Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Mủ Gan Ở Cá – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 18 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Mủ Gan Ở Cá – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Mủ Gan Ở Cá – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bệnh mủ gan được phát hiện lần đầu tiên năm 1998, chỉ xuất hiện trên cá da trơn, đặc biệt là cá tra, basa; tuy nhiên, hiện đang xảy ra trên tất cả các loại cá nuôi như: cá lóc, điêu hồng, cá rô, ếch… Đây là một bệnh xảy ra quanh năm, đặc biệt là mùa mưa, vào mùa lạnh, nhiệt độ thấp gây thiệt hại nghiêm trọng cho các hộ nuôi cá tra, basa ở ĐBSCL, tỷ lệ chết là cao có thể 100% đối với cá bột ương giống, từ 30 – 50% đối với cá thịt và đã làm giảm năng suất đáng kể trong các hệ thống nuôi.

Nguyên nhân

Bệnh mủ gan là do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra.

Đường lây truyền

 Vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh mủ gan xâm nhập vào cá từ môi trường nước qua da, qua mang cá và bằng đường thức ăn.

Triệu chứng

Cá bệnh bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước, bên ngoài thân cá bình thường hoặc xuất huyết, mổ ra bên trong gan, thận, tỳ tạng có nhiều đốm trắng (như đốm mủ). Đó là biểu hiện bệnh lý đặc trưng nhất của bệnh mủ gan. Ngoài ra, một số cá bệnh khác có màu sắc nhợt nhạt, số lượng cá chết hằng ngày khá cao và tỷ lệ tăng dần.

Bệnh tích

Đối với cá bệnh trên gan, thận, tỳ tạng xuất hiện nhiều đốm trắng tròn, đường kính khoảng 1 – 3 mm khắp bề mặt và cả bên trong cơ quan. Những đốm trắng này có chứa dịch hơi đặc. Khi cấy những đốm trắng này lên môi trường thạch sau 24 giờ thấy xuất hiện các khuẩn lạc rất ròng.

Khả năng lây lan

Tốc độ lây lan của bệnh gan thận mủ rất nhanh. Khi có mầm bệnh xâm nhập khoảng 3 – 4 ngày, toàn bộ cá trong ao đều bị nhiễm bệnh. Do đó, cần có biện pháp phòng bệnh tích cực. Xác cá chết phải chôn và xử lý vôi bột để hạn chế mầm bệnh lây lan. Không dùng cơ quan nội tạng, máu, mủ và các sản phẩm phụ của cá để chế biến làm thức ăn trở lại cho cá; bởi mầm bệnh sẽ tồn tại lâu trong môi trường nước và phát tán vi khuẩn gây bệnh sang khu vực nuôi cá khác gây thành đại dịch.

Phòng bệnh

Để chủ động phòng bệnh, ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập và lây lan vào hệ thống nuôi cá tra trong vùng, các hộ nuôi cá cần có ao lắng lọc trước khi bơm nước vào ao nuôi. Định kỳ 7 – 10 ngày xử lý nước ao nuôi để diệt vi khuẩn, virus gây bệnh trong ao bằng cách dùng vôi nông nghiệp CaCO3 liều lượng 2 – 3 kg/100 m2 tạt ao hoặc các loại thuốc sát trùng hiệu quả cao như BKC, Vime-Protex, Vime-paracide.

Trị bệnh

Đối với cá con

– 1lít Forfish + 1 lít Vime-Fenfish 2000 dùng cho 20 tấn cá liên tục trong 7 ngày.

– Cá 1 – 1,5 cm (25 – 80 con/kg): 2 lít thuốc hợp cộng/3 – 4 tấn thức ăn cho 5.000 – 1.600 thiên cá.

– Cá từ trên 1,5 – 2 cm (70 – 30 con/kg): 2 lít thuốc hợp cộng/2 – 3 tấn thức ăn dùng cho 1.400 – 600 thiên cá.

Cách trộn thuốc: Hòa tan 10 lít Vime-Fenfish 2000 với 20 lít nước rưới lên thức ăn, 15 phút sau  hòa 1 lít Forfish vào 20 lít nước này tưới đều lên thức ăn (Cần nhớ 1 bao thức ăn 40 kg cần 7 – 7.5 lít nước có pha thuốc).

– Khi dùng thuốc được 3 – 5 ngày, bổ sung thêm Sorpherol + Vitamin C Antistress 5 – 7 ngày để giúp cá mau hồi phục.

Đối với cá lớn

Cách trộn thuốc: Hòa tan 2 kg Amoxi concentrated với 20 lít nước rưới lên thức ăn, 15 phút sau  hòa 1 lít Forfish vào 20 lít nước này tưới đều lên thức ăn (Cần nhớ 1 bao thức ăn 40 kg cần 7 – 7.5 lít nước có pha thuốc).

Khi cá ăn mạnh trở lại, bổ sung thêm Sorpherol + Vitamin C Antistress hoặc Prozyme for export fish để giúp cá mau hồi phục.

Tuy việc điều trị bệnh gan thận mủ bằng kháng sinh mang lại hiệu quả cao nhưng theo kinh nghiệm của nhiều người nuôi cá, việc điều trị bệnh mủ gan trên cá tra tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc, nhất là bệnh cứ lặp lại sau 2 – 3 tuần điều trị. Do vậy, người nuôi cần chủ động phòng bệnh cho cá bằng cách tăng sức đề kháng, tăng dinh dưỡng bằng các sản phẩm Vitamin C Antistress, Prozyme, Vime-Glucan, Glusome 115…

Cơ Hội Làm Giàu Từ Artemia – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Nuôi Artemia ở Bạc Liêu Ảnh: Trần Thanh

Artemia là đối tượng thức ăn giàu chất dinh dưỡng cho các loài thủy sản, nhưng do giá thành khá cao cho nên thường được dùng làm thức ăn cho tôm sú giống giai đoạn từ ấu trùng đến post. Vài năm gần đây, nhiều hộ diêm dân áp dụng mô hình nuôi Artemia xen canh muối, mỗi ha lãi 80 – 100 triệu đồng.

Đặc điểm sinh học

Dinh dưỡng: Artemia là loài ăn lọc, không chọn lọc thức ăn, chúng ăn mùn bã hữu cơ các vi tảo cực nhỏ, vi khuẩn…

Sinh sản: Artemia thành thục sau khoảng 3 tuần nuôi, sinh sản theo hai phương thức: đẻ con và đẻ trứng. Điều kiện môi trường thuận lợi, trứng thụ tinh sẽ phát triển thành ấu trùng nằm trong dạ con, sau đó Artemia con sẽ được phóng thích ra môi trường nước bên ngoài. Nếu điều kiện môi trường xấu, trứng được thụ tinh và phôi chỉ phát triển đến giai đoạn phôi vị thì tạm ngừng lại (giai đoạn phôi ngủ), phôi này được bọc trong lớp vỏ dày và tạo thành trứng nghỉ (trứng bào xác), sau đó trứng sẽ được phóng thích ra bên ngoài môi trường nước khắc nghiệt. Ấu trùng Artemia vừa mới đẻ hay mới nở có kích thước 400 – 500 μm. Trong quá trình phát triển, Artemia trải qua 15 lần lột xác, sau mỗi lần thay đổi cả về hình dạng lẫn kích thước.

Artemia có thể sinh sản lần đầu sau 8 ngày phát triển, thường là sau 12 – 15 ngày. Trong điều kiện tốt Artemia sống được 6 tháng. Mỗi Artemia cái có thể đẻ 1.500 – 2.500 con/trứng bào xác.

Vai trò lớn

Artemia được sử dụng phổ biến trong nuôi trồng thủy sản. Ấu trùng Artemia mới nở là thức ăn tươi sống lý tưởng dùng trong ương nuôi ấu trùng tôm, cá. Artemia có giá trị dinh dưỡng rất cao, là thức ăn giàu đạm, chứa nhiều axit béo không no (HUFA), các vitamin, khoáng rất tốt cho giai đoạn sinh sản và tạo sắc tố. Vì vậy, chúng rất được ưa chuộng trong các trại sản xuất giống thủy sản và nuôi cá cảnh.

Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh, sử dụng Artemia làm thức ăn cho cá cảnh có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ sống và hàm lượng sắc tố (sự lên màu) của cá. Mặt khác, Artemia có thể được dùng “làm vật nhồi sinh học”. Có nghĩa là người nuôi đưa vào cơ thể vật nuôi các chất dinh dưỡng, thuốc hay các hoạt chất mong muốn, bằng cách đưa chúng vào cơ thể Artemia (ngâm hoặc cho ăn), sau đó cho vật nuôi (tôm, cá) ăn Artemia đã được qua xử lý.

Nhu cầu cao

Artemia là loài bào xác nhỏ bé du nhập vào Việt Nam năm 1986 được thuần hóa và đưa vào sản xuất thương mại năm 1990. Nước ta hiện có tổng diện tích nuôi tôm nước lợ 600.000 – 700.000 ha (Khu vực ĐBSCL chiếm trên 80%). Nhu cầu con giống mỗi năm cần 130 tỷ con với 1.240 doanh nghiệp, cơ sở ươm nuôi, cung ứng tôm giống, nhu cầu về trứng Artemia rất lớn. Hiện, Artemia sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu, mỗi năm các doanh nghiệp phải nhập tới 160 tấn trứng Artemia cho sản xuất tôm giống. Trứng Artemia của Việt Nam chỉ tiêu thụ phần nhỏ trong nước, chủ yếu được xuất sang các nước Mỹ, Nhật, Nga, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, EU…

Cho thu nhập tốt

Tại Việt Nam, nuôi Artemia không phải là mô hình mới mà đã được một số nông dân Bạc Liêu áp dụng từ năm 2000. Trên thực tế, mô hình nuôi Artemia đã cứu cánh cho nhiều hộ nuôi tôm bị thất bại và phát huy có hiệu quả các lợi thế vốn có, nhất là các cánh đồng sản xuất muối.

Hiện, cả nước mới chỉ có 2 tỉnh ở khu vực ĐBSCL sản xuất Artemia là Bạc Liêu và Sóc Trăng. Sóc Trăng có 570 ha nuôi Artemia theo mô hình hợp tác xã khép kín ở thị xã Vĩnh Châu. Trong đó, 3 hợp tác xã chuyên sản xuất, 1 hợp tác xã đảm nhận kỹ thuật và làm dịch vụ cung ứng giống, vật tư, bao tiêu sản phẩm.

Còn tại Bạc Liêu, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch nuôi Artemia trên địa bản tỉnh giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, phấn đấu diện tích nuôi Artemia tăng từ 350 ha lên 500 ha, năng suất trung bình từ 72,5 kg/ha tăng lên 100 kg/ha (tăng 38%). Từ đó, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh về giá, chất lượng, tận dụng một cách có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế sẳn có để tạo điều kiện phát triển nuôi Artemia ngày càng đem lại hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao thu nhập cho người dân. Dự kiến nguồn kinh phí cho thực hiện Kế hoạch giai đoạn 2016 – 2020 là hơn 17,5 tỷ đồng.

Artemia đang được xem là đối tượng thích hợp để thay thế những vùng sản xuất muối, khi mà suốt 30 năm nay, muối cứ rớt giá thê thảm. Mỗi ha nuôi Artemia cho sản lượng 100 – 150 kg/vụ. Trứng Artemia có thể sấy khô, đóng hộp rồi tiêu thụ. Giá trứng tươi tại ruộng 1,2 – 1,5 triệu đồng/kg, trứng khô giá 4,5 – 5,5 triệu đồng/kg. Hơn nữa, hiện nay mức thuế nhập khẩu trứng Artemia là 3% (thay vì 0% như trước đây), điều này gây không ít khó khăn cho một số doanh nghiệp. Trước tình hình đó, cần có biện pháp nhằm khai thác tiềm năng sẵn có để phát triển mô hình Artemia rộng rãi, vừa mang lại lợi ích cho người dân và đảm bảo nguồn cung cho cả nước.

Box: chúng tôi Nguyễn Văn Hòa, Đại học Cần Thơ: Trên thế giới rất ít nước nuôi được Artemia và độ đạm của trứng Artemia không cao bằng Việt Nam. Trứng Artemia Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Bạc Liêu được khách hàng quốc tế đánh giá có chất lượng cao nhất thế giới, nên giá bán khá cao (trên 250 USD/kg trứng sấy khô), cao hơn 150 USD/kg so trứng của các nước khác.

Kỹ Thuật Ấp Artemia Làm Thức Ăn Cho Ấu Trùng Tôm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Chọn lựa loại Artemia

Trên thị trường hiện tại có rất nhiều loại Artemia (trứng bào xác) với chất lượng khác biệt, để chọn được loại tốt, có thể dựa vào yếu tố kích thước của ấu trùng khi nở. Artemia có kích thước khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc, có thể thay đổi trong khoảng 0,43 – 0,52 mm. Ấu trùng tôm ở giai đoạn Mysis chỉ có thể tiêu hóa được những mồi nhỏ hơn 0,45 mm. Để biết được kích thước ta dùng kính hiển vi đo ít nhất 30 con ấu trùng Artemia rồi lấy giá trị trung bình.

Đặc điểm dinh dưỡng rất quan trọng với Artemia, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng tôm. Hàm lượng (EPA) này thay đổi theo dòng Artemia và điều kiện sống ở nơi sản xuất. Tuy nhiên, Artemia tốt là loại khi nở ra có màu vàng cam đặc trưng, nở khá đồng đều, tỷ lệ nở trên 80%.

Điều kiện

Sau khi ấp trứng 1 – 2 giờ, trứng sẽ hút nước. Sau 12 – 15 giờ vỏ trứng vỡ ra, xuất hiện tiền ấu trùng nằm trong màng nở. Ấu trùng sẽ bơi tự do trong nước.

Nhiệt độ thích hợp để ấp trứng Artemia là 28 – 300C. Dưới 250C trứng chậm nở. Trên 350C trứng ngừng trao đổi chất. Tốt nhất nên giữ nhiệt độ ổn định trong thời gian cho nở.

Nguồn nước để ấp nở Artemia có độ mặn thích hợp 15 – 35‰ sẽ cho tỷ lệ nở và hiệu suất cao hơn. Ấu trùng cũng chứa nhiều năng lượng hơn.

pH thích hợp trong khoảng 8 – 8,5. Nên bổ sung thêm NaHCO3 vào môi trường  để đảm bảo pH không dưới 8.

Hàm lượng ôxy hòa tan luôn đảm bảo trên 4 mg/l. Do đó cần điều chỉnh tốc độ sục khí cho thích hợp. Mật độ trứng ấp không nên quá 5 g/lít. Cường độ chiếu sáng trên mặt nước thích hợp nhất khoảng 2.000 lux.

Nuôi Artemia trong ruộng lúa – Ảnh: PTC

Quy trình

Bể  ấp có đáy hình chóp trong suốt hoặc mờ, thể tích 200 – 1.000 lít. Được trang bị đầy đủ hệ thống sục khí, đèn chiếu sáng, sàng lưới 125 Micro mét, xô, chậu ca… Hóa chất tẩy vỏ như nước Zaven hoặc Chlorine. Trước khi ấp nở cần tính toán lượng trứng bào xác cần thiết.

Khử trùng vỏ trứng: Khử trùng là biện pháp quan trọng làm giảm mầm bệnh (nấm, vi khuẩn) có thể lây lan cho ấu trùng tôm, làm tăng tỷ lệ nở của trứng bào xác. Để khử trùng trứng, trước tiên cần ngâm lượng trứng cần ấp trong nước ngọt khoảng 1 giờ để trứng hút nước. Sau đó ngâm lượng trứng cần ấp vào dung dịch thuốc tẩy Zaven với nồng độ 1 lon Artemia sử dụng 1 lít dung dịch nước Zaven 10% hoặc sử dụng Chlorine, nồng độ 200 ppm khoảng 20 – 30 phút hoặc khi quan sát trứng có màu vàng cam là được. Tiến hành rửa sạch lại nhiều lần bằng nước ngọt hoặc bằng nước biển và lọc lấy trứng bằng lưới 125 Micro mét. Trứng Artemia sau khi đã tẩy vỏ cho vào dung dịch Thiosuphat 0,05% trong 2 – 5 phút, rửa lại bằng nước sạch và sẵn sàng để cho nở ngay hoặc có thể bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh ở mức nhiệt 160C là phù hợp, thời gian bảo quản tối đa 3 ngày.

Cho trứng nở: Cho trứng đã khử trùng vào bể ấp hình chóp có nước biển đã lọc sạch độ mặn 15 – 30‰. Sục khí mạnh liên tục từ đáy bể. Điều chỉnh nhiệt độ ở mức 25 – 280C. Chiếu sáng liên tục bằng đèn neon. Thời gian ấp trứng 24 – 36 giờ. 15 phút trước khi thu hoạch, cho vào bể ấp 50 – 100 ppm formol.

Thu hoạch: Khi ấu trùng Artemia đã nở hoàn toàn (sau khi ấp 24 – 36 giờ). Che phần trên bể, ngừng sục khí, dùng đèn chiếu sáng phần chóp bể khoảng 3 – 5 phút. Mở nhỏ van ở đáy bể cho nước và ấu trùng chảy từ từ vào vợt (lưới 125 Micro mét), đóng van trước khi nước cạn. Hoặc có thể thu hoạch bằng cách tắt sục khí 15 phút rồi lấy ống nhựa mềm nhỏ, hút hết nước phần trên bể, chỉ để lại 5 – 10 cm nước ở đáy chóp của bể không thu.

Rửa sạch ấu trùng Artemia thu được trong vợt bằng nước biển đã lọc. Sử dụng trực tiếp ấu trùng Artemia làm thức ăn cho ấu trùng tôm ngay sau khi nở hoặc dùng dần trong khoảng 24 giờ sau khi trứng nở, tùy theo sự phù hợp kích cỡ từng giai đoạn ấu trùng tôm. Vì vậy, sau 24 giờ ấu trùng Artemia sẽ tiêu thụ hết khoảng 25 – 30% năng lượng dự trữ, làm giảm chất lượng dinh dưỡng. Có thể dự trữ lạnh ấu trùng Artemia ở nhiệt độ lạnh (100C) để dùng dần với mật độ 8.000.000 con/lít và có sục khí nhẹ.

Ngoài ra, để nâng cao hàm lượng dinh dưỡng của Artemia, nhiều trại sản xuất tôm giống còn làm giàu ấu trùng này bằng phương pháp bổ sung tảo tươi hoặc acid béo không no làm thức ăn cho ấu trùng Artemia sau khi nở 6 – 8 giờ. Trung bình cứ 1 lon trứng Artemia sau khi ấp nở cho ăn 1 lít tảo tươi. Còn acid béo không no cho ăn với khẩu phần theo hướng dẫn của từng nhà sản xuất. Ấu trùng Artemia được làm giàu khoảng 3 – 4 giờ trước khi cho tôm ăn.

Dấu Hiệu Bệnh Lý Gan Thận Mủ Trên Cá Tra / 2023

Dấu hiệu bệnh lý Gan Thận Mủ trên cá tra 1. Bệnh tích đại thể (Gross lesion) Gan, thận cá bệnh sưng rất to, thận có hiện tượng nhũn, tỳ tạng sưng ít hơn. Trên gan, thận, tỳ tạng xuất hiện nhiều đốm trắng tròn, đường kính khoảng 1- 3 mm khắp bề mặt và cả bên trong cơ quan. Những đốm trắng này có chứa dịch hơi đặc. Khi cấy những đốm trắng này lên môi trường thạch sau 24 giờ thấy xuất hiện các khuẩn lạc thuần nhất. Các đốm trắng này dễ nhầm lẫn với các đốm trắng do nhóm thích bào tử trùng gây ra. Tuy nhiên, đốm trắng do ký sinh trùng gây ra thường xuất hiện không nhiều, đa số chỉ xuất hiện trên tỳ tạng và không nổi rõ. Khi quan sát dưới kính hiển vi, nếu bên trong các đốm trắng có chứa dịch màu trắng như sữa thì đó hoàn toàn là bào tử trùng. Còn khi cá bị bệnh đốm trắng do vi khuẩn thì các đốm trắng nổi rất nhiều, lộ rõ trên bề mặt và xuất hiện trên cả ba cơ quan là gan, thận và tỳ tạng. 2. Bệnh tích vi thể a.) Gan Quan sát tiêu bản ở gan có đốm trắng dưới kính hiển vi cho thấy đây là vùng hoại tử. Các tế bào gan không còn sát nhau như ở mô thường mà tách rời ra từng tế bào hoặc thoái hoá thành một vùng không còn nhận ra được cấu trúc với nhiều mức độ. Giai đoạn đầu hiện tượng sung huyết động mạch và tĩnh mạch gan, đặc biệt là hệ thống xoang mao mạch giữa các dãy tế bào gan làm cho toàn bộ tổ chức gan bị sưng to. Sau đó, do quá trình sung huyết kéo dài dẫn đến vỡ mạch máu và giải thoát nhiều enzyme (protease, lipase,…) làm các tế bào ở vùng viêm bị hủy hoại dẫn đến hoại tử. Lúc này quan sát thấy những tế bào đã tách rời nhau, nhân tế bào co lại và vỡ vụn, cuối cùng những tế bào này bị tiêu hủy. Khi cá bệnh nặng, những tổn thương lan rộng làm gan không còn chức năng khử độc và lọc máu, làm chất độc tích tụ trong cơ thể kết hợp với những yếu tố khác làm cá chết. Ngoài ra, do tổ chức gan bị hư hại làm mất khả năng tiết mật của gan. Một số cá mới chết khi mổ ra thấy túi mật bị vỡ, dịch mật lan tràn khắp nội quan. Điều này có thể do khi gan bị hoại tử đồng thời cũng hoại tử ống dẫn mật và túi mật làm túi mật vỡ, dịch mật thoát ra ngoài (Thịnh, 2002). b.)Thận Cấu trúc vi thể của thận bị hủy hoại trầm trọng, các phản ứng sưng viêm xảy ra ở toàn bộ tổ chức. Thận sưng to đồng thời bị nhũn do sung huyết, một phần có thể do tích tụ nước trong thận mà không đào thải được do hệ thống tiểu cầu thận và ống thận bị hư hại. Phản ứng viêm kéo dài gây hoại tử và mất chức năng các đơn vị cấu tạo nên thận. Mô tạo máu nằm xen kẽ với các tế bào kẻ và các tế bào nội tiết của thận cũng bị hoại tử làm cho máu trong cơ thể bị giảm sút. Khi thận bị hoại tử, chức năng bài tiết chất thải trong quá trình trao đổi chất bị ngưng trệ. Trong khi đó quá trình trao đổi chất lại đặc biệt tăng mạnh do cơ thể cá huy động các tổ chức nhằm đào thải các tác nhân gây bệnh. Ngoài ra, hai loại hormone tuyến thượng thận là adrenalin và noradrenalin không được sản xuất khi thận bị hoại tử cũng góp phần làm rối loạn chức năng sinh lý của cá. c.) Tỳ tạng Cùng với gan và thận, tỳ tạng cũng là cơ quan bị hủy hoại nặng khi cá bị bệnh mủ gan. Những đốm trắng trên tỳ tạng là những vùng mô hoại tử, với nhiều mức độ khác nhau. Đối với cá bệnh nặng, nhiều vùng hoại tử dạng hạt lan rộng, phá hủy các các tiểu thể hình elip tròn xoay (là vùng chức năng của tỳ tạng, nơi tiêu huỷ các vật lạ và vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể). Khi tác nhân gây bệnh xâm nhập quá nhiều sẽ gây ra tình trạng quá tải đến một lúc nào đó tế bào sẽ mất chức năng và thoái hoá. Quá trình hoại tử ở tỳ tạng bắt đầu từ quá trình thoái hoá và hoại tử các tiểu thể tỳ tạng làm mất chức năng tạo hồng cầu mới và phá hủy hồng cầu già cũng như không thể sản xuất các tế bào lympho và bạch cầu bảo vệ cơ thể, chống các tác nhân gây bệnh. Cũng như thận, mô tạo máu bị phá hủy nên tỳ tạng mất chức năng cung cấp máu cho cơ thể. d.) Mang Quan sát lát cắt ngang của mang cá dưới kính hiển vi cho thấy có những vùng các sợi mang bị dính lại với nhau. Điều này có thể do khi vi khuẩn tấn công, phản ứng miễn nhiễm tự bảo vệ của cơ thể cá làm cho các sợi mang bị sưng lên và khi hai hoặc nhiều sợi mang ở gần nhau sưng lên cùng lúc sẽ dẫn đến sự tiếp xúc của các sợi mang và do ở đây chỉ được bao bọc bởi một lớp tế bào rất mỏng với nhiều mạch máu nhỏ nên rất dễ bị phình lên dưới tác động của phản ứng viêm hay do vi khuẩn tấn công. Sự dính lại của các sợi mang làm giảm khả năng hô hấp của mang do giảm diện tích tiếp xúc với nước và do mất chức năng ở các vùng sợi mang bị dính lại hay hoại tử. Do đó cá bệnh sẽ có biểu hiện thiếu oxy và thường tập trung ở mặt nước. Điều này càng trầm trọng hơn khi cá bị mất máu do hiện tượng xuất huyết và vùng mô tạo máu ở thận và tỳ tạng bị hủy hoại. e.) Tim và cơ Quan sát tiêu bản tim và cơ cá bệnh dưới kính hiển vi không thấy biến đổi lớn về mô học . Điều này chứng tỏ hai cơ quan này ít bị ảnh hưởng trực tiếp bởi vi khuẩn. Tóm lại, khi cá bị bệnh mủ gan các cơ quan bị huỷ hoại nặng nhất là gan, thận, tỳ tạng kế đến là mang cuối cùng bị ảnh hưởng nhẹ nhất là tim và cơ và nguyên nhân làm chết cá có thể do gan, thận, tỳ tạng, mang bị hư hại dẫn đến mất chức năng của các cơ quan này. Khả năng bùng phát bệnh Tốc độ lây lan của bệnh gan thận mủ rất nhanh. Trong điều kiện thí nghiệm, khi có mầm bệnh xâm nhập, khoảng 3- 4 ngày toàn bộ cá nuôi trong bể đều bị nhiễm bệnh, nếu không có biện pháp chăm sóc và quản lý hệ thống nuôi. Do đó cần áp dụng biện pháp phòng bệnh tích cực một cách đồng bộ. Xác cá chết phải chôn và xử lý vôi bột để hạn chế mầm bệnh lây lan. Không dùng cơ quan nội tạng, máu, mỡ và các phụ phẩm nhà máy chế biến thuỷ sản làm thức ăn trở lại cho cá tra, basa vì nếu gặp phải nguồn sản phẩm nhiễm khuẩn, mầm bệnh sẽ tồn tại lâu trong môi trường nước và phát tán vi khuẩn gây bệnh sẽ lây lan vào ao bè nuôi, lây sang nhiều khu vực nuôi cá khác gây thành đại dịch.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Mủ Gan Ở Cá – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!