Đề Xuất 2/2023 # Bệnh Viêm Nội Mạc Tử Cung # Top 8 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Bệnh Viêm Nội Mạc Tử Cung # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Viêm Nội Mạc Tử Cung mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Viêm nội mạc tử cung là tình trạng viêm nhiễm thay đổi cấu trúc của nội mạc tử cung do nhiều nguyên nhân khác nhau. Buồng tử cung có điều kiện thoát dịch tốt, nội mạc tử cung bong tróc định kỳ nên tình trạng viêm nhiễm ít khi lưu lại lâu trong nội mạc tử cung.

Tuy nhiên nếu giai đoạn cấp tính viêm nhiễm không được điều trị dứt điểm hoặc nguồn viêm nhiễm thường xuyên có thể tái phát. Viêm nội mạc tử cung mãn tính là nguyên nhân phổ biến nhất gây sảy thai

1, Bệnh viêm nội mạc tử cung nguyên nhân như thế nào?

  1. Viêm nội mạc tử cung mãn tính

  (1) Mặc dù nội mạc tử cung bong ra theo định kỳ nhưng lớp đáy không bong ra cùng với đó, một khi lớp đáy bị viêm mãn tính thì lớp chức năng của nội mạc tử cung lâu ngày có thể bị nhiễm trùng dẫn đến viêm nội mạc tử cung mãn tính. Sự tồn tại của viêm nội mạc tử cung do lao cũng có cơ chế tương tự.

  (2) Viêm vòi trứng lâu dài hoặc viêm cổ tử cung nặng có thể dẫn đến viêm nội mạc tử cung mãn tính.

  (3) Dụng cụ tránh thai có thể gây viêm nội mạc tử cung mãn tính.

  (4) Một lượng nhỏ nhau thai còn sót lại sau khi sinh con hoặc sau khi sinh , hoặc quá trình gắn kết nhau thai không hoàn chỉnh thường là nguyên nhân của viêm nội mạc tử cung mãn tính.

  (5) Ở phụ nữ sau mãn kinh , do lượng estrogen trong cơ thể giảm đáng kể, nội mạc tử cung và niêm mạc âm đạo mỏng hơn, dễ bị vi trùng xâm nhập dẫn đến viêm nhiễm. Trong lâm sàng viêm nội mạc tử cung và viêm âm đạo do tuổi già thường cùng tồn tại.

  (6) U xơ tử cung dưới niêm mạc và polyp niêm mạc cũng có thể gây viêm nội mạc tử cung mãn tính.

  (7) Viêm nội mạc tử cung mãn tính không có nguyên nhân rõ ràng cũng có thể tồn tại. Tác nhân gây bệnh phần lớn đến từ hệ vi khuẩn trong âm đạo.

  2. Viêm nội mạc tử cung cấp tính

  (1) Kinh nguyệt không đảm bảo vệ sinh, giao hợp kinh nguyệt hoặc rối loạn đời sống tình dục đưa vi khuẩn gây bệnh từ cơ thể, âm đạo, cổ tử cung vào buồng tử cung.

2, Các triệu chứng của bệnh viêm nội mạc tử cung là gì?

  Các triệu chứng bệnh viêm nội mạc tử cung thường gặp: sốt, tăng bạch huyết, phân có mủ, tăng kinh.

  1, đau vùng xương chậu, đau bụng dưới xảy ra trong thời kỳ kinh nguyệt đau và đau vùng bụng .

  2. Tăng tiết dịch âm đạo do tăng tiết các tuyến nội mạc tử cung. Nói chung là phân loãng nước, màu vàng nhạt, đôi khi có lẫn máu. Viêm nội mạc tử cung tuổi già biểu hiện ra máu mủ và thường chứa một ít máu. Khi tử cung bị phù, dịch tiết ra có mủ và có mùi hôi.

  3. Rong kinh, kinh nguyệt đều và lượng máu kinh tăng gấp đôi, thời gian ra máu kéo dài rõ rệt. Chảy máu bất thường là rất hiếm.

  4. Đau bụng kinh thường gặp ở phụ nữ chưa sinh con nhưng hiếm gặp đau bụng kinh dữ dội, có thể do nội mạc tử cung dày quá mức cản trở quá trình thoái hóa và hoại tử mô bình thường, kích thích tử cung co thắt quá mức.

3, Các hạng mục kiểm tra bệnh viêm nội mạc tử cung là gì?

  Các hạng mục kiểm tra: kiểm tra hình ảnh dịch tiết âm đạo, kiểm tra bằng mỏ vịt âm đạo, xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung

  1. Khám phụ khoa định kỳ

  2. Nạo chẩn đoán

  Nạo là sử dụng dụng cụ làm giãn nở bằng kim loại để mở cổ tử cung để nạo có thể đi vào buồng tử cung để nạo lớp nội mạc tử cung. Loại nạo này dùng để lấy sinh thiết chẩn đoán các bất thường ở nội mạc tử cung.

  3. Kiểm tra dịch tiết âm đạo

Hạt le  bình thường có màu trắng, nhão và không mùi. Nếu gần đến thời kỳ rụng trứng, máu kinh ra nhiều và trong suốt, chứng tỏ có trứng trong, số lượng nhiều hơn. Sau thời kỳ rụng trứng, khí hư màu trắng đục, đặc hơn và số lượng ít hơn.

4, Làm thế nào để phân biệt và chẩn đoán bệnh viêm nội mạc tử cung?

  1. U xơ tử cung

  Bệnh này có thể có những thay đổi về kinh nguyệt và tử cung to ra, với kết cấu cứng và không có độ mềm; trong khi tử cung có thể to ra khi bị viêm tử cung, nhưng nó to và mềm đồng đều. Kích thước của tử cung nói chung là trong vòng hai tháng của thai kỳ. Cơ thể tử cung có thể giảm sau khi điều trị chống viêm.

  2, bệnh phì đại tử cung

  Tử cung to lên đồng đều, kèm theo rong kinh hoặc thời gian hành kinh quá lâu, một số bệnh nhân có thể không có triệu chứng. Nó phổ biến hơn ở phụ nữ sinh ba trở lên. Xác định và viêm mãn tính tử cung phì đại tử cung mà không viêm nhiễm, khám phụ khoa ngoài tử cung tăng, nhưng không có đau tử cung và dấu hiệu khác.

  3. Viêm tử cung mãn tính

  Các biểu hiện lâm sàng của nội mạc tử cung mãn tính cũng giống như những người trong nội mạc tử cung mãn tính, nhưng những lời dối trá khác biệt chính trong những thay đổi bệnh lý. Ngoài ra, quá trình điều trị viêm tử cung mãn tính kéo dài hơn so với viêm nội mạc tử cung.

5, Bệnh viêm nội mạc tử cung có thể gây ra những bệnh gì?

  Viêm phúc mạc lan tỏa (trái ngược với viêm phúc mạc khu trú) là diện tích của phúc mạc gần bằng diện tích da toàn thân. Sau khi xuất hiện viêm phúc mạc lan tỏa cấp tính, dịch tiết ra nhiều, chất độc ngấm vào nhiều, nhiễm độc toàn thân cũng nghiêm trọng.

  Nhiễm trùng huyết là tình trạng nhiễm trùng toàn thân nghiêm trọng do vi khuẩn xâm nhập vào hệ tuần hoàn máu, phát triển và sinh sôi trong đó, đồng thời sản sinh ra độc tố. Biểu hiện lâm sàng là sốt , ban xuất huyết nặng như nhiễm trùng huyết, gan lách to , bạch cầu tăng, v.v.

  Bể phốt sốc, còn được gọi là sốc nhiễm trùng, đề cập đến hội chứng nhiễm trùng huyết với cú sốc gây ra bởi vi sinh vật và độc tố của chúng và các sản phẩm khác.

Các vi sinh vật và độc tố của chúng, các sản phẩm của thành tế bào,… xâm nhập vào hệ tuần hoàn máu, tác động nhiều loại lên các cơ quan, hệ thống của cơ thể, ảnh hưởng đến quá trình tưới máu, dẫn đến tế bào mô bị thiếu oxy máu , rối loạn chuyển hóa, rối loạn chức năng, thậm chí suy đa tạng.

6, Làm thế nào để ngăn ngừa bệnh viêm nội mạc tử cung?

  1. Khám phụ khoa toàn diện trước và trước khi phá thai , phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh viêm nhiễm cấp và mãn tính của đường sinh sản, tránh để vi khuẩn xâm nhập sau nạo hút thai hoặc hậu sản.

  2. Chọn một bệnh viện bình thường để phá thai hoặc sinh nở . Khử trùng không đầy đủ trong khi phẫu thuật hoặc trong khi sinh là một nguyên nhân quan trọng của viêm nội mạc tử cung cấp tính và cần được coi trọng.

  3. Chú ý vệ sinh cá nhân sau khi sinh hoặc nạo hút thai, không dùng băng vệ sinh không sạch sẽ, thay băng vệ sinh không kịp thời, cấm giao hợp.

  4. Là phụ nữ mang thai nên đến bệnh viện chỉ định để khám thai , được hướng dẫn sức khỏe khi mang thai, điều trị tích cực các bệnh mãn tính như suy dinh dưỡng , thiếu máu để tăng cường thể lực.

  5. Đời sống tình dục bị cấm trong ba tháng cuối của thai kỳ. Chú ý đến chế độ ăn uống sau khi sinh con, ăn những thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu, giàu đạm và vitamin, giữ thể trạng tốt. Khi lochia chưa được rút hết, hãy nằm ở tư thế nửa nằm nghiêng để dễ thải lochia.

  6. Phụ nữ bình thường cũng nên chú ý vệ sinh cá nhân, tuyệt đối không được giao hợp khi có hiện tượng chảy máu âm đạo.

7, Các phương pháp điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung là gì?

  1. Xử lý chung

  (1) chế độ ăn lỏng hoặc nửa lỏng dễ tiêu và sốt cao chứa nhiều đạm, vitamin và thức ăn thích hợp, không ăn được thì nên truyền tĩnh mạch dinh dưỡng và nước, đồng thời chú ý khắc phục tình trạng mất cân bằng điện giải và ngộ độc acid .

  (2) Viêm nội mạc tử cung cấp nên nằm nghỉ trên giường, tốt nhất là tư thế bán nằm nghiêng, nhằm tạo điều kiện hạn chế tình trạng viêm nhiễm và dẫn lưu dịch tiết tử cung;

  (3) Chườm nóng vùng bụng dưới để thúc đẩy quá trình tiêu viêm và giảm đau;

  (4) Giữ cho phân không bị cản trở để giảm tắc nghẽn vùng chậu và tạo điều kiện bài tiết chất độc;

  (5) Nó có thể được làm mát vật lý khi nhiệt độ cao;

  (6) Nên tránh khám phụ khoa quá nhiều để tránh tình trạng viêm nhiễm lây lan.

  (1) Dùng đặt trong tử cung cho bệnh nhân đã kết hôn, dùng trong tử cung cho bệnh nhân đã lập gia đình. Trước khi mổ, cần kiểm tra kích thước và vị trí của tử cung bằng cách khám hai bên. Ống thông tiểu được đưa vào buồng tử cung từ miệng tử cung, độ sâu của buồng tử cung dưới 0,5cm, thuốc đã chọn được bơm từ từ vào buồng tử cung qua ống thông.

Nằm ngửa hoặc kê cao mông từ 1 đến 2 giờ, mỗi ngày một lần và ngừng trong thời kỳ kinh nguyệt. Vì phương pháp này có thể làm cho thuốc tác động trực tiếp lên tổn thương nên hiệu quả thường rất rõ rệt.

  (2) Điều trị bằng kháng sinh và làm sạch khoang tử cung . Viêm nội mạc tử cung xảy ra sau khi sinh con hoặc nạo hút thai . Nếu còn sót lại mô nhau thai, cần loại bỏ ngay trong khi sử dụng kháng sinh.

Khi kháng sinh đạt đến liều lượng nhất định và tình trạng viêm được kiểm soát, Chỉ nạo là khả thi để ngăn chặn sự lây lan của viêm. Nếu có hiện tượng chảy máu trong tử cung, có thể làm sạch khoang tử cung bằng nhiều kháng sinh.

8, Chế độ ăn uống cho bệnh viêm nội mạc tử cung

  1. Cháo gạo Sophora japonica: 10 gam Sophora japonicus, 30 gam hạt mướp đông, 20 gam gạo, lượng vừa đủ.

  Chiên Sophora japonicus và mướp đông thành canh, bỏ xỉ, cho gạo tẻ vào nấu cháo.

  Bài thuốc này có tác dụng bổ khí, trừ ẩm.

  2. Gà vàng Rehmannia sống: 250g Gà xương đen Rehmanniae sống và 150g caramel

  Gà làm sạch lông, rửa sạch ruột, thái nhỏ, trộn đều rehmannia glutinosa với đường, cho vào bụng gà, hấp cách thủy, không muối.

  Gia vị như giấm. Công thức này có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt!

Ung Thư Nội Mạc Cổ Tử Cung

Nội dung chính trong bài [ Hiện ]

Ung thư nội mạc cổ tử cung (hay còn gọi là niêm mạc cổ tử cung) là căn bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ. Hiểu rõ về căn bệnh này là cách tốt nhất để người bệnh sống chung hòa bình với nó.

Tử cung, cổ tử cung của phụ nữ

I. Ung thư nội mạc cổ tử cung là gì?

Tử cung là một cơ quan sinh dục của phụ nữ, có hình quả lê quay ngược, nó nằm giữa bàng quang và trực tràng. Phần trên lồi to gọi là đáy tử cung còn phần dưới nhỏ và dài được gọi là cổ tử cung.

Ung thư nội mạc tử cung có thể xuất hiện tại cả phần đáy và cổ tử cung. Vị trí cổ tử cung thường gặp hơn, chính vì thế mà khi nhắc đến ung thư tử cung, người ta thường chỉ nhắc đến cung thư nội mạc cổ tử cung là nhiều.

Đây là một loại ung thư phát sinh từ nội mạc hay còn gọi là niêm mạc của tử cung. Sự phát triển bất thường của các tế bào có khả năng xâm nhập và lây lan nhanh chóng đến các bộ phận khác trên cơ thể chính là cách mà ung thư nội mạc tử cung tiến triển.

II. Nguyên nhân ung thư nội mạc tử cung ở nữ giới

Ung thư nội mạc cổ tử cung

Hiện nay, các bác sĩ chuyên khoa chưa hiểu rõ tất cả các nguyên nhân, rủi ro gây ra ung thư nội mạc cổ tử cung. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và điều trị thực tế, các bác sĩ đã tổng hợp và đưa ra các nguyên nhân, rủi ro có thể dẫn đến căn bệnh này ở nữ giới.

1. Virus HPV xâm nhập

Hầu hết phụ nữ mắc ung thư nội mạc cổ tử cung khi được phát hiện đều bị nhiễm virus HPV trong nhiều năm. Đây là một loại virus lây truyền qua đường tình dịch, nó tiếp xúc qua da âm đạo và dương vật.

Hiệp hội ung thư Australia đã thống kê rằng, cứ 5 phụ nữ thì có đến 4 người nhiễm HPV vào một lúc nào đó trong cuộc đời.

Virus HPV có nhiều chủng khác nhau, trong số đó, chỉ có một số chủng có thể gây ung thư tử cung, ung thư dương vật… như chủng 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59 và 66). Viêm nội mạc cổ tử cung nhiều lần trong đời bởi virus HPV sẽ khiến nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung gia tăng.

Việc phát hiện ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm có thể được thực hiện thông qua xét nghiệm Pap Smear (phết tế bào tử cung), vì thế, phụ nữ tiền hoặc sau mãn kinh nên thực hiện tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ hàng năm để phát hiện sớm và điều trị hiệu quả.

2. Điều trị Tamoxifen

Tỷ lệ là 1 trong số 500 phụ nữ ung thư vú được điều trị với tamoxifen sẽ phát triển ung thư nội mạc cổ tử cung.

3. Di truyền ung thư đại trực tràng nonpolyposis (HNPCC)

Những người có tiền sử ung thư đại trực tràng có nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung cao hơn. Theo hiệp hội ung thư Mỹ, nếu phụ nữ từng bị ung thư đại trực tràng sẽ có nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung cap hơn từ 40 – 60 %.

4. Mất cân bằng estrogen trong cơ thể

Buồng trứng của người phụ nữ sản sinh ra hai hormone nữ chính – estrogen và progesterone. Sự biến đổi trong sự cân bằng các hooc môn gây ra sự thay đổi tế bàotrong nội mạc tử cung dẫn đến sự hình thành của khối y

Tăng lượng estrogen trong cơ thể có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung ở phụ nữ, các nhóm nguy cơ cao bao gồm:

Người béo phì, thừa cân

Sinh trên 4 người con

Không sinh con

Có kinh nguyệt sớm hơn 12 tuổi

Quan hệ sớm – trước 18 tuổi

Tiểu đường, cao huyết áp

Quan hệ vợ chồng với nhiều người

Mắc bệnh đa nang buồng trứng

Quá sản (quá kích) nội mạc cổ tử cung

5. Hút thuốc lá

Thuốc lá là một nguyên nhân gây nên hầu hết các loại bệnh ung thư

6. Suy giảm hệ thống miễn dịch, rối loạn nội tiết

Người mắc bệnh HIV/AIDS, viêm gan mạn, bệnh lý mô liên kết… có nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung cao hơn

7. Các yếu tố khác

Nghèo, lạc hậu, vệ sinh kém, giống nòi bất thường, thực phẩm nghèo chất dinh dưỡng (thiếu sinh tố A, C, axít folic, trái cây, rau tươi…) cũng là một yếu tố nguy cơ gây ung thư nội mạc cổ tử cung cao hơn.

III. Dấu hiệu (triệu chứng, biểu hiện) ung thư nội mạc cổ tử cung

Ung thư tử cung có cơ hội điều trị 80% nếu phát hiện ở giai đoạn sớm. Một số triệu chứng hay biểu hiện thường gặp bạn không nên bỏ qua khi cơ thể lên tiếng cảnh báo

HPV là 1 nguyên nhân gây ung thư nội mạc cổ tử cung

1. Chảy máu âm đạo bất thường

Hiện tượng này bao gồm dấu hiệu chảy máu âm đạo giữa các chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau khi quan hệ tình dục hoặc sau giai đoạn mãn kinh.

2. Âm đạo có mùi hôi, khó chịu, chảy dịch

Khi phát hiện âm đạo có mùi hôi, khó chịu, chảy dịch và màu dịch bất thường bạn nên đi khám phụ khoa. Đây là dấu hiệu cảnh báo ung thư tử cung nhiều phụ nữ bỏ qua nhất do nó thường gây nhầm lẫn với việc nhiễm nấm, nhiễm khuẩn âm đạo hoặc các bệnh phụ khoa khác không phải bệnh ung thư.

3. Đau hoặc áp lực vùng xương chậu

Nếu cơ thể xuất hiện những dấu hiệu bất thường trên, bạn nên đến gặp bác sĩ phụ khoa để thăm khám, tìm hiểu nguyên nhân và có phương pháp điều trị kịp thời. Tránh để quá lâu khiến bệnh chuyển biến phức tạp khó điều trị dứt điểm.

IV. Chẩn đoán ung thư nội mạc cổ tử cung

Ung thư tử cung giai đoạn đầu thường không có biểu hiện rõ ràng. Một số trường hợp có thể nhầm lẫn với các bệnh phụ khoa khác. Vì vậy nếu nghi ngờ có sự xuất hiện của khối u trong tử cung, bác sĩ sẽ yêu cầu thực hiện các xét nghiệm và thủ thuật được sử dụng để chẩn đoán bao gồm:

1. Khám vùng chậu – phát hiện dấu hiệu bất thường bên trong

Dấu hiệu, triệu chứng, biểu hiện ung thư nội mạc cổ tử cung

Trong kỳ khám vùng chậu, bác sĩ kiểm tra kỹ phần ngoài của bộ phận sinh dục và thực hiện khám trong để phát hiện những dấu hiệu bất thường ở vùng chậu và tử cung.

2. Siêu âm đầu dò tử cung

Bác sĩ của bạn có thể đề nghị một siêu âm qua âm đạo để nhìn vào độ dày và kết cấu của nội mạc tử cung và giúp loại trừ các điều kiện khác. Hiện nay tại Việt Nam, các bác sĩ thường sử dụng siêu âm đầu dò để phát hiện những dấu hiệu bất thường trong lớp niêm mạc tử cung.

3. Kiểm tra lớp nội mạc tử cung

Quá trình soi tử cung, bác sĩ sẽ chèn một ống mỏng, mềm dẻo, qua ống thông âm đạo và cổ tử cung vào tử cung của bạn. Một ống kính trên ống soi cho phép bác sĩ kiểm tra bên trong tử cung và nội mạc tử cung. Điều này giúp bác sĩ phát hiện những tổn thương hoặc bất thường trên bề mặt lớp nội mạc tử cung.

4. Sinh thiết tế bào – phát hiện tế bào ung thư

Khi phát hiện những dấu hiệu bất thường ở lớp nội mạc tử cung, có thể bạn sẽ trải qua một sinh thiết nội mạc tử cung để xác nhận, tìm kiếm tế bào ung thư. Kết quả sinh thiết thường có sau 5-7 ngày và được thực hiện tại các phòng LAB của các bệnh viện hiện đại.

5. Thực hiện phẫu thuật lấy mô để xét nghiệm

Nếu không thể lấy đủ mô trong thời gian sinh thiết hoặc nếu kết quả sinh thiết không rõ ràng, có thể bạn cần phải trải qua một thủ thuật lấy mô trực tiếp từ lớp nội mạc tử cung. Trong thời kỳ D & C, mô được lấy từ màng tử cung của bạn và kiểm tra dưới kính hiển vi cho tế bào ung thư.

V. Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 0, 1 (1a, 1b), 2 (2a, 2b(, 3 (3a, 3b, 3c1, 3c2), 4 (4a, 4b, giai đoạn cuối) tiên lượng sống được bao lâu?

1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng thời gian sống của bệnh ung thư nội mạc cổ tử cung

Tiên lượng về thời gian sống của bệnh nhân ung thư nội mạc cổ tử cung thực ra phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó, phải kể đến các yếu tố chính là:

Độ lớn và trọng lượng của khối u

Sinh thiết tế bào ung thư nội mạc cổ tử cung

Khối u càng nhỏ tức chiều cao, chiều rộng và chiều dày càng nhỏ thì có tiên lượng càng tốt.

Giai đoạn sớm có tiên lượng tốt hơn giai đoạn muộn

Đây là yếu tố quan trọng nhất, khi khối u đã xâm lấn vào cả khu vùng chậy haowjc các mô liên kết lỏng lẻo quanh cổ tử cung, tử cung thì việc điều trị sẽ phức tạp và khó khăn hơn. Ung thư đã đã lan đến các hạch bạch huyết và khu vực khác thì tiên lượng sẽ kém hơn.

Ung thư nội mạc cổ tử cung có phần độ thấp có tiên lượng thấp hơn

Phân độ hay là Grade của khối u là hệ thống nhằm phân loại các tế bào ung thư dựa vào mức độ bất thường về hình dạng của chúng khi quan sát dưới kính hiển vi và tốc độ phát triển của chúng. Đây là một yếu tố quan trọng trong tiên lượng ung thư biểu mô tuyến cổ tử cung. Các bác sĩ thường mô tả phân độ khối u theo 4 mức khác nhau từ 1 đến 4, khối u ở phân độ 3 có nguy cơ di căn sẽ tiên lượng kém hơn.

Tính chất khối u

Cùng được gọi là ung thư nội mạc cổ tử cung như ung thư biểu mô tế bào nhỏ và biểu mô tế bào như thủy tinh có tiên lượng kém hơn các loại ung thư cổ tử cung khác.

Tình trạng thiếu máu

Người bị thiếu máu thường có tiên lượng không tốt bằng người không mắc chứng tương tự. Mặc dù được bổ sung bằng truyển máu nhưng tình trạng này không hề được cải thiện.

Qua đây chúng ta có thể thấy một điều rằng, phụ nữ nên chăm sóc bản thân và đi khám, tầm soát ung thư định kỳ sau tuổi 50 để có sớm phát hiện và điều trị hiệu quả mầm mống ung thư nội mạc cổ tử cung.

2. Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 0, 1 (1a, 1b), 2 (2a, 2b(, 3 (3a, 3b, 3c1, 3c2), 4 (4a, 4b, giai đoạn cuối)

Các tế bào ung thư thường phát triển lặng lẽ bên trong tử cung. Cũng giống như các bệnh ung thư khác ở nữ giới, ung thư tử cung thường tiến triển qua 05 giai đoạn, mỗi giai đoạn có một đặc trưng riêng biệt.

1. Ung thư nội mạc tử cung giai đoạn 0

Giai đoạn này còn được gọi là ung thư tế bào biểu mô tại chỗ. Các tế bào ung thư chỉ được tìm thấy trong lớp bề mặt của các tế bào nội mạc tử cung mà không phát triển sâu vào các lớp tế bào bên dưới. Ung thư đã không lan sang các hạch bạch huyết lân cận hoặc các vị trí xa xôi. Đây là một tổn thương tiền ung thư.

Tiên lượng thời gian sống sau 35 năm của bệnh nhân lên tới 100%, vì thế phát hiện ung thư nội mạc cổ tử cung sớm sẽ giúp người bệnh vượt qua căn bệnh dễ dàng hơn.

2. Ung thư nội mạc tử cung giai đoạn 1 (1a, 1b)

Ung thư chỉ phát triển trong tử cung. Nó cũng có thể phát triển ở các tuyến của cổ tử cung. Giai đoạn này được chia làm 2 giai đoạn nhỏ

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 0, 1 (1a, 1b), 2 (2a, 2b), 3 (3a, 3b, 3c1, 3c2), 4 (4a, 4b, giai đoạn cuối)

Giai đoạn 1A: Trong giai đoạn sớm nhất của giai đoạn 1, ung thư nằm trong nội mạc tử cung (màng trong của tử cung) và có thể phát triển từ nội mạc tử cung qua lớp cơ dưới của tử cung. Nó chưa lan đến hạch bạch huyết hoặc các vị trí xa xôi trong cơ thể.

Giai đoạn 1B: Ung thư đã phát triển từ nội mạc tử cung vào trong cơ tử cung. Ung thư chưa lan rộng sang các mô xung quanh hoặc bên ngoài tử cung.

Tỷ lệ người bệnh tiên lược sống sau 5 năm là:

– Giai đoạn 1a là 85%

– Giai đoạn 1b là 47%

3. Giai đoạn 2

Tỷ lệ người bệnh tiên lượng sống sau 5 năm là:

– Giai đoạn 2a là 63%

– Giai đoạn 2b là 58%

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 1, 1a, 1b (Nguồn ảnh: Afamily)

4. Giai đoạn 3

Khối u đã lan ra ngoài tử cung hoặc vào các mô lân cận trong vùng chậu.

Giai đoạn 3A: Ung thư đã lan đến bề mặt ngoài của tử cung (gọi là huyết thanh, các ống dẫn trứng hoặc buồng trứng. Ung thư chưa có dấu hiệu lan sang các hạch bạch huyết hoặc các vị trí xa hơn.

Giai đoạn 3B: Khối u đã lan đến âm đạo hoặc mô xung quanh tử cung (parametrium). Tuy nhiên chưa lan sang các hạch bạch huyết hoặc các vị trí xa xôi.

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 2 – 2a, 2b (Nguồn ảnh Afamily)

Giai đoạn 3C1: Ung thư có thể lây lan sang một số mô lân cận, nhưng không phát triển sâu vào bên trong bàng quang hoặc trực tràng. Ung thư đã lan đến các hạch lympho vùng chậu nhưng không ảnh hưởng đến các hạch bạch huyết xung quanh động mạch chủ hoặc các vị trí khác.

Giai đoạn 3C2: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết xung quanh động mạch chủ (hạch chậu ao), nhưng chưa ảnh hưởng đến các cơ quan khác trong cơ thể

Tiên lượng sống sau 5 năm của bệnh nhân ở giai đoạn này là:

– Giai đoạn 3a là 35%

– Giai đoạn 3b là 21%

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 3a (Nguồn ảnh: Afamily)

5. Giai đoạn 4

Ung thư đã lan đến bề mặt bên trong của bàng quang hay trực tràng (phần dưới của ruột già), đến các hạch bạch huyết ở háng, và / hoặc các cơ quan khác, chẳng hạn như xương, phế quản hay phổi.

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 3b (Nguồn ảnh: Afamily)

Giai đoạn 4A: Ung thư đã lan đến lớp niêm mạc bên trong của trực tràng hoặc bàng quang. Nó có thể lan rộng tới các hạch bạch huyết ở gần đó nhưng không lan rộng tới các vị trí khác trong cơ thể.

Giai đoạn 4B: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết xa, vùng bụng trên, màng phổi, hoặc các cơ quan ra khỏi tử cung, chẳng hạn như phổi hoặc xương.

Việc xác định rõ tính chất, đặc điểm đặc trưng của từng giai đoạn sẽ giúp bác sĩ hiểu rõ tình trạng tiến triển của khối u ung thư và xây dựng phác đồ điều trị hợp lý.

Tiên lượng thời gian sống sau 5 năm của bệnh nhân trong giai đoạn này là:

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 3c (Nguồn ảnh: Afamily)

VI. Điều trị ung thư nội mạc cổ tử cung hiện đại như thế nào?

Các lựa chọn điều trị ung thư tử cung sẽ tùy thuộc vào đặc điểm của ung thư, giai đoạn bệnh, thể trạng… của người bệnh. Trong đó, các biện pháp y học hiện đại điều trị chính ung thư nội mạc cổ tử cung là:

1. Phẫu thuật cắt bỏ tử cung

Phẫu thuật cắt bỏ tử cung được khuyến cáo đối với hầu hết phụ nữ bị ung thư nội mạc cổ tử cung. Hầu hết phụ nữ bị ung thư nội mạc cổ tử cung đều phải trải qua một thủ thuật để cắt bỏ tử cung (cắt bỏ tử cung), cũng như loại bỏ các ống dẫn trứng và buồng trứng (salpingo-oocctomy).

Cắt bỏ tử cung khiến bạn không thể có con trong tương lai. Bạn sẽ đối mặt với thời kỳ mãn kinh sớm hơn thông thường nếu bạn chưa từng trải qua giai đoạn này trong đời.

2. Hóa trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 4a (Nguồn ảnh: Afamily)

Hóa trị liệu sử dụng hóa chất để diệt tế bào ung thư. Bệnh nhân có thể nhận được một loại thuốc hóa trị liệu, hoặc hai hoặc nhiều loại thuốc có thể được sử dụng kết hợp.

Hóa trị có thể được khuyến cáo cho những trường hợp ung thư tử cung đang phát triển hoặc tái phát đã lan ra ngoài tử cung. Thông qua đường uống hoặc tiêm truyền tĩnh mạch, hóa chất sẽ trực tiếp thẩm thấu vào máu và sau đó đi vào cơ thể của bạn, giết chết tế bào ung thư.

3. Xạ trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Liệu pháp bức xạ sử dụng các chùm năng lượng mạnh như tia X và proton để diệt các tế bào ung thư. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể khuyên bệnh nhân cách xạ trị để giảm nguy cơ tái phát ung thư sau khi giải phẫu. Trong những trường hợp nhất định, xạ trị cũng có thể được khuyến cáo trước khi giải phẫu, làm co lại khối u và giúp phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn.

Ung thư nội mạc cổ tử cung giai đoạn 4b

Ngoài ra, những bệnh nhân không đủ sức khỏe để phẫu thuật, các bác sĩ cũng có thể chỉ định điều trị bằng xạ trị. Khi ung tư nội mạc cổ tử cung đã di căn, xạ trị có thể giúp kiểm soát sự đau đớn cho bệnh nhân.

4. Liệu pháp nội tiết điều trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Liệu pháp nội tiết tố bao gồm việc dùng thuốc có ảnh hưởng đến lượng hoóc môn trong cơ thể. Liệu pháp nội tiết tố có thể là một lựa chọn nếu bệnh nhân bị ung thư nội mạc tử cung lan rộng ra ngoài tử cung. Liệu pháp bao gồm:

Thuốc để tăng lượng progesterone trong cơ thể: Progestin tổng hợp, một dạng của hoocmon progesterone, có thể giúp ngăn các tế bào ung thư nội mạc tử cung phát triển.

Thuốc để giảm lượng estrogen trong cơ thể: Thuốc trị liệu bằng nội tiết tố có thể giúp làm giảm lượng estrogen trong cơ thể hoặc làm cho cơ thể bạn khó sử dụng estrogen sẵn có. Các tế bào ung thư nội mạc tử cung dựa vào estrogen để giúp chúng phát triển có thể bị tiêu diệt vì đáp ứng với những thuốc này.

VII. Phòng ung thư tử cung tái phát và mắc mới ung thư

Cũng giống như các loại ung thư khác, ung thư nội mạc cổ tử cung có 2 mục tiêu phòng ngừa là phòng ngừa tái phát và mắc mới ung thư.

Điểm chung của hai mục tiêu phòng ngừa này là người bệnh cần thực hiện tốt các việc sau đây:

Duy trì tinh thần tích cực. Tận hưởng cuộc sống với những việc mình thích, những thú vui cá nhân. Và tiết chế các cảm xúc tức giận, buồn chán, suy nghĩ tiêu cực. Cả người khỏe lần người ung thư đều cần điều này để cuộc sống thật sự ý nghĩa.

Sử dụng thuốc và các chế phẩm dược hợp lý

Hạn chế các yếu tố nguy cơ: không ăn đồ ăn nhiều dầu mỡ, thuốc lá, ăn thực phẩm không tốt cho sức khỏe, rượu bia, thời khóa biểu không khoa học, quan hệ tình dục với nhiều người khác nhau, sinh nhiều con, không kiểm soát tốt cân nặng, bệnh tiểu đường, cao huyết áp, viêm nhiễm, tăng sản nội tuyến tử cung…

Nên cho con bú bằng sữa mẹ: Điều này làm giảm sự rụng trứng và hoạt động của estrogen, không chỉ giúp bạn ngăn ngừa ung thư niêm mạc tử cung, ung thư vú mà còn giúp bạn nhanh chóng lấy lại vóc dáng thanh mảnh.

Điều trị xuất huyết bất thường ngay lập tức: Khi cơ thể xuất hiện dấu hiệu chảy máu âm đạo bất thường, bạn nên tìm hiểu ra nguyên nhân và có phương pháp điều trị kịp thời. Việc chảy máu nội mạc tử cung có thể dẫn đến tổn thương lớp niêm mạc, dẫn đến ung thư niêm mạc tử cung.

Ngoài ra, với người chưa mắc ung thư nội mạc cổ tử cung cũng có thể phòng ngừa căn bệnh này nhờ tiêm vắc xin HPV.

Các bác sĩ điều trị ung bướu tại các bệnh viện điều trị ung thư lớn như bệnh việ K, 108 và Bạch Mai hay khuyên bệnh nhân trước, trong và sau khi điều trị tích cực ung thư nội mạc cổ tử cung sử dụng King Fucoidan Agaricus. Việc này giúp tăng hiệu quả điều trị, giảm thiểu tác dụng phụ và ngăn ngừa tái phát ung thư.

Sản phẩm được các bác sĩ điều trị ung bướu khuyên dùng

Bởi Fucoidan khi phối hợp với là sự kết hợp tuyệt với giúp tiêu diệt tế bào ung thư từ trong trứng nước và nâng cao khả năng miễn dịch cho người sử dụng.

Bạn cần tìm hiểu kỹ hơn trước khi lựa chọn sử dụng, hãy đọc bài viết sâu hơn về sản phẩm này Ở ĐÂY, HOTLINE MIỄN CƯỚC 24/7 18000069

Chúng tôi luôn đồng cảm và mong muốn bạn cùng người thân sống vui khỏe nhất.

Xạ trị ung thư nội mạc cổ tử cung

Lạc Nội Mạc Tử Cung: Bệnh Phụ Khoa Chị Em Phụ Nữ Nên Lưu Ý

Lạc nội mạc tử cung là bệnh phụ khoa thường gặp. Hiện nay nguyên nhân gây ra lạc nội mạc tử cung vẫn chưa được biết rõ. Nhiều giả thiết đưa ra như cơ chế trào ngược máu kinh, bẩm sinh, tăng sinh tế bào nội mô tử cung… vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Lạc nội mạc tử cung là bệnh lành tính nhưng gây nhiều khó chịu và đau đớn cho bệnh nhân mỗi lần hành kinh.

Hơn nữa, bệnh còn gây ra nguy cơ vô sinh ở nữ giới. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh, kể cả dùng thuốc nội khoa và phẫu thuật ngoại khoa. Bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp điều trị dựa vào triệu chứng bệnh và mong muốn có thai của người mắc bệnh.

Lạc nội mạc tử cung là gì?

Lạc nội mạc tử cung là vấn đề có thể xảy ra khi bạn đang trong độ tuổi sinh sản. Nếu bạn bị lạc nội mạc tử cung, các mô trong lòng tử cung phát triển ra bên ngoài tử cung và lấn ra ống dẫn trứng. Những mô phát triển không đúng này vẫn hoạt động như các mô tử cung bình thường, điều này có nghĩa là chúng sẽ bị bong ra và chảy máu trong chu kỳ kinh nguyệt. Tuy nhiên, do chúng phát triển bên ngoài tử cung, máu không thể chảy ra ngoài cơ thể mà bị tích lại, gây ra chảy máu bên trong và nhiễm trùng, dẫn đến nhiều triệu chứng khác.

Triệu chứng thường gặp

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lạc nội mạc tử cung là gì?

Một số dấu hiệu và triệu chứng thường gặp của bệnh bao gồm:

Xuất hiện những cơn đau vùng chậu trong thời kỳ hành kinh và cơn đau càng ngày càng nặng theo thời gian;

Đau thắt lưng và đau bụng;

Đau trong hoặc sau khi quan hệ tình dục;

Đau khi đại tiện, tiểu tiện trong kỳ kinh nguyệt;

Thời gian hành kinh của bạn có thể kéo dài hơn hoặc bị chảy nhiều máu hơn;

Có máu trong phân hoặc nước tiểu, chảy máu âm đạo sau khi quan hệ tình dục;

Mệt mỏi, tiêu chảy, táo bón, đầy hơi hoặc buồn nôn, đặc biệt là trong thời kỳ kinh nguyệt;

Đau dữ đội trong thời kỳ kinh nguyệt;

Đau trước và trong kỳ kinh;

Đau khi quan hệ tình dục;

Vô sinh;

Mệt mỏi;

Gặp một số rối loạn đường tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón, buồn nôn.

Bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Bạn nên liên hệ với bác sĩ khi có những dấu hiệu sau:

Bạn thấy đau trong kì kinh mặc dù trước đây bạn chưa từng bị;

Cơn đau ảnh hưởng tới hoạt động hàng ngày của bạn;

Bạn bắt đầu cảm thấy đau khi quan hệ tình dục;

Tiểu đau, có máu trong nước tiểu hoặc không thể kiểm soát được dòng nước tiểu;

Bạn không thể có con sau 12 tháng cố gắng.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân lạc nội mạc tử cung?

Hiện vẫn chưa biết được nguyên nhân gây ra lạc nội mạc trong cơ tử cung. Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng có một số tác nhân có thể dẫn đến lạc nội mạc tử cung.

Nguyên nhân thứ nhất có thể do sự trào ngược của kinh nguyệt, đây là sự giải thích phổ biến cho lạc nội mạc tử cung. Thay vì di chuyển ra ngoài cơ thể, máu kinh có chứa các tế bào nội mạc tử cung chảy ngược lại thông qua các ống dẫn trứng vào trong khoang chậu, khiến các tế bào này dính vào thành khung chậu và các bề mặt của các cơ quan vùng chậu.

Sự tăng trưởng tế bào phôi thai là một nguyên nhân khác. Tế bào phôi tạo ra các tế bào lót trong khoang bụng và vùng chậu. Khi một hoặc nhiều vùng nhỏ của màng bụng phát triển thành mô nội mạc tử cung, bạn có thể bị lạc nội mạc tử cung.

Nếu bạn từng thực hiện các phẫu thuật như cắt bỏ tử cung hoặc mổ lấy thai, những vết sẹo do phẫu thuật được hình thành có thể khiến các tế bào nội mạc tử cung dính vào đó, gây lạc nội mạc tử cung. Trong trường hợp các tế bào nội mạc tử cung được các mạch máu hoặc dịch mô mang đi đến các bộ phận khác của cơ thể, bạn cũng có thể bị lạc nội mạc tử cung.

Một số nguyên nhân khác có thể do hệ miễn dịch của bạn có vấn đề khiến cơ thể không thể nhận ra và phá hủy các mô nội mạc tử cung đang lớn lên bên ngoài tử cung, gây ra lạc nội mạc tử cung. Hơn nữa, bạn có thể bị bệnh khi các tế bào vùng bụng và chậu có thể bị biến đổi thành tế bào nội mạc tử cung, hay các tế bào nội mạc tử cung đã được hình thành sẵn bên ngoài tử cung khi bạn còn là thai nhi.

Nguy cơ mắc phải

Những ai thường mắc phải bệnh lạc nội mạc tử cung?

Lạc nội mạc tử cung có thể ảnh hưởng đến phụ nữ ở bất kỳ độ tuổi nào, đặc biệt là độ tuổi 30-50. Bạn có thể kiểm soát bệnh bằng cách giảm thiểu các tác nhân nguy cơ. Ngoài ra, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để biết thêm thông tin chi tiết.

Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc lạc nội mạc tử cung?

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây lạc nội mạc tử cung, chẳng hạn như:

Chưa từng sinh con;

Có người thân (mẹ, dì hoặc chị em gái) bị lạc nội mạc tử cung;

Trào ngược kinh nguyệt do tắc nghẽn lại bởi một bệnh lý nào đó;

Tiền sử viêm vùng chậu;

Tử cung bất thường;

Có kinh trước 12 tuổi;

Hình dạng bất thường của tử cung, cổ tử cung hoặc âm đạo làm tắc nghẽn kinh nguyệt.

Điều trị hiệu quả

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán lạc nội mạc tử cung?

Các bác sĩ sẽ chẩn đoán bằng những thông tin thu thập được từ các triệu chứng đang gặp (bao gồm vị trí cơn đau và cơn đau xảy ra lúc nào), các xét nghiệm như khám vùng chậu, siêu âm, nội soi. Trong khám vùng chậu, bác sĩ sẽ dùng tay để kiểm tra vùng chậu nếu có bất kì bất thường nào ví dụ như u nang buồng trứng hay những vết sẹo sau tử cung. Siêu âm sóng âm cao tần sẽ cho thấy được hình ảnh bên trong cơ thể.

Những phương pháp nào dùng để điều trị lạc nội mạc tử cung?

Thật không may là không có phương pháp điều trị bệnh lạc nội mạc tử cung. Tuy nhiên, bạn có thể kiểm soát những cơn đau và tình trạng vô sinh. Dựa trên mức độ của các triệu chứng và mong muốn có thai của bạn, bạn có thể lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Nếu không thể chịu được các cơn đau, bạn chỉ cần thực hiện liệu pháp hormone giảm lượng estrogen trong cơ thể để làm mẫu mô co lại. Tuy nhiên, nếu đang có ý định mang thai, bạn có thể đồng thời điều trị vô sinh và phẫu thuật.

Nếu chỉ bị đau nhẹ, không có dự định mang thai hoặc gần tới giai đoạn mãn kinh, bạn có thể không cần điều trị. Thuốc là một lựa chọn điều trị khác trong trường hợp bạn bị đau hoặc chảy máu nhưng chưa có kế hoạch mang thai.

Các thuốc này có thể bao gồm biện pháp tránh thai bằng hormone để ngăn chặn tiến triển của lạc nội mạc tử cung, hoặc thuốc kháng viêm để giúp bạn kiểm soát cơn đau. Khi những cơn đau của bạn càng ngày càng dữ dội hơn hoặc các thuốc kể trên và các thuốc kháng viêm không steroid không có tác dụng, bạn nên thử liệu pháp hormone mạnh hơn.

Thậm chí nếu liệu pháp hormone mạnh vẫn không có tác dụng hoặc các cơ quan khác bị ảnh hưởng, thì bước tiếp theo chính là phẫu thuật. Các khối nội mạc tử cung lớn và mô sẹo sẽ bị loại bỏ khi phẫu thuật. Các phẫu thuật này sẽ là một hoặc nhiều ca phẫu thuật nội soi.

Chế độ sinh hoạt phù hợp

Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của bệnh lạc nội mạc tử cung?

Bạn sẽ có thể kiểm soát bệnh lạc nội mạc trong cơ tử cung nếu áp dụng các biện pháp sau:

Tắm nước ấm hoặc chườm túi nóng sẽ giúp cơ chậu được thư giãn và giảm co thắt cũng như đau;

Tập thể dục thường xuyên có thể cải thiện các triệu chứng;

Khi nằm xuống, bạn hãy kê một chiếc gối ở dưới đầu gối;

Bạn cũng có thể thử các kỹ thuật thư giãn và liệu pháp phản hồi sinh học.

Bệnh lạc nội mạc tử cung gần như là một bệnh bẩm sinh và không có cách nào phòng tránh. Tuy nhiên, khi được chẩn đoán lạc nội mạc tử cung, có nhiều phương pháp điều trị giảm đau và phục hồi khả năng sinh sản. Bạn đừng quá lo lắng về bệnh vì không phải trường hợp lạc nội mạc tử cung nào cũng gây vô sinh. Đa phần những khó chịu mà lạc nội mạc tử cung mang lại là tình trạng đau đớn mỗi khi hành kinh. Về phương diện này thì có nhiều thuốc giảm đau hỗ trợ để giúp bạn có thể trải qua những ngày này dễ dàng hơn.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Chúng tôi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa. Hãy quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của bản thân và gia đình mình ngay hôm nay.

Pacific Cross Việt Nam cung cấp các chương trình bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm du lịch phù hợp với từng yêu cầu và ngân sách của khách hàng. Cho dù là chương trình bảo hiểm cho cá nhân bạn, cho gia đình bạn hoặc doanh nghiệp của bạn, chúng tôi ở đây để đảm bảo rằng bạn nhận được sản phẩm bảo hiểm tốt nhất.

Endometriosis. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/endometriosis/basics/definition/con-20013968. Endometriosis. http://www.webmd.com/women/endometriosis/endometriosis-topic-overview.

Viêm Nội Tâm Mạc Nhiễm Khuẩn (Bệnh Osler )

Tên khác: bệnh Osler hoặc bệnh Jaccoud-Osler, viêm màng trong tim do vi khuẩn.

Viêm nội tâm mạc (viêm màng trong tim), nói chung do nhiễm vi khuẩn, khu trú ở các van tim, hoặc ở cả toàn bộ lớp nội tâm mạc lót thành tim, tuy hiếm xảy ra hơn.

Viêm nội tâm mạc thường bắt nguồn từ các tổn thương sùi ở van tim bị nhiễm các vi khuẩn lọt vào trong máu tuần hoàn. Tỷ lệ mắc bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn ngày càng gia tăng là do nạn nghiện ma tuý tiêm chích theo đường tĩnh mạch và do sử dụng những thuốc ức chế miễn dịch.

BỆNH TIM MẠCH: thường thì viêm nội tâm mạc hay xảy ra ở những bệnh nhân trên 50 tuổi, nam giới mắc bệnh nhiều hơn so với nữ giới.

Bệnh van tim do bệnh thấp: gặp trong 40-60% số trường hợp, với thứ tự giảm dần là bệnh van hai lá, van động mạch chủ, van ba lá.

Bệnh tim bẩm sinh: gặp trong 10-30% số trường hợp, nhất là tật lỗ động mạch chủ có hai van (van động mạch chủ có hai lá), tật còn Ống thông động mạch, tật thông liên thất, tứ chứng Fallot, tật hẹp eo động mạch chủ, tật hẹp động mạch phổi. Mọi loại shunt và mọi trường hợp hẹp đều rất dễ bị nhiễm khuẩn. Nhưng thông liên nhĩ là tật ít bị biến chứng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn nhất.

Bệnh van tim thoái hoá: hẹp van động mạch chủ calci hoá, sa van hai lá, hội chứng

VAN TIM GIẢ: có từ 10-20% những trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn xảy ra ở những bệnh nhân được thay van tim giả. Van động mạch chủ giả bị biến chứng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn nhiều hơn, so với van hai lá giả. Từ 1-2% số trường hợp viêm nội tâm mạc xảy ra chỉ một năm sau khi thay van. Những thể sóm (xuất hiện dưới 2 tháng sau khi thay van) có tiên lượng dè dặt và thường mầm bệnh là những vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh. Những thể muộn có tiên lượng tốt hơn, và mầm bệnh thường nhạy cảm với thuốc kháng sinh.

NGHIỆN MA TUÝ TIÊM CHÍCH THEO ĐƯỜNG TĨNH MẠCH: viêm nội tâm mạc xảy ra ở những người lớn trẻ tuổi, thường không có tổn thương tim từ trước. Van ba lá thường hay bị viêm. Mầm bệnh thường gặp là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu khuẩn, cầu khuẩn đường ruột, trực khuẩn Gram âm, nhất là trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa), hoặc là nấm, nhất là Candida albicans.

NHỮNG YẾU TỐ TẠO THUẬN LỢI SINH BỆNH

Bệnh nhiễm khuẩn: nhiễm khuẩn huyết đã rõ, viêm amidan, apxe răng, nhiễm khuẩn da, sẩy thai, nhiễm khuẩn do đặt dụng cụ tránh thai trong tử cung.

Nhiễm khuẩn do thầy thuốc: truyền dịch hoặc thuốc theo đường tĩnh mạch bị nhiễm bẩn, đặt ống thông (sonde) vào tĩnh mạch và động mạch trung tâm với mục đích điều trị hoặc chẩn đoán, lỗ rò do làm thẩm phân máu, đặt máy kích thích tim.

Can thiệp ngoại khoa không vô khuẩn: nhổ răng, phẫu thuật tai mũi họng, phẫu thuật sinh dục- tiết niệu.

Sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.

Vi khuẩn học

Những mầm bệnh hiếm gặp: lậu cầu khuẩn, Bacteroides, Borrelia, Chlamydia psittaci, Haemophilus, Listeria,não mô cầu,

Nhóm HACEK: bao gồm những loài Haemophilus, Actinobacillus, Cardiobacterium, Eikenella, Kingella, là những loài có thể gây viêm nội tâm mạc ở những trường hợp có van tim giả.

Những con số nằm trong ngoặc đơn là tần suất của những mầm bệnh gây viêm nội tâm mạc trong trường hợp đặt van tim giả:

Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng)

Staphylococcus epidermis (tụ cầu thượng bì da)

Streptococcus viridans

Những chủng streptococcus (liên cầu khuẩn) khác

Cầu khuẩn đường ruột

Những mầm bệnh Gram âm

Vi khuẩn dạng bạch hầu (giống trực khuẩn bệnh bạch hầu)

Nấm

Giải phẫu bệnh

Viêm nội tâm mạc cấp tính: những tổn thương là loại loét- sùi, hoại tử, và có thể gây ra hư hỏng van tim quan trọng và nhanh chóng.

Viêm nội tâm mạc bán cấp: hay tác động nhất là tới van động mạch chủ và van hai lá, van ba lá bị viêm nhiễm chủ yếu trong trường hợp nghiện ma tuý tiêm chích tĩnh mạch và thông tim phải. Trong những trường hợp bệnh tim bẩm sinh, thì nhiễm khuẩn chủ yếu xảy ra ở các tật còn ống thông động mạch, hẹp eo động mạch chủ, và thông liên thất. Những tổn thương sùi hình thành trên các van tim, đôi khi trên các sợi gân nối van tim với thành tâm thất, hoặc trên mặt của lớp nội tâm mạch lót các buồng tim, đều cấu tạo nên bởi hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu các đại thực bào, nằm kẹt ở trong những mắt của lưới sợi huyết (fibrin). Trong cấu trúc này có chứa những tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, nấm). Có thể phát hiện được những tổn thương nghẽn mạch ở trong lách, não, cơ tim.

Phình động mạch nấm xuất hiện ở những vị trí tiếp giáp với cục nghẽn mạch nhiễm khuẩn làm cho thành động mạch bị yếu đi. Nếu một phình động mạch nấm như vậy bị vỡ ở một động mạch của não, thì sẽ gây ra xuất huyết trong hộp sọ.

Những tổn thương thận có thể là do nghẽn mạch và dẫn tới nhồi máu thận, hoặc là tổn thương miễn dịch thì gây ra viêm thận do lắng đọng phức hợp miễn dịch ở màng đáy của các tiểu cầu thận.

Triệu chứng

VIÊM NỘI TÂM MẠC CẤP TÍNH: khởi phát đột ngột bởi sốt cao. Nghe tim thấy tiếng thổi hoặc thấy tiếng thổi đã có sẵn từ trước thay đổi. Những triệu chứng khác cũng giống như trường hợp viêm nội tâm mạc bán cấp.

VIÊM NỘI TÂM MẠC BÁN CẤP (hoặc chậm):

Khởi phát: mệt, sốt dao động hoặc liên tục, thường dưới 39°c, đôi khi kèm cơn rét run, ra mồ hôi ban đêm, đau khớp xương, đau cơ. Cũng có thể khởi phát cấp tính do nghẽn mạch não hoặc nghẽn mạch ngoại vi. Nên khám để xem lách có bị to không.

Nghe tim: thấy tiếng thổi hở van mới xuất hiện. Cường độ và tính chất của tiếng thổi có thể thay đổi hàng ngày. Nếu thấy tiếng thổi mạnh hẳn lên thì van tim đã bị hư hỏng và chẩn đoán được khẳng định.

Những dấu hiệu viêm mạch máu và biểu hiện nghẽn mạch ở da và niêm mạc:

+ Chấm xuất huyết: xuất hiện trên các niêm mạc (kết mạc mắt, vòm miệng, niêm mạc miệng) hoặc ở da (các chi).

+ Các nốt (cục nhỏ) Osler: nốt nhỏ, đau, đường kính khoảng vài milllimét, màu đỏ tím, xuất hiện ở mặt gan các đầu ngón tay (gọi là giả-chín mé Osler) hoặc ngón chân, ở mô cái hoặc mô út, diễn biến trong vòng vài ngày.

+ Các vết Janeway: là các mảng ban đỏ (hồng ban) xuất hiện ở gan bàn tay hoặc gan bàn chân.

+ Đường thẳng xuất huyết dưới móng.

Những dấu hiệu thần kinh:

+ ở nhãn cầu: chấm xuất huyết ở đáy mắt, nghẽn động mạch trung tâm võng mạc, viêm dây thần kinh thị giác (viêm thị thần kinh), xuất huyết võng mạc hình bầu dục với một trung tâm màu sáng.(gọi là vết Roth).

+ ở màng não và não, có thể xảy ra: tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời, xuất huyết dưới màng nhện do vỡ phình động mạch nấm, apxe não, viêm màng não, viêm não.

Những dấu hiệu thận:

+ Thường hay thấy đái máu vi thể (nước tiểu có ít hồng cầu nên không thấy màu đỏ).

+ Nhồi máu thận: gây cơn đau bụng thận.

+ Viêm tiểu cầu thận do phức hợp miễn dịch: protein niệu, đái máu, trụ hạt.

BIẾN CHỨNG

Van tim bị hư hỏng: sớm hoặc muộn, dẫn tối hở van tim.

Nghẽn mạch trong các tạng hoặc ở ngoại vi: nghẽn mạch não (liệt nửa người có sốt), nghẽn mạch lách (đau hạ sườn trái), nghẽn mạch mạc treo ruột (dấu hiệu bụng cấp cứu), nghẽn động mạch các chi, đôi khi đau khớp xương giống như bệnh thấp khớp cấp hoặc bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Trong trường hợp viêm nội tâm mạc ở tim phải thì có thể xảy ra nghẽn mạch và nhồi máu phổi (đau ngực, ho, ho ra máu).

Phình động mạch: nếu phình động mạch nấm bị vỡ ở não, thì gây ra xuất huyết dưới nàng nhện.

Ở những người nghiện ma tuý: van ba lá thường hay bị viêm nhiễm gây ra những dấu hiệu suy tim phải, nghẽn mạch nhiễm khuẩn ở phổi với các triệu chứng ho, ho ra máu, hình ảnh X quang của viêm phế quản-phổi có xu hướng vỡ ra ngoài.

Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn có thể biểu hiện như một trường hợp suy tim cấp tính hoặc tiến triển không rõ căn nguyên, hoặc như một bệnh gây suy mòn (ung thư, bệnh tạo keo).

Xét nghiệm cận lâm sàng

CẤY MÁU: là xét nghiệm quyết định, dương tính trong 95% số trường hợp. Không nên vội vã cho kháng sinh trước khi có chẩn đoán, nếu không thì phải ngừng thuốc kháng sinh trong 3-4 ngày trước khi lấy máu để cấy. Bắt đầu bằng cấy 3 mẫu máu trong các môi trường hiếu khí và kỵ khí (ái khí và yếm khí), máu được lấy từ các tĩnh mạch khác nhau, vào những khoảng thời gian cách nhau vài giờ, và vào lúc bệnh nhân đang sốt thì tốt hơn. Thường thì các mầm bệnh đều được phát hiện (mọc), nhưng nếu gặp trường hợp kết quả cấy máu âm tính, thì phải cấy máu lại luôn trong 3 ngày liên tiếp. Có lẽ cấy máu động mạch hoặc máu ở tuỷ xương cũng không cho những kết quả dương tính cao hơn. Nếu cấy máu lại nhiều lần mà vẫn cho kết quả âm tính nhưng bệnh cảnh lâm sàng vẫn có những đặc điểm của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn thì có khả năng mầm bệnh không mọc trên những môi trường thông thường.

NƯỚC TIỂU: tìm hồng cầu trong nước tiểu bằng soi kính hiển vi.

PHẢN ỨNG HUYẾT THANH

Bệnh nấm: những kỹ thuật miễn dịch ngày càng chính xác cho phép phát hiện tốt hơn những mầm bệnh là nấm và những kháng thể của chúng.

Viêm nội tâm mạc do tụ cầu khuẩn: làm tăng hiệu giá kháng thể kháng acid teichoic.

Viêm nội tâmmạc do rickettsia hoặc do Chlamydia không thể chỉ chẩn đoán bằng phản ứng huyết thanh.

HUYẾT ĐỒ: tăng bạch cầu trong máu (thể cấp tính), thiếu máu đẳng sắc hồng cầu bình thường. Đôi khi tăng bạch cầu đơn nhân, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu.

TỐC ĐỘ MÁU LẮNG: tăng.

CHỨC NĂNG THẬN: trong trường hợp viêm tiểu cầu thận, urê, Creatinin trong máu tăng, protein niệu, đái máu, trụ hạt.

XÉT NGHIỆM MIỄN DỊCH: tăng gammaglobulin huyết, giảm bổ thể, có các phức hợp miễn dịch lưu hành trong máu, yếu tố bệnh thấp dương tính sau một vài tuần diễn biến.

Xét nghiệm bổ sung: siêu âm tim qua thực quản có thể phát hiện thấy các tổn thương sùi đường kính trên 2 mm nằm ở trên van tim. Có thể thấy một khổì dao động nằm trên van hoặc trên van giả, một apxe ở cạnh van tim hoặc ở vách tim, thấy van tim giả mới hở ra. Có thể dùng siêu âm Doppler để đánh giá mức độ hở của van.

Chẩn đoán phân biệt

Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp cần được phân biệt với những trường hợp sốt không rõ nguyên nhân (xem hội chứng này).

Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn nếu không được điều trị là một bệnh nguy kịch. Tiên lượng nặng thêm trong những hoàn cảnh sau: chẩn đoán và điều trị muộn, mầm bệnh kháng thuốc kháng sinh, thể bệnh cấy máu cho kết quả âm tính, nhiễm khuẩn van tim giả, bệnh nhân là người nghiện ma tuý, bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch. Tỷ lệ tử vong khoảng 10% trong trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn do Streptococcuss viridans được điều trị và không bị biến chứng.

THUỐC KHÁNG SINH: điều trị phải dựa trên kết quả điểu tra vi khuẩn học của mầm bệnh và tính cảm thụ của mầm bệnh này với kháng sinh, được xác định bởi kỹ thuật pha loãng, kỹ thuật kháng sinh đồ trên đĩa là đủ tin cậy. Định lửợng nhiều lần hàm lượng thuốc kháng sinh trong máu cũng có ích. Trong những trường hợp khó khăn, phải duy trì các đỉnh nồng độ kháng sinh trong huyết thanh ít nhất cao gấp 8 lần so với giá trị hàm lượng thuốc diệt khuẩn in vitro. Bao giờ cũng phải cho thuốc kháng sinh bằng đường tiêm trong 2-6 tuần tuỳ theo mầm bệnh.

Viêm nội tâm mạc do Streptococcus viridans, do cầu khuẩn đường ruột, hoặc cấy máu âm tính: cho dùng penicillin G (500.000 đơn vị /kg/ ngày) + một loại aminosid (ví dụ gentamicin).

Viêm nội tâm mạc do phế cầu khuẩn hoặc liên cầu khuẩn nhóm A: penicillin G theo đường tĩnh mạch 10-20 triệu đơn vị / ngày, trong 4 tuần.

Viêm nội tâm mạc do tụ cầu vàng: cho dùng oxacillin 2g cứ 4 giờ một lần theo đường tĩnh mạch. Trong trường hợp bệnh nhân dị ứng với oxacillin hoặc mầm bệnh thuộc chủng kháng đa thuốc (Meti-R), thì cho vancomycin 0,5 g cứ 6 giờ một lần theo đường tĩnh mạch, nếu cần thì thêm một loại aminosid (xem: tụ cầu khuẩn).

Viêm nội tâm mạc do Staphylococcus epidermitis: vancomycin +

Viêm nội tâm mạc với van tim nhân tạo: điều trị kháng sinh phải kéo dài rất lâu và đôi khi phải phẫu thuật lại nếu tiên lượng không tốt.

Trong trường hợp có tật van tim thì mọi hiện tượng sốt không giải thích được nguyên nhân, kéo dài quá một tuần đều phải được điều trị như một trường hợp viêm nội tầm mạc nhiễm khuẩn, ngay cả khi cấy máu cho kết quả âm tính.

NGOẠI KHOA: những chỉ định đặt van tim giả trong trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn đang tiến triển bao gồm:

Phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Biện pháp phòng ngừa viêm nội tâm mạc được chỉ định ở những bệnh nhân có nguy cơ vãng khuẩn huyết sau khi thực hiện một can thiệp chẩn đoán hoặc điều trị.

CAN THIỆP CỐ NGUY CƠ THẤP: can thiệp ở răng hoặc ở lợi dễ gây chảy máu, can thiệp tai mũi họng, nội soi phế quản bằng ống cứng, nội soi tiêu hoá không làm sinh thiết, chọc sinh thiết gan hoăc thận, đẻ thường.

Bệnh nhân cố nguy cơ trung bình : cho dùng amoxicillin với liều 2-3g, uống một giờ trước khi can thiệp, sau đó 0,5 g cứ 6 giờ một lần trong 36 đến 48 giờ. Trong trường hợp bệnh nhân dị ứng với penicillin, thì cho erythromycin 1g, uống 2 giờ trước khi can thiệp và 0,5 g 6 giờ sau.

Bệnh nhãn có nguy cơ cao”: Amoxicillin truyền tĩnh mạch phối hợp với gentamicin hoặc vancomycin truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.

CAN THIỆP CÓ NGUY CƠ CAO: phẫu thuật sinh dục-tiết niệu hoặc dạ dày-ruột, soi bàng quang, thông bàng quang, nội sol đường tiêu hoá bằng ống mềm, sinh thiết gan, rạch và dẫn lưu mô bị nhiễm khuẩn, phẫu thuật tim.

Bệnh nhân có nguy cơ trung bình : cefazolin với liều 1-2 g truyền tĩnh mạch và gentamicin 1,5 mg/kg tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch ngay trước khi làm thủ thuật hoặc phẫu thuật, cho nhắc lại hai lần cách nhau 8 glờ.

Bệnh nhân có nguy cơ cao”: amoxicillin truyền tĩnh mạch phối hợp VỚI gentamicin tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch. Trong trường hợp bệnh nhân dị ứng với penicillin thi cho vancomycin truyền tĩnh mạch phối hợp với gentamicin tiêm bắp hoăc truyền tĩnh mạch.

‘Bệnh nhân có nguy cơ trung bình: tật van ba lá hoặc van động mạch phổi, sa van hai lá, bệnh cơ tim tắc nghẽn, thông liên nhĩ không có biến chứng.

“Bệnh nhân có nguy cơ cao: bệnh nhân mang van tim giả, hoặc động mạch giả, tật van động mạch chủ hoặc van hai lá, hẹp eo động mạch chủ, lỗ rò động-tĩnh mạch, thông liên thất, tứ chứng Fallot, bệnh nhân đã một hoặc nhiều lần bị viêm nội tâm mạc, bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch hoặc đang được nuôi dưỡng ngoài đường tiêu hoá.

Suy tim cấp: nói chung do rách vỡ van động mạch chủ. Phải can thiệp cấp cứu dù tình trạng nhiễm khuẩn của bệnh nhân thế nào.

Suy tim tiến triển dần, khó điều trị bằng các biện pháp thông thường: nên can thiệp sau một vài ngày điều trị bằng thuốc kháng sinh liều mạnh.

Apxe cơ tim hoặc apxe vòng xơ của lỗ van tim.

Loạn nhịp, rối loạn dẫn truyền.

Cấy máu dương tính thường xuyên, tuy đã sử dụng liệu pháp kháng sinh thích đáng.

Vật nghẽn nhiễm khuẩn tái diễn nhiều lần.

VIÊM NỘI TÂM MẠC HUYẾT KHỐI KHÔNG NHIỄM KHUẨN

Những tổn thương sùi hình thành ở trên van tim và trên mặt của nội tâm mạc có thể gây ra nghẽn mạch nặng, nhất là ở các mạch của não, thận, lách, và các chi. Những tổn thương sùi được tạo nên bởi tiểu cầu và các sợi huyết (fibrin), có thể cản trở hoạt động của các van tim, thường có những vi sinh vật lưu hành trong máu đến khu trú ở bên trong, và như vậy sẽ diễn biến thành viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Bệnh có thể xảy ra sau một chấn thương (do đưa ống thông catheter vào tim), hoặc xảy ra kèm theo với bệnh lupus ban đỏ rải rác (viêm nội tâm mạc hột cơm Libman-Sachs), với viêm mạch máu, với carcinom di căn và những bệnh khác nữa.

Điều trị: thuốc chống đông máu.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Viêm Nội Mạc Tử Cung trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!