ chức, hoạt động và cơ sở vật chất, đáp ứng đủ các điều kiện tối thiểu sau để thực hiện chương trình:       1. Tổ chức và quản lý nhà trường       a) Nhà trường có sứ mệnh phát triển nhân cách cho mỗi học sinh và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện thường xuyên thay đổi; là trung tâm văn hoá giáo dục của địa phương; được tự chủ về chuyên môn, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý giáo dục các cấp.       b) Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường theo quy định của Điều lệ trường tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.       c) Lớp học, số học sinh, điểm trường (nếu có) theo quy định của Điều lệ.       d) Quản lý dạy học và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông; quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và quản lý tài sản (tài chính, đất đai, cơ sở vật chất, tài sản phi vật thể) theo quy định.       2. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh       a) Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng được đánh giá hằng năm từ loại đạt yêu cầu trở lên theo quy định Chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học, được bồi dưỡng, tập huấn về lý luận chính trị, quản lý giáo dục và chương trình mới theo quy định.       b) Số lượng và cơ cấu giáo viên (kể cả giáo viên thỉnh giảng, nếu có) bảo đảm để dạy các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm theo chương trình mới; 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn hoặc trên chuẩn; xếp loại từ đạt yêu cầu trở lên theo quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học, giáo viên được đảm bảo các quyền theo quy định của Điều lệ trường phổ thông và của pháp luật; giáo viên được bồi dưỡng, tập huấn về dạy học theo chương trình mới.       3. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục       a) Diện tích khuôn viên và các yêu cầu về xanh, sạch, đẹp, thoáng mát bảo đảm quy định; có cổng, biển tên trường, tường hoặc hàng rào bao quanh theo quy định; có sân chơi, bãi tập, chỗ thực hành ngoài trời theo quy định.       b) Số lượng, quy cách, chất lượng và thiết bị của phòng học bảo đảm theo quy định tối thiểu của Điều lệ trường phổ thông; kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc của bàn ghế học sinh bảo đảm quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế; kích thước, màu sắc, cách treo bảng trong lớp học bảo đảm quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế.       c) Khối phòng học, khối phòng phục vụ học tập, khối hành chính quản trị đạt tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định.       d) Thư viện đạt tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; có các tủ sách lớp học, hoạt động của thư viện có tác dụng phát triển văn hoá đọc, khuyến khích và đáp ứng nhu cầu đọc, nghiên cứu, dạy học của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh; bổ sung sách, báo và tài liệu tham khảo hằng năm đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình mới.       đ) Thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ giảng dạy, học tập và việc sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp và tự làm một số đồ dùng dạy học của giáo viên bảo đảm quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; kiểm kê, sửa chữa, nâng cấp, bổ sung đồ dùng và thiết bị dạy học hằng năm đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình mới.       4. Xã hội hoá giáo dục       a) Quán triệt quan điểm phát triển giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm điều kiện thực hiện chương trình; thực hiện nghiêm túc các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông. Nhà trường chủ động tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền và phối hợp với các cá nhân, tổ chức đoàn thể ở địa phương để huy động đa dạng các nguồn lực tham gia các hoạt động giáo dục và hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất nhà trường, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn.       b) Phối hợp tốt giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường. Gia đình, cha mẹ học sinh được hướng dẫn phối hợp và tham gia giáo dục con em theo yêu cầu của lớp học, cấp học; Ban đại diện cha mẹ học sinh có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền, trách nhiệm và hoạt động theo Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh; nhà trường tạo điều kiện thuận lợi để Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động.       c) Phối hợp tốt giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Nhà trường chủ động tổ chức, hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động Đoàn – Đội – Hội, hoạt động xã hội, tích cực góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, qua đó thực hiện giáo dục học sinh trong thực tiễn đời sống.       5. Bồi dưỡng giáo viên phương pháp dạy học       Với cấu trúc của chương trình tiểu học mới là dạy học 2 buổi/ngày và để thực hiện có hiệu quả, trường tiểu học cần đảm bảo tốt cả 4 yếu tố như: Cơ sở vật chất trang thiết bị – phòng học; Chương trình, tài liệu dạy học; Công tác quản lý, quản trị trường học; Dội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, trong đó đội ngũ giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho thành công của chương trình.        Để chuẩn bị triển khai chương trình mới đạt hiệu quả, đội ngũ giáo viên tiểu học phải được bồi dưỡng cả về kiến thức và kĩ năng sư phạm, trong đó bồi dưỡng để mỗi giáo viên nắm vững cấu trúc chương trình lớp học, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trước khi thực hiện. Đây là kinh nghiệm quý báu từ việc thực hiện chương trình tiểu học 2000 đang dạy học từ những năm học trước, tập huấn triển khai cho giáo viên khi chưa nắm vững cấu trúc chương trình lớp học.       Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên, chú trọng nâng cao năng lực tổ chức hoạt động dạy học, trong đó bồi dưỡng kĩ năng sư phạm. Chương trình tiểu học năm 2000 hiện nay coi sách giáo khoa là Pháp lệnh và giáo viên áp dụng dạy học đồng loạt giống nhau với mọi đối tượng học sinh, qua 2 lần giảm tải và đang dạy học hiện nay vẫn còn bộc lộ các nội dung chưa hợp lý.       Chương trình tiểu học mới giao quyền chủ động cho nhà trường và giáo viên căn cứ tình hình thực tiễn tổ chức dạy học phù hợp đối tượng học sinh, do vậy giáo viên cần bồi dưỡng kĩ năng xây dựng lựa chọn nội dung chương trình dạy học, khuyến khích tinh thần sáng tạo của mỗi giáo viên, thực hiện tốt quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động chuyên môn, phát huy vai trò nòng cốt của các tổ khối chuyên môn để có nhiều hoạt động đóng góp cho việc thực hiện chương trình linh hoạt, chất lượng, hiệu quả.       Trên cơ sở chương trình, sách giáo khoa do Bộ GDĐT phát hành, giáo viên thiết kế Kế hoạch dạy học trên cơ sở đổi mới phương pháp dạy học kết hợp đổi mới đánh giá học sinh tiểu học là yếu tố rất quan trọng.        Giáo viên dạy học chương trình mới vừa cung cấp kiến thức vừa phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực, trong đó hình thành và phát triển các phẩm chất “chăm học, chăm làm, trách nhiệm, trung thực, kỷ luật”, các năng lực “hợp tác, tự quản, tự học và giải quyết vấn đề”. Để hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học, giáo viên phải thiết kế để cho học sinh vừa tham gia học vừa tự học để từ đó các em được hình thành các kĩ năng thông qua các hoạt động thực tiễn, trong đó tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các nội dung phù hợp để chính các em được tham gia, được tự hoàn thiện bản thân mình./.

Nguyễn Duy Hải – Trưởng phòng GDTH Sở GDĐT

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Trong Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông / 2023

Đổi mới phương pháp dạy học trong đổi mới giáo dục phổ thông

– Lượt xem: 12692

Đổi mới giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm. Đổi mới phương pháp dạy học trong đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực.

Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới – mà trước hết là chương trình tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo đăng tải lên mạng lần thứ hai – từ 16/4 đến 20/5/2017 – để tranh thủ sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà giáo và các tầng lớp nhân dân, trong đó có phụ huynh học sinh và học sinh) được xây dựng theo định hướng tiếp cận năng lực, phù hợp với xu thế phát triển chương trình của các nước tiên tiến, nhằm thực hiện yêu cầu của Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội: “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”. Đổi mới phương pháp dạy học là một giải pháp được xem là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện chương trình này.

Để phát triển nền giáo dục theo định hướng năng lực, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên Chương trình GDPT cho biết: Dự thảo Chương trình GDPT tổng thể đã thể hiện quan điểm trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp và dân chủ trên các bình diện mục tiêu: hình thành, phát triển năng lực thực tiễn cho người học, quán triệt yêu cầu hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sau trung học cơ sở và bảo đảm tiếp cận nghề nghiệp ở trung học phổ thông; trao quyền và trách nhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt động giáo dục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng động, tư duy độc lập và sáng tạo của người học.

Nguyễn Trọng Hoàn (Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

– + Đọc bài viết In bài viết Gửi bài viết

Bạn đang đọc nội dung bài viết Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “Liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!