Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Tiểu Đường Khi Mang Thai / 2023 # Top 13 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Tiểu Đường Khi Mang Thai / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Tiểu Đường Khi Mang Thai / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tư vấn trước khi thụ thai và kiểm soát tối ưu bệnh tiểu đường trước, trong và sau khi mang thai giảm thiểu nguy cơ cho mẹ và cho thai nhi, bao gồm cả các dị tật bẩm sinh. Do các dị tật có thể phát sinh trước khi có chẩn đoán mang thai nên nhu cầu kiểm soát nồng độ glucose liên tục, nghiêm ngặt được nhấn mạnh đối với những phụ nữ mắc bệnh tiểu đường và những người đang cân nhắc có thai (hoặc những người không sử dụng biện pháp tránh thai).

Để giảm thiểu nguy cơ, bác sĩ lâm sàng cần phải làm tất cả những việc sau đây:

Có các chuyên gia về quản lý các biến chứng tiểu đường trong các trung tâm chuyên về giai đoạn chu sinh ở khu vực.

Phụ nữ bị tiểu đường tuýp 1 hoặc tuýp 2 cần phải theo dõi nồng độ đường trong máu tại nhà. Trong quá trình mang thai, nồng độ đường huyết lúc đói bình thường khoảng 76 mg/dL (4,2 mmol/L).

Quản lý bệnh tiểu đường tuýp 1* trong quá trình mang thai

Các lần khám trước sinh bắt đầu ngay khi biết có thai.

Tần suất của các lần khám được xác định theo mức độ kiểm soát đường huyết.

Chế độ ăn uống cần phải cá nhân hóa theo hướng dẫn của ADA và phối hợp với việc sử dụng insulin.

Nên có ba bữa ăn chính và 3 bữa ăn nhẹ/ngày, nhấn mạnh vào việc lên thời gian thích hợp.

Phụ nữ được hướng dẫn cách theo dõi và cần phải tự theo dõi đường huyết.

Phụ nữ cần phải thận trọng về các mối nguy hiểm của hạ đường huyết trong khi tập thể dục và vào ban đêm.

Phụ nữ và các thành viên trong gia đình của họ cần phải được hướng dẫn cách sử dụng glucagon.

Nồng độ HbA1c cần phải được kiểm tra ba tháng thai kỳ một lần.

Kiểm tra tiền sản với những phần sau đây cần phải được thực hiện từ 32 tuần đến khi sinh (hoặc sớm hơn nếu có chỉ định):

Lượng và loại insulin cần phải được cá nhân hóa. Vào buổi sáng, dùng hai phần ba tổng liều (60% NPH, 40% thường xuyên); vào buổi chiều, dùng một phần ba (50% NPH, 50% thường xuyên). Hoặc, phụ nữ có thể dùng insulin tác dụng kéo dài một lần hoặc hai lần mỗi ngày và chích insulin aspart ngay trước khi ăn sáng, trước khi ăn trưa và trước khi ăn tối. ‡

Có thể sinh thường vào ngày dự sinh nếu phụ nữ đã có ghi nhận về tiêu chuẩn ngày dự sinh và kiểm soát đường huyết tốt.

Chọc dò ối không được thực hiện trừ khi có chỉ định vì một vấn đề khác hoặc theo yêu cầu của cặp vợ chồng đó.

Sinh con cần phải vào 39 tuần.

Trong quá trình sinh nở, việc truyền insulin liều thấp liên tục thường được ưu tiên và việc sử dụng insulin dưới da thông thường sẽ bị ngừng lại. Nếu có kế hoạch giục sinh, liều insulin NPH thường lệ vào buổi chiều được cho dùng vào ngày trước ngày giục sinh.

Chăm sóc sau sinh và tiếp tục chăm sóc bệnh tiểu đường cần phải được sắp xếp.

Nhu cầu insulin sau sinh có thể giảm tới 50%.

ADA = Hiệp hội Tiểu đường Hoa Kỳ; HbA1c = glycosylated Hb; NPH = neutral protamine Hagedorn.

Quản lý bệnh tiểu đường tuýp 2* trong quá trình mang thai

Nên đi bộ theo nhịp vừa phải sau bữa ăn.

Phụ nữ được hướng dẫn cách theo dõi và cần phải tự theo dõi đường huyết.

Nồng độ đường huyết sau ăn sáng 2 giờ được kiểm tra hàng tuần vào các lần đến khám tại phòng khám nếu có thể.

Nồng độ HbA1c cần phải được kiểm tra ba tháng thai kỳ một lần.

Kiểm tra tiền sản với những phần sau đây cần phải được thực hiện từ 32 tuần đến khi sinh (hoặc sớm hơn nếu có chỉ định):

Các nhân hóa số lượng và loại insulin. Đối với phụ nữ béo phì, dùng insulin tác dụng ngắn trước mỗi bữa ăn. Đối với phụ nữ không béo phì, dùng hai phần ba tổng liều (60% NPH, 40% thường xuyên) vào buổi sáng; dùng một phần ba (50% NPH, 50% thường xuyên) vào buổi chiều. Hoặc, phụ nữ có thể dùng insulin tác dụng dài một lần hoặc hai lần mỗi ngày và chích insulin aspart ngay trước khi ăn sáng, ngay trước khi ăn trưa và ngay trước khi ăn tối.

BMI = chỉ số khối cơ thể; HbA1c = glycosylated Hb; NPH = neutral protamine Hagedorn.

Quản lý bệnh tiểu đường thai kỳ trong quá trình mang thai

Nên đi bộ với tốc độ vừa phải sau bữa ăn.

Kiểm tra tiền sản với những phần sau đây cần phải được thực hiện từ 32 tuần đến khi sinh (hoặc sớm hơn nếu có chỉ định):

Lượng và loại insulin cần phải được cá nhân hóa. Đối với phụ nữ béo phì, dùng insulin tác dụng ngắn trước mỗi bữa ăn. Đối với phụ nữ không béo phì, dùng hai phần ba tổng liều (60% NPH, 40% thường xuyên) vào buổi sáng; dùng một phần ba (50% NPH, 50% thường xuyên) vào buổi chiều. Hoặc, phụ nữ có thể dùng insulin tác dụng dài một lần hoặc hai lần mỗi ngày và chích insulin aspart ngay trước khi ăn sáng, ngay trước khi ăn trưa và ngay trước khi ăn tối.

HbA1c = glycosylated Hb; NPH = neutral protamine Hagedorn.

Insulin là loại thuốc truyền thống được lựa chọn vì thuốc này không thể qua nhau thai và cho khả năng kiểm soát glucose dễ dự đoán hơn. Thuốc được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường tuýp 1 và tuýp 2 và với một số phụ nữ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ. Insulin người được sử dụng nếu có thể vì thuốc này giảm thiểu sự hình thành kháng thể. Các kháng thể Insulin qua nhau thai, nhưng không rõ tác dụng của các kháng thể này đối với thai nhi. Trên một số phụ nữ bị bệnh tiểu đường tuýp 1 lâu dài, hạ đường huyết không kích hoạt quá trình giải phóng các hoóc-môn đối kháng bình thường (catecholamines, glucagon, cortisol và hoóc-môn tăng trưởng); do đó, quá nhiều insulin có thể gây khởi phát hôn mê hạ đường huyết mà không có triệu chứng báo trước. Tất cả phụ nữ mang thai bị tiểu đường tuýp 1 cần phải có bộ kit glucagon và cần phải được hướng dẫn (cũng như các thành viên trong gia đình) cách dùng glucagon nếu có hạ đường huyết nặng (chỉ định theo tình trạng bất tỉnh, lú lẫn hoặc nồng độ đường huyết < 40 mg/dL [< 2,2 mmol/L]).

Thuốc hạ đường huyết theo đường uống (ví dụ: glyburide) đang ngày càng được sử dụng để quản lý bệnh tiểu đường trên phụ nữ mang thai vì dễ sử dụng (thuốc viên so với thuốc tiêm), chi phí thấp và dùng một liều duy nhất mỗi ngày. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng glyburide an toàn trong quá trình mang thai và thuốc cho mức độ kiểm soát tương đương với insulin đối với phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ. Đối với phụ nữ bị bệnh tiểu đường tuýp 2 trước khi mang thai, dữ liệu sử dụng thuốc theo đường uống trong quá trình mang thai là rất ít; insulin thường được ưa dùng nhất. Thuốc hạ đường huyết theo đường uống trong quá trình mang thai có thể tiếp tục sử dụng sau sinh trong thời gian cho con bú, nhưng trẻ cần phải được theo dõi sát các dấu hiệu hạ đường huyết.

Mặc dù bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh thần kinh nhẹ do tiểu đường không có chống chỉ định với thai kỳ, nhưng cần phải có tư vấn trước khi thụ thai và quản lý chặt chẽ trước và trong quá trình mang thai.

Bệnh võng mạc cần phải có khám mắt, được thực hiện ba tháng một lần. Nếu ghi nhận có bệnh võng mạc tăng sinh vào lần khám tiền sản đầu tiên thì nên sử dụng phương pháp quang hóa càng sớm càng tốt để ngăn ngừa tiến triển bệnh trầm trọng hơn.

Bệnh thận, đặc biệt là trên phụ nữ ghép thận, dễ bị tăng huyết áp do mang thai. Nguy cơ sinh non cao hơn nếu chức năng thận của mẹ bị suy giảm hoặc nếu có ghép thận gần đây. Tiên lượng tốt nhất nếu sinh con ở thời điểm ≥ 2 năm sau ghép thận.

Dị tật bẩm sinh ở các cơ quan quan trọng được dự đoán bằng nồng độ HbA1c tăng cao khi thụ thai và trong 8 tuần đầu tiên của thai kỳ. Nếu nồng độ ≥ 8,5% trong ba tháng đầu của thai kỳ, thì nguy cơ bị dị tật bẩm sinh tăng đáng kể và siêu âm nhắm mục tiêu và siêu âm tim thai được thực hiện trong ba tháng thứ 2 của thai kỳ để kiểm tra các dị tật ( 1). Nếu phụ nữ bị bệnh tiểu đường tuýp 2 dùng các thuốc hạ đường huyết theo đường uống trong ba tháng đầu của thai kỳ thì không rõ nguy cơ dị tật bẩm sinh của thai nhi (xem bảng Các loại thuốc với tác dụng bất lợi trong quá trình mang thai).

Cần phải có một số biện pháp phòng ngừa nhất định để đảm bảo một kết cục tối ưu.

Thời gian sinh con phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của thai nhi. Phụ nữ được yêu cầu đếm số lần cử động của thai nhi trong khoảng thời gian 60 phút mỗi ngày (số lần đá của thai nhi) và báo cáo bất kỳ số lần đá giảm đột ngột nào cho bác sĩ sản khoa ngay lập tức. Xét nghiệm trước sinh được bắt đầu ở thời điểm 32 tuần; xét nghiệm này được thực hiện sớm hơn nếu phụ nữ bị tăng huyết áp nặng hoặc bị một bệnh thận hoặc nếu nghi ngờ có hạn chế tăng trưởng bào thai. Chọc dò ối để đánh giá mức độ trưởng thành phổi của thai nhi có thể cần thiết đối với phụ nữ có những vấn đề sau đây:

Kiểu sinh con thường thì sinh thường tự nhiên khi đủ tháng. Nguy cơ thai chết lưu và khó sinh do kẹt vai tăng lên khi gần đến ngày dự sinh. Do đó, nếu chuyển dạ không bắt đầu một cách tự nhiên vào 39 tuần, thường cần phải làm giục sinh. Ngoài ra, việc sinh nở có thể được gây giục sinh trong khoảng từ 37 đến 39 tuần mà không cần chọc dò ối nếu tuân thủ điều trị kém hoặc nếu kiểm soát đường huyết kém. Rối loạn chức năng chuyển dạ, không cân xứng giữ thai nhi và khung chậu, hoặc nguy cơ khó sinh do kẹt vai có thể khiến cho sinh mổ là cần thiết.

Nồng độ đường huyết được kiểm soát tốt nhất trong quá trình chuyển dạ và sinh con bằng cách truyền insulin liều thấp liên tục. Nếu giục sinh được lên kế hoạch, phụ nữ ăn chế độ ăn uống thông thường của họ vào ngày hôm trước và dùng liều insulin thông thường của họ. Vào buổi sáng giục sinh, ăn sáng và tạm dừng insulin , glucose huyết tương lúc đói được đo ở lần khám ban đầu và bắt đầu truyền 5% dextrose trong dung dịch muối sinh lý 0,45% đường tĩnh mạch với tốc độ 125 mL/giờ, có sử dụng bơm tiêm truyền. Tốc độ truyền insulin ban đầu được xác định theo nồng độ glucose mao mạch. Liều Insulin được xác định như sau:

Ban đầu: 0 đơn vị đối với nồng độ glucose mao mạch < 80 mg/dL (< 4,4 mmol/L) hoặc 0,5 đơn vị/giờ đối với nồng độ từ 80 đến 100 mg/dL (4,4 đến 5,5 mmol/L)

Nhau thai tổng hợp một lượng lớn hoóc-môn đối kháng insulin trong suốt quá trình mang thai. Sau khi sinh, mất nhau thai làm giảm nhu cầu insulin ngay lập tức. Vì vậy, phụ nữ bị bệnh tiểu đường thai kỳ và nhiều người trong số những người bị tiểu đường tuýp 2 không cần phải dùng insulin sau sinh. Đối với những phụ nữ bị tiểu đường tuýp 1, nhu cầu insulin giảm đáng kể nhưng sau đó tăng dần sau khoảng 72 giờ.

Trong 6 tuần đầu sau sinh, mục tiêu là kiểm soát glucose chặt chẽ. Kiểm tra nồng độ glucose trước bữa ăn và lúc đi ngủ. Không có chống chỉ định khi cho con bú nhưng có thể dẫn đến hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh nếu dùng thuốc hạ đường huyết theo đường uống. Phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ cần phải được làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 2 giờ với 75 g glucose ở thời điểm từ 6 đến 12 tuần sau khi sinh để xác định xem bệnh tiểu đường đã đỡ chưa.

1. Miller E, Hare JW, Cloherty JP, et al: Elevated maternal hemaglogin A1c in early pregnancy and major congenital anomalies in infants of diabetic mothers. N Engl J Med 304 (22):1331-1334, 1981. doi: 10.1056/NEJM198105283042204.

Tiểu Đường Khi Mang Thai / 2023

Tiểu đường khi mang thai – Biết sớm bớt nguy! Tiểu đường khi mang thai hay còn gọi là tiểu đường thai kỳ có thể xảy ra với cả những bạn chưa từng bị bệnh tiểu đường type 1 hay tiểu đường type 2 trước đó.

Thế nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng tiểu đường khi mang thai là gì?

Khi bạn mang thai, nội tiết thay đổi khiến cho các tế bào kém đáp ứng với insulin. Đối với phần đông các mẹ bầu thì đây không phải là vấn đề nghiêm trọng vì khi cơ thể cần bổ sung insulin, tuyến tụy sẽ tiết đủ.

Tuy nhiên, nếu tuyến tụy của bạn không theo kịp nhu cầu tăng insulin trong thời gian mang thai thì lượng đường trong máu sẽ lên cao dẫn đến bệnh tiểu đường khi mang thai (tiểu đường thai kỳ).

Với hầu hết các phụ nữ mang thai, tiểu đường thai kỳ sẽ tự hết sau khi bạn sinh em bé nhưng một số mẹ có nguy cơ tái phát bệnh ở lần mang thai sau và làm tăng nguy cơ phát triển thành bệnh tiểu đường type 2 cao gấp 7 lần so với những người không mắc tiểu đường thai kỳ.

Tiểu đường khi mang thai, dấu hiệu nào giúp mẹ nhận biết?

Dấu hiệu của bệnh tiểu đường thai kỳ thường dễ bị nhầm lẫn với các triệu chứng thai kỳ thông thường:

Khát nước bất thường dấu hiệu tiểu đường thai kỳ, dấu hiệu tiểu đường thai kỳ

Thường xuyên đi tiểu và tiểu nhiều, khác với đi tiểu thường xuyên nhưng tiểu ít vào thời gian đầu mang thai.

Mệt mỏi (triệu chứng này có thể khó phân biệt với mệt mỏi do mang thai).

Đường trong nước tiểu (được phát hiện khi đi khám bác sĩ theo thường lệ).

Nếu mẹ có nguy cơ cao bị tiểu đường khi mang thai hoặc có các dấu hiệu của nó (chẳng hạn có đường trong nước tiểu), bác sĩ sẽ khuyên mẹ làm xét nghiệm kiểm tra lượng glucose ở lần khám thai đầu tiên và sau đó xét nghiệm lần nữa ở tuần 24 – 28 của thai kỳ nếu kết quả xét nghiệm lần đầu âm tính.

Chẩn đoán tiểu đường thai kỳ bằng cách nào?

Để chẩn đoán, mẹ bầu cần nhịn đói vào buổi sáng và có 9h chưa ăn gì trước đó. Sau đó bác sĩ sẽ cho bạn dung nạp 75g glucose và tiến hành đo đường huyết trước và sau 1 và 2h uống glucose.

Nếu mẹ bầu nào có ít nhất 2/3 mẫu xét nghiệm lớn hơn: 5,1mmol/l (khi đói); 10mmol/l (sau 1h); 8,5mmol/l (sau 2h) sẽ được chẩn đoán là bị tiểu đường thai kỳ và có thể ảnh hưởng tới thai nhi.

Thế tiểu đường khi mang thai có ảnh hưởng đến thai nhi?

Nếu thai phụ bị tiểu đường khi mang thai không kiểm soát tốt đường huyết sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cả mẹ và bé:

Bé thừa cân: Mẹ bị tiểu đường thai kỳ làm tăng nguy cơ em bé bị chứng “macrosomic” và thường sẽ phải sinh mổ do bé quá to. Nếu sinh thường, nhiều khả năng em bé sẽ bị gãy xương hoặc tổn thương dây thần kinh. Những em bé này còn có nhiều khả năng bị béo phì khi trưởng thành.

Dị tật bẩm sinh: Em bé có nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, vàng da, đa hồng cầu, giảm canxi máu và chức năng tim bị ảnh hưởng.

Lượng đường máu của thai nhi quá thấp: Bác sĩ sẽ lấy máu từ gót chân em bé mới sinh để xét nghiệm đường huyết. Mẹ cần cho bé bú càng sớm càng tốt để ngăn ngừa hạ đường huyết và các biến chứng nghiêm trọng khác như co giật, hôn mê hay tổn thương não.

Sinh non hoặc thai lưu: Một số nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa bệnh tiểu đường khi mang thai với sự gia tăng nguy cơ thai chết lưu trong 2 tháng cuối thai kỳ nếu không được kiểm soát trong suốt quá trình mang thai.

Tiền sản giật: Những thai phụ bị chứng béo phì hoặc tiểu đường khi mang thai không được kiểm soát tốt thường đối mặt với nguy cơ bị tiền sản giật rất cao.

Điều trị tiểu đường khi mang thai ra sao?

Dù mẹ bị tiểu đường loại 1 (khởi phát tuổi vị thành niên – cơ thể không sản xuất insulin) hay loại 2 (khởi phát khi trưởng thành – cơ thể không đáp ứng với insulin), hay mắc tiểu đường khi mang thai thì vẫn có phương pháp điều trị để duy trì lượng đường cân bằng trong suốt 9 tháng mang thai như thể dục, dinh dưỡng hay nghỉ ngơi phù hợp.

Bệnh Tiểu Đường Khi Mang Thai Những Điều Cần Biết / 2023

Mắc bệnh tiểu đường khi mang thai hay còn gọi tiểu đường thai kì được phát triển trong khi mang thai ở khoảng tuần 24.

Vào khoảng tuần thứ 20 của thai kì, nội tiết tố sinh sản ảnh hưởng đến quá trình cũng như hoạt động của việc sản sinh insulin. Thông thường, thời điểm bệnh xuất hiện từ tuần mang thai 24-28.

Cơ thể người mẹ thường có nhu cầu tăng năng lượng trong quá trình mang thai do đó dẫn đến nhu cầu lượng đường tăng.

Bệnh làm khả năng sử dụng đường của các tế bào trong cơ thể bị ảnh hưởng dẫn đến lượng đường trong máu tăng cao, điều này gây hại cho cả thai nhi lẫn mẹ. Sau khi sinh lượng đường trong máu có thể sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, bạn cần tiếp tục điều trị và theo dõi để kiểm soát lượng đường trong máu bởi bạn đang có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 cao.

Tiểu đường thai kì cũng tương tự bệnh tiểu đường thường vì không có những dấu hiệu cụ thể, bệnh chỉ được phát hiện đến khi kiểm tra đường máu trong quá trình sàng lọc bệnh lí về thai kì.

– Cảm thấy khát nước thường xuyên

– Đi tiểu nhiều hơn

– Miệng khô

– Có cảm giác mệt mỏi.

– Phụ nữ mang thai trên 30 tuổi

– Người thừa cân, béo phì trong giai đoạn mang thai hoặc trước khi mang thai

– Đã từng bị tiểu đường thai kì

– Trong gia đình có người mắc bệnh tiểu đường type 2

– Mắc hội chứng buồng trứng đa nang

Tìm hiểu về Cách điều trị, phòng ngừa và ăn uống khi Bệnh Tiểu Đường

Đa số các trường hợp tiểu đường thai kì em bé sinh ra khỏe mạnh. Tuy nhiên, nếu bệnh không được kiểm soát sẽ gây ra các vấn đề cho người mẹ lẫn bé.

– Các biến chứng ảnh hưởng đến bé:

Vượt quá tăng trưởng hay béo phì về sau này do người mẹ không kiểm soát tốt lượng đường trong máu nên dẫn đến lượng đường ở cơ thể thai nhi tăng lên.

Có khả năng thai nhi bị dị dạng

Đường huyết thấp và tụt canxi

Hội chứng suy hô hấp

Mắc tiểu đường type 2 trong tương lai

Phổi trẻ bị ảnh hưởng do lượng insulin tăng

– Các biến chứng cho người mẹ:

Tiền sản giật

Nhiễm trùng đường tiểu

Nguy cơ mắc tiểu đường type 2

Có nguy cơ băng huyết sau sinh

– Điều trị bằng dinh dưỡng:

Ăn nhiều thực phẩm chất xơ như trái cây, rau xanh, ngũ cốc, các loại hạt nguyên cám.

Giới hạn các thực phẩm chứa carbohydrates trong khẩu phần ăn cho bà bầu

Giảm thức ăn nhiều tinh bột

Trong khẩu phần ăn đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng: đạm, tinh bột, chất xơ, các vitamin, chất sắt,….

– Cần được nghỉ ngơi, hạn chế phải làm việc trong giai đoạn thai kì. Nhất là tinh thần thoải mái, không stress hay lo lắng sẽ dễ khiến tình trạng bệnh tệ hơn

– Mẹ mang thai cần nghỉ ngơi, hạn chế làm việc trong thời gian mang thai. Đặc biệt, không được mang tâm lý buồn chán, lo lắng, stress vì sẽ dễ làm bệnh nặng thêm.

Tham khảo về Cách chữa trị bệnh tiểu đường tuýp 2

– Vận động thường xuyên:

Bên cạnh duy trì chế độ ăn đầy đủ dinh, người mẹ nên kiểm soát cân nặng của mình, không nên để tăng cân quá nhiều. Tập thể dục làm giảm đường trong máu bằng cách vận chuyển đường đến các tế bào khác để sử dụng làm năng lượng.

Hơn thế nữa, thể dục thường xuyên giúp ngăn ngừa một số biểu hiện của thai kì như táo bón, đau lưng, chuột rút cơ bắp, khó ngủ. và giúp thuận lợi hơn cho quá trình sinh nở.

Trong quá trình mang thai các mẹ nên thường xuyên vận động và tập các bài tập nhẹ như đi bộ, đạp xe, bơi lội, yoga vừa tốt cho thai nhi lại vừa giúp hạ đường huyết.

– Sử dụng các thực phẩm lành mạnh, ưu tiên hàng đầu là các thực phẩm chất xơ, các loại trái cây, rau củ tươi, ngũ cốc.

– Trước khi mang thai cần giảm cân thay vì phải giảm cân trong thời mang thai vì cơ thể mẹ sẽ làm việc nhiều hơn để hỗ trợ cho quá trình phát triển của thai nhi.

– Theo dõi lượng đường trong máu bằng cách kiểm tra thường xuyên đặc biệt là thai kì ở tuần thứ 23 trở lên. Tham khảo ý kiến bác sĩ về mức độ kiểm tra lượng đường trong máu một cách hợp lí.

Những Điều Cần Lưu Ý Về Bệnh Tiểu Đường Khi Mang Thai / 2023

Bệnh tiểu đường thời gian thai kỳ khá nguy hiểm. Nó có thể xảy ra cả bệnh tuýp 1 và tuýp 2 và để lại những biến chứng đến cả mẹ và bé. Tuy nhiên, nếu hiểu và kiểm soát được bệnh tình trong quá trình mang thai sẽ hầu như đảm bảo được sức khỏe của mẹ và bé vẹn tròn nhất.

Những dấu hiệu của bệnh tiểu đường khi mang thai?

Các triệu chứng trong quá trình mang thai tương tự như bệnh tiểu đường bình thường, trong đó có một số triệu chứng phổ biến như sau: Hay bị thức giấc giữa đêm và uống thật nhiều nước.

Thường xuyên và luôn luôn cảm thấy khác nước.

Thường có nhu cầu đi tiểu và mức độ nước tiểu nhiều hơn cũng như nhu cầu thường xuyên hơn so với những người phụ nữ bình thường.

Vùng kín thường có hiện tượng nấm và không dễ vệ sinh thường xuyên.

Mặc dù mang thai nhưng cân nặng lại bị giảm sút, thiếu năng lượng, thường xuyên mệt mỏi, kiệt sức và thiếu sức sống.

Các vết thương, trầy xước hoặc vết đau khó lành.

Bệnh tiểu đường ảnh hưởng đến thai nhi như thế nào?

Lượng đường Glucose trong máu càng cao sẽ khiến thai nhi có tình trạng phát triển to bất bình thường. Chính vì tình trạng này, nếu các mẹ bị tiểu đường sinh ra đứa bé sẽ cân nặng cao hơn tầm khoảng 4kg.

Chính vì vậy, để tránh được những biến chứng xảy ra đối với thai kỳ, các bác sĩ thường phải theo dõi bệnh lý và điều trị để kiểm soát lượng đường huyết thường xuyên. Thông thường lượng đường trong máu của các mẹ sẽ tăng cao hơn trước khi sinh con.

Một điều rất may mắn là thai nhi sẽ không mắc phải bệnh tiểu đường nếu chẳng may mẹ bầu là người nhiễm bệnh. Tuy nhiên, thai nhi cũng sẽ bị ảnh hưởng khi vừa mới chào đời, trẻ sẽ dễ mắc phải chứng hypoglycaemia- được xem là hiện tượng giảm đường huyết. Chính vì vậy, theo dõi kỹ và thường xuyên đều đặn trẻ 24/24 ngay khi mới sinh ra cho đến khi lượng đường huyết được ổn định.

Những biện pháp xử lý khi mắc bệnh tiểu đường khi mang thai

Kiểm tra định kì:Đây chắc chắn là điều phải làm thường xuyên định kỳ đối với các mẹ bầu mắc bệnh tiểu đường. Kiểm tra lượng đường trong máu thông qua các thiết bị kiểm tra hoặc theo dõi theo bác sĩ điều trị. Việc này sẽ giúp các mẹ bầu dễ dàng kiểm soát được bệnh lý và chủ động đề phòng và phòng ngừa các hiện tượng xảy ra trong quá trình mang thai.

Ăn uống lành mạnh: thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, đầy đủ chất dinh dưỡng theo như bác sĩ dặn dò, hoặc giảm thiểu lượng đường hóa học.

Luyện tập thể thao:Ngoài việc bổ trợ cho thai kì được linh động và dẻo dai hơn, việc luyện tập thể thao thường xuyên đối với các mẹ bầu rất cần thiết khi mắc phải bệnh tiểu đường. Đây là cách tự nhiên giúp cơ thể dễ dàng dung nạp glucose hơn, giảm nhanh những tiêu cực ảnh hưởng xấu đến sức khỏe trong suốt quá trình mang thai.

GIữ gìn sức khỏe của thai nhi và của chính bản thân mẹ bầu là điều cực kì quan trọng, đặc biệt nếu mẹ bầu mắc phải bệnh tiểu đường. Đừng quá hoang mang khi phát hiện bệnh tình này trong quá trình mang thai chỉ cần bạn bình tĩnh và kiểm tra theo dõi bệnh thường xuyên áp dụng những lời khuyên theo bác sĩ cũng như chuẩn bị cho mình trước những kiến thức cần thiết thì hoàn toàn có thể đảm bảo đứa trẻ khỏe mạnh. Bệnh không đáng sợ, chỉ đáng sợ là khi ta không bình tĩnh chữa trị mà thôi.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Tiểu Đường Khi Mang Thai / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!