Đề Xuất 5/2022 # Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật # Top Like

Xem 8,514

Cập nhật nội dung chi tiết về Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 8,514 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 The Gioi Quan Va Pp Luan Docx
  • Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Từ Quan Điểm Duy Vật Biện Chứng Về Vật Chất, Ý Thức, Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Cơ Bản?
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG CẢI TẠO XÃ HỘI

    – Hiểu một cách hệ thống, khái quát những vấn đề cơ bản của phép biện chứng duy vật: hai nguyên lý, ba quy luật cơ bản và sáu cặp phạm trù;

    – Nhận thức rõ phép biện chứng duy vật là phương pháp luận khoa học trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn;

    – Vận dụng được các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    + Đảm bảo diện tích phòng học 1,5 m2/người, thoáng mát về mùa hè; ấm, tránh gió mùa đông. Đủ bàn ghế đạt tiêu chuẩn cho giảng viên và học viên. Hệ thống trang âm đạt chuẩn (nếu có).

    + Máy chiếu, máy tính, bảng phấn, bảng ghim, bảng nhóm, bảng lật, giấy A3, A4, máy photocopy…

    – Người học: Chuẩn bị đủ tài liệu theo hướng dẫn của chương trình học, phương tiện và dụng cụ học tập cần thiết.

    – Địa điểm: Giảng đường, Thư viện

    Sự tác động, thâm nhập, liên hệ, chuyển hóa lẫn nhâu của các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật hiện tượng, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

    Biện chứng của thế giới khách quan bên ngoài ý thức

    Quá trình phản ánh thế giới khách quan bởi bộ óc người, của quá trình tư duy

    Biện chứng dựa trên nền tảng triết học duy vật

    Biện chứng dựa trên nền tảng triết học duy tâm

    Phương pháp (methodos) là cách thức, thủ pháp để tiến hành công việc. Phương pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nhận thức và cải tạo thực tiễn.

    Phương pháp luận khoa học là lý luận về phương pháp dựa trên thế giới quan khoa học và xuất phát từ đối tượng nghiên cứu.

    Đây là lý luận về phương pháp trên lập trường triết học duy vật biện chứng.

    Phép biện chứng duy vật mác xít đã đóng vai trò phương pháp luận khoa học để nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới, theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng, có khác nhau đến thế nào đi chăng nữa, thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.

    Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vật động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

    Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động.

    Khái quát ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, tức là phương pháp biện chứng trong việc nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    Ở đây, việc phát hiện ra những mâu thuẫn chủ yếu trong từng thời kỳ, trong phạm vi cả nước cũng như ở từng ngành, từng địa phương, từng cơ sở có ý nghĩa quyết định. Song, việc phát hiện ra các mâu thuẫn đó đòi hỏi, một là, phải nắm vững tình hình thực tế của sự vật; hai là, có tư duy khoa học cao; ba là, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú.

    Như vậy, việc chú ý tới vấn đề mâu thuẫn trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện các nghị quyết là nhân tố bảo đảm sự thắng lợi của hoạt động lãnh đạo và quản lý.

    Để có tri thức tương đối đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó.

    Trong sự phát triển xã hội, phải biết kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hoá sang thay đổi mang tính cách mạng.

    Trong công tác, chúng ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, mặc dù lúc đầu nó còn yếu ớt, ít ỏi; phải ra sức bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ.

    Mỗi quy luật của phép biện chứng đề cập một phương diện của quá trình vận động và phát triển. Trong thực tế, sự vận động và phát triển của bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sản phẩm tổng hợp của tất các quy luật biện chứng đã nêu. Do vậy, để có tác động tích cực tới sự phát triển trong hiện thực, chúng ta phải vận dụng tổng hợp cả ba quy luật đó.

    Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng, cái chung, cái đơn nhất, tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực; nội dung và hình thức v.v… Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội.

    Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định và cái đơn nhất. Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính lặp lại trong nhiều sự vật, nhiều hiện tượng. Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.

    Giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng với nhau.

    Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng nên chúng ta chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng chứ không thể ở ngoài cái riêng.

    Mặt khác, vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng như một bộ phận của cái riêng, bộ phận đó tác động qua lại với những mặt còn lại của cái riêng – những mặt không gia nhập vào cái chung – nên bất cứ cái chung nào cũng tồn tại trong cái riêng dưới dạng bị cải biến.

    Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể biến thành cái chung; ngược lại, cái chung có thể biến thành cái đơn nhất nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất biến thành cái chung, nếu cái đơn nhất đó là cái tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển, và ngược lại, biến cái chung thành cái đơn nhất, nếu sự tồn tại của cái chung đã lạc hậu, lỗi thời, cản trở sự phát triển.

    Nguyên nhân là sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định. Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

    Giữa nguyên nhân, kết quả có mối liên hệ qua lại, qui định lẫn nhau.

    – Vì mọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong, nên không có vấn đề hay không có nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy, mà chỉ có vấn đề các nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa được phát hiện mà thôi. – Vì mối liên hệ nhân quả mang tính tất yếu, nên ta có thể dựa vào mối liên hệ nhân quả để hành động.

    Tất nhiên do mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. Ngẫu nhiên do mối liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định; có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện; có thể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất hiện thế khác.

    Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau.

    – Vì cái tất nhiên là cái trong những điều kiện nhất định dứt khoát phải xảy ra và phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác được, còn cái ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra, cũng có thể không xảy ra, có thể xảy ra như thế này, cũng có thể xảy ra như thế khác, nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cái ngẫu nhiên.

    Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng. Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật, hiện tượng.

    Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau, trong đó nội dung giữ vai trò quyết định.

    Nếu nội dung và hình thức luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau thì trong hoạt động thực tiễn cần chống lại mọi khuynh hướng tách rời nội dung với hình thức.

    Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Hiện tượng là những biểu hiện bề ngoài, bên ngoài của sự vật.

    Giữa bản chất và hiện tượng có mối liên hệ biện chứng với nhau. Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau.

    – Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật, còn hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài, là cái không ổn định và biến đổi nhanh hơn so với bản chất.

    Khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng sẽ xảy ra khi có các điều kiện thích hợp. Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại thực sự.

    Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật.

    Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống bất biến, mà phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Mối quan hệ giữa các phạm trù của các ngành khoa học với các phạm trù của phép biện chứng duy vật là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng. Do vậy, khi nghiên cứu các phạm trù cần liên hệ chúng với nhau và với các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, bởi dù quan trọng đến mấy, chỉ riêng các phạm trù hoặc các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cũng không phản ánh đầy đủ các mối liên hệ của thế giới.

    – Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện chưa có nên trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng. V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Chủ nghĩa Mác dựa vào hiện thực chứ không phải dựa vào “khả năng” để vạch ra đường lối chính trị của mình”, “Chủ nghĩa Mác căn cứ vào những sự thật chứ không phải dựa vào những khả năng” 2.

    Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là có thể bỏ qua, xem thường khả năng. Vì khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai nên tuy không dựa vào khả năng nhưng ta phải tính đến các khả năng để có thể đề ra chủ trương, kế hoạch hành động cho sát đúng. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của nhận thức khoa học nói riêng là phải tìm ra, xác định cho được các khả năng phát triển của sự vật.

    – Vì khả năng do sự vật gây nên và tồn tại trong sự vật nên chỉ có thể tìm ra các khả năng phát triển của sự vật ở ngay trong chính bản thân nó chứ không thể ở nơi nào khác.

    – Vì khả năng nảy sinh vừa do sự tác động qua lại giữa các mặt khác nhau ở bên trong sự vật, vừa do sự tác động qua lại của sự vật với hoàn cảnh bên ngoài, cho nên trong nhận thức ta chỉ có thể căn cứ vào “tương quan lực lượng” giữa các mặt ở bên trong sự vật, vào sự phát triển của mâu thuẫn nội tại trong nó cũng như vào những điều kiện bên ngoài trong đó sự vật đang vận động và phát triển để dự kiến những khả năng phát triển của nó.

    – Vì khả năng tồn tại trong chính bản thân sự vật, gắn bó chặt chẽ với sự vật nên nhiều khi rất dễ lầm lẫn khả năng với hiện thực. Để tránh sai lầm ấy, trong quá trình xác định khả năng, cần lưu ý đến dấu hiệu hết sức quan trọng phân biệt khả năng với hiện thực là: hiện thực là cái đã có, đã tới, còn khả năng là cái hiện chưa có, chưa tới.

    – Do khả năng tồn tại ngay trong hiện thực, gắn bó hết sức chặt chẽ với hiện thực nên sẽ là sai lầm nếu tách rời cái nọ khỏi cái kia. Kết quả là trong hoạt động thực tiễn hoặc sẽ không nhìn thấy khả năng tiềm tàng trong sự vật, do đó không xác định được tương lai phát triển của nó; hoặc không thấy khả năng có thể biến thành hiện thực, do đó không tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự chuyển biến này hoặc ngăn cản nó tuỳ theo yêu cầu của mình.

    – Sau khi đã xác định được khả năng phát triển của sự vật, nhiệm vụ của hoạt động thực tiễn là phải tiến hành lựa chọn và thực hiện khả năng.

    – Thuyết trình, nêu vấn đề, phỏng vấn, kể chuyện, gợi mở vấn đề, vấn đáp…

    – Sách, giáo án, bảng, phấn, bút, powerpoint, các vật dụng khác…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cha Mẹ Phương Pháp Dạy Con Học Tốt Môn Tiếng Anh 6
  • Web 5 Ngày: Nếu Muốn Thành Công, Hãy Xem 5 Video Này
  • Cảm Nhận Về Phương Pháp Học Tiếng Anh Của Trường Saint Thomas More
  • Bí Quyết Tự Dạy Tiếng Anh Hiệu Quả Tại Nhà Cho Trẻ
  • Top 9 Phương Pháp Dạy Con Học Tiếng Anh Ngay Từ Nhỏ
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Chuyên Đề 3: Phép Biện Chứng Duy Vật trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100