Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Bạch Hầu Ở Trẻ Em / 2023 # Top 19 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Bạch Hầu Ở Trẻ Em / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Bạch Hầu Ở Trẻ Em / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bệnh bạch hầu ở trẻ em

Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng – nhiễm độc cấp tính nặng có nguy cơ gây tử vong, lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp, gây tổn thương chủ yếu ở vòm hầu, họng, thanh quản, mũi, đôi khi ở da và các vùng niêm mạc khác… Đặc điểm nổi bật của bệnh là có những màng giả xuất hiện ở chỗ nhiễm khuẩn. Do bệnh có khả năng lây nhiễm cao nên những trường hợp mắc bệnh bạch hầu cần được cánh ly với mọi người và các thành viên trong gia đình. Hiệu quà bảo vệ của vaccin bạch hầu là 97% và giảm dần theo thời gian nên tiêm chủng nhắc lại từ 18 tháng tuổi – 24 tháng tuổi.

Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng – nhiễm độc cấp tính nặng có nguy cơ gây tử vong, lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp, gây tổn thương chủ yếu ở vòm hầu, họng, thanh quản, mũi, đôi khi ở da và các vùng niêm mạc khác… Đặc điểm nổi bật của bệnh là có những màng giả xuất hiện ở chỗ nhiễm khuẩn. Do bệnh có khả năng lây nhiễm cao nên những trường hợp mắc bệnh bạch hầu cần được cánh ly với mọi người và các thành viên trong gia đình. Hiệu quà bảo vệ của vaccin bạch hầu là 97% và giảm dần theo thời gian nên tiêm chủng nhắc lại từ 18 tháng tuổi – 24 tháng tuổi.   Bệnh bạch hầu do trực khuẩn gram (+) có tên khoa học là Corynebacterium diphtheriae gây ra. Người là nguồn lây bệnh duy nhất. Bao gồm người bệnh và người mang trực khuẩn bạch hầu không triệu chứng. Đây là nguồn lây quan trọng nhất vì nguồn lây này có thể lây bệnh, kéo dài khoảng từ 2 – 3 tuần hoặc ngắn hơn. Trực khuẩn bạch hầu gây bệnh lây truyền trực tiếp qua việc tiếp xúc với chất tiết từ đường hô hấp (nói chuyện, hắt hơi, ho,…) hoặc lây truyền gián tiếp qua những đồ vật (đồ chơi, khăn lau,,…) dính chất bài tiết của người bị nhiễm khuẩn khoảng 2 – 3 tuần hoặc ngắn hơn. Trẻ dưới là đối tượng dễ mắc bệnh bạch hầu nhất là trẻ chưa có miễn dịch Nếu người mẹ đã có miễn dịch thì đứa con mới sinh ra của họ có được miễn dịch tương đối do mẹ truyền cho. Đây là miễn dịch thụ động và thường sẽ mất đi trước 6 tháng. Nguy cơ lây sẽ chấm dứt khoảng 24 – 48 giờ và tối đa là 4 ngày khi được điều trị kháng sinh. Khi trẻ nhiễm trực khuẩn bạch hầu, sau 2 – 5 ngày sẽ có triệu chứng. Triệu chứng nhẹ hay nặng sẽ tùy thuộc vào độ dầy của màng giả, theo tuổi và bệnh lý có sẵn.   Bệnh bạch hầu có các thể sau: Bạch hầu mũi: Giống cảm cúm, hay gặp ở trẻ nhỏ, thường giới hạn một bên mủi, dịch chảy ra kích thích tạo vết xước, loét, viêm đỏ vùng da cánh mũi, bờ môi trên, màng giả ở vách mũi (rất khó thấy). Triệu chứng toàn thân nhẹ. Bạch hầu họng (bạch hầu amiđan): Là thể hay gặp nhất, chiếm 1/2 –1/3 trường hợp. Khởi phát từ từ. Hầu hết trẻ nhập viện đã có triệu chứng kéo dài vài ngày trước. Trẻ sốt nhẹ, mệt mỏi và đau họng. Trẻ quấy khóc, da xanh, kém ăn, bỏ bú, buồn nôn, ói mửa, nuốt đau, mạch chậm. Điển hình nhất là giả màng màu xám trắng, thường nằm trên bề mặt amiđan, sau đó lan ra xung quanh tới lưỡi gà, vòm họng, hầu, mũi, thanh quản. Giả màng dính chặt vào các mô bên dưới, khi ta cố bóc tách sẽ gây chảy máu; khi bỏ vào nước không tan. Hai bên cổ trẻ phù nề làm cổ bạnh ra, hạch quanh cổ sưng nhẹ và đau, hơi thở có mùi hôi, viêm hạch và sưng cổ. Chỉ cần khám phát hiện được giả màng là phải điều trị bạch hầu ngay, không cần chờ kết quả xét nghiệm. Bạch hầu thanh quản: Thường thứ phát sau bệnh hầu họng, bệnh nhân sốt nhẹ, khàn tiếng (100%), ho khan, nói giọng khàn, nặng dần tới mức mất tiếng. Khó thở tăng dần, thở rít, lõm ngực, khi giả màng lan xuống khí quản kèm phù nề sẽ gây tắc nghẽn đường thở, trẻ vật vã, đổ mồ hôi, tím tái. Nếu không mở khí quản kịp thời, trẻ sẽ tử vong vì ngạt thở. Bạch hầu ác tính: Là thể bệnh trầm trọng nhất, biểu hiện ồ ạt hơn các bệnh khác. Bệnh nhân nhanh chóng bị nhiễm độc nặng với biểu hiện: sốt cao, mạch nhanh, huyết áp tụt, tím tái. Thường các giả màng lan nhanh từ amidan qua vòm hầu lên vùng sau mũi, đến tận hai lỗ mũi. Các hạch quanh cổ sưng to, phù nề, tạo ra vẻ “cổ bạnh” điển hình. Trẻ bị chảy máu miệng, mũi, da. Biến chứng trên xảy ra sớm chỉ sau vài ngày. Hơn một nửa trẻ bị bệnh bạch hầu ác tính tử vong mặc dù được điều trị. Ngoài những thể thường gặp trên, bệnh bạch hầu còn xuất hiện ở các cơ quan khác như mũi, da, lỗ tai, kết mạc, âm đạo; thường biểu hiện nhẹ, ít xảy ra tình trạng nhiễm độc.   Biến chứng: Bạch hầu là một bệnh nguy hiểm nên trẻ có thể tử vong do các biến chứng như viêm cơ tim, thần kinh và thận.   Phòng bệnh bạch hầu:

Các bà mẹ có con dưới 1 tuổi phải tiêm ngừa bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm màng não mũ do Hib, viêm gan B có trong các loại vaccin (Quivaxem, Pentaxim, Infarix)

Theo Chương trình Tiêm Chủng Mở Rộng Quốc gia:

2 tháng tuổi, 3 tháng  tuổi, 4 tháng tuổi (<1 tuổi): DPT – VGB – Hib

Nhắc lại từ 18 tháng tuổi – 24 tháng tuổi: DPT4  (có thể tiêm cho trẻ < 48 tháng tuổi)

Địa điểm tiêm chủng vaccin: Tại các cơ sở có tiêm chủng.  

Bệnh bạch hầu do trực khuẩn gram (+) có tên khoa học là Corynebacterium diphtheriae gây ra. Người là nguồn lây bệnh duy nhất. Bao gồm người bệnh và người mang trực khuẩn bạch hầu không triệu chứng. Đây là nguồn lây quan trọng nhất vì nguồn lây này có thể lây bệnh, kéo dài khoảng từ 2 – 3 tuần hoặc ngắn hơn.Trực khuẩn bạch hầu gây bệnh lây truyền trực tiếp qua việc tiếp xúc với chất tiết từ đường hô hấp (nói chuyện, hắt hơi, ho,…) hoặc lây truyền gián tiếp qua những đồ vật (đồ chơi, khăn lau,,…) dính chất bài tiết của người bị nhiễm khuẩn khoảng 2 – 3 tuần hoặc ngắn hơn.Trẻ dưới là đối tượng dễ mắc bệnh bạch hầu nhất là trẻ chưa có miễn dịchNếu người mẹ đã có miễn dịch thì đứa con mới sinh ra của họ có được miễn dịch tương đối do mẹ truyền cho. Đây là miễn dịch thụ động và thường sẽ mất đi trước 6 tháng.Nguy cơ lây sẽ chấm dứt khoảng 24 – 48 giờ và tối đa là 4 ngày khi được điều trị kháng chúng tôi trẻ nhiễm trực khuẩn bạch hầu, sau 2 – 5 ngày sẽ có triệu chứng. Triệu chứng nhẹ hay nặng sẽ tùy thuộc vào độ dầy của màng giả, theo tuổi và bệnh lý có sẵn.: Giống cảm cúm, hay gặp ở trẻ nhỏ, thường giới hạn một bên mủi, dịch chảy ra kích thích tạo vết xước, loét, viêm đỏ vùng da cánh mũi, bờ môi trên, màng giả ở vách mũi (rất khó thấy). Triệu chứng toàn thân nhẹ.Là thể hay gặp nhất, chiếm 1/2 –1/3 trường hợp. Khởi phát từ từ. Hầu hết trẻ nhập viện đã có triệu chứng kéo dài vài ngày trước. Trẻ sốt nhẹ, mệt mỏi và đau họng. Trẻ quấy khóc, da xanh, kém ăn, bỏ bú, buồn nôn, ói mửa, nuốt đau, mạch chậm. Điển hình nhất là giả màng màu xám trắng, thường nằm trên bề mặt amiđan, sau đó lan ra xung quanh tới lưỡi gà, vòm họng, hầu, mũi, thanh quản. Giả màng dính chặt vào các mô bên dưới, khi ta cố bóc tách sẽ gây chảy máu; khi bỏ vào nước không tan. Hai bên cổ trẻ phù nề làm cổ bạnh ra, hạch quanh cổ sưng nhẹ và đau, hơi thở có mùi hôi, viêm hạch và sưng cổ. Chỉ cần khám phát hiện được giả màng là phải điều trị bạch hầu ngay, không cần chờ kết quả xét nghiệm.: Thường thứ phát sau bệnh hầu họng, bệnh nhân sốt nhẹ, khàn tiếng (100%), ho khan, nói giọng khàn, nặng dần tới mức mất tiếng. Khó thở tăng dần, thở rít, lõm ngực, khi giả màng lan xuống khí quản kèm phù nề sẽ gây tắc nghẽn đường thở, trẻ vật vã, đổ mồ hôi, tím tái. Nếu không mở khí quản kịp thời, trẻ sẽ tử vong vì ngạt thở.: Là thể bệnh trầm trọng nhất, biểu hiện ồ ạt hơn các bệnh khác. Bệnh nhân nhanh chóng bị nhiễm độc nặng với biểu hiện: sốt cao, mạch nhanh, huyết áp tụt, tím tái. Thường các giả màng lan nhanh từ amidan qua vòm hầu lên vùng sau mũi, đến tận hai lỗ mũi. Các hạch quanh cổ sưng to, phù nề, tạo ra vẻ “cổ bạnh” điển hình. Trẻ bị chảy máu miệng, mũi, da. Biến chứng trên xảy ra sớm chỉ sau vài ngày. Hơn một nửa trẻ bị bệnh bạch hầu ác tính tử vong mặc dù được điều trị.Ngoài những thể thường gặp trên, bệnh bạch hầu còn xuất hiện ở các cơ quan khác như mũi, da, lỗ tai, kết mạc, âm đạo; thường biểu hiện nhẹ, ít xảy ra tình trạng nhiễm độc.Bạch hầu là một bệnh nguy hiểm nên trẻ có thể tử vong do các biến chứng như viêm cơ tim, thần kinh và thận.Tại các cơ sở có tiêm chủng.

Bệnh Bạch Hầu Ở Trẻ Em. / 2023

Bạch hầu là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, lây theo đường hô hấp, gây tổn thương chủ yếu ở vòm hầu, họng, thanh quản, mũi, đôi khi ở da và các vùng niêm mạc khác… Đặc điểm nổi bật của bệnh là có những màng giả xuất hiện ở chỗ nhiễm khuẩn.

Bạch hầu họng: Bệnh nhân sốt nhẹ, mệt mỏi và đau họng. Trẻ quấy khóc, da xanh, kém ăn, bỏ bú, buồn nôn, ói mửa, nuốt đau. Điển hình nhất là giả màng màu xám trắng, thường nằm trên bề mặt amiđan, sau đó lan ra xung quanh tới lưỡi gà, vòm họng, hầu, mũi, thanh quản. Giả màng dính chặt vào các mô bên dưới, khi ta cố bóc tách sẽ gây chảy máu; khi bỏ vào nước không tan. Hai bên cổ trẻ phù nề làm cổ bạnh ra, hạch quanh cổ sưng nhẹ và đau, hơi thở có mùi hôi, viêm hạch và sưng cổ. Chỉ cần khám phát hiện được giả màng là phải điều trị bạch hầu ngay.

Bạch hầu thanh quản: Thường thứ phát sau bệnh hầu họng, bệnh nhân sốt nhẹ, khàn tiếng (100%), ho khan, nói giọng khàn, nặng dần tới mức mất tiếng. Khó thở tăng dần, thở rít, lõm ngực, khi giả màng lan xuống khí quản kèm phù nề sẽ gây tắc nghẽn đường thở, trẻ vật vã, đổ mồ hôi, tím tái. Nếu không mở khí quản kịp thời, trẻ sẽ tử vong vì ngạt thở.

Bạch hầu ác tính: Là thể bệnh trầm trọng nhất, biểu hiện ồ ạt hơn các bệnh khác. Bệnh nhân nhanh chóng bị nhiễm độc nặng với biểu hiện: sốt cao, mạch nhanh, huyết áp tụt, tím tái. Thường các giả màng lan nhanh từ amidan qua vòm hầu lên vùng sau mũi, đến tận hai lỗ mũi. Các hạch quanh cổ sưng to, phù nề, tạo ra vẻ “cổ bạnh” điển hình. Bệnh nhân bị chảy máu miệng, mũi, da. Biến chứng trên xảy ra sớm chỉ sau vài ngày. Hơn một nửa bệnh nhân bị bệnh bạch hầu ác tính tử vong mặc dù được điều trị.

Ngoài những thể thường gặp trên, bệnh bạch hầu còn xuất hiện ở các cơ quan khác như mũi, da, lỗ tai, kết mạc, âm đạo; thường biểu hiện nhẹ, ít xảy ra tình trạng nhiễm độc.

Bạch hầu là một bệnh nguy hiểm nên bệnh nhân có thể tử vong do các biến chứng. Hai biến chứng nổi bật của bạch hầu là viêm cơ tim và viêm dây thần kinh; ít gặp hơn là hoại tử ống thận cấp gây suy thận, viêm phổi, viêm nội tâm mạc…

Bệnh bạch hầu có thể dự phòng hiệu quả bởi văccin ” 5 trong 1“. Hiện nay, văccin “5 trong 1 ” phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và viêm màng não mủ (Hib) sẽ được tiêm miễn phí cho trẻ dưới 1 tuổi theo lịch: trẻ 2 tháng tuổi tiêm mũi 1, 3 tháng tuổi tiêm mũi 2 và 4 tháng tuổi tiêm mũi 3. Do bệnh có khả năng lây nhiễm cao nên những trường hợp mắc bệnh bạch hầu cần được cánh ly với mọi người và các thành viên trong gia đình.

Tắm bé bằng Amibebe giúp tăng đề kháng, đẩy lùi bệnh bạch hầu

Thế Giới Mẹ Và Bé – Nơi bạn gửi trọn niềm tin! http://sausinh.com.vn Hotline: 090-666-5483/ 0909-97-91-94

Những Dấu Hiệu Của Bệnh Viêm Mũi Bạch Hầu Ở Trẻ Em / 2023

Bạn đã từng nghe qua chứng viêm mũi bạch hầu ở trẻ em hay chưa? Và dấu hiệu nhận biết bệnh lý này như thế nào?

Chứng viêm mũi bạch hầu là một trong những bệnh lý đường hô hấp hay gặp và khá nguy hiểm với trẻ em. Do đó cần phải trang bị kiến thức phòng ngừa và chữa trị căn bệnh này.

Triệu chứng viêm mũi bạch hầu

Đơn giản nhất, bạn phải hiểu rằng chính vi khuẩn bạch hầu là nguyên nhân gây ra chứng viêm mũi bạch hầu. Nó thường xảy ra ở những đối tượng trẻ em có sức đề kháng kém. Chưa kể là viêm mũi bạch hầu sẽ gây ra nhiều thương ở vùng mũi, họng và dễ lây lan thông qua đường hô hấp.

Dấu hiệu của chứng viêm mũi bạch hầu ở trẻ em:

Amidan và cuống họng trẻ xuất hiện những mảng xám trên bề mặt.

Trẻ thường hay nóng lạnh, sốt và ho đờm.

Triệu chứng bên ngoài có thể nhìn thấy bằng mắt thường là sưng cổ họng. Nguyên nhân là do vi khuẩn tấn công và làm tổn thương niêm mạc họng.

Mũi trẻ chảy nước nhầy liên tục, khi nước mũi đặc lại gây ra tình trạng khó thở.

Đồng thời, tim trẻ đập mạnh và nhanh hơn. Nếu để tình trạng nặng có thể dẫn đến tử vong.

Trẻ biếng ăn, quấy khóc liên tục vì khó chịu.

Ngay khi phát hiện các triệu chứng này thì phải đưa trẻ đến bệnh viện để kiểm tra. Nếu để kéo dài lâu thì dễ dẫn đến biến chứng sang thần kinh và tim mạch.

Phòng ngừa bệnh viêm mũi bạch hầu ở trẻ em

Vì tính chất dễ biến chứng nên cần thiết phải phòng ngừa bệnh viêm mũi bạch hầu ở trẻ em.

Tốt nhất là bậc phụ huynh nên cho trẻ tiêm vắc xin đầy đủ và đúng thời điểm. Đây là cách chủ động và hiệu quả nhất để phòng ngừa bệnh.

Tập cho trẻ thói quen rửa tay bằng xà phồng và thường xuyên vệ sinh cá nhân.

Đeo khẩu trang mỗi khi ra ngoài hoặc tiếp xúc với môi trường khói bụi.

Đồng thời bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ để tăng sức đề kháng và nhanh hồi phục khi đau ốm.

Chăm Sóc Trẻ Bệnh Bạch Hầu / 2023

Bạn biết gì về bệnh bạch hầu Là một bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do trực khuẩn bạch hầu Corynebacterium diphtheria và dễ lây lan qua đường hô hấp hoặc gián tiếp tiếp xúc với vi khuẩn. Với các triệu chứng ban đầu như viêm thanh quản, nổi hạch dưới hàm, bệnh có thể biến chứng thành viêm phổi, suy tim, dẫn đến tử vong trong vòng 6-10 ngày.

Vi khuẩn bạch hầu lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp nên tốc độ lây lan rất nhanh, có thể xâm nhập qua da tổn thương gây bạch hầu da. Sau khoảng 2 tuần nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân đã có thể lây nhiễm cho người khác.

Đối tượng dễ mắc bệnh bạch hầu? Bệnh bạch hầu thường xuất hiện trong những tháng lạnh ở vùng ôn đới. Bệnh có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch, nhất là trẻ dưới 15 tuổi chưa được gây miễn dịch đầy đủ dễ bị mắc bệnh.

Bệnh nhân mắc bạch hầu sau khi khỏi bệnh sẽ không bị mắc lại vì cơ thể được miễn dịch lâu dài.

Kháng thể miễn dịch của mẹ truyền sang con có tác dụng miễn dịch bảo vệ và thường sẽ hết tác dụng trước 6 tháng tuổi. (1)

Bệnh nhân có thể có dấu hiệu khó thở, khó nuốt. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày. Trường hợp bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn tiếng, khó thở, rối loạn nhịp tim, liệt.

Bạch hầu thanh quản là thể bệnh nặng ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng bị nhiễm ngoại độc tố

Bạch hầu tại chỗ là giả mạc và biểu hiện toàn thân là nhiễm độc thần kinh, làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên và thần kinh cảm giác và/hoặc viêm cơ tim. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày.

TRẦN HỒ TRUNG TÍN – PHÒNG ĐIỀU DƯỠNGBỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ

Triệu Chứng Của Bệnh Bạch Hầu / 2023

Triệu chứng của bệnh biểu hiện tùy theo từng thể bệnh.

1. Bạch hầu họng – mũi

Ở thời kỳ khởi phát, trẻ hơi sốt khoảng 38 độ C, quấy khóc, không chịu chơi, da xanh, kém ăn, bỏ bú, có thể ói mửa, nuốt đau, sổ mũi một bên, họng hơi đỏ.

Thời kỳ toàn phát, đặc điểm nổi bật ở thời kỳ này là sự lan tràn của giả mạc (có khi chỉ vài giờ, đôi khi tới vài ngày). Đầu tiên giả mạc ở một bên amiđan, rồi lan sang bên kia trùm lên nửa hoặc cả lưỡi gà và các cột của màn hầu. Giả mạc trắng hơi xám, dính chặt vào niêm mạc, nếu bóc ra sẽ chảy máu, hạch dưới hàm sưng. Bệnh nhân sốt nhẹ, sổ mũi một bên.

Nếu được điều trị kịp thời có hiệu quả, bệnh sẽ diễn biến lành tính, giả mạc sẽ hết sau 24-48 giờ, khỏi bệnh nhưng còn mang vi khuẩn tới vài tuần, có trường hợp tới 1 năm.

Những trường hợp không được điều trị kịp thời hoặc không hiệu quả, bệnh sẽ tiến triển nặng. Chỉ vài giờ sau khi xuất hiện giả mạc xuất hiện các dấu hiệu nhiễm độc nghiêm trọng. Lúc này giả mạc lan khắp họng, dày, màu xám đen, xuất huyết, nặng mùi, hạch hai bên cổ họng sưng to, đau, không di động làm cổ bạnh ra.

Ở một số bệnh nhân (10%) có chảy máu mũi, máu lợi. Bệnh nhân đau, khi nuốt và uống nước sộc ra mũi. Toàn thể trạng rất yếu, xanh nhợt, sốt 39-40 độ C, tím môi và tứ chi, mệt lả, nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, đầu chi lạnh, gan sưng to… Bệnh nhân tử vong sau 24-36 giờ, lâu nhất 1 tuần trong tình trạng xuất huyết và suy nhược.

2. Đối với thể bạch hầu thanh quản:

Thường là hậu quả do không được điều trị kịp thời (sau bạch hầu họng), lứa tuổi hay mắc là từ 2-5 tuổi. Bệnh diễn biến qua 3 giai đoạn.

– Giai đoạn khản tiếng: Bệnh nhân sốt nhẹ 38 độ C, toàn trạng không thấy thay đổi, trẻ chỉ hơi khản tiếng, có ho nên thường không được chú ý đến. Dần dần chuyển thành ho ông ổng, tiếng khàn và mất tiếng. Hội chứng ho khan và mất tiếng là một dấu hiệu quan trọng để tiến hành tiêm huyết thanh ngay, nếu không chỉ 1-2 ngày sau bệnh chuyển sang giai đoạn khó thở.

– Giai đoạn khó thở: Mới đầu thỉnh thoảng lại xuất hiện cơn khó thở với đặc điểm: khó thở chậm, có tiếng rít, khó thở khi thở vào, chỉ xuất hiện khó thở khi gắng sức (ăn, uống, ho, khóc…) và vào buổi tối hay ban đêm. Hay sau đó xuất hiện khó thở thanh quản liên tục do hẹp thanh quản (do thanh quản bị phù nề, xung huyết ở thanh quản và có co thắt các cơ ở họng). Tình trạng bệnh nhi rất nguy kịch, tiến dần tới giai đoạn ngạt. Lúc đầu cần phải mở khí quản ngay.

– Giai đoạn ngạt: Trẻ thỉu dần đi, không giãy giụa, trông như nằm ngủ nên dễ nhầm tưởng bệnh đã bớt. Khó thở thay đổi theo kiểu nhanh và nông, không có tiếng rít nữa, nhưng tím tái dần. Đôi khi mặt nhợt nhạt, môi tím, mạch nhỏ yếu, vã mồ hôi rồi chết. Thời gian bắt đầu bị bệnh đến chết khoảng 5-7 ngày (tỷ lệ tử vong cao khoảng 25-70%).

Theo chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Bạch Hầu Ở Trẻ Em / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!