Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Tiểu Đường Và Mang Thai / 2023 # Top 14 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Bệnh Tiểu Đường Và Mang Thai / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Tiểu Đường Và Mang Thai / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Điều gì sẽ xảy đến với bạn

Nếu bạn đang mắc bệnh tiểu đường thuộc loại 1 hoặc loại 2, thì nguy cơ cao hơn, việc bạn sẽ gặp phải một số vấn đề bất lợi sau:

Kích thước thai nhi quá lớn làm tăng nguy cơ sinh khó, thai phụ chuyển dạ kéo dài hoặc phải mổ lấy thai

Tăng tỷ lệ sẩy thai

Những bệnh nhân bị tiểu đường có nguy cơ dẫn đến các bệnh về mắt (bệnh võng mạc tiểu đường) và bệnh về thận (bệnh thận tiểu đường). Một số người mắc bệnh tiểu đường loại 1 cũng có thể bị nhiễm toan ceton tiểu đường, gây ra bởi sự tích tụ chất độc có tên ceton ở trong máu. Mang thai có thể làm tăng nguy cơ xảy đến những vấn đề sức khỏe như trên và có thể làm cho những vấn đề này trở nên xấu đi.

Điều gì sẽ xảy đến với em bé của bạn

Nếu bạn mắc bệnh tiểu đường loại 1 hoặc loại 2, sẽ làm tăng nguy cơ em bé của bạn:

gặp phải một số vấn đề về sức khỏe trong thời gian ngắn ngay sau khi sinh, như các vấn đề về tim và hô hấp, em bé lúc này cần được chăm sóc y tế tại bệnh viện

sau này em bé lớn lên dễ bị béo phì hoặc tiểu đường

Cũng có khả năng cao hơn em bé của bạn khi sinh ra bị dị tật bẩm sinh, nhất là bất thường về tim và hệ thần kinh, hay là bị chết non (chết ngay lúc sinh) hoặc chết không lâu sau sinh. Tuy vậy nếu bệnh tiểu đường của bạn được quản lý tốt cả trước và trong khi mang thai, những rủi ro này sẽ được giảm thiểu.

Giảm thiểu rủi ro

Để giảm thiểu rủi ro thì điều tốt nhất mà bạn có thể làm cho chính mình và em bé là chắc chắn rằng bệnh tiểu đường của bạn được kiểm soát một cách tốt nhất trước khi bạn có ý định có thai. Trước khi bạn dự kiến có em bé, hãy hỏi lời khuyên của bác sĩ gia đình hoặc chuyên gia về bệnh tiểu đường (bác sĩ tiểu đường) để nhận được tư vấn kỹ càng. Và để có được hỗ trợ đầy đủ hơn bạn nên đến một phòng khám tiền thụ thai tiểu đường. Cần thiết bạn nên làm một xét nghiệm máu, là xét nghiệm HbA1c, đều đặn vào mỗi tháng. Điều này cho phép biết được lượng đường glucose trong máu của bạn là bao nhiêu.

Với mức đường máu tốt nhất là không quá 6,5% trước khi có thai. Nhưng nếu bạn không thể đạt được mức đường máu dưới 6,5%, bạn hãy đến cơ sở chuyên khoa y tế gần nhất để được hướng điều trị thích hợp cho cả bạn và em bé nhằm giảm thiểu xảy đến những biến chứng. Trường hợp mức đường máu của bạn là trên 10%, đội ngũ chăm sóc sức khỏe sẽ khuyên bạn không nên có em bé lúc này cho đến khi tình hình đường máu được cải thiện. Bạn nên tiếp tục sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn đến thời điểm lượng đường máu có thể kiểm soát được.

Bác sĩ gia đình hoặc chuyên gia về bệnh tiểu đường sẽ đưa ra những hướng dẫn giúp bạn có thể thực hiện được điều đó. Nếu bạn đang mắc tiểu đường loại 1, bạn nên có các dải thử (testing strip) và máy đo theo dõi để xác định lượng ceton trong máu của bạn, để kiểm tra xem bạn có bị nhiễm toan tiểu đường hay không. Bạn nên kiểm tra thường xuyên hơn khi mức đường máu của bạn quá cao, cũng như khi bạn bị nôn mửa hoặc tiêu chảy.

Axít folic

Phụ nữ có bệnh tiểu đường trong người nên được cung cấp một liều cao hơn 5 miligam (mg) axit folic mỗi ngày từ lúc chuẩn bị có thai đến khi thai đã được 12 tuần tuổi. Bác sĩ của bạn phải là người trực tiếp kê đơn thuốc này, bởi vì viên 5mg sẽ không được bán tại các quầy thuốc. Bạn nên uống axit folic để ngăn ngừa các dị tật thai nhi cho con, như dị tật đốt sống chẻ đôi.

Điều trị bệnh tiểu đường trong khi bạn mang thai

Bác sĩ cũng có thể đề nghị thay đổi hướng điều trị trong thai kỳ của bạn. Nếu bạn hay dùng thuốc viên để kiểm soát bệnh tiểu đường, thường bạn sẽ được khuyên nên chuyển sang tiêm insulin, dù có hay không có thuốc metformin. Nếu bạn đã sử dụng cách tiêm insulin để kiểm soát căn bệnh tiểu đường, bạn có thể cần phải chuyển sang dùng một loại insulin khác.

Trong suốt thời gian mang thai, bạn cũng cần thường xuyên chú ý theo dõi lượng đường trong máu của mình, nhất là khi xuất hiện buồn nôn và nôn mửa (chứng ốm nghén) vì những dấu hiệu này có thể ảnh hưởng đến đường máu. Bạn yên tâm những điều này sẽ được bác sĩ gia đình hoặc nữ hộ sinh giải thích kỹ hơn cho bạn. Việc giữ mức đường huyết ở mức thấp có nghĩa bạn sẽ gặp nhiều hơn những cơn tụt (“hypose”) đường máu xuống thấp (hạ đường huyết) (“hypose”). Rất may sẽ không có tổn thương nào lên em bé của bạn, nhưng với bạn và chồng của bạn cần biết cách vượt qua nó. Hãy mạnh dạn trò chuyện với bác sĩ hoặc chuyên gia bệnh tiểu đường về điều này.

Bạn cũng được đề nghị nên kiểm tra mắt bệnh tiểu đường định kỳ trong suốt thời gian mang thai. Điều này sẽ giúp phát hiện sớm những dấu hiệu của bệnh mắt tiểu đường (bệnh võng mạc tiểu đường) nếu có. Kiểm tra định kỳ rất quan trọng vì nguy cơ xảy đến những vấn đề nghiêm trọng về mắt là cao hơn khi bạn có thai. Bệnh lý võng mạc tiểu đường có thể chữa khỏi, nhất là khi được phát hiện sớm. Nếu bạn đang mang thai và quyết định chọn cách không làm xét nghiệm, hãy nói đều đó với bác sĩ lâm sàng chăm sóc bệnh tiểu đường của bạn.

Chuyển dạ và sinh nở

Sau khi sinh

Cho em bé bú sữa mẹ càng sớm càng tốt – nên trong vòng 30 phút đầu sau sinh – để giúp đường huyết của bé giữ ở mức an toàn. Vài giờ sau khi ra đời, em bé sẽ được nhân viên y tế lấy máu gót chân nhằm xét nghiệm để kiểm tra xem mức đường máu có thấp hay không. Nếu đường máu của em bé không nằm trong mức an toàn, hoặc là đang gặp vấn đề khó khăn khi cho ăn, em bé sẽ cần phải được chăm sóc y tế thêm. Tình huống này bé cần được truyền dịch qua ống thông tĩnh mạch nhỏ giọt để tăng đường máu lên. Khi đã kết thúc thai kỳ, bạn sẽ không cần nhiều insulin để kiểm soát đường máu nữa.

Bạn có thể giảm liều insulin xuống như trước khi mang thai hoặc quay trở lại với những viên thuốc mà lúc chưa có thai bạn đã dùng. Hãy nhớ trao đổi với bác sĩ về điều này. Bạn nên được kiểm tra mức đường máu trước khi rời bệnh viện về nhà và kiểm tra lại sau sinh 6 tuần. Bạn cũng cần tìm hiểu thêm kiến thức về chế độ ăn uống và tập thể dục.

Tài liệu tham khảo: https://www.nhs.uk/conditions/pregnancy-and-baby/diabetes-pregnant/

Bệnh Tiểu Đường Ở Phụ Nữ Mang Thai / 2023

Tình huống thứ nhất: người bệnh đã được chẩn đoán đái tháo đường, trong quá trình diễn tiến của bệnh, người bệnh có thai.

tình trạng tăng đường huyết được phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ, không loại trừ trường hợp người bệnh đã có đái tháo đường nhưng không được chẩn đoán. Trường hợp này được gọi là đái tháo đường thai kỳ. Muốn xác định xem người bệnh đã bị đái tháo đường nhưng chưa được chẩn đóan hoặc đái tháo đường thai kỳ thực sự thì làm nghiệm pháp dung nạp glucose trong khỏang 6-12 tuần lễ sau sinh.

Người bệnh đái tháo đường typ 1 và typ 2 đều có thể thụ thai. Để tạo điều kiện tốt nhất cho bà mẹ và thai nhi, người bệnh nên lên kế hoạch có thai trước và ổn định đường huyết thật tốt trước khi thụ thai. Khi có thai, người bệnh cần được phối hợp chăm sóc toàn diện bởi bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa đái tháo đường, bác sĩ sản phụ khoa, bác sĩ chuyên khoa bệnh lý sơ sinh và nữ hộ sinh.

I. CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM KHI NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CÓ THAI

1. Người bệnh đái tháo đường có thai có thể xảy ra tai biến gì?

Thường các tai biến chỉ xảy ra nếu đường huyết không được ổn định tốt, hoặc người bệnh đã có các biến chứng trước khi có thai.

Sinh non;

Dị tật thai;

Thai to hoặc chậm tăng trưởng trong tử cung so với tuổi thai bình thường;

Thai chết lưu;

Thai bị thiếu surfactant ở phế nang;

Các rối loạn chuyển hóa lúc sơ sinh: đa hồng cầu, tăng bilirubin gây vàng da kéo dài, hạ calci huyết, hạ đường huyết sơ sinh.

Tăng huyết áp thai kỳ (có thể bị tiền sản giật).

Đa ối.

2. Thai kỳ có thể ảnh hưởng như thế nào đến diễn tiến bệnh đái tháo đường?

Ảnh hưởng lên chuyển hóa đường

Quí 1: có tình trạng đồng hóa ở thai phụ và tăng insulin huyết, tăng nhạy cảm với insulin. Nếu người bệnh ói mửa nhiều, dễ bị hạ đường huyết và nhiễm

Quí 2: thai phụ có tình trạng dị hóa, đề kháng insulin, tăng nhu cầu về Đường huyết có khuynh hướng tăng cao.

Quí 3: tình trạng đề kháng insulin tăng nhiều hơn. Đường huyết có khuynh hướng tăng cao và tăng nguy cơ bị nhiễm toan

Các biến chứng thoái biến

Đáy mắt: bệnh võng mạc Đái tháo đường có khuynh hướng nặng thêm. Nếu người bệnh rặn lúc sinh, hoặc có cơn tăng huyết áp, có thể gây xuất huyết võng mạc hoặc xuất huyết vào thể kính.

Thận: tăng đạm niệu, tăng khả năng bị nhiễm trùng tiểu, nếu người bệnh bị bệnh thận mạn tính, thường tình trạng suy thận sẽ gia tăng, tăng nguy cơ tiền sản giật.

Tim mạch: nếu người bệnh có bệnh cơ tim thiếu máu, sẽ tăng khả năng bị suy tim và nhồi máu cơ tim cấp.

3. Nếu người bệnh không muốn có thai, có thể dùng biện pháp tránh thai nào?

Phương pháp tốt nhất là dựa trên chu kỳ kinh nguyệt tính ngày rụng trứng để tránh thụ Tuy nhiên, trên thực tế phương pháp này ít thành công và đòi hỏi người phụ nữ phải có kinh rất đều.

Đặt vòng tránh thai: không được khuyến cáo dùng cho phụ nữ chưa sinh nở.

Hormon estrogens và progestogens, nếu không có chống chỉ định và trên người bệnh Đái tháo đường dưới 15 năm.

Thuốc progestogens dạng uống hoặc cấy dưới

II. ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LÚC CÓ THAI

1. Ổn định đường huyết Mục tiêu đường huyết:

Glucose máu toàn phần lúc đói từ 60-90 mg/dL (3,33-5,0mmol/L) hay 95mg/dL (5,3mmol/L), glucose máu toàn phần 1 giờ sau ăn < 140mg/dL (7,8mmol/L) và 2 giờ sau ăn < 120mg/dL (6,7mmo/L). Cũng không nên để mức glucose huyết lúc đói thấp hơn 60mg/dL. Ceton trong máu và trong nước tiểu phải âm tính nếu người bệnh ăn uống đúng cách.

Nếu dùng glucose huyết tương tĩnh mạch, thì glucose huyết tương mục tiêu lúc đói là < 100mg/dL (5,6 mmol/L), và glucose huyết tương sau ăn <130mg/dL (7,2mmol/L). Không để glucose huyết <60-70mg/dL (3,3-3,9mmol/L)

Nhiều thai phụ có thể giữ mức glucose huyết ổn định sau khi ăn uống đúng cách và luyện tập đều đặn.

2. Dinh dưỡng điều trị

Tổng số năng lượng mỗi ngày dành cho người bệnh đái tháo đường thai kỳ được tính dựa trên cân nặng lý tưởng.

Trên phụ nữ đã có cân nặng lý tưởng, tổng số năng lượng là 30 kilocalo/kg cân nặng đang có mỗi ngày.

Phụ nữ có cân nặng dưới 80% cân nặng lý tưởng cần 40 kilocalo/kg cân nặng đang có/ ngày.

Phụ nữ nặng cân vượt quá từ 120% đến 150% cân nặng lý tưởng cần 25 kilocalo/kg cân nặng đang có/ ngày. Nếu cân nặng lý tưởng của người bệnh vượt quá 150% cân nặng lý tưởng, cần giới hạn tổng số năng lượng khoảng 12 kilocalo/kg cân nặng đang có/ngày.

Chú ý đến sự tăng trọng cần thiết trong thai kỳ: 0,45kg (1lb) mỗi tháng trong quí đầu, 0,2-0,35kg (0,5-0,75lb) mỗi tuần trong quí 2 và 3 của thai kỳ.

Tổng số năng lượng được chia đều cho ba bữa ăn chính và ba bữa ăn lỡ. Nên nhấn mạnh đến carbohydrat hấp thu chậm (đường phức và các chất xơ). Phụ nữ có thai đặc biệt nhạy cảm với tác dụng của glucocorticoid vào buổi sáng, do đó không nên ăn nhiều carbohydrat vào buổi sáng, nhiều khi chỉ cần giới hạn lượng carbohydrat trong bữa sáng, glucose huyết của người bệnh cũng ổn định.

3. Điều trị bằng thuốc

Nếu người bệnh không thể ổn định glucose huyết bằng tiết chế đơn thuần sẽ phải dùng đến Insulin để điều trị. Hiện nay có nghiên cứu cho thấy thuốc glyburide qua nhau thai không đáng kể, nhưng thuốc này chưa được các Hiệp hội Đái tháo đường tại hầu hết các nước chấp nhận dùng cho thai phụ Đái tháo đường. Ngoài ra nhóm thuốc Biguanides đã được dùng trong điều trị buồng trứng đa nang và có một số trường hợp người bệnh có thể có thai nhưng nhóm thuốc này hiện nay vẫn chưa được chấp nhận dùng cho thai phụ.

Loại Insulin được sử dụng thường nhất là Insulin thường tác dụng nhanh (Regular Insulin- Insulin Actrapid) và Insulin bán chậm Có thể dùng dưới dạng pha sẵn 30/70 gồm 1/3 là Insulin thường và 2/3 là Insulin tác dụng bán chậm. Liều trung bình lúc khởi đầu là 0,7 đơn vị/ kg cân nặng mỗi ngày. Liều trong ngày có thể chia tiêm ba lần hoặc hai lần mỗi ngày, trước bữa ăn. Nếu tiêm hai lần mỗi ngày thì thường 2/3 tổng liều sẽ được tiêm trước khi ăn sáng và 1/3 tổng liều sẽ được tiêm trước khi ăn chiều. Trong trường hợp không khẩn cấp, Insulin được tiêm dưới da. Vùng tiêm tốt nhất là vùng bụng, không có bằng chứng vị trí tiêm này có hại cho thai nhi.

Một số người bệnh Đái tháo đường typ 1 cần tiêm liều insulin NPH nhỏ trước ba bữa ăn để tạo mức insulin nền và dùng insulin tác dụng ngắn (analog) trước các bữa ăn.

Đối với người bệnh Đái tháo đường typ 2, có thể dùng insulin thường hoặc insulin analog tác dụng ngắn trước mỗi bữa ăn và một liều insulin nền NPH trước khi đi ngủ.

Các loại insulin analog tác dụng ngắn như insulin aspart, lispro, phải tiêm ngay trước khi ăn. Các loại Insulin nền như insulin glargine, insulin detemir chỉ cần tiêm một lần trong ngày. Tuy nhiên các insulin analog kể trên không phải là lựa chọn hàng đầu cho thai phụ. Theo FDA, insulin aspart, lispro được khuyến cáo ở mức độ B, và Insulin glargine, detemir được khuyến cáo ở mức độ

Nếu có điều kiện, người bệnh nên có một máy tự theo dõi đường huyết mao mạch tại nhà và liên hệ với bác sĩ khi glucose huyết thay đổi bất thường. Có thể theo dõi glucose huyết lúc đói, 1-2 giờ sau ăn và một lần buổi tối trước khi đi ngủ.

Chú ý tìm thể ceton trong máu hoặc trong nước tiểu khi glucose huyết không ổn định, hoặc khi thai phụ ói mửa nhiều.

Ngoài mức glucose huyết, còn cần quan tâm đến huyết áp, đạm niệu, phù, tiền sản giật hoặc sản giật. Mục tiêu sau cùng của điều trị là bảo đảm sức khoẻ cho cả thai phụ và thai nhi, ngăn ngừa các trường hợp thai chết lưu, suy hô hấp, thai to đưa đến các tình huống phải mổ bắt con hoặc trật khớp vai thai nhi nếu sinh qua đường âm đạo.

III. THEO DÕI THAI KỲ

1. Theo dõi thai phụ

Cân nặng, huyết áp, phù, đường huyết, đạm niệu và nước tiểu nên được chú trọng mỗi lần tái khám ngoài khám tổng quát thường quy.

2. Theo dõi sức khoẻ thai nhi

Nghe tim thai mỗi lần khám thai, đếm số lần thai máy mỗi giờ, siêu âm để đo vòng bụng của thai nhi.

Tuần lễ thứ 8-12 của thai kỳ dự đoán có thể làm siêu âm để xác định tuổi thai.

Tuần lễ 18-22, siêu âm thai nhi.

Trên thai phụ có nguy cơ thấp siêu âm lại vào tuần lễ 28 và 37 để theo dõi sự tăng trưởng của thai nhi.

Trên thai phụ có nguy cơ cao, làm siêu âm mỗi 3-8 tuần. Nguy cơ thai to khi vòng bụng của thai nhi lớn hơn bách phân vị 70 trở lên.

Theo dõi thai máy:

Từ tuần lễ 28, nếu thai máy (đếm số lần thai nhi đụng chân vào bụng thai phụ) dưới 4 lần mỗi giờ phải nghi có suy thai.

Theo dõi tim thai:

Thai phụ nguy cơ thấp: theo dõi mỗi tuần kể từ tuần thứ 36.

Thai phụ có nguy cơ cao: theo dõi tim thai từ tuần lễ thứ 27, mỗi 1-3 lần/tuần.

Theo dõi nguy cơ thiếu surfactant ở phổi bằng cách chọc dò dịch ối. Đây là phương pháp xâm lấn, chỉ thực hiện trên thai phụ có nguy cơ cao.

Nguy cơ được dựa trên mức glucose huyết có ổn định tốt hay không và các biến chứng mạch máu sẵn có của thai phụ.

IV. THỜI GIAN SINH VÀ PHƯƠNG PHÁP SINH

Trên thai phụ có nguy cơ thấp, có thể sinh vào tuần lễ thứ 39-40 trừ khi có các vấn đề phụ khoa hoặc đe doạ sinh con to.

Ở các thai phụ có nguy cơ cao, đường huyết không ổn định, nếu thai nhi không có đe doạ bị suy hô hấp, thiếu surfactant ở phổi, nên cân nhắc trì hoãn đến tuần lễ thứ 38-40.

Nếu quyết định cho thai ra sớm trước tuần lễ thứ 37, cần phải chọc dò nước ối, đo các thông số để xem nguy cơ trẻ có thể bị suy hô hấp hay không.

V. SỬ DỤNG INSULIN TRONG LÚC SINH

Trong khi sinh nên dùng Insulin thường tác dụng nhanh truyền qua đường tĩnh mạch, liều trung bình 1-2 đơn vị mỗi giờ cùng với 7,5gam glucose. Nếu cần mổ bắt con liều dùng cũng tương tự. Dù gây mê toàn hon hay gây tê tủy sống, gây tê màng cứng thai nhi cũng không bị ảnh hưởng nếu đường huyết của mẹ ổn định.

Đường huyết của thai phụ nên được duy trì < 110 mg/dL.

Bảng sau đây giúp điều chỉnh liều Insulin cho thai phụ trong khi sinh

Nếu glucose huyết < 130 mg/dL (7,2mmol/L) giữ thông tĩnh mạch với Lactat Ringer sau đó truyền tĩnh mạch Lactat Ringer và Glucose 5% với tốc độ 125 mL/giờ điều chỉnh bằng bơm truyền.

Phác đồ này cũng dùng cho thai phụ đang cần nhịn ăn. Nếu người bệnh đang điều trị bằng corticosteroid, thường cần liều insulin cao hơn. Nếu người bệnh ăn, cần tiêm insulin tác dụng nhanh trước bữa ăn.

Khi truyền tĩnh mạch Insulin phải theo dõi glucose huyết, tốt nhất là một giờ một lần bằng máy thử mao mạch để chỉnh liều cho chính xác.

Cũng cần theo dõi Kali của người bệnh trước khi truyền tĩnh mạch glucose, nhất là khi người bệnh ăn uống kém, và theo dõi Kali trong lúc truyền glucose tuỳ kết quả xét nghiệm.

Sau khi sinh, tình trạng đề kháng insulin của thai kỳ sẽ cải thiện nhanh. Người bệnh Đái tháo đường typ 1 và typ 2 đang điều trị bằng insulin có thể trở lại liều cũ ngay khi người bệnh ăn được. Bệnh nhân Đái tháo đường typ 2 điều trị bằng thuốc có thể không cần dùng thuốc trong vòng 24-48 giờ sau sinh.

Khi cho con bú, có thể điều trị bằng insulin hoặc dùng metformin và /hoặc glyburide, đã có nghiên cứu cho thấy hai thuốc này an toàn khi cho con bú.

Triệu Chứng Của Bệnh Tiểu Đường Khi Mang Thai / 2023

Hầu hết phụ nữ bị bệnh tiểu đường thai kỳ mang đứa con khỏe mạnh. Tuy nhiên, thai bệnh tiểu đường mà không quản lý cẩn thận có thể dẫn đến không kiểm soát được lượng đường trong máu và các vấn đề gây ra cho bản thân và con.

Các biến chứng có thể ảnh hưởng đến em bé

Nếu bị tiểu đường thai kỳ, em bé có thể có nguy cơ:

Vượt quá tăng trưởng. Thêm đường sẽ đi qua nhau thai, gây nên tuyến tụy của bé sản xuất thêm insulin. Điều này có thể gây ra em bé phát triển quá lớn (macrosomia). Trẻ lớn có nhiều khả năng trở thành khó sinh, duy trì thương tích sinh.

Lượng đường huyết thấp (hạ đường huyết). Đôi khi trẻ sơ sinh của bà mẹ bị tiểu đường thai kỳ phát triển đường trong máu thấp (hạ đường huyết) ngay sau khi sinh vì tự sản xuất insulin của họ là cao. Nặng của vấn đề này có thể gây co giật ở trẻ. Cho ăn và đôi khi là một giải pháp đường tĩnh mạch có thể trở lại mức độ đường máu của con bình thường.

Hội chứng suy hô hấp. Một điều kiện mà làm cho hơi thở khó khăn là có thể. Em bé có mẹ bị tiểu đường thai kỳ có vấn đề về hô hấp nhiều hơn những phụ nữ không có vấn đề, ngay cả ở cùng tuổi thai. Những đứa trẻ có hội chứng suy hô hấp có thể cần giúp thở cho đến khi phổi trở nên mạnh mẽ hơn.

Vàng da. Điều này đổi màu vàng của da và lòng trắng của mắt có thể xảy ra nếu gan của bé chưa đủ trưởng thành để phá vỡ một chất gọi là bilirubin, thường các hình thức khi cơ thể tái chế các tế bào máu đỏ cũ hoặc bị hư hỏng. Mặc dù vàng da thường không phải là nguyên nhân cho sự quan tâm, theo dõi cẩn thận là quan trọng.

Tiểu đường loại 2 sau này. Em bé của bà mẹ bị bệnh tiểu đường thai kỳ có nguy cơ cao của bệnh béo phì phát triển và loại 2 bệnh tiểu đường sau này.

Vấn đề phát triển. Nếu bị tiểu đường thai kỳ, con có thể có nguy cơ gia tăng của các vấn đề với phát triển kỹ năng vận động, như đi bộ, nhảy hoặc các hoạt động khác đòi hỏi phải có sự cân bằng và phối hợp. Một nguy cơ gia tăng của các vấn đề quan tâm hoặc các rối loạn tăng động cũng là một mối quan tâm.

Hiếm khi, kết quả không được điều trị bệnh tiểu đường trong cái chết của bé trước hoặc ngay sau khi sinh.

Các biến chứng có thể ảnh hưởng đến bà mẹ

Bệnh tiểu đường thai kỳ cũng có thể làm tăng nguy cơ cá nhân:

Tiền sản giật. Bệnh tiểu đường thai kỳ làm tăng nguy cơ tiền sản giật, một điều kiện đặc trưng bởi huyết áp cao và protein dư thừa trong nước tiểu sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Nếu không điều trị, tiền sản giật có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng hoặc thậm chí đe dọa tính mạng cho cả mẹ và bé.

Nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ có trải nghiệm bệnh tiểu đường thai kỳ, hai lần số lượng nhiễm trùng đường tiểu trong khi mang thai hơn so với phụ nữ khác mang thai. Điều này có thể do đường dư thừa trong nước tiểu.

Tương lai bệnh tiểu đường. Nếu bị tiểu đường thai kỳ, có nhiều khả năng có nó một lần nữa với một thai kỳ trong tương lai. Cũng có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường, thường là tiểu đường loại 2 khi già đi. Tuy nhiên, việc lựa chọn lối sống lành mạnh như ăn thức ăn lành mạnh và tập thể dục có thể giúp giảm nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2 trong tương lai. Trong số những phụ nữ có tiền sử bệnh tiểu đường thai kỳ người đã đạt đến trọng lượng cơ thể lý tưởng của mình sau khi sinh, ít hơn 25 phần trăm phát triển tiểu đường loại 2.

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN TIỂU ĐƯỜNG THAI KỲ

Bác sĩ có thể sẽ đánh giá các yếu tố nguy cơ bệnh tiểu đường thai sớm trong thai kỳ. Hầu hết phụ nữ sẽ có một xét nghiệm sàng lọc cho bệnh tiểu đường thai kỳ đôi trong khoảng 3 – 6 tháng của thai kỳ.

Thường xuyên kiểm tra bệnh tiểu đường thai kỳ

Tầm soát bệnh tiểu đường được khuyên dùng cho hầu hết phụ nữ. Các chuyên gia y tế đã không thành lập một bộ hướng dẫn. Một số câu hỏi đã sàng lọc bệnh tiểu đường thai kỳ là cần thiết nếu trẻ hơn 25 và không có yếu tố nguy cơ. Những người khác nói rằng việc kiểm tra tất cả các phụ nữ mang thai, không có vấn đề tuổi tác của họ là cách tốt nhất để có tất cả các trường hợp tiểu đường thai nghén.

Bác sĩ sẽ khuyên nên một lịch trình sàng lọc dựa trên các yếu tố nguy cơ cụ thể. Đối với hầu hết phụ nữ có nguy cơ trung bình của bệnh tiểu đường thai kỳ, một xét nghiệm máu được biết đến như là một thử thách glucose nên giữa tuần 24 và 28 của thai kỳ. Nếu có một nguy cơ cao bị bệnh tiểu đường thai kỳ, bác sĩ có thể kiểm tra trước đó.

Glucose thử nghiệm. Sẽ bắt đầu thử nghiệm thách thức glucose bằng cách uống một dung dịch glucose xirô. Một giờ sau, sẽ có một xét nghiệm máu để đo lượng đường trong máu. Lượng đường trong máu dưới mức 130 – 140 mg / dl (mg / dL), hoặc 7,2-7,8 millimoles / lít (mmol / L), thường được coi là bình thường trên một thử thách thức glucose, mặc dù điều này có thể khác nhau tại các phòng khám cụ thể hoặc các phòng thí nghiệm. Nếu lượng đường trong máu cao hơn bình thường, nó chỉ có nghĩa là có nguy cơ cao của bệnh tiểu đường thai kỳ. Bác sĩ sẽ chẩn đoán sau khi tạo cho một thử nghiệm tiếp theo.

Các cuộc kiểm tra thử thách glucose. Đối với các thử nghiệm theo dõi, sẽ được yêu cầu nhanh chóng qua đêm và sau đó có lượng đường trong máu lúc đói. Sau đó, sẽ uống một giải pháp ngọt, có chứa một nồng độ cao hơn của glucose và mức độ đường trong máu sẽ được kiểm tra mỗi giờ trong thời gian ba giờ. Nếu ít nhất hai trong số kết quả đọc lượng đường trong máu cao hơn bình thường, sẽ được chẩn đoán với bệnh tiểu đường thai kỳ.

Nếu được chẩn đoán với bệnh tiểu đường thai kỳ

Nếu được chẩn đoán với bệnh tiểu đường thai kỳ, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên kiểm tra thường xuyên, đặc biệt là trong ba tháng cuối của thai kỳ. Trong kỳ thi này, bác sĩ sẽ theo dõi cẩn thận lượng đường trong máu. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu theo dõi lượng đường trong máu hàng ngày, như một phần của kế hoạch điều trị.

Nếu đang gặp phải vấn đề kiểm soát lượng đường trong máu, cần insulin hoặc có biến chứng khi mang thai khác, có thể cần thêm các xét nghiệm để đánh giá sức khỏe của bé. Các xét nghiệm này được thiết kế để đánh giá chức năng của nhau thai. Điều này bởi vì nếu bệnh tiểu đường khó kiểm soát, nó có thể ảnh hưởng đến nhau thai và gây nguy hiểm cho việc trao đổi oxy và chất dinh dưỡng cho em bé. Một bất thường kết quả thử nghiệm không nhất thiết chỉ ra một vấn đề. Bác sĩ có thể làm các xét nghiệm bổ sung để đánh giá chính xác hơn như thế nào em bé đang làm.

Nonstress thử nghiệm. Thiết bị cảm ứng đặt trên bụng được kết nối với màn hình. Kiểm tra này đánh giá tăng nhịp tim thai nhi được dự kiến sẽ có sự chuyển động của thai nhi. Nếu vắng mặt, thai nhi có thể không nhận đủ oxy.

Lý sinh (BPP). Thử nghiệm này kết hợp một thử nghiệm nonstress với một siêu âm thai nhi. Bác sĩ đánh giá bé chuyển động, hơi thở và có một số lượng nước ối bình thường hiện tại. Các thành phần đánh giá hoạt động của thai nhi cho thấy tình trạng oxy của em bé đồng thời kiểm tra được thực hiện. Giảm chất lỏng có nghĩa là bé đã không được đi tiểu đủ và có thể chỉ ra rằng theo thời gian nhau thai đã không được làm việc như nó phải làm.

Chuyển động của thai nhi. Có thể thực hiện thử nghiệm đơn giản này đồng thời là thử nghiệm nonstress hoặc cấu sinh lý. Chỉ cần đếm số lần bé đá trong một khoảng thời gian nhất định. Ít vận động có thể có nghĩa là em bé không nhận đủ oxy.

Kiểm tra lượng đường trong máu sau khi sanh con

Để chắc chắn rằng lượng đường trong máu đã trở lại bình thường sau khi em bé được sinh ra, bác sĩ sẽ kiểm tra lượng đường trong máu sau khi sinh và một lần nữa trong sáu tuần. Nếu kết quả thử nghiệm là bình thường, đó là một ý tưởng tốt để có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường được đánh giá ít nhất là mỗi ba năm. Nếu lượng đường trong máu cho thấy bệnh tiểu đường hay tiền tiểu đường, một điều kiện trong đó lượng đường trong máu cao hơn bình thường, nhưng không đủ cao để được phân loại như bệnh tiểu đường, nói chuyện với bác sĩ về việc bắt đầu một kế hoạch điều trị bệnh tiểu đường.

ĐIỀU TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG THAI KỲ

Đối phó và hỗ trợ

Phòng chống

Nguyên Nhân Bệnh Tiểu Đường Thai Kỳ, Bạn Cần Biết Khi Mang Thai / 2023

Bất cứ bà mẹ nào đang mang thai, đều mong muốn quá trình mang thai được thuận lợi và em bé khi chào đời đều khỏe mạnh, bình an. Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ tuy còn rất thấp nhưng không phải thế mà chúng ta chủ quan.

Cần thiết trước khi mang thai, bạn phải hiểu rõ về để phòng tránh khi mang thai, nhất là trong giai đoạn 3 tháng đầu.

Nguyên nhân bệnh tiểu đường thai kỳ là gì?

Có hai trường hợp sản phụ mắc tiểu đường trong giai đoạn mang thai:

* Thứ nhất, người mẹ đã bị mắc bệnh tiểu đường trước khi mang thai, trường hợp này sẽ rất nguy hiểm đến sức khỏe cả mẹ và em bé.

* Thứ hai, trong giai đoạn mang thai, do biến đổi và rối loạn trong cơ thể, người mẹ bị mắc tiểu đường hay bệnh tiểu đường thai kỳ, trường hợp này, bệnh sẽ hết sau khi sinh em bé.

Trong giai đoạn thai nghén, hormone nội tiết của người phụ nữ thay đổi mạnh mẽ, gây nhiều rối loạn nội tiết.

Đối với phụ nữ mắc tiểu đường thai kỳ, do các rối loạn bên trong, khiến cho tuyến tụy không sản xuất đủ insulin để phân giải glucose đến tế bào, làm tăng lượng đường huyết.

Cần kể đến một vài nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường thai kỳ như:

* Bà mẹ mang thai trên 35 tuổi

* Gia đình có tiền sử mắc bệnh tiểu đường từ cha mẹ, ông bà.

* Lần mang thai trước người mẹ cũng bị mắc tiểu đường thai kỳ

* Cân nặng của em bé sinh ra trên 4kg.

Tuy nhiên bạn cũng không cần quá lo lắng, chỉ có khoảng 3 – 6% phụ nữ mang thai có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ.

Nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ có thể được cải thiện thông qua chế độ ăn uống, sinh hoạt hàng ngày của bạn được không?

Bệnh tiểu đường thai kỳ có phải do nguyên nhân từ chế độ ăn uống trong quá trình mang thai?

Có rất nhiều nguyên nhân mắc bệnh tiểu đường thai kỳ, hiện nay vẫn chưa thể xác định nguy cơ nào cao nhất để chúng ta phòng ngừa. Trong đó, đương nhiên sẽ có ảnh hưởng từ lối sống của bạn và gia đình.

Nhiều phụ nữ thèm ăn nhiều độ ngọt hơn trong quá trình mang thai, hay mệt mỏi nên ít vận động, tinh thần thất thường do bên trong cơ thể thay đổi,… khiến cho thân thể và tinh thần không được cân bằng, là cơ hội cho bệnh tật xâm nhập.

Khi bạn có sức đề kháng mạnh mẽ, và một lối sống lành mạnh, điều độ, vui vẻ, tích cực,… sẽ giúp bạn ngăn chặn được mọi bệnh tật, ngay cả khi có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường trong quá trình mang thai.

Có những nguy cơ nào ảnh hưởng đến bà mẹ và thai nhi nếu như bệnh tiểu đường không được kiểm soát tốt?

Sản phụ kiểm soát các nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường thai kỳ bằng cách nào và thời điểm nào là thích hợp?

Nguy cơ làm ảnh hưởng đến bà mẹ và em bé nếu mẹ bị tiểu đường thai kỳ?

+ Dễ bị tai biến sản khoa như tăng huyết áp (khoảng 10%) so với phụ nữ bình thường.

+ Tỷ lệ tiền sản giật đối với phụ nữ mắc tiểu đường thai kỳ (khoảng 12%), trong khi phụ nữ bình thường (chỉ khoảng 8%).

+ Tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên trong 3 tháng đầu.

+ Mẹ có thể mắc phải bệnh tiểu đường tuýp 2 sau sinh.

+ Nguy cơ cao trẻ mắc tiểu đường tuýp 1 trong tương lai.

+ Những nguy hiểm của người mẹ cũng ảnh hưởng rất lớn đến an toàn và sức khỏe của thai nhi.

Cần phải kiểm soát các nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường thai kỳ như thế nào?

* Trước khi mang thai, cả cha và mẹ cần phải được kiểm tra sức khỏe tổng quát, nhằm tầm soát các căn bệnh có thể di truyền cho thai nhi và trong giai đoạn mang thai.

* Người mẹ trước và trong quá trình mang thai, phải luôn đảm bảo sức khỏe, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, vận động điều độ, nhất là phải đảm bảo một tinh thần thoải mái, tránh lo âu hay căng thẳng kéo dài.

* Trong giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ, cần phải kiểm tra lượng đường trong máu, để kịp thời phát hiện có mắc bệnh tiểu đường thai kỳ hay không, nhằm tránh những rủi ro đáng tiếc có ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé.

* Chế độ ăn uống cần phải phù hợp, hạn chế đồ ngọt, các loại nước uống kích thích, ăn nhiều hơn rau xanh, trái cây, các loại ngũ cốc, hạt,…

* Vận động điều độ hàng ngày, tập các bài thể dục nhẹ nhàng và vận động toàn thân.

* Thiền định và các bài tập yoga giúp tĩnh tập và an nhiên từ bên trong nội tâm, như vậy sẽ giúp bạn có thể chống chọi với mọi biến cố trong cuộc sống, và nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho cơ thể.

Bất cứ bà mẹ nào, đều có thể kiểm soát tốt nhất các nguyên nhân của bệnh tiểu đường thai kỳ , một khi chúng ta luôn duy trì một đời sống quân bình và vui vẻ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Tiểu Đường Và Mang Thai / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!