Đề Xuất 2/2023 # Bài Học “Dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước ” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh # Top 3 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Bài Học “Dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước ” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài Học “Dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước ” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày đăng: 08/08/2014 02:51

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Ðại đoàn 308 tại Ðền thờ các Vua Hùng. Ảnh: internet

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã khẳng định một chân lý: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Ngay sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tại Ðền thờ các Vua Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần căn dặn cán bộ, chiến sĩ Ðại đoàn 308 trước khi về tiếp quản Thủ đô: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ðây là tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng của Bác với quân và dân ta.

Thực tiễn lịch sử cho thấy: thời đại nào gắn chặt dựng nước đi đôi với lo giữ nước, xây dựng đất nước theo quan điểm dân giàu, nước mạnh, quốc phú, binh cường, thì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ được giữ vững; thời đại nào không gắn chặt giữa dựng và giữ nước, không lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy, để nước nghèo, dân đói, xã hội lạc hậu, quốc phòng và an ninh không được củng cố, nội bộ mâu thuẫn, sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để kẻ thù tiến công.

Bài học kết hợp chặt chẽ dựng nước đi đôi với lo giữ nước trong lịch sử dân tộc được Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên một bước mới, thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược, kết hợp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được tiến hành trong cả hòa bình cũng như khi đất nước có chiến tranh. Ngay sau khi đất nước vừa giành được độc lập tháng 9-1945, Ðảng ta và Hồ Chủ Tịch đã kêu gọi toàn dân hăng hái lao động sản xuất, chăm lo xây dựng và củng cố quốc phòng. Do đó, đất nước đã nhanh chóng vượt qua nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử năm 1945, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương được củng cố, lực lượng vũ trang ngày càng trưởng thành. Tạo nền tảng quan trọng để quân và dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ đất nước. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Ðảng ta và Bác Hồ chủ trương: Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chặn đánh làm chậm tốc độ tiến công của kẻ thù ở phía Nam đất nước, vừa xây dựng tiềm lực và chuẩn bị hậu phương kháng chiến. Mục tiêu chiến lược của cách mạng lúc này là phải diệt cho được cả ba loại giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên CNXH và bước vào công cuộc đổi mới, phát triển; bài học dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc, cùng với những chỉ bảo sâu sắc của Bác, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN tiếp tục được Ðảng ta phát triển lên một tầm cao mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”. Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Ðảng ra Nghị quyết chuyên đề về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, tiếp tục khẳng định quan điểm kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Ðại hội XI, với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định 2 nhiệm vụ chiến lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tạo thành một thể thống nhất, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Bản chất của mối quan hệ này là sự gắn bó mật thiết giữa xây dựng và bảo vệ, trong xây dựng có bảo vệ, trong bảo vệ có xây dựng. Ðảng ta đặt lên hàng đầu “sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng, an ninh”, nhưng lại xác định “tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Ðảng, Nhà nước và toàn dân”. Trong định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Cương lĩnh chỉ rõ: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng an ninh. Phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, quốc phòng, an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và trên từng địa bàn”.

Trong những chặng đường phát triển của dân tộc, của cách mạng Việt Nam, chúng ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Ðặc biệt tình hình Biển Ðông nhiều năm qua và trong thời gian gần đây đang đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, an ninh của đất nước và của khu vực, thế giới.

Trước những diễn biến khó lường của tình hình Biển Ðông vừa qua, chúng ta càng thấy thấm thía hơn lời dạy của Người “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” vẫn vẹn nguyên tính thời sự nóng hổi về bài học dựng nước đi đôi với giữ nước, bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để giữ vững toàn vẹn non sông mà tiền nhân đã dày công gây dựng.

Theo: baothaibinh.com.vn

“Nghiên Cứu Bài Học “

Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” (NCBH) (tiếng Anh là Lesson Study hoặc Lesson Research) được chuyển từ nguyên nghĩa tiếng Nhật (jugyou kenkyuu) . Thuật ngữ NCBH có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 -1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh. Cho đến nay NCBH được xem như một mô hình và cách tiếp cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộng rãi tại các trường học ở Nhật Bản, hình thức này đã được áp dụng trên nhiều nước, bước đầu được áp dụng ở Việt Nam và đã chứng minh được tính khả thi của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên so với các phương pháp truyền thống khác. Điều đó cho thấy tính ưu việt và sức hấp dẫn to lớn của NCBH.

Trong bài báo này chúng tôi giới thiệu việc nghiên cứu, quy trình xây dựng và sử dụng NCBH cho giáo viên và sinh viên sư phạm (là giáo viên tương lai) và lợi ích to lớn mà NCBH mang lại.

2.1. Yêu cầu đối với giáo viên khi tham gia nghiên cứu bài học

Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, khác nhau về chuyên ngành thậm chí có thể khác trường. Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình thực hiện bài học, thông thường các nhóm NCBH là các giáo viên cùng trường và có cùng chuyên ngành. Trong quá trình tiến hành bài học nghiên cứu có thể có sự tham gia của các giáo viên khác ngoài nhóm hoặc có thể mời những học giả, những giáo sư tiến sĩ đến từ các trường Đại học, những chuyên viên của Bộ giáo dục, v.v… những người này sẽ đóng góp những ý kiến chuyên môn, quan sát bài học và đưa ra những ý kiến, nhận xét, góp ý để quá trình trở nên hiệu quả hơn.

Các giáo viên cùng nhau nghiên cứu, xây dựng mục tiêu học tập cho học sinh. Sự tham gia của các thành viên phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung giúp nhau hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tránh những biểu hiện tiêu cực như sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp của các giáo viên với nhau. Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học/ năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian.

2.2. Quá trình nghiên cứu bài học

NCBH để đánh giá hoặc cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi về thực tiễn dạy học. Giáo viên thực hiện NCBH thì thu thập được những nhận xét, kết quả cho việc sử dụng các phương pháp của mình đến sự tư duy của học sinh. Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH.

Stigler và Hiebert(1999) chia quá trình NCBH thành 7 bước cụ thể:

+Lập kế hoạch nghiên cứu bài học.

+ dạy học và quan sát các bài học nghiên cứu.

+ Đánh giá, nhận xét các bài học đã được dạy.

+ Chỉnh sửa các bài học dựa trên sự góp ý, bổ sung sau những gì thu thập được sau khi tiến hành bài học nghiên cứu lần 1.

+ Tiến hành dạy các bài học đã được chỉnh sửa.

+ Tiếp tục đánh giá, nhận xét kết quả lần 2.

+ Đưa vào ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.

Có tác giả lại chia quá trình NCBH thành 3 giai đoạn: (1) Đặt kế hoạch; (2) Thực hiện bài học nghiên cứu và (3) Các hoạt động sau khi thực hiện bài học (hay còn gọi là giai đoạn suy ngẫm, phản ánh, phê phán). Ở tất cả các bước đều có sự hợp tác của các giáo viên.

Lewis (2002) chia quá trình nghiên cứu bài học thành 4 bước:

+Tập trung vào bài học nghiên cứu.

+Đặt kế hoạch cho bài học nghiên cứu.

+Dạy và thảo luận về bài học nghiên cứu.

+Suy ngẫm và tiếp tục dạy hay đặt kế hoạch tiếp theo.

2.3. Phân biệt “nghiên cứu bài học” với cách bồi dưỡng, dự giờ giáo viên hiện nay

Như đã trình bày ở trên, NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, nhưng nó có sự khác biệt cơ bản với cách bồi dưỡng, dự giờ truyền thống ở chỗ:

Thứ ba, trong các lớp tập huấn, giáo viên là người tiếp nhận kiến thức mới (ở vị thế bị động), còn trong nghiên cứu bài học giáo viên giữ vai trò chủ động, là một người cải cách, một nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn của mình. Với phương pháp truyền thống giáo viên được tiếp xúc với cái mới thông qua các chuyên gia, hoàn toàn theo kiểu thầy truyền thụ trò lắng nghe. Trong khi ở NCBH, giáo viên là người mang cái mới vào dạy học, là nhà quan sát thực tế có thể tự đánh giá khả năng của mình thông qua việc quan sát trực tiếp lớp học.

Với các phương pháp dạy học truyền thống phẩm chất và năng lực của giáo viên luôn luôn là một vấn đề để đánh giá trong những buổi dự giờ, giáo viên luôn mang nặng tâm lí về xếp hạng và chủ yếu chú trọng tới bài giảng, giáo án của mình mà ít quan tâm xem học sinh học như thế nào. Hơn nữa, nếu có quan tâm đến học sinh thì đó là những học sinh nổi bật trong các lớp học. Trong khi đó đối với NCBH, thì sự quan sát hướng đến tất cả học sinh trong lớp không riêng gì các học sinh nổi bật, thậm chí là chú ý hơn tới những học sinh cá biệt trong lớp để xem cách học sinh học, cách học sinh tư duy, chứ phẩm chất hay năng lực của giáo viên không phải là vấn đề được đánh giá. Trong các phương pháp dự giờ truyền thống yếu tố phẩm chất nghề nghiệp của giáo viên luôn là một vấn đề được xem xét đánh giá cho nên có một số hạn chế trong việc nhận xét, góp ý của các giáo viên khác, nhất là đối với các giáo viên trẻ thì vấn đề nhận xét, đánh giá các giáo viên nhiều kinh nghiệm là điều cực kì khó khăn; còn với NCBH các giáo viên góp ý với tinh thần cùng giúp nhau hoàn thiện hơn chứ không phải để đánh giá giáo viên, do vậy sự góp ý là chân thành và mọi thành viên có thể tự do nói nên ý kiến của mình mà không sợ làm giảm tình đoàn kết giữa các đồng nghiệp.

Dự giờ bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống các giáo viên dự giờ chỉ chú ý đến giáo viên dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý tới học sinh. Theo mô hình NCBH trọng tâm quan sát giờ học là bài học và quá trình học của học sinh, giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.

Suy ngẫm về bài học: theo phương pháp dự giờ truyền thống có nhiều giáo viên có thái độ phê phán giáo viên dạy (như thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia, phải làm như thế này, không được làm như thế kia… ) hay ca ngợi rõ ràng nhưng không chi tiết. Theo mô hình NCBH các giáo viên hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học và nó là sản phẩm của cả nhóm, tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm về bài học cho dù nó thành công hay thất bại chứ không phải chỉ riêng giáo viên đứng lớp, và do đó sẽ không có thái độ phê phán cách dạy của giáo viên, vì cách dạy đó đã được cả nhóm thống nhất trong kế hoạch của bài học, nếu cách dạy đó chưa phù hợp, đó là khuyết điểm của cả nhóm và việc họ cần làm là cùng nhau khắc phục.

2.4. Ứng dụng “nghiên cứu bài học” trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên hóa học.

Áp dụng mô hình NCBH cho bộ môn Hóa học ở các trường phổ thong một cách thường xuyên như một biện pháp quan trọng để nâng cao nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên Hóa học.

Áp dụng NCBH trong dạy học hóa học trường sư phạm cho sinh viên là những giáo viên tương lai. Khi biết cách áp dụng NCBH vào quá trình dạy học của mình sẽ làm cho họ cảm thấy tự tin hơn, học hỏi được nhiều kinh nghiệm tốt từ các giáo viên có chuyên môn. Từ đó giúp họ dần nâng cao năng lực chuyên môn của mình. Có thể áp dụng mô hình NCBH cho sinh viên Hóa học ở môn thực hành thí nghiệm, các học phần lý thuyết và đặc biệt là thông qua các đợt thực tập sư phạm.

Các giáo viên tham gia nhóm NCBH cần thực hiện với một tinh thần bình đẳng, hợp tác, đoàn kết, tôn trọng, học hỏi lẫn nhau và theo đúng tinh thần trọng tâm của NCBH:

· Nhóm giáo viên hợp tác xây dựng giáo án.

· Tiết học minh hoạ là tiết học như bình thường hàng ngày.

· Phát giáo án của tiết học cho các giáo viên dự giờ.

· Giáo viên dự giờ quan sát từ phía trước để có thể thấy nét mặt của học sinh.

· Các giáo viên cần học cách quan sát: nhận ra học sinh gặp khó khăn (biểu hiện trên nét mặt), nhận ra học sinh cần được quan tâm, sai sót các em mắc phải, cách giải quyết vấn đề…

· Nêu lại những ấn tượng của mình khi quan sát học sinh đang học.

· Chỉ ra thực tế và có bằng chứng: chỉ chia sẻ thực tế bằng lời thì vẫn trừu tượng và khó, chia sẻ cần có bằng chứng và vì thế việc sử dụng máy quay video rất quan trọng.

· Không đánh giá cách dạy của giáo viên.

· Tiếp tục tiến hành: thời gian tối thiểu muốn thay đổi trường học ít nhất là một năm với ít nhất là 30 lần sinh hoạt chuyên môn.

Có thể ban đầu mô hình này cần thí điểm ở một số trường học để tìm ra mô hình ứng dụng hiệu quả nhất của “Nghiên cứu bài học” ở Việt Nam. Sau đó mới tiến hành áp dụng đại trà ở các môn học, các trường trung học, các cấp học trong cả nước để cải tiến chất lượng dạy và học một cách bền vững.

2.5. Những lợi ích do nghiên cứu bài học mang lại

NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia.

Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn.

Thông qua NCBH, giáo viên cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học.

Trong các lớp học do giáo viên dạy một lớp học, giáo viên có thể không phát hiện ra khuyết điểm của mình, họ tự hài lòng với phương pháp giảng dạy của mình, dẫn đến họ dạy bài học đó theo đúng một cách trong nhiều năm và họ cảm thấy nhàm chán, đơn điệu, nhưng qua quá trình hợp tác NCBH họ được quan sát người khác dạy, được thấy cùng một nội dung đó nhưng ở người khác lại sử dụng một phương pháp khác, cách dạy khác do đó vốn kinh nghiệm của họ trở nên phong phú hơn, qua sự đóng góp của tập thể họ nhìn ra điểm yếu trong phương pháp, kĩ năng của mình, thông qua đó năng lực chuyên môn của họ được nâng cao và họ khám phá được nhiều điểm mới mẻ trong công việc. Họ tự tin hơn khi dạy bài học đó ở lớp của mình, phát triển khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn.

NCBH tạo cơ hội cho giáo viên xem xét việc dạy và học diễn ra trong thực tế một cách khách quan thông qua dữ liệu quan sát giờ học trực tiếp hoặc gián tiếp (qua dữ liệu quan sát của các giáo viên khác, băng ghi hình, ý kiến nhận xét… ). Khi đứng lớp có nhiều biểu hiện của học sinh mà giáo viên không bao quát hết được, nhưng khi ngồi ở dưới quan sát hay quan sát qua băng ghi hình buổi học, giáo viên sẽ bao quát được quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh, những gì các đồng nghiệp khác của họ quan sát được tiếp tục bổ sung vào sự quan sát của họ. Qua quá trình quan sát giáo viên thấy được tác động của phương pháp dạy học của mình tới học sinh, “nhìn thấy được ” quá trình học, suy nghĩ của học sinh và tránh áp đặt chủ quan cho học sinh. Qua những phản ứng của học sinh với bài học, giáo viên có thể tự nhận thấy mức độ hiệu quả của phương pháp mà mình đang sử dụng chứ không phải từ sự đánh giá của các giáo viên khác. Cũng qua những phản ứng đó mà giáo viên sẽ có những thay đổi về phương pháp giảng dạy cho phù hợp hơn với các lớp sau.

NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm. Việc hợp tác này thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên trong nhóm nghiên cứu và góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường. NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường. Sau khi NCBH các giáo viên sẽ viết báo cáo chia sẻ những kinh nghiệm họ thu được qua quá trình NCBH, đưa ra một kế hoạch bài học chi tiết để các nhóm giáo viên khác có thể tham khảo và phát triển nó vào thực tế việc dạy và học tại lớp mình, hoặc họ có thể thành lập một nhóm NCBH và dựa trên thành quả nghiên cứu của những người đi trước, tiếp tục nghiên cứu để phát triển bài học sâu hơn. Một khi kết quả của quá trình NCBH được chia sẻ, kết quả và những kinh nghiệm đó không còn bó hẹp ở phạm vi nhóm nghiên cứu nữa mà thông qua sách báo, internet, nó sẽ được các giáo viên ở những nơi khác biết đến và đóng góp tích cực vào việc sửa nội dung chương trình, cải tiến phương pháp giảng dạy, qua đó nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên và chất lượng học của học sinh. Điều này rất có ý nghĩa với các giáo viên trẻ chưa thực sự có nhiều kinh nghiệm trong việc dạy học.

Có lẽ, nên xem NCBH như một cái cầu kết nối giữa các giáo viên, xây dựng tình thân ái giữa họ. Nếu quá trình NCBH được tiến hành trong một trường nó sẽ giúp cải tiến chất lượng dạy học các bộ môn. Nếu nó được tiến hành trong một cụm trường, nó sẽ giúp các giáo viên của các trường khác nhau chia sẻ kinh nghiệm với nhau. Nếu nó được tiến hành trong phạm vi một khu vực, một quốc gia thì nó giúp cải tiến phương pháp dạy học, sửa nội dung sách giáo khoa, cấu trúc chương trình. Qua đó, NCBH giúp thu hẹp khoảng cách, chất lượng giáo dục giữa các trường, các vùng miền.

Ngoài ra NCBH còn là cái cầu kết nối các nội dung kiến thức, giữa các bộ môn để thu được sự hỗ trợ bổ sung tốt nhất giữa các bộ môn góp phần đào tạo toàn diện cho học sinh, giữa các cấp học để thu được chương trình đào tạo mạch lạc, thông suốt.

Một lợi ích nữa xuất phát từ tính linh hoạt, ưu việt của NCBH, đó là nó có thể thực hiện được ở mọi cấp học, mọi môn học từ các môn tự nhiên, xã hội,… cho tới các môn giáo dục thể chất, nó cũng không đòi hỏi một sự đầu tư khổng lồ mà chỉ cần một nhóm giáo viên sẵn sàng hợp tác cùng nhau.

Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việt của NCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác. NCBH xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của giáo viên. Thông qua NCBH giáo viên được hợp tác cùng nhau, làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch bài học hoàn chỉnh. Trong NCBH, các giáo viên được thẳng thắn trình bày ý kiến của mình về bài học trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau chứ không phải là để phê phán; được cùng nhau chia sẻ và học tập những kinh nghiệm tốt của nhau, không phân biệt người nhiều kinh nghiệm hay ít kinh nghiệm, giáo viên đứng lớp lâu năm hay giáo viên mới ra trường. Tất cả tập hợp trong một nhóm nghiên cứu khoa học cùng bổ sung và đóng góp cho nhau những thiếu sót, giải quyết những khó khăn trong quá trình giảng dạy với tinh thần bình đẳng, thân ái, hợp tác, đoàn kết, học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên đứng lớp cũng không phải lo lắng về sự chú ý của những giáo viên khác bởi sự quan sát trong nghiên cứu bài học là hướng vào các học sinh, cách học sinh phản ứng với bài học. Từ đó có thể khẳng định NCBH là một hình thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên đạt hiệu quả và hoàn toàn có thể áp dụng trong các nhà trường.

Bài Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học

Tiểu Luận Phương Pháp Dạy Tiếng Việt ở Tiểu Học, Tiểu Luận Phương Pháp 5s, Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Học Hiệu Quả, Tiểu Luận 2 Phương Pháp Giá Trị Thặng Dư, Tiểu Luận Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế, Tiểu Luận Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư, Bài Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Kinh Tế, Tiểu Luận Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng Tại Địa Phương/Đơn Vị, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong , Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Tiếng Pháp, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, Tiểu Luận Giáo Lý Ngũ Uẩn Trong Pháp Học Và Pháp Hành, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học, Phương Pháp Làm Bài Lý Luận Văn Học, Lý Luận Phương Pháp Dạy Học, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học (3 Tín Chỉ), Phương Pháp Luận, Phương Pháp Luận Sử Học, Phương Pháp Luận Là Gì, Bài Mẫu Luận Văn Lí Luận Và Phương Pháp Dạy Học Toán Lớp 10, Thuyết Trình Phương Pháp Dạy Học Hiệu Quả Cấp Tiểu Học, Đề Cương Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt ở Tiểu Học, Đề Tài Tìm Hiểu Phương Pháp Dạy Tiếng Việt Tiểu Học, Tìm Hiểu Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Tiểu Học, ý Nghĩa Phương Pháp Luận, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý, Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Bài Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Phuong Phap Luận Tư Vấn Giám Sát, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Là Gì, Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Phương Pháp Luận Khoa Học Là Gì, Phương Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán ở Tiểu Học, Phương Pháp Luận Siêu Hình, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Các Cặp Phạm Trù, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Toán Sơ Cấp, Các Phương Pháp Luận Trong Triết Học, Thế Giới Quan Và Phương Pháp Luận, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Môn Toán, Luận Văn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Toán, Bài Thu Hoạch Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Phương Pháp Luận Biện Chứng, Bài Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Vật Chất, Đề Tài Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Lý Luận Và Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì, Bài Mẫu Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Sản Xuất Vật Chất, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Chiến Tranh, Đề Cương Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Khóa Luận Tốt Nghiệp Phương Pháp Toán, Tham Luận Về Phương Pháp Bán Sách Ngoại Văn, Bài Thảo Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Chương Trình Đào Tạo Thạc Sĩ Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Thực Tiễn, Bài Thảo Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, 5 Tiêu Chuẩn Để Trẻ Sơ Sinh Được Chỉ Định áp Dụng Phương Pháp Kangaroo, Giáo Trình Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Tham Luận Về Phương Pháp Hỗ Trợ Sinh Viên 5 Tốt Sau Tuyên Dương, Luận án Về Phương Pháp Dạy Họ Theo Quan Điểm Giao Tiếp, Luận Văn Về Phương Pháp Dạy Tập Làm Văn Theo Quan Điểm Giao Tiếp, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vượng, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Luận Văn Về Phương Pháp Dạy Học Vần Theo Quan Điểm Giao Tiếp, Tiểu Luận Nợ Công ở Địa Phương, Khóa Luận Bằng Chứng Kiểm Toán Và Phương Pháp Thu Thập, Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vuọng, Bài Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Tịa Địa Phương, Tiểu Luận Về Chính Quyền Địa Phương, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Phải Vận Dụng Những Nguyên Tắc Phương Pháp Luận (quan Điểm) Nào Của Triết Học Mác-lênin?, Tiểu Luận Rủi Ro Pháp Lý, Tiểu Luận Tình Huống Tranh Chấp Đất Đai Tại Địa Phương, Tiểu Luận Pháp Luật, Tiểu Luận Di Chúc Hợp Pháp, Tiểu Luận Hiến Pháp, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Tiểu Luận Nhà Nước Pháp Quyền, Tieu Luận Môn Nhà Nước Và Pháp Luật, Tiểu Luận Pháp Luật Đại Cương,

Tiểu Luận Phương Pháp Dạy Tiếng Việt ở Tiểu Học, Tiểu Luận Phương Pháp 5s, Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Học Hiệu Quả, Tiểu Luận 2 Phương Pháp Giá Trị Thặng Dư, Tiểu Luận Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế, Tiểu Luận Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư, Bài Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Kinh Tế, Tiểu Luận Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng Tại Địa Phương/Đơn Vị, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong , Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Tiếng Pháp, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, Tiểu Luận Giáo Lý Ngũ Uẩn Trong Pháp Học Và Pháp Hành, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học, Phương Pháp Làm Bài Lý Luận Văn Học, Lý Luận Phương Pháp Dạy Học, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học (3 Tín Chỉ), Phương Pháp Luận, Phương Pháp Luận Sử Học, Phương Pháp Luận Là Gì, Bài Mẫu Luận Văn Lí Luận Và Phương Pháp Dạy Học Toán Lớp 10, Thuyết Trình Phương Pháp Dạy Học Hiệu Quả Cấp Tiểu Học, Đề Cương Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt ở Tiểu Học, Đề Tài Tìm Hiểu Phương Pháp Dạy Tiếng Việt Tiểu Học, Tìm Hiểu Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Tiểu Học, ý Nghĩa Phương Pháp Luận, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý, Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Bài Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Phuong Phap Luận Tư Vấn Giám Sát, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Là Gì, Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Phương Pháp Luận Khoa Học Là Gì, Phương Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán ở Tiểu Học, Phương Pháp Luận Siêu Hình,

Giải Bài Tập Sinh Học 10

Giải Bài Tập Sinh Học 10 – Bài 29: Cấu trúc của các loại virut giúp HS giải bài tập, cung cấp cho học sinh những hiểu biết khoa học về đặc điểm cấu tạo, mọi hoạt động sống của con người và các loại sinh vật trong tự nhiên:

Trả lời câu hỏi Sinh 10 Bài 29 trang 117: – Em hãy giải thích tại sao virut phân lập được không phải là chủng B?

– Em có đồng ý với ý kiến cho rằng virut là thể vô sinh?

– Theo em có thể nuôi virut trên môi trường nhân tạo như nuôi vi khuẩn không?

Lời giải:

– Virut phân lập được không phải là chủng B vì virut lai mang lõi axit nuclêic là vật chất di truyền của chủng A.

– Khi ra khỏi tế bào vật chủ, virut biểu hiện như một thể vô sinh vì chúng không thể tự nhân lên ở môi trường ngoài.

– So sánh sự khác biệt giữa virut và vi khuẩn:

Bài 1 (trang 118 sgk Sinh học 10): Hãy giải thích các thuật ngữ: capsit, capsôme, nuclêôcapsit và vỏ ngoài.

Lời giải:

– Capsit : là protein bao bọc bên ngoài để bảo vệ lõi axit nucleic.

– Capsôme: là tập hợp của các capsit bao bọc bên ngoài bảo vệ lõi axit nucleic.

– Nuclêôcapsit: Gồm phức hợp axit nuclêic và vỏ capsit.

– Vỏ ngoài: là vỏ bao bọc bên ngoài vỏ capsit. Được cấu tạo từ lớp lipit kép và prôtêin, trên bề mặt vỏ có gai glycôprôtêin có vai trò kháng nguyên và giúp virut bám vào tế bào chủ.

Bài 2 (trang 118 sgk Sinh học 10): Nêu ba đặc điểm cơ bản của virut.

Lời giải:

Virut gồm 3 tính chất cơ bản sau:

– Có kích thước siêu nhỏ, chỉ quan sát được chúng dưới kính hiển vi điện tử.

– Kí sinh nội bào bắt buộc.

– Virut có cấu tạo đơn giản gồm axit nuclêic bao quanh bởi vỏ prôtêin, chỉ chứa một loại axit nucleic ADN hoặc ARN.

Bài 3 (trang 118 sgk Sinh học 10): Dựa theo hình 29.3, nếu trộn axit nuclêic của chủng B với một nửa prôtêin của chủng A và một nửa prôtêin của chủng B thì chủng lai sẽ có dạng như thế nào? Nếu nhiễm chủng lai vào cây thuốc lá để gây bệnh, sau đó phân lập virut thì sẽ được chủng A hay chủng B. Từ đó, có thể rút ra kết luận gì?

Lời giải:

– Khi trộn axit nuclêic của chủng B với một nửa là prôtêin của chủng A và một nửa prôtêin của chủng B sẽ được virut lai mang axit nuclêic của chủng B và vỏ prôtêin vừa là của chủng A vừa là của chủng B (xen nhau).

– Sau khi nhiễm vào cây thuốc lá, virut nhân lên sẽ là chủng B. Bởi vì mọi tính trạng của virut đều do hệ gen của virut quyết định.

→ Kết luận : mọi tính trạng đặc trưng của mỗi chủng virut đều do bộ gen của chủng virut đó quy định.

Bài Học: Phương Pháp Thuyết Minh

Nội dung

I – TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH 1. Quan sát, học tập, tích luỹ tri thức để làm bài văn thuyết minh a) Đọc lại các văn bản thuyết minh vừa học (Cây dừa Bình Định, Tại sao lá cây có màu xanh lục, Huế, Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Con giun đất) và cho biết các văn bản ấy đã sử dụng các loại tri thức gì. b) Làm thế nào để có các tri thức ấy? Vai trò của quan sát, học tập, tích luỹ ở đây như thế nào? c) Bằng tưởng tượng, suy luận có thể có tri thức để làm bài văn thuyết minh được không? 2. Phương pháp thuyết minh Để nêu bật đặc điểm bản chất, tiêu biểu của sự vật, hiện tượng, người ta thường sử dụng các phương pháp thuyết minh sau: a) Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích Đọc các câu sau và trả lời câu hỏi: – Huế là một trong những trung tâm văn hoá, nghệ thuật lớn của Việt Nam. (Huế) – Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức tri châu Bảo Lạc (Cao Bằng). (Khởi nghĩa Nông Văn Vân) Câu hỏi: Trong các câu văn trên, ta thường gặp từ gì? Sau từ ấy, người ta cung cấp một kiến thức như thế nào? Hãy nêu vai trò đặc điểm của loại câu văn định nghĩa, giải thích trong văn bản thuyết minh. b) Phương pháp liệt kê

Đọc các câu, đoạn văn sau và cho biết phương pháp liệt kê có tác dụng như thế nào đối với việc trình bày tính chất của sự vật: – Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm,… (Cây dừa Bình Định) – Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải. (Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000) c) Phương pháp nêu ví dụ Chỉ ra ví dụ trong động vật sau và nêu tác dụng của nó đối với việc trình bày cách xử phạt những người hút thuốc lá ở nơi công cộng. Ngày nay, đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổ lên chiến dịch chống thuốc lá. Người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm(10) (ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạt 500 đô la). (Ôn dịch, thuốc lá) d) Phương pháp dùng số liệu (con số) Đoạn văn sau cung cấp những số liệu nào? Nếu không có số liệu, có thể làm sáng tỏ được vai trò của cỏ trong thành phố không? Các nhà khoa học cho biết trong không khí, dưỡng khí chỉ chiếm 20% thể tích, thán khí chiếm (3)%. Nếu không có bổ sung thì trong vòng 500 năm con người và động vật sẽ dùng hết số dưỡng khí ấy, đồng thời số thán khí không ngừng gia tăng. Vậy vì sao đến nay dưỡng khí vẫn còn? Đó là nhờ thực vật. Thực vật khi quang hợp hút thán khí và nhả ra dưỡng khí. Một héc-ta cỏ mỗi ngày có khả năng hấp thụ 900kg thán khí và nhả ra 600kg dưỡng khí. Vì thế, trồng cây xanh và thảm cỏ trong thành phố có ý nghĩa cực kì to lớn.

(Nói về cỏ) e) Phương pháp so sánh Đọc câu văn sau và cho biết tác dụng của phương pháp so sánh: Biển Thái Bình Dương chiếm một diện tích lớn gần bằng ba đại dương khác cộng lại và lớn gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương là đại dương bé nhất. g) Phương pháp phân loại, phân tích Đối với những loại sự vật đa dạng, người ta chia ra từng loại để trình bày. Đối với sự vật có nhiều bộ phân cấu tạo, có nhiều mặt, người ta chia ra từng bộ phận, từng mặt để thuyết minh. Hãy cho biết bài Huế đã trình bày các đặc điểm của thành phố Huế theo những mặt nào. Ghi nhớ – Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm bắt được bản chất, đặc trưng của chúng, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng. – Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại,… II – LUYỆN TẬP 1. Tác giả bài Ôn dịch, thuốc lá đã nghiên cứu, tìm hiểu rất nhiều để nêu lên yêu cầu chống nạn hút thuốc lá. Em hãy chỉ ra phạm vi tìm hiểu vấn đề thể hiện trong bài viết. 2. Bài viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào để nêu bật tác hại của việc hút thuốc lá? 3. Đọc văn bản thuyết minh sau và trả lời câu hỏi: thuyết minh đòi hỏi những kiến thức như thế nào? Văn bản này đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?

NGÃ BA ĐỒNG LỘC Ngã ba Đồng Lộc là giao điểm giữa hai đường tỉnh lộ số 8 và tỉnh lộ số 15 thuộc vùng đất đồi Hà Tĩnh. Trên một đoạn đường khoảng 20km mà có những 44 trọng điểm đánh phá của giặc Mĩ và đã phải chịu đựng hơn 2.057 trận bom. Ở đây có một tập thể kiên cường gồm 10 cô gái tuổi đời từ 17 đến 20 làm nhiệm vụ san lấp hố bom, làm đường, đào hầm trú ẩn, bảo đảm an toàn cho xe và người qua lại. Ngày 24 – 7 – 1968, sau 18 lần giặc Mĩ cho máy bay đánh phá ác liệt vào khu vực này, cả 10 chị em vẫn trụ lại kiên cường, bất khuất, giữ vững mạch đường đến hơi thở cuối cùng. Cũng trên mảnh đất anh hùng này đã sinh ra người anh hùng trẻ tuổi La Thị Tám, một cô gái đầy nhiệt tình cách mạng, gan dạ, mưu trí. Liên tục 116 ngày đêm làm nhiệm vụ, chị đã quan sát, đánh dấu những quả bom chưa nổ ở các trọng điểm địch đánh phá ác liệt. Ba lần bị bom nổ vùi lấp, chị vẫn kiên cường bám sát trận địa, đánh dấu đủ, rõ các hút bom, phục vụ đắc lực cho việc phá bom, đảm bảo giao thông thông suốt.

Ngày nay, Ngã ba Đồng Lộc trở thành một nơi tưởng niệm những tấm gương oanh liệt của các cô gái thanh niên xung phong trong thời kháng chiến chống Mĩ. (Báo Quân đội nhân dân, 1975)

4. Hãy cho biết cách phân loại sau đây của một bạn lớp trưởng đối với những bạn học yếu trong lớp có hợp lí không: “Lớp ta có nhiều bạn học chưa tốt. Trong đó có những bạn có điều kiện học tốt nhưng ham chơi, nên học yếu. Có những bạn học được nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thường bỏ học, đến chậm nên học yếu. Lại có những bạn vốn kiến thức cơ sở yếu từ lớp dưới, tiếp thu chậm, nên học yếu. Đối với ba nhóm học sinh đó, chúng ta nên có những biện pháp khác nhau để giúp đỡ họ.”

1. Quan sát, học tập, tích luỹ tri thức để làm bài văn thuyết minha) Đọc lại các văn bản thuyết minh vừa học (Cây dừa Bình Định, Tại sao lá cây có màu xanh lục, Huế, Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Con giun đất) và cho biết các văn bản ấy đã sử dụng các loại tri thức gì.b) Làm thế nào để có các tri thức ấy? Vai trò của quan sát, học tập, tích luỹ ở đây như thế nào?c) Bằng tưởng tượng, suy luận có thể có tri thức để làm bài văn thuyết minh được không?2. Phương pháp thuyết minhĐể nêu bật đặc điểm bản chất, tiêu biểu của sự vật, hiện tượng, người ta thường sử dụng các phương pháp thuyết minh sau:a) Phương pháp nêu định nghĩa, giải thíchĐọc các câu sau và trả lời câu hỏi:- Huế là một trong những trung tâm văn hoá, nghệ thuật lớn của Việt Nam.(Huế)- Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức tri châu Bảo Lạc (Cao Bằng).(Khởi nghĩa Nông Văn Vân)Câu hỏi:Trong các câu văn trên, ta thường gặp từ gì? Sau từ ấy, người ta cung cấp một kiến thức như thế nào? Hãy nêu vai trò đặc điểm của loại câu văn định nghĩa, giải thích trong văn bản thuyết minh.b) Phương pháp liệt kêĐọc các câu, đoạn văn sau và cho biết phương pháp liệt kê có tác dụng như thế nào đối với việc trình bày tính chất của sự vật:- Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm,…(Cây dừa Bình Định)- Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải.(Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000)c) Phương pháp nêu ví dụChỉ ra ví dụ trong động vật sau và nêu tác dụng của nó đối với việc trình bày cách xử phạt những người hút thuốc lá ở nơi công cộng.Ngày nay, đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổ lên chiến dịch chống thuốc lá. Người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm(10) (ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạt 500 đô la).(Ôn dịch, thuốc lá)d) Phương pháp dùng số liệu (con số)Đoạn văn sau cung cấp những số liệu nào? Nếu không có số liệu, có thể làm sáng tỏ được vai trò của cỏ trong thành phố không?Các nhà khoa học cho biết trong không khí, dưỡng khí chỉ chiếm 20% thể tích, thán khí chiếm (3)%. Nếu không có bổ sung thì trong vòng 500 năm con người và động vật sẽ dùng hết số dưỡng khí ấy, đồng thời số thán khí không ngừng gia tăng.Vậy vì sao đến nay dưỡng khí vẫn còn? Đó là nhờ thực vật. Thực vật khi quang hợp hút thán khí và nhả ra dưỡng khí. Một héc-ta cỏ mỗi ngày có khả năng hấp thụ 900kg thán khí và nhả ra 600kg dưỡng khí. Vì thế, trồng cây xanh và thảm cỏ trong thành phố có ý nghĩa cực kì to lớn.e) Phương pháp so sánhĐọc câu văn sau và cho biết tác dụng của phương pháp so sánh:Biển Thái Bình Dương chiếm một diện tích lớn gần bằng ba đại dương khác cộng lại và lớn gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương là đại dương bé nhất.g) Phương pháp phân loại, phân tíchĐối với những loại sự vật đa dạng, người ta chia ra từng loại để trình bày. Đối với sự vật có nhiều bộ phân cấu tạo, có nhiều mặt, người ta chia ra từng bộ phận, từng mặt để thuyết minh.Hãy cho biết bài Huế đã trình bày các đặc điểm của thành phố Huế theo những mặt nào.- Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm bắt được bản chất, đặc trưng của chúng, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng.- Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại,…1. Tác giả bàiđã nghiên cứu, tìm hiểu rất nhiều để nêu lên yêu cầu chống nạn hút thuốc lá. Em hãy chỉ ra phạm vi tìm hiểu vấn đề thể hiện trong bài viết.2. Bài viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào để nêu bật tác hại của việc hút thuốc lá?3. Đọc văn bản thuyết minh sau và trả lời câu hỏi: thuyết minh đòi hỏi những kiến thức như thế nào? Văn bản này đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?4. Hãy cho biết cách phân loại sau đây của một bạn lớp trưởng đối với những bạn học yếu trong lớp có hợp lí không: “Lớp ta có nhiều bạn học chưa tốt. Trong đó có những bạn có điều kiện học tốt nhưng ham chơi, nên học yếu. Có những bạn học được nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thường bỏ học, đến chậm nên học yếu. Lại có những bạn vốn kiến thức cơ sở yếu từ lớp dưới, tiếp thu chậm, nên học yếu. Đối với ba nhóm học sinh đó, chúng ta nên có những biện pháp khác nhau để giúp đỡ họ.”

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài Học “Dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước ” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!