Đề Xuất 12/2022 # Biểu Hiện Lâm Sàng – Covid Reference / 2023 # Top 18 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Biểu Hiện Lâm Sàng – Covid Reference / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Biểu Hiện Lâm Sàng – Covid Reference / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bởi Christian Hoffmann & Bernd Sebastian Kamps

Sau thời gian ủ trung bình 5 ngày (trong khoảng từ 2 đến 14 ngày), các triệu chứng điển hình bắt đầu xuất hiện như ho khan và sốt nhẹ (từ 38,1°C – 39°C hay 100,5 – 102,1°F) thường kèm theo giảm vị giác và khứu giác. Ở hầu hết các bệnh nhân, bệnh ở mức độ nhẹ hoặc trung bình và các triệu chứng sẽ khỏi trong khoảng 1 tuần, thông thường bệnh nhân sẽ hồi phục tại nhà. Khoảng 10% vẫn còn triệu chứng vào tuần thứ hai. Nếu các triệu chứng càng kéo dài, nguy cơ tiến triển bệnh nặng càng cao hơn, đòi hỏi phải nhập viện, hồi sức tích cực và thở máy xâm lấn. Tiến triển bệnh COVID-19 thường khó dự đoán được, đặc biệt là ở bệnh nhân lớn tuổi có bệnh nền đi kèm. Biểu hiện lâm sàng thay đổi từ hoàn toàn không có triệu chứng đến nhanh chóng chuyển nặng.

Thời gian ủ bệnh

Lưu ý, thời gian từ khi phơi nhiễm đến khi khởi phát triệu chứng (giai đoạn tiềm ẩn) có thể ngắn hơn. Có rất ít nghi ngờ về việc vi rút SARS-CoV-2 có thể lây truyền vào cuối thời kì ủ bệnh (Li 2020). Trong một nghiên cứu dọc (Longitudinal study), tải lượng vi rút tăng cao trong 2-3 ngày trước khi xuất hiện triệu chứng và đạt đỉnh vào 0,7 ngày trước khi biểu hiện triệu chứng. Các tác giả của bài báo này trên Nature Medicine ước tính khoảng 44% (độ tin cậy 95% từ 25-69%) tất cả các ca bệnh thứ phát bị gây ra bởi những bệnh nhân tiền triệu chứng (He 2020).

Người bệnh không triệu chứng

Hiểu được tần suất các bệnh nhân không triệu chứng và quá trình lây truyền không triệu chứng theo thời gian sẽ rất quan trọng trong việc đánh giá động lực học của bệnh. Điều quan trọng là phân biệt những bệnh nhân không xuất hiện triệu chứng trong toàn bộ quá trình nhiễm bệnh và những bệnh nhân chưa xuất hiện triệu chứng (tiền triệu chứng).

Từ tổng số 565 công dân Nhật Bản di tản khỏi Vũ Hán, tỷ lệ bệnh nhân không triệu chứng được ước tính là 42% (Nishiura 2020). Trong số 279 người tiếp xúc gần với bệnh nhân COVID-19 có kết quả PCR dương tính, 63 người (23%) vẫn không có triệu chứng trong suốt quá trình nhiễm bệnh. Đáng chú ý, 29 bệnh nhân có kết quả CT bất thường (Wang Y 2020). Trong một nghiên cứu sàng lọc tiến hành ở Iceland, 44% bệnh nhân dương tính với SARS-CoV-2 nhưng không có triệu chứng, mặc dù một vài người trong số họ có thể chưa xuất hiện triệu chứng (Gudbjartsson 2020). Trong một nghiên cứu đoàn hệ quan sát trên 199 bệnh nhân mắc bệnh tại một trung tâm điều trị nội trú ở Hàn Quốc, tỷ lệ bệnh nhân không có triệu chứng là 26% ((Noh 2020). Khoảng giá trị về số bệnh nhân không có triệu chứng thực sự trong các nghiên cứu được công bố cho đến nay vẫn còn rộng và có thể phụ thuộc vào dân số được phân tích.

Các bệnh nhân không có triệu chứng vẫn có thể truyền virut (Bai 2020, Rothe 2020). Trong một nghiên cứu từ Bắc Ý về tải lượng virus trong phết mũi, giữa ca bệnh không triệu chứng và có triệu chứng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể, nghĩa là có cùng một khả năng truyền virut (Cereda 2020). Trong số 63 bệnh nhân không có triệu chứng ở Chongquing, 9 bệnh nhân (14%) đã lây truyền virut cho người khác (Wang Y 2020). Trong một ổ dịch tại một cơ sở cơ chăm sóc dài hạn, 13/23 bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính mà không có triệu chứng hoặc không có triệu chứng vào ngày xét nghiệm (Kimball 2020). Trong một cơ sở điều dưỡng chuyên nghiệp khác, trong số 48 bệnh nhân, 27 người (56%) không có triệu chứng tại thời điểm xét nghiệm dương tính. Trong số này, 24 người sau đó đã xuất hiện triệu chứng với thời gian khởi phát trung bình là 4 ngày (Arons 2020). Có một số bằng chứng cho thấy việc loại bỏ RNA và tải lượng virus diễn ra nhanh hơn ở những bệnh nhân không có triệu chứng (không phải ở bệnh nhân tiền triệu chứng!) (Noh 2020, Yang 2020).

Tóm lại, những nghiên cứu sơ bộ cho thấy tỷ lệ COVID-19 không triệu chứng chiếm khoảng 20-40% trong tổng số người nhiễm bệnh. Nhưng cũng có thể là chúng ta đã sai. Chỉ có nghiên cứu thực địa quy mô lớn bằng xét nghiệm huyết thanh mới có thể làm rõ chính xác tỷ lệ này.

Triệu chứng

Rất nhiều triệu chứng đã được mô tả trong những tháng qua, cho thấy rõ rằng COVID-19 là một bệnh phức tạp không chỉ bao gồm nhiễm trùng đường hô hấp. Nhiều triệu chứng không đặc hiệu đến nỗi chẩn đoán phân biệt phải bao gồm một loạt các bệnh nhiễm trùng, hô hấp và các bệnh khác. Tuy nhiên, các nhóm triệu chứng khác nhau có thể được phân biệt trong COVID-19. Nhóm triệu chứng phổ biến nhất ở hệ hô hấp bao gồm: ho, khạc đờm (đàm), khó thở và sốt. Các nhóm triệu chứng khác bao gồm triệu chứng cơ xương khớp (đau cơ, đau khớp, đau đầu và kiệt sức), các triệu chứng đường ruột (đau bụng, nôn và tiêu chảy); và ít phổ biến hơn là các triệu chứng ở niêm mạc.

Sốt, ho, khó thở

Trong những tuần qua, dữ liệu đoàn hệ lớn từ các quốc gia bên ngoài Trung Quốc đã được công bố. Tuy nhiên, hầu hết tất cả các dữ liệu đến từ các bệnh nhân nhập viện, chỉ ra sai số lựa chọn vì hầu hết họ là bệnh nhân nặng và có triệu chứng.

Trong số 20,133 bệnh nhân được chuyển vào 208 bệnh viện chăm sóc cấp tính ở Anh trong vòng ngày 6 tháng 2 đến ngày 19 tháng 4 năm 2020, các triệu chứng phổ biến nhất là ho (69%), sốt (72%) và khó thở (71%) ), cho thấy mức độ chồng chéo cao (Docherty 2020).

Trong số 1.000 bệnh nhân đầu tiên có mặt tại Đại học NewYork-Presbyterian/Columbia (Argenziano 2019), các triệu chứng phổ biến nhất là ho (73%), sốt (73%) và khó thở (63%).

Triệu chứng cơ xương khớp

Các nhóm triệu chứng cơ xương khớp bao gồm đau cơ, đau khớp, đau đầu và mệt mỏi. Đây là những triệu chứng thường gặp, xảy ra ở 15-40% bệnh nhân (Argenziano 2019, Docherty 2020, Guan 2020). Mặc dù các triệu chứng này thường khiến bệnh nhân cảm thấy bệnh tình của họ đang rất trầm trọng, nhưng nó không nói lên mức độ nặng về bệnh cảnh lâm sàng. Tuy nhiên, chúng thường bị bỏ qua trong thực hành lâm sàng, nhất là đau đầu cần được chú ý hơn cả.

Theo một đánh giá gần đây (Bolay 2020), đau đầu được ghi nhận ở 11-34% bệnh nhân COVID-19 nhập viện, xảy ra ở 6-10% khi xuất hiện triệu chứng. Các đặc điểm quan trọng là đau từ trung bình đến nặng, đau 2 bên kèm đau theo nhịp mạch hoặc nặng đầu ở vùng thái dương, vùng trán hoặc quanh hốc mắt. Các đặc điểm đáng chú ý là khởi phát đột ngột tăng dần và đáp ứng kém với thuốc giảm đau thông thường. Các cơ chế sinh lý bệnh có thể do SARS-CoV-2 kích thích các đầu dây thần kinh sinh ba ngoại biên trực tiếp hoặc thông qua bệnh mạch máu và/hoặc tăng lưu hành các cytokine tiền viêm và do thiếu oxy lưu hành.

Triệu chứng tiêu hóa

Các thí nghiệm tế bào đã chỉ ra rằng SARS-CoV và SARS-CoV-2 có khả năng lây nhiễm tế bào ruột (Lamers 2020). Sự sao chép tích cực đã diễn ra ở cả cơ quan đường ruột của dơi và của con người (Zhou 2020). Calprotectin trong phân – một dấu ấn sinh học đáng tin cậy cho phép phát hiện tình trạng viêm ruột trong các bệnh viêm đại tràng và nhiễm trùng đại tràng, đã được tìm thấy ở một số bệnh nhân. Điều này cung cấp bằng chứng cho thấy SARS-CoV-2 tạo ra phản ứng viêm trong ruột (Effenberger 2020). Những phát hiện này giải thích tại sao các triệu chứng tiêu hóa lại thấy được ở một nhóm bệnh nhân và tại sao RNA virus có thể được tìm thấy trong mẫu phết trực tràng ngay cả sau khi xét nghiệm phết mũi hầu đã âm tính. Ở những bệnh nhân bị tiêu chảy, RNA virus trong phân được phát hiện với tần số cao hơn (Cheung 2020).

Tuy nhiên, trong các nghiên cứu đầu tiên của Trung Quốc, các triệu chứng tiêu hóa hiếm khi được nhìn thấy. Trong một phân tích tổng hợp gồm 60 nghiên cứu ban đầu bao gồm 4,243 bệnh nhân, tỷ lệ gộp của triệu chứng tiêu hóa là 18% (KTC 95%, 12% -25%); tỷ lệ lưu hành trong các nghiên cứu ở Trung Quốc thấp hơn các nước khác. Tương tự như vậy đối với các triệu chứng tai mũi họng, vẫn chưa rõ liệu sự khác biệt này phản ánh sự thay đổi địa lý hoặc khác biệt trong các báo cáo. Trong số 393 bệnh nhân đầu tiên nhập viên tại hai bệnh viện ở thành phố New York, tiêu chảy (24%), buồn nôn và nôn (19%) là tương đối thường xuyên (Goyal 2020). Trong số 18,605 bệnh nhân nhập viện tại các Bệnh viện Vương quốc Anh, 29% bệnh nhân khai báo về các triệu chứng đường ruột khi nhập viện, chủ yếu kèm theo các triệu chứng hô hấp; tuy nhiên, 4% trong số tất cả các bệnh nhân được mô tả có triệu chứng đường ruột đơn thuần (Docherty 2020).

Triệu chứng tai mũi họng (bao gồm cả mất khứu giác)

Trong tổng số 18,401 người tham gia vào nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đã báo cáo các triệu chứng tiềm tàng trên ứng dụng điện thoại thông minh và đã thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2, tỷ lệ người tham gia báo cáo mất khứu giác và vị giác cao hơn ở những người có kết quả xét nghiệm dương tính (65% so với 22%). Sự kết hợp của các triệu chứng, bao gồm mất khứu giác, mệt mỏi, ho dai dẳng và chán ăn là phù hợp để chẩn đoán các bệnh nhân mắc COVID-19 (Menni 2020).

Tóm lại, các triệu chứng tai mũi họng không cho thấy mức độ nghiêm trọng nhưng là các chỉ dấu quan trọng cho việc nhiễm SARS-CoV-2.

Các triệu chứng và vấn đề tim mạch

Trên lâm sàng, COVID-19 có thể biểu hiện với một hội chứng tim mạch cấp tính (được gọi là “ACovCS”). Nhiều trường hợp có ACovCS đã được mô tả, không chỉ với các cơn đau ngực điển hình, mà còn với các biểu hiện tim mạch rất đa dạng. Troponin là một thông số quan trọng (xem bên dưới). Trong một loạt trường hợp 18 bệnh nhân COVID-19 có đoạn ST chênh lên, có sự thay đổi trong biểu hiện lâm sàng, tỷ lệ cao về bệnh không tắc nghẽn và tiên lượng xấu. 6/9 bệnh nhân được chụp mạch vành có bệnh tắc nghẽn. Đáng chú ý, tất cả 18 bệnh nhân đều có D-dimer tăng (Bangalore 2020).

Ở những bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành có vẻ điển hình, COVID-19 cũng nên được xem xét trong các chẩn đoán phân biệt, ngay cả khi không có sốt hoặc ho (Fried 2020, Inciardi 2020). Để biết thêm thông tin, xem chương bệnh kèm.

Huyết khối, tắc mạch

Nhưng các cơ chế là gì? Một số nghiên cứu đã tìm thấy thuyên tắc phổi có hoặc không có huyết khối tĩnh mạch sâu, cũng như sự hiện diện mới đây của huyết khối trong đám rối tĩnh mạch tuyến tiền liệt ở những bệnh nhân không có tiền sử VTE, gợi ý rối loạn đông máu mới tạo ra (de novo) ở những bệnh nhân mắc COVID-19. Những nghiên cứu khác đã nhấn mạnh những thay đổi phù hợp với huyết khối xảy ra trong tuần hoàn động mạch phổi, trong trường hợp không có tắc mạch rõ ràng (bài đánh giá hay bởi Deshpande 2020). Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra tình trạng tăng đông máu nghiêm trọng hơn là rối loạn đông máu tiêu hao (Spiezia 2020).

Một số nghiên cứu chính được liệt kê bao gồm:

Trong số 240 bệnh nhân (109 bệnh nhân nguy kịch) nhập viện tại Hoa Kỳ, VTE được chẩn đoán ở 31 bệnh nhân (28%) vào khoảng 8 ± 7 ngày sau khi nhập viện. Các tác giả kết luận rằng điều trị dự phòng VTE thông thường có thể không đủ hiệu quả (Maatman 2020).

Trong nghiên cứu tại một trung tâm từ Amsterdam về 198 trường hợp nhập viện, tỷ lệ mắc VTE tích lũy sau 7 và 21 ngày là 16% và 42%. Trong 74 bệnh nhân ICU, tỷ lệ tích lũy là 59% sau 21 ngày, mặc dù đã điều trị dự phòng huyết khối. Các tác giả khuyên nên thực hiện sàng lọc bằng siêu âm đàn hồi tại ICU mỗi 5 ngày (Middeldorp 2020).

Trong số 107 bệnh nhân COVID-19 đầu tiên nhập viện ICU vì viêm phổi ở Lille, Pháp, các tác giả đã xác định 22 (21%) trường hợp thuyên tắc phổi (PE). Tại thời điểm chẩn đoán, 20/22 đang được điều trị chống huyết khối dự phòng (UFH hoặc LWMH) theo các hướng dẫn hiện hành về điều trị bệnh nhân nặng.

Trong một nghiên cứu tiền cứu từ Pháp, 64/150 (43%) bệnh nhân được chẩn đoán bị biến chứng huyết khối trên lâm sàng. Các tác giả cho rằng ở những bệnh nhân nguy kịch, cần đặt mục tiêu chống đông máu cao hơn các bệnh nhân khác (Helms 2020).

Giải phẫu tử thi 12 bệnh nhân, cho thấy 7/12 bị huyết khối tĩnh mạch sâu. Thuyên tắc phổi là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong trong bốn trường hợp (Wichmann 2020).

Năm trường hợp đột quỵ mạch máu lớn xảy ra ở bệnh nhân trẻ tuổi (33-49 tuổi, 2 bệnh nhân trong đó không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào) (Oxley 2020).

Năm trường hợp mất ổn định huyết động sâu do sự phát triển của tâm-phế cấp tính, trong đó có 4 trường hợp dưới 65 tuổi (Creel-Bulos 2020).

Có nhiều tranh cãi về mối tương quan có thể có giữa việc sử dụng Ibuprofen và gia tăng nguy cơ tiến triển VTE. Theo một đánh giá gần đây (Arjomandi 2020), mối quan hệ giữa tác dụng của ibuprofen và VTE vẫn chỉ là suy đoán. Vai trò của ibuprofen với mạch máu vẫn chưa rõ ràng cũng như liệu ibuprofen có thể tương tác với SARS-CoV-2 một cách cơ học hay không. Tuy nhiên, các tác giả khuyến nghị cân nhắc cẩn thận tránh dùng Ibuprofen liều cao ở những đối tượng có nguy cơ đặc biệt mắc các bệnh huyết khối.

Triệu chứng thần kinh

Có một số hàng loạt các đặc điểm thần kinh cụ thể như hội chứng Guillain-Barré (Toscano 2020) hoặc Hội chứng Miller Fisher và viêm đa dây thần kinh sọ (Gutierrez-Ortiz 2020).

Triệu chứng da liễu

Nhiều nghiên cứu đã báo cáo về các biểu hiện ở da trong bệnh cảnh COVID-19. Hiện tượng nổi bật nhất gọi là “ngón chân COVID”, là những sang thương dạng cước (chilblain-like), chủ yếu xảy ra ở vùng đầu chi. Những san thương này có thể gây đau (đôi khi ngứa hoặc không có triệu chứng) và có thể là triệu chứng duy nhất hoặc biểu hiện muộn của nhiễm SARS-CoV-2. Đáng chú ý, ở hầu hết các bệnh nhân mắc “ngón chân COVID ”, bệnh chỉ ở mức độ nhẹ đến trung bình. Người ta suy đoán rằng các tổn thương là do viêm thành mạch máu, hoặc do các cục máu đông nhỏ trong máu. Tuy nhiên, liệu “ngón chân COVID” có thể biểu hiện rối loạn đông máu hay phản ứng quá mẫn hay không. Ngoài ra, ở nhiều bệnh nhân, xét nghiệm PCR SARS-CoV-2 âm tính (hoặc không được xét nghiệm) và xét nghiệm huyết thanh học (để chứng minh mối quan hệ) vẫn đang chờ xử lý. Các nghiên cứu chính:

Hai sang thương khác nhau của các tổn thương do thiếu máu cục bộ cấp tính có thể có biểu hiện chồng chéo nhau (Fernandez-Nieto 2020). Sang thương dạng cước (chilblain-like) đã có ở 95 bệnh nhân (72.0%). Đặc trưng bởi các hạt từ màu đỏ đến tím, mảng và nốt sần, thường ở các đầu xa của ngón chân và ngón tay. Kiểu đa dạng giống hồng ban đã xuất hiện ở 37 bệnh nhân (28.0%).

Năm biểu hiện lâm sàng của sang thương được mô tả (Galvan 2020): các vùng da ban đỏ với mụn nước hoặc mụn mủ (pseudo-chilblain) (19%), các đợt vỡ mụn nước khác (9%), nổi mề đay (19%), mảng sần (47 %) và mảng xanh tím hoặc hoại tử (6%). Vỡ mun nước xuất hiện sớm trong quá trình diễn tiến của bệnh (15% trước các triệu chứng khác). San thương dạng cước thường xuất hiện muộn trong quá trình tiến triển của COVID-19 (59% sau các triệu chứng khác).

Các báo cáo trường hợp khác về da bao gồm sần tróc vẩy (Sanchez 2020), phát ban xuất huyết (Diaz-Guimaraens 2020, Quintana-Castanedo 2020). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải tất cả các phát ban hoặc biểu hiện ở da gặp ở bệnh nhân mắc COVID-19 đều có thể được quy cho virus. Đồng nhiễm hoặc biến chứng y khoa nên được xem xét. Kiểm tra toàn diện niêm mạc, phân tích các đặc điểm lâm sàng toàn thân khác hoặc đặc điểm cơ địa bệnh nhân và mối tương quan mô bệnh học sẽ rất quan trọng để hiểu các cơ chế sinh lý bệnh của những tổn thương trên da (Tổng quan bởi: Madigan 2020).

Gan và thận

SARS-CoV-2 có thể gây bệnh ở một số cơ quan nội tạng ngoài đường hô hấp, bao gồm gan và thận. Các nhà nghiên cứu đã định lượng tải lượng virus SARS-CoV-2 trong thận một cách chính xác bằng đánh giá mẫu mô vi phẫu từ việc khám nghiệm tử thi của 6 bệnh nhân (Puelles 2020). Ba trong số 6 bệnh nhân này có tải lượng virus SARS-CoV-2 trên ngưỡng phát hiện trong tất cả các khoang thận được kiểm tra, đặc biệt nhắm vào tế bào cầu thận. Ái lực cao với thận (Renal tropism) là cách giải thích tiềm năng về các dấu hiệu lâm sàng được báo cáo về tổn thương thận ở các bệnh nhân mắc COVID-19, ngay cả ở những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ hoặc trung bình (Zhou 2020). Dữ liệu gần đây chỉ ra rằng tổn thương thận được báo cáo ngày càng nhiều so với các nghiên cứu ban đầu. Trong số 1,000 bệnh nhân đầu tiên nhập viện tại Đại học NewYork-Presbyterian-Columbia, 236 người được nhận hoặc chuyển đến các đơn vị hồi sức tích cực (Argenziano 2019). Trong số này, 78% (184/236) có tổn thương thận cấp và 35.2% (83/236) cần lọc máu. Đồng thời, 13.8% và 35.2% bệnh nhân trong các đơn vị hồi sức tích cực cần lọc máu nội trú, dẫn đến tình trạng thiếu thiết bị cần thiết để lọc máu và trị liệu thay thế thận liên tục.

Triệu chứng ở mắt và các biểu hiện không điển hình

Các biểu hiện ở mắt cũng rất phổ biến. Trong nghiên cứu loạt bệnh ở Trung Quốc, 12/38 bệnh nhân (chiếm 32%, chủ yếu là bệnh nhân nặng) có các biểu hiện ở mắt giống với viêm kết mạc, bao gồm tăng nhãn áp, phù kết mạc, chảy nước mắt sống hoặc tăng tiết. Hai bệnh nhân có kết quả PCR dương tính từ mẫu phết kết mạc (Wu 2020). Võng mạc cũng có thể bị ảnh hưởng, như đã được chứng minh bằng chụp cắt lớp quang học (OCT), một kỹ thuật hình ảnh không xâm lấn rất hữu ích để chứng minh những thay đổi võng mạc cận lâm sàng. Mười hai bệnh nhân người lớn, cho thấy các tổn thương tăng phản xạ của tế bào hạch và các lớp đám rối bên trong nổi rõ hơn ở bó gai thị ở cả hai mắt (Marinho 2020).

Các biểu hiện lâm sàng mới và đôi khi khó hiểu đã xuất hiện (và sẽ xuất hiện) trong đại dịch này. Đã có những báo cáo ca bệnh về các triệu chứng không đặc hiệu, đặc biệt ở người cao tuổi, nhấn mạnh sự cần thiết của việc xét nghiệm rộng rãi trong đại dịch hiện nay (Nickel 2020).

Kết quả cận lâm sàng

Những kết quả cận lâm sàng rõ ràng nhất trong nghiên cứu đoàn hệ lớn đầu tiên tại Trung Quốc (Guan 2020) nằm trong Bảng 1. Lúc nhập viện, 83.2% bệnh nhân giảm bạch cầu lympho, 36.2% giảm tiểu cầu và 33.7% giảm bạch cầu. Ở hầu hết bệnh nhân, protein phản ứng C tăng vừa phải; trong khi, gia tăng nồng độ alanine aminotransferase và D-dimer ít gặp hơn. Hầu hết bệnh nhân có procalcitonin bình thường lúc nhập viện.

Viêm

Bảng 2. Tỷ lệ các triệu chứng trong nghiên cứu đoàn hệ lớn đầu tiên từ Trung Quốc (Guan 2020). Độ nặn của bệnh được phân loại theo hướng dẫn của Hiệp hội lồng ngực Hoa Kỳ (Metlay 2019)

Triệu chứng lâm sàng Tất cả Bệnh nặng Bệnh nhẹ

Sốt,% 88.7 91.9 88.1

Ho,% 67.8 70.5 67.3

Mệt mỏi,% 38.1 39.9 37.8

Đàm,% 33.7 35.3 33.4

Khó thở,% 18.7 37.6 15.1

Đau cơ hoặc đau khớp,% 14.9 17.3 14.5

Đau họng,% 13.9 13.3 14.0

Đau đầu,% 13.6 15.0 13.4

Ớn lạnh,% 11.5 15.0 10.8

Buồn nôn hoặc nôn,% 5.0 6.9 4.6

Nghẹt mũi,% 4.8 3.5 5.1

Tiêu chảy,% 3.8 5.8 3.5

Hình ảnh học

Bất thường trên X-quang,% 59.1 76.7 54.2

Bất thường trên CT,% 86.2 94.6 84.4

Kết quả xét nghiệm

WBC <4.000 mỗi mm3 ,% 33.7 61.1 28.1

Tế bào lympho <1.500 mỗi mm3 ,% 83.2 96.1 80.4

Tiểu cầu <150.000 mỗi mm3,% 36.2 57.7 31.6

CRP ≥ 10 mg/L,% 60.7 81.5 56.4

Lactate dehydrogenase ≥ 250 U/L,% 41.0 58.1 37.1

22.2 39.4 18.2

D-dimer ≥ 0.5 mg/L,% 46.6 59.6 43.2

Huyết học: Tế bào lympho và tiểu cầu

Một kết quả huyết học phổ biến khác là số lượng tiểu cầu thấp có thể do các nguyên nhân khác nhau (Tổng quan bởi: Xu 2020). Các trường hợp có biểu hiện xuất huyết và giảm tiểu cầu nặng đáp ứng kéo dài trong nhiều tuần với globulin miễn dịch đã được báo cáo (Ahmed 2020).

Tim mạch: Troponin

Đông máu: D-Dimer, aPTT

Kết quả xét nghiệm như là yếu tố nguy cơ

Không có gì đáng ngạc nhiên khi các ca bệnh nặng có những bất thường xét nghiệm nổi trội hơn so với những người mắc bệnh nhẹ hoặc trung bình. Hiện vẫn chưa rõ, làm thế nào một tham số đơn lẻ có thể có giá trị lâm sàng vì hầu như tất cả các nghiên cứu đều hồi cứu và không được kiểm soát. Hơn nữa, số lượng bệnh nhân trong nhiều nghiên cứu bị hạn chế. Tuy nhiên, một số xu hướng của kết quả cận lâm sàng có thể hữu ích trong thực hành lâm sàng. Các yếu tố nguy cơ dựa trên kết quả cận lâm sàng bao gồm:

Tăng CRP, procalcitonin, interleukin-6 và ferritin

Giảm bạch cầu lympho, suy kiệt tế bào T CD4 và tế bào T CD8, tăng bạch cầu

Tăng D-dimer và troponin

LDH tăng cao

Phân loại lâm sàng

Một số tác giả (Wang 2020) đã sử dụng bảng phân loại gồm bốn mức độ:

Nhẹ: triệu chứng lâm sàng nhẹ và không có dấu hiệu viêm phổi trên hình ảnh.

Trung bình: sốt và các triệu chứng hô hấp khác với biểu hiện viêm phổi trên hình ảnh.

Nguy kịch: bất kỳ triệu chứng nào sau đây: suy hô hấp cần phải thở máy, sốc, kèm theo suy cơ quan cần theo dõi và điều trị tại ICU.

Trong báo cáo của CDC Trung Quốc, có sự tương đồng trong sử dụng các tiêu chuẩn phân loại mức độ nặng của bệnh (Wu 2020) mặc dù một số tác giả đã gộp mức độ số 1 và 2. Theo báo cáo này, có 81% trường hợp nhẹ và trung bình, 14% trường hợp nặng và 5% trường hợp nguy kịch. Trong khi đó các báo cáo sơ bộ từ Viện Y tế quốc gia Italia cho thấy 24.9% là nặng và 5.0% nguy kịch (Livingston 2020). Tuy nhiên, các con số này được cho là đánh giá quá cao gánh nặng bệnh tật, so với số lượng rất ít các trường hợp được chẩn đoán tại Italia vào thời điểm đó. Trong số 7,483 nhân viên y tế tại Mỹ mắc COVID-19, tổng cộng 184 (2.1 – 4.9%) người đã phải nhập ICU. Tỷ lệ cao hơn rõ rệt ở các nhân viên y tế trên 65 tuổi, đạt 6.9–16.0% (CDC 2020).

Kết quả

Chúng ta đang phải đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng về số ca bệnh nặng và tử vong trong đại dịch này. Hai câu hỏi lâm sàng khó nhất nhưng cũng thường gặp nhất là: 1. Có bao nhiêu bệnh nhân sẽ trở nặng hoặc thậm chí tử vong do COVID-19? 2. Tỷ lệ chính xác những trường hợp mắc bệnh mà không có triệu chứng là bao nhiêu? Chúng ta sẽ biết thêm về điều này trong thời gian sắp tới thông qua các nghiên cứu xét nghiệm huyết thanh học. Tuy nhiên, điều quan trọng là các nghiên cứu này được thiết kế và thực hiện cẩn thận, đặc biệt để tránh các yếu tố sai lệch và gây nhiễu.

Tỷ lệ tử vong ca bệnh

Tỷ lệ tử vong ca bệnh (CFR – Case Fatality Rate) hoặc tỷ lệ tử vong do nhiễm bệnh (IFR – Infection Fatality Rate) rất khó đánh giá trong khi đại dịch đang diễn biến phức tạp. CFR có thể bị sai số cao hơn thực tế vì số ca nhiễm bệnh không được báo cáo đầy đủ, cũng có thể thấp hơn thực tế do thời gian theo dõi không đủ hoặc kết quả không xác định được. Dịch bệnh có xu hướng giảm cũng phản ánh một phần những tiến bộ trong giám sát dịch tễ học. Tử vong do COVID-19 nhiều khả năng được ước tính cao hơn thực tế, đặc biệt các ước tính ban đầu dễ sai sót vì chúng ta còn chưa rõ về nhiễm trùng không triệu chứng hoặc cận lâm sàng và các sai số nghiêm trọng, bao gồm sai số phát hiện, lựa chọn và báo cáo (Niforatos 2020).

Chia số người chết cho tổng số ca nhiễm là không phù hợp. Ví dụ, vào ngày 30 tháng 5, CFR của 30 quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất (tính theo số tuyệt đối) dao động từ 0.07 (Singapore) đến 16.7 (Bỉ). Trong 10 quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất, phổ dao động là từ 1.15 (Nga) đến 15.3 (Pháp).

Bức tranh toàn cảnh của đại dịch phức tạp hơn nhiều và những tính toán đơn giản này dường như không phản ánh tỷ lệ tử vong thực sự ở mỗi quốc gia nếu không tính đến ba vấn đề khác:

Chính sách xét nghiệm (và khả năng xét nghiệm) của mỗi quốc gia. Đây là yếu tố quan trọng nhất. Càng ít người được xét nghiệm (tất cả người dân, chỉ những người có triệu chứng, chỉ những người có triệu chứng nặng) thì tỷ lệ tử vong càng cao. Tại Đức, hệ thống xét nghiệm và những phòng xét nghiệm có năng lực cao đã được thiết lập nhanh chóng (Stafford 2020).

Độ tuổi của quần thể mắc bệnh và đặc biệt là nhóm dân số bị ảnh hưởng đầu tiên. Chẳng hạn, ở Ý, người già chiếm tỉ lệ cao trong số những người bị nhiễm virus trong tuần đầu tiên của dịch bệnh, so sánh với Đức (nơi nhiều người bị lây nhiễm SARS-CoV-2 khi đi trượt tuyết hoặc tại các lễ hội). Đáng chú ý hơn là nếu những địa điểm có nguy cơ cao bị tác động (như nhà dưỡng lão), số ca tử vong ở quốc gia đó sẽ tăng lên đáng kể. Ví dụ, một ổ dịch ở Washington đã khiến 34 người chết trong số 101 bệnh nhân ở một cơ sở chăm sóc dài hạn (McMichael 2020) – bằng với số ca tử vong trên toàn nước Úc vào ngày 4 tháng 4, trong tổng số 5,635 trường hợp mắc COVID-19.

Giai đoạn dịch. Một số quốc gia đã đối mặt với dịch bệnh từ rất sớm, một số khác muộn hơn vài ngày hoặc vài tuần. Trong khi tỷ lệ tử vong chỉ phản ánh tỷ lệ nhiễm bệnh trong 2-3 tuần trước đó. Trong một nghiên cứu hồi cứu lớn từ Vũ Hán, thời gian từ khi khởi phát bệnh đến khi tử vong là 18,5 ngày (IQR 15-22 ngày).

“Tỷ lệ tử vong” ở một số nước dựa trên số chết và số xét nghiệm được thực hiện nằm ở Hình 1. Đường cong phản ánh năng lực chuẩn bị và năng lực xét nghiệm của mỗi quốc gia. Ví dụ ở Thụy Điển, một đất nước ban đầu dựa vào “miễn dịch cộng đồng”, khác biệt đáng kể với các quốc gia tiến hành xét nghiệm hàng loạt ngay từ khi dịch bệnh bắt đầu như Đức. Hoa Kỳ vẫn còn ở giai đoạn đầu, tại Hàn Quốc, dịch bệnh đã được ngăn chặn tương đối nhanh chóng bằng các biện pháp truy vết nghiêm ngặt.

Hình 1. Số ca dương tính (trên 1 triệu dân, đường nét đứt) và số ca tử vong (trên 1 triệu dân). “Tỷ lệ tử vong” đạt 10% tại điểm các đường cong giao nhau. Điều này đã xảy ra tại những nước như Tây Ban nha, Ý hoặc Thụy Điển, nhưng khó xảy ra tại các nước khác như Đức, Thụy Sĩ hay Mỹ.

Tỷ lệ tử vong ca bệnh trong số các nhân viên y tế và các nhóm dân cư được xác định rõ

Trong các nhóm dân cư được theo dõi tốt, là các nhóm luôn được báo cáo hoặc đa số có thể xác định được, tỷ lệ tử vong có thể phản ánh tốt hơn CFR thật sự của COVID-19. Điều này áp dụng cho các nhân viên chăm sóc sức khỏe (HCW) nhưng cũng áp dụng cho các quần thể được xác định rõ ràng (có giới hạn). Tỷ lệ tử vong thấp trong các quần thể này là đáng chú ý.

Trong 1 nghiên cứu lớn về 3,387 nhân viên y tế từ Trung Quốc bị nhiễm SARS-CoV-2, chỉ có 23 người chết, tương ứng với tỷ lệ tử vong là 0,68%. Độ tuổi trung bình là 55 tuổi (từ 29 đến 72) và 11 trong số 23 nhân viên y tế tử vong là những người đi làm lại sau khi nghỉ hưu (Zhan 2020). Các nghiên cứu hiện có ở Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ tương tự, ước tính tỷ lệ tử vong là 0.3-0.6% (CDC 2020). Trong số 27 nhân viên y tế tử vong vì COVID-19 đến giữa tháng 4, có 18 người đã trên 54 tuổi. Nói chung, tỷ lệ tử vong thấp có lẽ là do trong thực tế các nhân viên y tế thường trẻ và khỏe mạnh hơn, nhưng cũng có thể do họ được xét nghiệm sớm và thường xuyên hơn.

Chúng ta cũng sẽ hiểu thêm từ các ổ dịch giới hạn ảnh hưởng đến quẩn thể đồng nhất, chẳng hạn như tàu du lịch và tàu sân bay. Các ổ dịch trên những quần thể nhỏ trôi nổi này, tuy không may, nhưng cung cấp rất nhiều thông tin, chúng cho biết rất nhiều điều về sự lây truyền và diễn tiến tự nhiên của dịch bệnh trong các quần thể đã được xác định rõ. Hai nghiên cứu lớn theo kiểu “thực địa ngẫu nhiên không tự nguyện” đang diễn ra: khoảng 1,140 thủy thủ bị mắc bệnh trên tàu sân bay Mỹ Theodore Roosevelt (một binh sĩ đã chết, chín người phải nhập viện) và hơn 1,080 bệnh nhân COVID-19 trên tàu sân bay Pháp Charles de Gaulle. Những quần thể này có lẽ còn trẻ khỏe và tương đồng nhiều hơn với dân số chung. Điều tra chi tiết sẽ trình bày sau.

Dữ liệu giá trị nhất dường như đến từ tàu Diamond Princess. Tính đến ngày 31 tháng 5, tổng số người nhiễm bệnh lên tới 712 người và 13 bệnh nhân đã tử vong vì căn bệnh này dẫn đến CFR là 1.8%. Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể tăng lên, vì ít nhất 4 bệnh nhân đang trong tình trạng nguy kịch (Moriarty 2020). Đáng chú ý, khoảng 75% bệnh nhân trên tàu Diamond Princess trên 60 tuổi, nhiều người trong số họ đã tám mươi. Dự báo tỷ lệ tử vong của Diamond Princess theo cấu trúc tuổi của dân số chung, rõ ràng là tỷ lệ tử vong có thể thấp hơn nhiều trong các quần thể lớn hơn khác. Tử vong sẽ nằm trong khoảng 0.2-0.4%.

Tuổi cao

Từ lúc bắt đầu đại dịch, “cao tuổi” đã được xác định là yếu tố nguy cơ cao đối với mức độ nghiêm trọng của bệnh (Huang 2020, Guan 2020). Tại Vũ Hán, có một sự phụ thuộc đáng kể và rõ ràng của tuổi với biểu hiện triệu chứng (mẫn cảm) và tiên lượng (nguy cơ tử vong), gấp nhiều lần trong mỗi trường hợp (Wu 2020). Báo cáo tóm tắt từ CDC Trung Quốc cho thấy tỷ lệ tử vong là 2.3%, tương ứng 1,023 trong số 44,672 trường hợp mắc bệnh (Wu 2020). Tỷ lệ tử vong tăng rõ rệt ở người lớn tuổi. Trong các ca nhiễm từ 70 đến 79 tuổi, CFR là 8.0% và con số này ở những người từ 80 tuổi trở lên là 14.8%.

Trong những tuần gần đây, điều này đã được thấy và xác nhận bởi hầu hết các nghiên cứu được công bố trên toàn thế giới. Ở hầu hết các quốc gia, nhóm tuổi từ 80 trở lên có hơn 90% các trường hợp tử vong.

Trong một phân tích lớn về dich ở Anh với 20,133 bệnh nhân, tuổi trung vị của 5,165 bệnh nhân (26%) đã tử vong tại bệnh viện do COVID-19 là 80 (Docherty 2020).

Theo Viện Sức khỏe Quốc gia Ý, một phân tích về 2,003 ca tử vong đầu tiên, tuổi trung vị là 80.5 tuổi. Chỉ có 17 (0.8%) ca từ 49 tuổi trở xuống và 88% trên 70 tuổi (Livingston 2020).

Phân tích chi tiết về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở các điểm nóng dịch bệnh tại Ý cho thấy có sự chênh lệch lớn về tử vong do mọi nguyên nhân so với các năm trước trong thời kỳ đỉnh điểm chủ yếu là do sự gia tăng tử vong ở người già, đặc biệt là ở nam giới (Piccininni 2020, Michelozzi 2020).

Trong 5,700 bệnh nhân nhập viện ở New York, có sự gia tăng đáng kể về tử vong giữa các nhóm tuổi già, 61% (122/199) ở nam và 48% (115/242) ở phụ nữ (Richardson 2020).

Trong một báo cáo ổ dịch ở Quận King, Washington, tổng cộng có 167 ca bệnh, trong đó có 101 bệnh nhân (tuổi trung vị 83 tuổi) tại một cơ sở chăm sóc dài hạn, 50 nhân viên y tế (tuổi trung vị 43 tuổi) và 16 người thăm bệnh. Tỷ lệ tử vong trong nhóm bệnh nhân là 33.7% (34 trên 101) và nhân viên y tế là 0% (McMichael 2020).

Không còn nghi ngờ gì nữa, tuổi già là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với tỷ lệ tử vong. Các quốc gia thất bại trong việc bảo vệ dân số già vì những lý do khác nhau (như Ý, Bỉ hoặc Thụy Điển) đang phải đối mặt với CFR cao hơn, trong khi những quốc gia không có nhiều bệnh nhân lớn tuổi (như Hàn Quốc, Singapore, Úc) tỷ lệ thấp hơn rõ rệt.

Những yếu tố nguy cơ bệnh nặng khác

Nguồn dữ liệu lớn nhất được ghi lại cho đến thời điểm này từ ​​các nơi khác nhau trên thế giới được trình bày trong Bảng 3. Một phát hiện nổi bật của những nghiên cứu này là tỷ lệ tử vong thấp hơn ở bệnh nhân nữ. Có một số bằng chứng cho thấy có sự khác biệt về giới tính trong các đặc điểm lâm sàng, tiên lượng và bệnh kèm ít ảnh hưởng ở nữ giới hơn (Meng 2020). Người ta đã suy đoán rằng nguy cơ mắc bệnh cao hơn ở nam giới là do sự hiện diện của tình trạng viêm hệ thống trên cận lâm sàng, hệ thống miễn dịch bị suy giảm, điều hoà thấp của ACE2 và gia tăng già hoá sinh học (Bonafè 2020).

Bảng 3. Tuổi và bệnh nền trong một nghiên cứu lớn (Docherty 2020), cung cấp các phân tích đa biến và tỉ số rủi ro (Hazard Ratios).

  UK, n = 15,194

Tỉ số rủi ro (95% CI) Tử vong

Tuổi 50-59 vs < 50 2.63 (2.06-3.35)

Tuổi 60-69 vs < 50 4.99 (3.99-6.25)

Tuổi 70-79 vs < 50 8.51 (6.85-10.57)

Tuổi 11.09 (8.93-13.77)

Nữ giới 0.81 (0.75-0.86)

Bệnh tim mạn tính 1.16 (1.08-1.24)

Bệnh phổi mạn tính 1.17 (1.09-1.27)

Bệnh thận mạn tính 1.28 (1.18-1.39)

Tăng huyết áp

Đái tháo đường 1.06 (0.99-1.14)

Béo phì 1.33 (1.19-1.49)

Rối loạn thần kinh mạn tính 1.18 (1.06-1.29)

Mất trí nhớ 1.40 (1.28-1.52)

Bệnh lý ác tính 1.13 (1.02-1.24)

Bệnh gan trung bình/nặng 1.51 (1.21-1.88)

Tóm lại, các nghiên cứu lớn cho thấy tỉ số rủi ro của tử vong tăng nhẹ đối với nhiều bệnh kèm (bảng 3). Tuy nhiên, dường như hầu hết bệnh nhân có bệnh nền có khả năng kiểm soát và loại bỏ được virus. Bệnh nền đóng vai trò chính ở những người không thể phục hồi và kiểm soát nhiễm trùng đường hô hấp trên và những người có biểu hiện viêm phổi. Hậu quả của COVID-19 gây ra không chỉ ở phổi mà còn nhiều cơ quan khác, bao gồm mạch máu, tim và thận (tổng quan hay bởi Wadman 2020), có vẻ hợp lí rằng giảm chức năng tim mạch và phổi sẽ cải thiện kết quả lâm sàng ở những bệnh nhân này.

Tuy nhiên, tại thời điểm này, chúng ta chỉ có thể suy đoán chính xác vai trò của bệnh kèm và cơ chế bệnh sinh của chúng trong việc góp phần vào mức độ trầm trọng của bệnh.

Yếu tố cơ địa/di truyền có sẳn

Ví dụ, một báo cáo từ Iran mô tả ba anh em từ 54 đến 66 tuổi, tất cả đã nhanh chóng tử vong vì COVID-19 sau chưa đầy hai tuần mắc bệnh. Cả ba trước đây đều khỏe mạnh và không có bệnh nền (Yousefzadegan 2020).

Ngoài khuynh hướng di truyền, các lý do khả dĩ khác về diễn tiến bệnh nặng cần được xem xét: liều lượng phơi nhiễm virus (có thể cao đối với Lý Văn Lượng?), con đường mà virus xâm nhập vào cơ thể, cuối cùng là độc lực của mầm bệnh và khả năng miễn dịch có được (một phần) từ các bệnh do virus trước đó. Nếu bạn hít phải một lượng lớn virus, dẫn đến sự tăng nhanh số lượng của virus trong hệ thống phổi, điều này tồi tệ hơn nhiều so với việc dính một lượng nhỏ virus từ tay vào mũi. Trong những trường hợp này, hệ thống miễn dịch ở đường hô hấp trên có thể có nhiều thời gian hơn để giới hạn sự lây lan xa hơn đến phổi và các cơ quan khác. Nhưng điều này vẫn chỉ là suy đoán và cần được điều tra kỹ hơn trong những tháng tới.

Quá tải hệ thống y tế

Cơn ác mộng thiếu hụt nguồn lực cũng đã diễn ra ở miền Bắc nước Ý. Tại quốc gia này, vào ngày 15 tháng 3, lần đầu tiên số người chết đã vượt quá số người nhập viện vào các đơn vị hồi sức tích cực – một dấu hiệu rõ ràng cho sự sụp đổ của hệ thống y tế. Các quốc gia hoặc khu vực khác sẽ sớm phải đối mặt với tình trạng tương tự.

Tái hoạt động, tái nhiễm virus

Có một số báo cáo về các bệnh nhân bị dương tính trở lại sau khi đã có kết quả PCR âm tính (Lan 2020, Xiao 2020, Yuan 2020). Những báo cáo này đã nhận được rất nhiều sự chú ý, bởi vì nó có thể chỉ ra được sự tái hoạt động hoặc tái nhiễm virus. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra kỹ hơn các báo cáo này, không có bằng chứng thuyết phục cho sự tái hoạt động hoặc tái nhiễm virus, mà nhiều khả năng là vì các lý do khác. Các vấn đề về phương pháp PCR luôn phải được xem xét; kết quả có thể dao động đáng kể (Li 2020). Thu thập hoặc lưu trữ bệnh phẩm không đầy đủ chỉ là hai ví dụ trong nhiều vấn đề của PCR. Ngay cả khi mọi thứ được thực hiện một cách chính xác, có thể dự đoán rằng PCR có thể dao động giữa dương tính và âm tính tại thời điểm các giá trị thấp và tải lượng virus giảm mạnh ở giai đoạn cuối của bệnh (Wölfel 2020). Nó cũng phụ thuộc vào loại xét nghiệm được sử dụng, ngưỡng phát hiện là từ vài trăm đến vài nghìn bản sao virus/mL (Wang 2020).

Nghiên cứu lớn nhất cho đến nay cho thấy tổng cộng 25 (14.5%) trong số 172 bệnh nhân COVID-19 đã xuất viện có xét nghiệm dương tính tại nhà sau hai lần PCR âm tính tại bệnh viện (Yuan 2020). Trung bình, thời gian giữa lần xét nghiệm âm tính cuối cùng và lần xét nghiệm dương tính đầu tiên là 7.3 ngày (độ lệch chuẩn 3.9). Không có sự khác biệt đối với những bệnh nhân vẫn âm tính. Điều này và khoảng thời gian ngắn cho thấy ở những bệnh nhân này, khó có khả năng virus tái kích hoạt.

Ngoài ra, các nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng việc tái nhiễm là rất khó xảy ra (Chandrashekar 2020). Sau khi thanh thải virus và vào ngày thứ 35 sau khi nhiễm virus ban đầu, 9 con khỉ vàng (rhesus macaques) đã được tiêm cùng một lượng virus như lần gây nhiễm trùng tiên phát. RNA virus được quan sát rất hạn chế ở BAL vào ngày thứ nhất, không phát hiện thấy RNA virus ở các mốc thời gian tiếp theo. Những dữ liệu này cho thấy nhiễm SARS-CoV-2 tạo ra miễn dịch bảo vệ chống lại sự tái phơi nhiễm ở loài linh trưởng không phải người.

Sự tái kích hoạt cũng như sớm tái phát lại thì không thường thấy, đặc biệt là đối với virus corona. Nếu thực hiện rất nhiều xét nghiệm, bạn sẽ tìm thấy một số bệnh nhân dương tính trở lại sau khi PCR âm tính 2 lần và đã hồi phục về mặt lâm sàng. Hiện tượng này có thể đã bị đánh giá quá mức. Hầu hết bệnh nhân đều khỏe lại; hơn nữa, chưa rõ liệu xét nghiệm PCR dương tính trở lại có đồng nghĩa với sự mắc bệnh lại hay không.

Quan điểm của tác giả

Trong những tháng tới, các nghiên cứu huyết thanh học sẽ cho ta thấy một bức tranh rõ ràng hơn về số lượng chính xác các bệnh nhân không triệu chứng và có triệu chứng không điển hình. Quan trọng hơn, chúng ta phải tìm hiểu thêm về các yếu tố nguy cơ đối với bệnh nặng để điều chỉnh các chiến lược dự phòng. Tuổi già không phải là yếu tố nguy cơ chính nhưng cũng không phải là duy nhất. Gần đây, một bệnh nhân 106 tuổi mắc COVID-19 đã hồi phục hoàn toàn ở Anh. Phải làm rõ cơ chế mà bệnh kèm (và các thuốc đang sử dụng) làm tăng nguy cơ diễn tiến bệnh nặng như thế nào. Các nghiên cứu di truyền và miễn dịch học phải làm rõ được tính nhạy cảm và các yếu tố cơ địa /di truyền có sẳn đối với cả giai đoạn bệnh nặng và bệnh nhẹ. Ai thực sự có nguy cơ, còn ai thì không? Chỉ cách ly người già là quá dễ dàng.

Tài liệu tham khảo

Ackermann M, Verleden SE, Kuehnel M, et al. Pulmonary Vascular Endothelialitis, Thrombosis, and Angiogenesis in Covid-19. N Engl J Med. 2020 May 21. PubMed: https://pubmed.gov/32437596. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMoa2015432

Ahmed MZ, Khakwani M, Venkatadasari I, et al. Thrombocytopenia as an initial manifestation of Covid-19; Case Series and Literature review. Br J Haematol. 2020 May 5. PubMed: https://pubmed.gov/32369609. Full-text: https://doi.org/10.1111/bjh.16769

Argenziano MG, Bruce SL, Slater CL, et al. Characterization and clinical course of 1000 patients with coronavirus disease 2019 in New York: retrospective case series. BMJ. 2020 May 29;369:m1996. PubMed: https://pubmed.gov/3247188 4. Full-text: https://doi.org/10.1136/bmj.m1996

Arjomandi Rad A, Vardanyan R, Tas NR. Ibuprofen and thromboembolism in SARS-COV2. J Thromb Haemost. 2020 May 16. PubMed: https://pubmed.gov/32415902. Full-text: https://doi.org/10.1111/jth.14901

Arons MM, Hatfield KM, Reddy SC, et al. Presymptomatic SARS-CoV-2 Infections and Transmission in a Skilled Nursing Facility. N Engl J Med. 2020 May 28;382(22):2081-2090. PubMed: https://pubmed.gov/32329971. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMoa2008457

Bai Y, Yao L, Wei T, et al. Presumed Asymptomatic Carrier Transmission of COVID-19. JAMA. 2020 Feb 21. pii: 2762028. PubMed: https://pubmed.gov/32083643. Full-text: https://doi.org/10.1001/jama.2020.2565

Baig AM. Neurological manifestations in COVID-19 caused by SARS-CoV-2. CNS Neurosci Ther. 2020 Apr 7. PubMed: https://pubmed.gov/32266761. Full-text: https://doi.org/10.1111/cns.13372

Bangalore S, Sharma A, Slotwiner A, et al. ST-Segment Elevation in Patients with Covid-19 – A Case Series. N Engl J Med. 2020 Apr 17. PubMed: https://pubmed.gov/32302081. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMc2009020

Berlin I, Thomas D, Le Faou AL, Cornuz J. COVID-19 and smoking. Nicotine Tob Res. 2020 Apr 3. pii: 5815378. PubMed: https://pubmed.gov/32242236. Full-text: https://doi.org/10.1093/ntr/ntaa059

Bolay H, Gul A, Baykan B. COVID-19 is a Real Headache! Headache 2020 May 15. PubMed: https://pubmed.gov/32412101. Full-text: https://doi.org/10.1111/head.13856

Bonafè M, Prattichizzo F, Giuliani A, Storci G, Sabbatinelli J, Olivieri F. Inflamm-aging: Why older men are the most susceptible to SARS-CoV-2 complicated outcomes. Cytokine Growth Factor Rev. 2020 May 3:S1359-6101(20)30084-8. PubMed: https://pubmed.gov/32389499. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.cytogfr.2020.04.005

Bonow RO, Fonarow GC, O´Gara PT, Yancy CW. Association of Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) With Myocardial Injury and Mortality. JAMA Cardiol. 2020 Mar 27. pii: 2763844. PubMed: https://pubmed.gov/32219362. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamacardio.2020.1105

Bowles L, Platton S, Yartey N, et al. Lupus Anticoagulant and Abnormal Coagulation Tests in Patients with Covid-19. NEJM May 5, 2020, DOI: 10.1056/NEJMc2013656. Full-text: https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMc2013656?query=featured_home

Caussy C, Pattou RF, Wallet F, et al. Prevalence of obesity among adult inpatients with COVID-19 in France. Lancet Diabetes Endocrinology 2020, May 18. Full-text: https://doi.org/10.1016/S2213-8587(20)30160-1 – https://www.thelancet.com/journals/landia/article/PIIS2213-8587(20)30160-1/fulltext

CDC Covid Response Team. Characteristics of Health Care Personnel with COVID-19 – United States, February 12-April 9, 2020. MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 2020 Apr 17;69(15):477-481. PubMed: https://pubmed.gov/32298247. Full-text: https://doi.org/10.15585/mmwr.mm6915e6

Cereda D, Tirani M, Rovida F, et al. The early phase of the COVID-19 outbreak in Lombardy, Italy. https://arxiv.org/ftp/arxiv/papers/2003/2003.09320.pdf. Accessed 27 March 2020.

Chandrashekar A, Liu J, Martinot AJ, et al. SARS-CoV-2 infection protects against rechallenge in rhesus macaques. Science. 2020 May 20:eabc4776. PubMed: https://pubmed.gov/32434946. Full-text: https://doi.org/10.1126/science.abc4776

Chapman AR, Bularga A, Mills NL. High-Sensitivity Cardiac Troponin Can Be An Ally in the Fight Against COVID-19. Circulation. 2020 Apr 6. PubMed: https://pubmed.gov/32251612. Full-text: https://doi.org/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.047008

Chen R, Liang W, Jiang M, et al. Risk factors of fatal outcome in hospitalized subjects with coronavirus disease 2019 from a nationwide analysis in China. Chest. 2020 Apr 15. pii: S0012-3692(20)30710-8. PubMed: https://pubmed.gov/32304772. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.chest.2020.04.010

Cheung KS, Hung IF, Chan PP, et al. Gastrointestinal Manifestations of SARS-CoV-2 Infection and Virus Load in Fecal Samples from the Hong Kong Cohort and Systematic Review and Meta-analysis. Gastroenterology. 2020 Apr 3. pii: S0016-5085(20)30448-0. PubMed: https://pubmed.gov/32251668. Full-text: https://doi.org/10.1053/j.gastro.2020.03.065

Connors JM, Levy JH. COVID-19 and its implications for thrombosis and anticoagulation. Blood. 2020 Apr 27. PubMed: https://pubmed.gov/32339221. Full-text: https://doi.org/10.1182/blood.2020006000

Creel-Bulos C, Hockstein M, Amin N, Melhem S, Truong A, Sharifpour M. Acute Cor Pulmonale in Critically Ill Patients with Covid-19. N Engl J Med. 2020 May 6. PubMed: https://pubmed.gov/32374956. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMc2010459

Cummings MJ, Baldwin MR, Abrams D, et al. Epidemiology, clinical course, and outcomes of critically ill adults with COVID-19 in New York City: a prospective cohort study. Lancet. 2020 May 19:S0140-6736(20)31189-2. PubMed: https://pubmed.gov/32442528. Full-text: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)31189-2

Deshpande C. Thromboembolic Findings in COVID-19 Autopsies: Pulmonary Thrombosis or Embolism? Annals Int Med 2020, May 15. Full-text: https://doi.org/10.7326/M20-3255

Diaz-Guimaraens B, Dominguez-Santas M, Suarez-Valle A, et al. Petechial Skin Rash Associated With Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 Infection. JAMA Dermatol. 2020 Apr 30. PubMed: https://pubmed.gov/32352487. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamadermatol.2020.1741

Docherty AB, Harrison EM, Green CA, et al. Features of 20 133 UK patients in hospital with covid-19 using the ISARIC WHO Clinical Characterisation Protocol: prospective observational cohort study. BMJ 2020 May 22; 369:m1985. Full-text: https://doi.org/10.1136/bmj.m1985 –https://www.bmj.com/content/369/bmj.m1985

Docherty AB, Harrison EM, Green CA, et al. Features of 20 133 UK patients in hospital with covid-19 using the ISARIC WHO Clinical Characterisation Protocol: prospective observational cohort study. BMJ 2020 May 22; 369:m1985. Full-text: https://doi.org/10.1136/bmj.m1985 –https://www.bmj.com/content/369/bmj.m1985

Du RH, Liang LR, Yang CQ, et al. Predictors of Mortality for Patients with COVID-19 Pneumonia Caused by SARS-CoV-2: A Prospective Cohort Study. Eur Respir J. 2020 Apr 8. PubMed: https://pubmed.gov/32269088. Full-text: https://doi.org/10.1183/13993003.00524-2020

Effenberger M, Grabherr F, Mayr L, et al. Faecal calprotectin indicates intestinal inflammation in COVID-19. Gut. 2020 Apr 20. PubMed: https://pubmed.gov/32312790. Full-text: https://doi.org/10.1136/gutjnl-2020-321388

Fernandez-Nieto D, Jimenez-Cauhe J, Suarez-Valle A, et al. Characterization of acute acro-ischemic lesions in non-hospitalized patients: a case series of 132 patients during the COVID-19 outbreak. J Am Acad Dermatol. 2020 Apr 24. PubMed: https://pubmed.gov/32339703. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.jaad.2020.04.093

Fried JA, Ramasubbu K, Bhatt R, et al. The Variety of Cardiovascular Presentations of COVID-19. Circulation. 2020 Apr 3. PubMed: https://pubmed.gov/32243205. Full-text: https://doi.org/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.047164

Galvan Casas C, Catala A, Carretero Hernandez G, et al. Classification of the cutaneous manifestations of COVID-19: a rapid prospective nationwide consensus study in Spain with 375 cases. Br J Dermatol. 2020 Apr 29. PubMed: https://pubmed.gov/32348545. Full-text: https://doi.org/10.1111/bjd.19163

Gane SB, Kelly C, Hopkins C. Isolated sudden onset anosmia in COVID-19 infection. A novel syndrome? Rhinology. 2020 Apr 2. pii: 2449. PubMed: https://pubmed.gov/32240279. Full-text: https://doi.org/10.4193/Rhin20.114

Goyal P, Choi JJ, Pinheiro LC, et al. Clinical Characteristics of Covid-19 in New York City. N Engl J Med. 2020 Apr 17. PubMed: https://pubmed.gov/32302078. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMc2010419

Grasselli G, Zangrillo A, Zanella A, et al. Baseline Characteristics and Outcomes of 1591 Patients Infected With SARS-CoV-2 Admitted to ICUs of the Lombardy Region, Italy. JAMA. 2020 Apr 6;323(16):1574-81. PubMed: https://pubmed.gov/32250385. Full-text: https://doi.org/10.1001/jama.2020.5394

Grillet F, Behr J, Calame P, Aubry S, Delabrousse E. Acute Pulmonary Embolism Associated with COVID-19 Pneumonia Detected by Pulmonary CT Angiography. Radiology. 2020 Apr 23. PubMed: https://pubmed.gov/32324103. Full-text: https://doi.org/10.1148/radiol.2020201544

Groß R, Conzelmann C, Müller JA, et al. Detection of SARS-CoV-2 in human breastmilk. Lancet. 2020 May 21:S0140-6736(20)31181-8. PubMed: https://pubmed.gov/32446324. Full-text: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)31181-8

Guan WJ, Liang WH, Zhao Y, et al. Comorbidity and its impact on 1590 patients with Covid-19 in China: A Nationwide Analysis. Eur Respir J. 2020 Mar 26. pii: 13993003.00547-2020. PubMed: https://pubmed.gov/32217650. Full-text: https://doi.org/10.1183/13993003.00547-2020

Guan WJ, Ni ZY, Hu Y, et al. Clinical Characteristics of Coronavirus Disease 2019 in China. N Engl J Med. 2020 Feb 28. PubMed: https://pubmed.gov/32109013. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMoa2002032

Gudbjartsson DF, Helgason A, Jonsson H, et al. Spread of SARS-CoV-2 in the Icelandic Population. N Engl J Med. 2020 Apr 14. PubMed: https://pubmed.gov/32289214. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMoa2006100

Gutierrez-Ortiz C, Mendez A, Rodrigo-Rey S, et al. Miller Fisher Syndrome and polyneuritis cranialis in COVID-19. Neurology. 2020 Apr 17. PubMed: https://pubmed.gov/32303650. Full-text: https://doi.org/10.1212/WNL.0000000000009619

He X, Lau EHY, Wu P, et al. Temporal dynamics in viral shedding and transmissibility of COVID-19. Nat Med. 2020 Apr 15. pii: 10.1038/s41591-020-0869-5. PubMed: https://pubmed.gov/32296168. Full-text: https://doi.org/10.1038/s41591-020-0869-5

He Z, Zhao C, Dong Q, et al. Effects of severe acute respiratory syndrome (SARS) coronavirus infection on peripheral blood lymphocytes and their subsets. Int J Infect Dis. 2005 Nov;9(6):323-30. PubMed: https://pubmed.gov/16095942. Full-text: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7110876/

Helms J, Kremer S, Merdji H, et al. Neurologic Features in Severe SARS-CoV-2 Infection. N Engl J Med. 2020 Apr 15. PubMed: https://pubmed.gov/32294339. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMc2008597

Helms J, Tacquard C, Severac F, et al. High risk of thrombosis in patients with severe SARS-CoV-2 infection: a multicenter prospective cohort study. Intensive Care Med. 2020 May 4. pii: 10.1007/s00134-020-06062-x. PubMed: https://pubmed.gov/32367170. Full-text: https://doi.org/10.1007/s00134-020-06062-x

Hendren NS, Drazner MH, Bozkurt B, Cooper LT Jr. Description and Proposed Management of the Acute COVID-19 Cardiovascular Syndrome. Circulation. 2020 Apr 16. PubMed: https://pubmed.gov/32297796. Full-text: https://doi.org/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.047349

Huang C, Wang Y, Li X, et al. Clinical features of patients infected with 2019 novel coronavirus in Wuhan, China. Lancet. 2020 Feb 15;395(10223):497-506. PubMed: https://pubmed.gov/31986264. Full-text: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)30183-5

Inciardi RM, Lupi L, Zaccone G, et al. Cardiac Involvement in a Patient With Coronavirus Disease 2019 (COVID-19). JAMA Cardiol. 2020 Mar 27. pii: 2763843. PubMed: https://pubmed.gov/32219357. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamacardio.2020.1096

Ji D, Zhang D, Xu J, et al. Prediction for Progression Risk in Patients with COVID-19 Pneumonia: the CALL Score. Clin Infect Dis. 2020 Apr 9. pii: 5818317. PubMed: https://pubmed.gov/32271369. Full-text: https://doi.org/10.1093/cid/ciaa414

Ji Y, Ma Z, Peppelenbosch MP, Pan Q. Potential association between COVID-19 mortality and health-care resource availability. Lancet Glob Health. 2020 Apr;8(4):e480. PubMed: https://pubmed.gov/32109372. Full-text: https://doi.org/10.1016/S2214-109X(20)30068-1

Jiang M, Guo Y, Luo Q, et al. T cell subset counts in peripheral blood can be used as discriminatory biomarkers for diagnosis and severity prediction of COVID-19. J Infect Dis. 2020 May 7. PubMed: https://pubmed.gov/32379887. Full-text: https://doi.org/10.1093/infdis/jiaa252

Kim H, Hong H, Yoon SH. Diagnostic Performance of CT and Reverse Transcriptase-Polymerase Chain Reaction for Coronavirus Disease 2019: A Meta-Analysis. Radiology. 2020 Apr 17:201343. PubMed: https://pubmed.gov/32301646. Full-text: https://doi.org/10.1148/radiol.2020201343

Kimball A, Hatfield KM, Arons M, et al. Asymptomatic and Presymptomatic SARS-CoV-2 Infections in Residents of a Long-Term Care Skilled Nursing Facility – King County, Washington, March 2020. MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 2020 Apr 3;69(13):377-381. PubMed: https://pubmed.gov/32240128. Full-text: https://doi.org/10.15585/mmwr.mm6913e1

Kuo CL, Pilling LC, Atkins JL, et al. APOE e4 genotype predicts severe COVID-19 in the UK Biobank community cohort. The Journals of Gerontology: May 26, 2020. Full-text: https://doi.org/10.1093/gerona/glaa131

Lamers MM, Beumer J, van der Vaart J, et al. SARS-CoV-2 productively infects human gut enterocytes. Science 01 May 2020. Full-text: 10.1126/science.abc1669 –  https://science.sciencemag.org/content/early/2020/04/30/science.abc1669

Lan L, Xu D, Ye G, et al. Positive RT-PCR Test Results in Patients Recovered From COVID-19. JAMA. 2020 Feb 27. pii: 2762452. Abstract: https://pubmed.gov/32105304. Fulltext: https://doi.org/10.1001/jama.2020.2783

Lauer SA, Grantz KH, Bi Q, et al. The Incubation Period of Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) From Publicly Reported Confirmed Cases: Estimation and Application. Ann Intern Med. 2020 Mar 10. pii: 2762808. PubMed: https://pubmed.gov/32150748. Full-text: https://doi.org/10.7326/M20-0504

Lechien JR, Chiesa-Estomba CM, Hans S, et al. Loss of Smell and Taste in 2013 European Patients With Mild to Moderate COVID-19. Annals Int Med 2020, May 26. Full-text: https://doi.org/10.7326/M20-2428

Li  Y, Zhao K, Wei H, et al. Dynamic Relationship Between D-dimer and COVID-19 Severity. Br J Haematol 2020 May 18. Full-text: https://doi.org/10.1111/bjh.16811 –https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/bjh.16811

Li P, Fu JB, Li KF, et al. Transmission of COVID-19 in the terminal stage of incubation period: a familial cluster. Int J Infect Dis. 2020 Mar 16. pii: S1201-9712(20)30146-6. PubMed: https://pubmed.gov/32194239. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.ijid.2020.03.027

Li Y, Yao L, Li J, et al. Stability issues of RT-PCR testing of SARS-CoV-2 for hospitalized patients clinically diagnosed with COVID-19. J Med Virol. 2020 Mar 26. PubMed: https://pubmed.gov/32219885. Full-text: https://doi.org/10.1002/jmv.25786

Lian J, Jin X, Hao S, et al. Analysis of Epidemiological and Clinical features in older patients with Corona Virus Disease 2019 (COVID-19) out of Wuhan. Clin Infect Dis. 2020 Mar 25. pii: 5811557. PubMed: https://pubmed.gov/32211844. Full-text: https://doi.org/10.1093/cid/ciaa242

Liang W, Liang H, Ou L, et al. Development and Validation of a Clinical Risk Score to Predict the Occurrence of Critical Illness in Hospitalized Patients With COVID-19. JAMA Intern Med. Published online May 12, 2020. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamainternmed.2020.2033

Linton NM, Kobayashi T, Yang Y, et al. Incubation Period and Other Epidemiological Characteristics of 2019 Novel Coronavirus Infections with Right Truncation: A Statistical Analysis of Publicly Available Case Data. J Clin Med. 2020 Feb 17;9(2). pii: jcm9020538. PubMed: https://pubmed.gov/32079150. Full-text: https://doi.org/10.3390/jcm9020538

Lippi G, Henry BM. Active smoking is not associated with severity of coronavirus disease 2019 (COVID-19). Eur J Intern Med. 2020 Mar 16. pii: S0953-6205(20)30110-2. PubMed: https://pubmed.gov/32192856. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.ejim.2020.03.014

Lippi G, Lavie CJ, Sanchis-Gomar F. Cardiac troponin I in patients with coronavirus disease 2019 (COVID-19): Evidence from a meta-analysis. Prog Cardiovasc Dis. 2020 Mar 10. pii: S0033-0620(20)30055-4. PubMed: https://pubmed.gov/32169400. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.pcad.2020.03.001

Liu T, Zhang J, Yang Y, et al. The potential role of IL-6 in monitoring severe case of coronavirus disease 2019. MedRxiv 2020, https://doi.org/10.1101/2020.03.01.20029769

Livingston E, Bucher K. Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) in Italy. JAMA. 2020 Mar 17. pii: 2763401. PubMed: https://pubmed.gov/32181795. Full-text: https://doi.org/10.1001/jama.2020.4344

Luers JC, Klussmann JP, Guntinas-Lichius O. [The Covid-19 pandemic and otolaryngology: What it comes down to?] Laryngorhinootologie. 2020 Mar 26. PubMed: https://pubmed.gov/32215896. Full-text: https://doi.org/10.1055/a-1095-2344

Luo X, Zhou W, Yan X, et al. Prognostic value of C-reactive protein in patients with COVID-19. Clin Infect Dis. 2020 May 23:ciaa641. PubMed: https://pubmed.gov/32445579. Full-text: https://doi.org/10.1093/cid/ciaa641

Lusignan S, Dorward J, Correa A, et al. Risk factors for SARS-CoV-2 among patients in the Oxford Royal College of General Practitioners Research and Surveillance Centre primary care network: a cross-sectional study. Lancet Inf Dis 2020, May 15. Full-text: https://doi.org/10.1016/S1473-3099(20)30371-6

Maatman TK, Jalali F, Feizpour C, et al. Routine Venous Thromboembolism Prophylaxis May Be Inadequate in the Hypercoagulable State of Severe Coronavirus Disease 2019. Critical Care Medicine May 27, 2020. Full-text: https://doi.org/10.1097/CCM.0000000000004466

Madigan LM, Micheletti RG, Shinkai K. How Dermatologists Can Learn and Contribute at the Leading Edge of the COVID-19 Global Pandemic. JAMA Dermatol. 2020 Apr 30. PubMed: https://pubmed.gov/32352485. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamadermatol.2020.1438

Mancia G, Rea F, Ludergnani M, Apolone G, Corrao G. Renin-Angiotensin-Aldosterone System Blockers and the Risk of Covid-19. N Engl J Med. 2020 May 1. PubMed: https://pubmed.gov/32356627. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMoa2006923

Mao L, Jin H, Wang M, et al. Neurologic Manifestations of Hospitalized Patients With Coronavirus Disease 2019 in Wuhan, China. JAMA Neurol. 2020 Apr 10. pii: 2764549. PubMed: https://pubmed.gov/32275288. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamaneurol.2020.1127

Marinho PM, Marcos AAA, Romano AC, Nascimento H, Belfort R Jr. Retinal findings in patients with COVID-19. Lancet. 2020 May 12. pii: S0140-6736(20)31014-X. PubMed: https://pubmed.gov/32405105. Full-text: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)31014-X

Martin Carreras-Presas C, Amaro Sanchez J, Lopez-Sanchez AF, Jane-Salas E, Somacarrera Perez ML. Oral vesiculobullous lesions associated with SARS-CoV-2 infection. Oral Dis. 2020 May 5. PubMed: https://pubmed.gov/32369674. Full-text: https://doi.org/10.1111/odi.13382

Marzano AV, Genovese G, Fabbrocini G, et al. Varicella-like exanthem as a specific COVID-19-associated skin manifestation: multicenter case series of 22 patients. J Am Acad Dermatol. 2020 Apr 16. PubMed: https://pubmed.gov/32305439. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.jaad.2020.04.044

McMichael TM, Currie DW, Clark S, et al. Epidemiology of Covid-19 in a Long-Term Care Facility in King County, Washington. N Engl J Med. 2020 Mar 27. PubMed: https://pubmed.gov/32220208. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMoa2005412

Meng Y, Wu P, Lu W, et al. Sex-specific clinical characteristics and prognosis of coronavirus disease-19 infection in Wuhan, China: A retrospective study of 168 severe patients. PLOS Pathogens 2020, April 28, 2020. Full-text: https://doi.org/10.1371/journal.ppat.1008520

Menni C, Valdes AM, Freidin MB et al. Real-time tracking of self-reported symptoms to predict potential COVID-19. Nat Med 2020, May 11. Full-text: https://doi.org/10.1038/s41591-020-0916-2

Menter T, Haslbauer JD, Nienhold R, et al. Post-mortem examination of COVID19 patients reveals diffuse alveolar damage with severe capillary congestion and variegated findings of lungs and other organs suggesting vascular dysfunction. Histopathology. 2020 May 4. PubMed: https://pubmed.gov/32364264. Full-text: https://doi.org/10.1111/his.14134

Metlay JP, Waterer GW, Long AC, et al. Diagnosis and Treatment of Adults with Community-acquired Pneumonia. An Official Clinical Practice Guideline of the American Thoracic Society and Infectious Diseases Society of America. Am J Respir Crit Care Med. 2019 Oct 1;200(7):e45-e67. PubMed: https://pubmed.gov/31573350. Full-text: https://doi.org/10.1164/rccm.201908-1581ST

Michelozzi P, de’Donato F, Scortichini M, et al. Mortality impacts of the coronavirus disease (COVID-19) outbreak by sex and age: rapid mortality surveillance system, Italy, 1 February to 18 April 2020. Euro Surveill. 2020 May. PubMed: https://pubmed.gov/32431289. Full-text: https://doi.org/10.2807/1560-7917.ES.2020.25.19.2000620

Middeldorp S, Coppens M, van Haaps TF, et al. Incidence of venous thromboembolism in hospitalized patients with COVID-19. J Thromb Haemost. 2020 May 5. PubMed: https://pubmed.gov/32369666. Full-text: https://doi.org/10.1111/jth.14888

Mizumoto K, Chowell G. Estimating Risk for Death from 2019 Novel Coronavirus Disease, China, January-February 2020. Emerg Infect Dis. 2020 Mar 13;26(6). PubMed: https://pubmed.gov/32168464. Full-text: https://doi.org/10.3201/eid2606.200233

Mizumoto K, Kagaya K, Zarebski A, Chowell G. Estimating the asymptomatic proportion of coronavirus disease 2019 (COVID-19) cases on board the Diamond Princess cruise ship, Yokohama, Japan, 2020. Euro Surveill. 2020 Mar;25(10). PubMed: https://pubmed.gov/32183930. Full-text: https://doi.org/10.2807/1560-7917.ES.2020.25.10.2000180

Moriarty LF, Plucinski MM, Marston BJ, et al. Public Health Responses to COVID-19 Outbreaks on Cruise Ships — Worldwide, February–March 2020. MMWR Morb Mortal Wkly Rep. ePub: 23 March 2020. https://doi.org/10.15585/mmwr.mm6912e3.

Nickel CH, Bingisser R. Mimics and chameleons of COVID-19. Swiss Med Wkly. 2020 Mar 23;150:w20231. PubMed: https://pubmed.gov/32202647. Full-text: https://doi.org/Swiss Med Wkly. 2020;150:w20231

Niforatos JD, Melnick ER, Faust JS. Covid-19 fatality is likely overestimated. BMJ. 2020 Mar 20;368:m1113. PubMed: https://pubmed.gov/32198267. Full-text: https://doi.org/10.1136/bmj.m1113

Nishiura H, Kobayashi T, Suzuki A, et al. Estimation of the asymptomatic ratio of novel coronavirus infections (COVID-19). Int J Infect Dis. 2020 Mar 13. pii: S1201-9712(20)30139-9. PubMed: https://pubmed.gov/32179137. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.ijid.2020.03.020

Noh JY, Yoon JG, Seong H, et al. Asymptomatic infection and atypical manifestations of COVID-19: Comparison of viral shedding duration. J Infect. 2020 May 21:S0163-4453(20)30310-8. PubMed: https://pubmed.gov/32445728. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.jinf.2020.05.035

Ong SW, Young BE, Leo YS. Association of higher body mass index (BMI) with severe coronavirus disease 2019 (COVID-19) in younger patients. Clinical Infectious Diseases 2020, May 8. Full-text: https://doi.org/10.1093/cid/ciaa548

Oxley J, Mocco J, Majidi S, et al. Large-Vessel Stroke as a Presenting Feature of Covid-19 in the Young. NEJM April 28, 2020. Full-text: https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMc2009787

Pan F, Ye T, Sun P, et al. Time Course of Lung Changes On Chest CT During Recovery From 2019 Novel Coronavirus (COVID-19) Pneumonia. Radiology. 2020 Feb 13:200370. PubMed: https://pubmed.gov/32053470. Full-text: https://doi.org/10.1148/radiol.2020200370

Petrilli CM, Jones SA, Yang J, et al. Factors associated with hospital admission and critical illness among 5279 people with coronavirus disease 2019 in New York City: prospective cohort study. BMJ. 2020 May 22. PubMed: https://pubmed.gov/32444366. Full-text: https://doi.org/10.1136/bmj.m1966

Phipps MM, Barraza LH, LaSota ED, et al. Acute Liver Injury in COVID-19: Prevalence and Association with Clinical Outcomes in a Large US Cohort. Hepatology. 2020 May 30. PubMed: https://pubmed.gov/32473607. Full-text: https://doi.org/10.1002/hep.31404

Piccininni M, Rohmann JL, Foresti L, Lurani C, Kurth T. Use of all cause mortality to quantify the consequences of covid-19 in Nembro, Lombardy: descriptive study. BMJ. 2020 May 14. PubMed: https://pubmed.gov/32409488. Full-text: https://doi.org/10.1136/bmj.m1835

Poissy J, Goutay J, Caplan M, et al. Pulmonary Embolism in COVID-19 Patients: Awareness of an Increased Prevalence. Circulation. 2020 Apr 24. PubMed: https://pubmed.gov/32330083. Full-text: https://doi.org/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.047430

Price-Haywood EG, Burton J, Fort D, Seoane L. Hospitalization and Mortality among Black Patients and White Patients with Covid-19. N Engl J Med. 2020 May 27. PubMed: https://pubmed.gov/32459916. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMsa2011686

Puelles VG, Lütgehetmann M, Lindenmeyer MT, et al. Multiorgan and Renal Tropism of SARS-CoV-2. NEJM May 13, 2020 Full-text: https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMc2011400

Pung R, Chiew CJ, Young BE, et al. Investigation of three clusters of COVID-19 in Singapore: implications for surveillance and response measures. Lancet. 2020 Mar 16. pii: S0140-6736(20)30528-6. PubMed: https://pubmed.gov/32192580. Full-text: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)30528-6

Quintana-Castanedo L, Feito-Rodriguez M, Valero-Lopez I, Chiloeches-Fernandez C, Sendagorta-Cudos E, Herranz-Pinto P. Urticarial exanthem as early diagnostic clue for COVID-19 infection. JAAD Case Rep. 2020 Apr 29.  PubMed: https://pubmed.gov/32352022. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.jdcr.2020.04.026

Richardson S, Hirsch JS, Narasimhan M, et al. Presenting Characteristics, Comorbidities, and Outcomes Among 5700 Patients Hospitalized With COVID-19 in the New York City Area. JAMA. 2020 Apr 22;323(20):2052-9. PubMed: https://pubmed.gov/32320003. Full-text: https://doi.org/10.1001/jama.2020.6775

Rodriguez-Morales AJ, Cardona-Ospina JA, Gutierrez-Ocampo E, et al. Clinical, laboratory and imaging features of COVID-19: A systematic review and meta-analysis. Travel Med Infect Dis. 2020 Mar 13:101623. PubMed: https://pubmed.gov/32179124. Full-text: https://doi.org/10.1016/j.tmaid.2020.101623

Rogers JP, Chesney E, Oliver D, et al. Psychiatric and neuropsychiatric presentations associated with severe coronavirus infections: a systematic review and meta-analysis with comparison to the COVID-19 pandemic. Lancet Psychiatry. 2020 May 18:S2215-0366(20)30203-0. PubMed: https://pubmed.gov/32437679. Full-text: https://doi.org/10.1016/S2215-0366(20)30203-0

Rothe C, Schunk M, Sothmann P, et al. Transmission of 2019-nCoV Infection from an Asymptomatic Contact in Germany. N Engl J Med. 2020 Mar 5;382(10):970-971. PubMed: https://pubmed.gov/32003551. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMc2001468

Sanchez A, Sohier P, Benghanem S, et al. Digitate Papulosquamous Eruption Associated With Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 Infection. JAMA Dermatol. 2020 Apr 30. PubMed: https://pubmed.gov/32352486. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamadermatol.2020.1704

Shi H, Han X, Jiang N, et al. Radiological findings from 81 patients with COVID-19 pneumonia in Wuhan, China: a descriptive study. Lancet Infect Dis. 2020 Apr;20(4):425-434. PubMed: https://pubmed.gov/32105637. Full-text: https://doi.org/10.1016/S1473-3099(20)30086-4

Shi Y, Yu X, Zhao H, Wang H, Zhao R, Sheng J. Host susceptibility to severe COVID-19 and establishment of a host risk score: findings of 487 cases outside Wuhan. Crit Care. 2020 Mar 18;24(1):108. PubMed: https://pubmed.gov/32188484. Full-text: https://doi.org/10.1186/s13054-020-2833-7

Spiezia L, Boscolo A, Poletto F, et al. COVID-19-Related Severe Hypercoagulability in Patients Admitted to Intensive Care Unit for Acute Respiratory Failure. Thromb Haemost. 2020 Apr 21. PubMed: https://pubmed.gov/32316063. Full-text: https://doi.org/10.1055/s-0040-1710018

Stafford N. Covid-19: Why Germany´s case fatality rate seems so low. BMJ. 2020 Apr 7;369:m1395. PubMed: https://pubmed.gov/32265194. Full-text: https://doi.org/10.1136/bmj.m1395

Toscano G, Palmerini F, Ravaglia S, et al. Guillain-Barre Syndrome Associated with SARS-CoV-2. N Engl J Med. 2020 Apr 17. PubMed: https://pubmed.gov/32302082. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMc2009191

Varga Z, Flammer AJ, Steiger P, et al. Endothelial cell infection and endotheliitis in COVID-19. Lancet. 2020 Apr 20. pii: S0140-6736(20)30937-5. PubMed: https://pubmed.gov/32325026. Full-text: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)30937-5

Verity R, Okell LC, Dorigatti I, et al. Estimates of the severity of coronavirus disease 2019: a model-based analysis. Lancet Infect Dis. 2020 Mar 30. pii: S1473-3099(20)30243-7. PubMed: https://pubmed.gov/32240634. Full-text: https://doi.org/10.1016/S1473-3099(20)30243-7

Virlogeux V, Fang VJ, Park M, Wu JT, Cowling BJ. Comparison of incubation period distribution of human infections with MERS-CoV in South Korea and Saudi Arabia. Sci Rep. 2016 Oct 24;6:35839. PubMed: https://pubmed.gov/27775012. Full-text: https://doi.org/10.1038/srep35839

von der Thusen J, van der Eerden M. Histopathology and genetic susceptibility in COVID-19 pneumonia. Eur J Clin Invest. 2020 Apr 30. PubMed: https://pubmed.gov/32353898. Full-text: https://doi.org/10.1111/eci.13259

Wadhera RK, Wadhera P, Gaba P, et al. Variation in COVID-19 Hospitalizations and Deaths Across New York City Boroughs.  April 29, 2020. AMA. Published online April 29, 2020. Full-text: https://jamanetwork.com/journals/jama/ fullarticle/2765524

Wadman M, Couzin-Frankel J, Kaiser J, et al. A rampage through the body. Science  24 Apr 2020: Vol. 368, Issue 6489, pp. 356-360. Full-text: https://science.sciencemag.org/content/368/6489/356

Wang X, Yao H, Xu X, et al. Limits of Detection of Six Approved RT-PCR Kits for the Novel SARS-coronavirus-2 (SARS-CoV-2). Clin Chem. 2020 Apr 13. pii: 5819547. PubMed: https://pubmed.gov/32282874. Full-text: https://doi.org/10.1093/clinchem/hvaa099

Wang Y, Tong J, Qin Y, et al. Characterization of an asymptomatic cohort of SARS-COV-2 infected individuals outside of Wuhan, China. Clin Infect Dis. 2020 May 22. PubMed: https://pubmed.gov/32442265. Full-text: https://doi.org/10.1093/cid/ciaa629

Wichmann D, Sperhake JP, Lutgehetmann M, et al. Autopsy Findings and Venous Thromboembolism in Patients With COVID-19: A Prospective Cohort Study. Ann Intern Med. 2020 May 6. PubMed: https://pubmed.gov/32374815. Full-text: https://doi.org/10.7326/M20-2003

Wölfel R, Corman VM, Guggemos W. et al. Virological assessment of hospitalized patients with COVID-2019. Nature 2020, April 1. Full-text: https://doi.org/10.1038/s41586-020-2196-x

Wu JT, Leung K, Bushman M. Estimating clinical severity of COVID-19 from the transmission dynamics in Wuhan, China. Nature Medicine. 2020. https://www.nature.com/articles/s41591-020-0822-7

Wu P, Duan F, Luo C, et al. Characteristics of Ocular Findings of Patients With Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) in Hubei Province, China. JAMA Ophthalmol. 2020 Mar 31. pii: 2764083. PubMed: https://pubmed.gov/32232433. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamaophthalmol.2020.1291

Wu Z, McGoogan JM. Characteristics of and Important Lessons From the Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) Outbreak in China: Summary of a Report of 72314 Cases From the Chinese Center for Disease Control and Prevention. JAMA. 2020 Feb 24. pii: 2762130. PubMed: https://pubmed.gov/32091533. Full-text: https://doi.org/10.1001/jama.2020.2648

Xiao AT, Tong YX, Zhang S. False-negative of RT-PCR and prolonged nucleic acid conversion in COVID-19: Rather than recurrence. J Med Virol. 2020 Apr 9. PubMed: https://pubmed.gov/32270882. Full-text: https://doi.org/10.1002/jmv.25855

Xu P, Zhou Q, Xu J. Mechanism of thrombocytopenia in COVID-19 patients. Ann Hematol. 2020 Apr 15. pii: 10.1007/s00277-020-04019-0. PubMed: https://pubmed.gov/32296910. Full-text: https://doi.org/10.1007/s00277-020-04019-0

Yan CH, Faraji F, Prajapati DP, Boone CE, DeConde AS. Association of chemosensory dysfunction and Covid-19 in patients presenting with influenza-like symptoms. Int Forum Allergy Rhinol. 2020 Apr 12. PubMed: https://pubmed.gov/32279441. Full-text: https://doi.org/10.1002/alr.22579

Yang R, Gui X, Xiong Y, et al. Comparison of Clinical Characteristics of Patients with Asymptomatic vs Symptomatic Coronavirus Disease 2019 in Wuhan, China. JAMA Netw Open, May 27. 2020;3(5):e2010182. https://doi.org/10.1001/jamanetworkopen.2020.10182i

Yousefzadegan S, Rezaei N. Case Report: Death Due to Novel Coronavirus Disease (COVID-19) in Three Brothers. Am J Trop Med Hyg. 2020 Apr 10. PubMed: https://pubmed.gov/32277694. Full-text: https://doi.org/10.4269/ajtmh.20-0240

Yuan J, Kou S, Liang Y, Zeng J, Pan Y, Liu L. PCR Assays Turned Positive in 25 Discharged COVID-19 Patients. Clin Infect Dis. 2020 Apr 8. pii: 5817588. PubMed: https://pubmed.gov/32266381. Full-text: https://doi.org/10.1093/cid/ciaa398

Zhan M, Qin Y, Xue X, Zhu S. Death from Covid-19 of 23 Health Care Workers in China. N Engl J Med. 2020 Apr 15. PubMed: https://pubmed.gov/32294342. Full-text: https://doi.org/10.1056/NEJMc2005696

Zhang L, Feng X, Zhang D, et al. Deep Vein Thrombosis in Hospitalized Patients With Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) in Wuhan, China: Prevalence, Risk Factors, and Outcome. Circulation 2020 May 18. Full-text: https://doi.org/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.046702

Zhang X, Tan Y, Ling Y, et al. Viral and host factors related to the clinical outcome of COVID-19. Nature. 2020 May 20. PubMed: https://pubmed.gov/32434211. Full-text: https://doi.org/10.1038/s41586-020-2355-0

Zhou F, Yu T, Du R, et al. Clinical course and risk factors for mortality of adult inpatients with COVID-19 in Wuhan, China: a retrospective cohort study. Lancet. 2020 Mar 11. pii: S0140-6736(20)30566-3. PubMed: https://pubmed.gov/32171076. Full-text: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)30566-3

Zhou J, Li C, Liu X et al. Infection of bat and human intestinal organoids by SARS-CoV-2. Nat Medicine 2020. Full-text: https://doi.org/10.1038/s41591-020-0912-6

Zubair AS, McAlpine LS, Gardin T, et al. Neuropathogenesis and Neurologic Manifestations of the Coronaviruses in the Age of Coronavirus Disease 2019: A Review. JAMA Neurology May 29, 2020. Full-text: https://doi.org/10.1001/jamaneurol.2020.2065

Các Giai Đoạn Và Biểu Hiện Lâm Sàng Của Hiv / 2023

Các giai đoạn và biểu hiện lâm sàng

– Giai đoạn này kéo dài từ 3 – 6 tháng sau hành vi nguy cơ (quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su với gái mại dâm, dùng chung bơm kim tiêm với người bị nhiễm bệnh…).Ở giai đoạn này thì có đến 80% người bị nhiễm virus hoàn toàn không có biểu hiện gì của bệnh, 20% còn lại có một số những biểu hiện nhiễm trùng cấp như: sốt, đau cơ khớp, nôn, tiêu chay, phát ban, hạch to…Một só người có biểu hiện thần kinh như viêm não, viêm màng nào… Các triệu chứng này hiện diện trong vòng 5-10 ngày và tự khỏi hoàn toàn.

2 Giai đoạn không triệu chứng

– Sau thời kỳ nhiễm trùng cấp thì người nhiễm HIV rơi vào giai đoạn dài không có triệu chứng lâm sàng, nhưng chẩn đoán huyết thanh (xét nghiệm test nhanh) lại khá dễ dàng, dựa vào sự hiện diện của kháng thể chống HIV có trong máu của người bị nhiễm.

– Tức là trong giai đoạn này bệnh nhân sẽ có kết quả chính xác sau khi làm xét nghiệm máu để tìm kháng thể chống virus HIV.Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể. Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu). Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm.

3 Giai đoạn nhiễm trùng có triệu chứng

Hội chứng hạch to toàn thân kéo dài

+ Có ít nhất 2 hạch khác nhau (không kể hạch bẹn). + Mỗi hạch thường có đường kính trên 1 cm. + Hiện diện kéo dài trên 1 tháng + Không giải thích được lý do nổi hạch.

– Hay gặp nhất là hạch cổ, rồi đến hạch dưới hàm, hạch nách. Một số hạch ít gặp hơn là hạch ở khuỷu tay, trung thất (trong lồng ngực), và trong ổ bụng.

Những biểu hiện lâm sàng thực sự của HIV chuyển sang AIDS

+ Sốt không rõ nguyên nhân kéo dài…

– Tiếp sau đó là người nhiễm virus HIV bắt đầu mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội từ bên ngoài hay nói cách khác là do HIV đã đi đến giai đoạn cuối cùng là AIDS.

Fanpage : https://www.facebook.com/thamvantamly.net

Mụn Trứng Cá Quanh Miệng: Nguyên Nhân Và 3 Biểu Hiện Lâm Sàng / 2023

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi chúng tôi Phạm Bích Ngọc – Bác sĩ Bệnh viện da liễu Hà Nội

Mụn trứng cá quanh miệng không đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe, nhưng có thể để lại sẹo. gây mất thẩm mĩ và giảm tự tin cho người bệnh.

Những nguyên nhân nào gây ra mụn trứng cá quanh miệng?

Có nhiều nguyên nhân kết hợp gây ra mụn trứng cá quanh miệng. các cơ chế chính xác gây bệnh vẫn chưa được tìm hiểu đấy đủ.

Mụn trứng cá ở quanh miệng có thể do sự kết hợp của các yếu tố sau:

+ Do sự mất cân bằng nội tiết tố bên trong cơ thể.

+ Vi khuẩn gây mụn trứng cá.

+ Yếu tố gia đình.

+ Sự kích hoạt của hệ miễn dịch với các chất trung gian gây viêm.

+ Sử dụng một số loại mỹ phẩm không phù hợp.

+ Vệ sinh không đảm bảo.

Biểu hiện lâm sàng của mụn trứng cá quanh miệng:

Mụn trứng cá quanh miệng biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, phổ biến nhất là:

+ Mụn đầu trắng: Là những mụn nhỏ li ti giống như hạt gạo mọc thành từng đám ẩn dưới da vùng quanh miệng.

+ Mụn đầu đen: Những mụn này mọc lên bề mặt da quanh miệng và trông có màu đen.

+ M ụn mủ: Những mụn này có màu đỏ ở phần chân và có mủ ở trên đầu.

Tại sao phải điều trị mụn trứng cá quanh miệng?

Việc điều trị mụn trứng cá quanh miệng nhằm mục đích:

+ Chữa lành mụn.

+ Ngăn ngừa việc hình thành các mụn mới.

+ Ngăn ngừa sẹo.

+ Giúp giảm bớt cảm giác xấu hổ tự ti khi bị mụn trứng cá ở quanh miệng.

C hú ý: Dưới vùng da xung quanh miệng, da môi có rất nhiều mạch máu và rất nhạy cảm, việc nặn mụn có thể gây ra những nguy hiểm cho chính bản thân. Bên cạnh đó, khi nặn hoặc cạy mụn cũng rất dễ khiến tình trạng viêm nhiễm lây lan, vi khuẩn gây mụn sẽ lan ra các vùng da xung quanh và khó chữa trị.

Điều trị sớm là cách tốt nhất để ngăn ngừa sẹo. có thể sử dụng thuốc bôi hoặc thuốc uống theo đơn của bác sĩ.

+ Vệ sinh da xung quanh miệng bằng nước ấm, không dùng nước nóng, dùng nước sạch cùng sữa rửa dịu nhẹ với thành phần tự nhiên để tránh bị kích ứng.

+ Giữ cho khuôn mặt luôn được sạch sẽ, rửa mặt hai lần mỗi ngày để loại bỏ tạp chất, tế bào da chết và dầu thừa trên bề mặt da. rửa thường xuyên hơn hai lần mỗi ngày không phải sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn như một số người lầm tưởng, ngược lại nó có thể làm tổn thương da nhiều hơn.

Chú ý: Vệ sinh miệng sạch sẽ sau khi ăn uống để tránh dầu mỡ còn bám lại dễ gây mụn nhọt, mụn bọc; súc miệng và vệ sinh miệng để lấy đi những vi khuẩn còn sót lại trong miệng và môi.

+ Tránh chà mạnh lên da bị mụn trứng cá bằng khăn lau, nên nhẹ nhàng rửa vùng da tổn thương bằng một miếng vải mềm. Rửa sạch, sau đó lau khô mặt bằng khăn sạch, chỉ sử dụng khăn lau một lần.

+ Điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý, tránh thực phẩm nhiều dầu mỡ, cay nóng.

Để tránh những kết quả không mong muốn, các bác sĩ da liễu khuyên mọi người nên điều trị mụn trứng cá. khi da sạch mụn, bạn vẫn nên tiếp tục điều trị duy trì. điều trị ngăn ngừa mụn mới. bác sĩ da liễu sẽ tư vấn cho bạn về sử dụng thuốc và cách chăm sóc để tránh tái phát.

Như vậy mụn trứng cá quanh miệng là một bệnh da mạn tính, tuy không nguy hiểm nhưng nó gây mất thẩm mỹ và giảm tự tin cho người mắc bệnh. bạn cần được điều trị sớm để tránh những hậu quả không mong muốn. Nếu bạn có các dấu hiệu bệnh như trên thì cần đến tư vấn bác sỹ da liễu để được tư vấn.

Sàng Lọc Triệu Chứng Covid / 2023

Các giới hạn đối với việc sàng lọc triệu chứng của COVID-19 tại các trường học

Khi được triển khai, việc sàng lọc triệu chứng dùng để xác định những người có thể có các triệu chứng của COVID-19. Những người này sau đó sẽ không được phép vào một môi trường nào đó để giảm nguy cơ lây lan vi-rút gây ra COVID-19. Việc sàng lọc có thể được tiến hành theo nhiều cách và có thể bao gồm việc chỉ đánh giá một triệu chứng của COVID-19 (vd, kiểm tra nhiệt độ hàng ngày để đánh giá xem có bị sốt không) để đánh giá nhiều hoặc tất cả các triệu chứng đã biết của COVID-19.

Không có phương thức đơn lẻ trong việc sàng lọc triệu chứng của COVID-19 phù hợp cho tất cả các nhóm người hoặc bối cảnh, và có  những hạn chế và thách thức trong việc dùng sàng lọc triệu chứng nói chung cũng như việc sử dụng nó như một phần trong chiến lược mở cửa trở lại trường học.

Các giới hạn sàng lọc triệu chứng về COVID-19 đối với trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên

Hiệu quả của việc sàng lọc triệu chứng của COVID-19 tại các trường hiện vẫn chưa biết rõ. Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra rằng việc sàng lọc triệu chứng đánh giá tất cả các triệu chứng đã biết của COVID-19 và được các chuyên gia y tế triển khai tại môi trường bệnh viện đã không tìm ra được gần một nửa (45%) số bệnh nhi nhiễm vi-rút gây bệnh COVID-19 và 40% trong số những người có các triệu chứng về COVID-19 không có các vi-rút gây bệnh.[1]

Điều này có nghĩa là các trường vẫn cần triển khai các chiến lược giảm thiểu khác để giảm việc lây lan vi-rút gây bệnh COVID-19 (như những chiến lược được mô tả trong phần Vận hành các trường học khi diễn ra đại dịch COVID-19) ngay cả khi có sử dụng việc sàng lọc triệu chứng.

Sàng lọc triệu chứng sẽ không thể tìm ra được một số học sinh nhiễm vi-rút gây bệnh COVID-19. Việc sàng lọc triệu chứng không thể xác định được những người nhiễm vi-rút gây bệnh COVID-19 nhưng không có triệu chứng (không có các triệu chứng) hoặc tiền triệu chứng (chưa bộc lộ các dấu hiệu hoặc triệu chứng nhưng sau đó sẽ thấy có). Người khác có thể có các triệu chứng quá nhẹ tới mức họ có thể không để ý tới chúng. Trẻ nhiễm vi-rút gây bệnh COVID-19 có khả năng không có các triệu chứng hơn so với người lớn hoặc chỉ có các triệu chứng nhẹ. [2], [3], [4]Tỉ lệ phần trăm chính xác trẻ bị nhiễm vi-rút gây bệnh COVID-19 nhưng không có triệu chứng vẫn chưa được biết rõ, nhưng các nghiên cứu có quy mô lớn gần đây cho thấy có khoảng 16% trẻ em nhiễm bệnh không bộc lộ các triệu chứng. [5]

Điều này có nghĩa là dù các trường cố gắng sàng lọc tất cả các triệu chứng đã biết của COVID-19 thì vẫn không xác định được những học sinh không có triệu chứng hoặc tiền triệu chứng và có khả năng lây bệnh cho người khác.

Việc sàng lọc triệu chứng sẽ chỉ xác định rằng người đó có thể bị bệnh chứ không nhất thiết là mắc COVID-19. Không có triệu chứng hoặc một loạt triệu chứng chỉ xảy ra với trẻ nhỏ được chẩn đoán mắc COVID-19.[6], [7], [8], [9]

Nhiều triệu chứng của COVID-19 cũng là các triệu chứng của bệnh thông thường như cảm lạnh hoặc cúm. Ví dụ, sốt và ho là các triệu chứng thường gặp nhất được báo cáo ở trẻ em mắc COVID-19 và cũng xuất hiện ở nhiều bệnh lây nhiễm khác. Tình trạng giống nhau giữa các triệu chứng về COVID-19 và các căn bệnh truyền nhiễm thông thường khác có nghĩa rằng một số người có các triệu chứng COVID-19 có thể mắc bệnh khác. Điều này có thể đúng ngay cả với trẻ nhỏ vì chúng thường có nhiều bệnh vi-rút mỗi năm.

Học sinh với các bệnh mãn tính như hen suyễn hoặc dị ứng có thể có các triệu chứng như ho hoặc nghẹt mũi mà không mắc bệnh lây nhiễm nào. Trẻ nhỏ mắc các bệnh mãn tính khác như các bệnh ảnh hưởng đến dạ dày hoặc ruột (ví dụ: bệnh Crohn hoặc hội chứng ruột kích thích) cũng có thể gặp phải các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa hoặc tiêu chảy có thể bị nhầm lẫn với các triệu chứng của COVID-19. Đối với nhiều học sinh mắc bệnh mãn tính, các triệu chứng có thể tái phát thường xuyên trong suốt cả năm.

Vì nhiều triệu chứng COVID-19 cũng xuất hiện ở cả các bệnh khác, việc sàng lọc triệu chứng có khả năng cho học sinh nghỉ học ở trường nhiều lần dù chúng không bị COVID-19 hoặc bệnh truyền nhiễm khác, đặc biệt là khi những biện pháp sàng lọc đó đánh giá nhiều hoặc tất cả các triệu chứng đã biết của COVID-19.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Biểu Hiện Lâm Sàng – Covid Reference / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!