Đề Xuất 12/2022 # Chuyên Ngành Giảng Viên Xây Dựng Đảng Và Chính Quyền Nhà Nước (Áp Dụng Cho Khóa 38) / 2023 # Top 15 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Chuyên Ngành Giảng Viên Xây Dựng Đảng Và Chính Quyền Nhà Nước (Áp Dụng Cho Khóa 38) / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chuyên Ngành Giảng Viên Xây Dựng Đảng Và Chính Quyền Nhà Nước (Áp Dụng Cho Khóa 38) / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

  HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

*

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

(Ban hành theo Quyết định số 4954-QĐ/HVBCTT-ĐT ngày 26 tháng 10 năm 2018

của Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Cơ sở giáo dục          : Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục:

Tên văn bằng                        : Cử nhân Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

Tên chương trình      : Giảng viên Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

Trình độ đào tạo       : Đại học

Ngành đào tạo           : Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

Mã số                         :7310202

 

1. Mục tiêu đào tạo

1.1. Mục tiêu chung

Chương trình đào tạo cử nhân ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, chuyên ngành Giảng viên Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nướcnhằm đào tạo cán bộ, giảng viên làm công tác nghiên cứu, giảng dạy Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước tại các cơ sở giáo dục đại học, các viện, trung tâm nghiên cứu, các trường chính trị tỉnh, trung tâm chính trị quận, huyện trong hệ thống trường đảng, các trường trong lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu của xã hội, của các nhà tuyển dụng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt,có năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có phương pháp, kỹ năng sư phạm để truyền đạt những kiến thức về Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước cho người học; có khả năng phát triển lên trình độ cao hơn về lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp.

1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2.1. Kiến thức

Kiến thức giáo dục đại cương:Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, hệ thống về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời am hiểu các khoa học xã hội và nhân văn.

Kiến thức ngành: Trang bị cho người học nhữngkiến thức nền tảng của hệ tư tưởng: Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng; nhữngkiến thức cơ bản và chuyên sâu về các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng (xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức), công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng;  Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và các lĩnh vực của đời sống xã hội, công tác tư tưởng và dân vận của Đảng… Trang bị cho người học những kiến thức về xây dựng Chính quyền nhà nước: Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu, Các ngành luật cơ bản của Việt Nam, Lý luận hành chính nhà nước; Kiểm tra, giám sát trong thực thi quyền lực nhà nước.

Kiến thức chuyên ngành: Trang bị cho người học các kiến thức cơ bản, hệ thống, hiện đại và cập nhật vềchuyên ngànhGiảng viên xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, gồm: Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, giao tiếp sư phạm, Thực hành phương pháp giảng dạy xây dựng Đảng, Thực hành phương pháp giảng dạy xây dựng Chính quyền nhà nước…Từ đó, người học có thể vận dụng những kiến thức về chuyên ngành được đào tạo để tìm hiểu và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Bên cạnh đó, người học có kiến thức, năng lực và phương pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, đi ngược lợi ích dân tộc, đối lập với hệ tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

1.2.2. Kỹ năng

– Kỹ năng gắn với khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp:

+ Kỹ năng theo khối kiến thức cơ sở ngành: Có kỹ năng và năng lực tư duy lý luận về chính trị; kỹ năng thu thập và xử lý thông tin; kỹ năng nghiên cứu, phân tích những vấn đề về Khoa học lãnh đạo, Nhà nước và pháp luật, Quan hệ quốc tế; Truyền thông và vận động…

+ Kỹ năng theo khối kiến thức chuyên ngành:

Có kỹ năng sư phạm, kỹ năng xử lý các tình huống sư phạm

Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học;

Có năng lực độc lập nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.

– Kỹ năng khác: làm việc nhóm, giao tiếp, giao tiếp bằng ngoại ngữ, sử dụng công nghệ thông tin phục vụ công việc chuyên môn…

1.2.3.Phẩm chất chính trị, đạo đức

– Phẩm chất chính trị: Tuyệt đối trung thành chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, không hoang mang, dao động trước những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Tích cực tham gia xây dựng và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có dũng khí đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, quan liêu, tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực khác.

– Phẩm chất đạo đức cá nhân: Trung thực, thẳng thắn, có lối sống trong sáng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi với quần chúng, lời nói đi đôi với việc làm.

– Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp: Có đạo đức nghề nghiệp chuẩn mực, tâm huyết, yêu nghề, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy, nghiên cứu.

– Phẩm chất đạo đức xã hội: nhân ái, vị tha, bao dung, gần gũi, gắn bó mật thiết với Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân.

1.2.4. Vị trí làm việc sau tốt nghiệp

– Người học sau khi tốt nghiệp có thể nghiên cứu, giảng dạy xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, quản lý nhà nước, giảng dạy lý luận chính trị trong các cơ sở giáo dục đại học, các trường trong lực lượng vũ trang, các viện, trung tâm nghiên cứu trong hệ thống trường Đảng, các trường chính trị tỉnh, thành phố, các trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện, giáo viên giảng dạy môn giáo dục công dân trong các trường phổ thông trung học…

– Người học sau khi tốt nghiệp có thể làm công tác tham mưu, tổng hợp tại các ban đảng, các cơ quan chuyên môn từ Trung ương đến cơ sở; làm công tác tổ chức, cán bộ,  hành chính, văn phòng, làm công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang; công tác đảng, công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp.

1.2.5. Trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh hoặc tiếng Trung)

Người học khi tốt nghiệp phải đạt chứng chỉ trình độ tiếng Anh/tiếng Trung bậc 3/6 trở lên, hoặc các chứng chỉ tương đương theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (theo quy định tại Thông tư 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

1.2.6. Trình độ Tin học

Người học sau khi tốt nghiệp có kiến thức tin học văn phòng trình độ A, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực tiễn công tác.

2. Căn cứ xây dựng chương trình

2.1. Căn cứ thực tiễn

2.1.1. Các chương trình đào tạo tham khảo

– Chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị ban hành kèm theo Quyết định số 3092/QĐ-HVCTQG ngày 24/7/2017 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;

– Chương trình đào tạo Cử nhân chính trị chuyên ngành Tổ chức, Kiểm tra, Dân vận của Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017.

– Chương trình đào tạo Cử nhân Chính trị học chuyên ngành Quản lý hoạt động tư tưởng và văn hóa, Chính trị phát triển, Quan hệ quốc tế, Quản lý nhà nước (năm 2016) của Học viện Báo chí và Tuyên truyền…

2.1.2. Kết quả khảo sát

* Khảo sát nhu cầu xã hội

Đầu năm 2018, khoa Xây dựng Đảng đã tiến hành khảo sát các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, các cơ sở liên kết đào tạo, các nhà tuyển dụng (Viện nghiên cứu, các trường đại học, trường chính trị tỉnh, thành phố;cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp) về nhu cầu nhân lực ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, chuyên ngành Giảng viên Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước bằng hình thức phỏng vấn. Kết quả các cuộc phỏng vấn cho thấy, 100% ý kiến cho rằng: nhu cầu về nguồn nhân lực ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, chuyên ngành Giảng viên Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước rất lớn, việc đào tạo cử nhân chuyên ngành Giảng viên Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước là cần thiết, đáp ứng yêu cầu của xã hội và các cơ quan, đơn vị tuyển dụng.

* Khảo sát chất lượng đào tạo với đối tượng sinh viên trước tốt nghiệp năm 2017, 2018 (báo cáo kết quả khảo sát lưu tại Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo).

2.2. Các văn bản pháp lý

– Quyết định số 17/VBHN-BGDĐT ngày 15/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ;

– Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ;

– Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học;

– Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

– Thông tư số 22/2017/TT-BGDĐT ngày 06/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo và đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học;

– Quyết định số 3777/QĐ-HVBCTT-ĐT ngày 18/10/2017 của Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền ban hành Quy định đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Học viện Báo chí và Tuyên truyền;

– Công văn số 769/QLCL-KĐCLGD ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Về việc sử dụng tài liệu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.

3. Chuẩn đầu ra chương trình

3. Chuẩn đầu ra chương trình

3.1. Về kiến thức

Kiến thức đại cương

CĐR1:Hiểu, nắm vững và vận dụng được kiến thức và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,có nhân sinh quan, thế giới quan duy vật biện chứng, có lập trường chính trị vững vàng.

CĐR 3. Vận dụng được phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn trong học tập và nghiên cứu.

Kiến thức cơ sở ngành

CĐR 4: Phân tíchđược các nội dung trong khoa học lãnh đạo: Quan niệm, bản chất của khoa học lãnh đạo, mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng lãnh đạo, các nguyên tắc, phương pháp lãnh đạo, khoa học về sử dụng con người và nghệ thuật thương thuyết, nghệ thuật lãnh đạo.

CĐR 5: Vận dụng sáng tạo các vấn đề mang tính chất nguyên lý về nhà nước pháp quyền XHCN; tổ chức phân công thực hiện quyền lực trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam; xây dựng và thực hiện pháp luật trong điều kiện hiện nay.

CĐR 6:Phân tích được các vấn đề về quan hệ quốc tế và mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế.

CĐR 7:Phân tích được các lý thuyết truyền thông, những vấn đề có tính quy tắc và các yếu tố cấu thành hoạt động vận động và truyền thông thay đổi hành vi.

CĐR 8: Phân tích được những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của các đảng chính trị ở một số nước trên thế giới; Khoa học tổ chức; Quản lý kinh tế; Địa chính trị thế giới, Lịch sử xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử xây dựng chính quyền nhà nước Việt Nam.

Kiến thức ngành

CĐR9: Vận dụng sáng tạochủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.

CĐR 10:Xác định được các nguyên tắc, nội dung, phương thức xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức; về hệ thống tổ chức của Đảng; mục tiêu,quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; phương châm, nguyên tắc công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

CĐR 11: Vận dụng được các chế định cơ bản của một số ngành luật, bao gồm: Luật Hiến pháp, Luật Dân sự & Tố tụng dân sự, Luật Hành chính và Tố tụng Hành chính, Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, Luật Kinh tế

CĐR 12: Xác định đượcnội dung, phương pháp, công cụ quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực trọng yếu: Kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, an ninh – quốc phòng, hành chính tư pháp

CĐR 13:Phân tích được cấu trúc, đặc điểm, vai trò, chức năng của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị; nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với HTCT và các lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội

CĐR 14:Xác định được nội dung, phương pháp, hình thức kiểm tra, giám sát của Đảng, kiểm tra, giám sát trong thực thi quyền lực nhà nước; giải quyết khiếu nại, tổ cáo trong tổ chức đảng; thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng

CĐR 15: Xác định đượcnội dung, phương thức công tác dân vận, công tác tư tưởng của Đảng và phương hướng, giải pháp tăng cường công tác dân vận, công tác tư tưởng của Đảng.

CĐR 16: Xác định được các yếu tố cơ bản cấu thành nền hành chính nhà nước; quá trình ban hành và tổ chức thực hiện quyết định hành chính nhà nước; sự cần thiết về kiểm soát đối với nền hành chính nhà nước; chủ trương, quan điểm của Đảng và nội dung, chương trình cải cách hành chính nhà nước Việt Nam giai đoạn hiện nay.

CĐR 17: Phân tích được nội dung, quy trình và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý và phát triển nguồn nhân lực hành chính.

CĐR 18: Xác định được bản chất, phương thức tổ chức, cơ chế vận hành và thực thi của quyền lực chính trị; có khả năng nhận biết, phân tích được các loại hình thể chế chính trị thế giới đương đại.

CĐR 19: Xác định được các nguyên tắc, công cụ, phương pháp xây dựng quan hệ quản lý, quyết định quản lý, lao động quản lý và cán bộ quản lý trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý xã hội.

CĐR 20: Phân tích được đặc điểm, nội dung của từng giai đoạn trong quy trình chính sách và phân tích chính sách công ở Việt Nam hiện nay.

CĐR 21: Vận dụng được những kiến thức, phương pháp nghiên cứu DLXH vào thực tiễn, cụ thể như: các phương pháp nghiên cứu DLXH, tiến trình nghiên cứu DLXH, kỹ thuật xây dựng công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu DLXH, kỹ thuật phân tích, trình bày dữ liệu, số liệu nghiên cứu cũng như ứng dụng cụ thể kết quả nghiên cứu DLXH trong lãnh đạo, quản lý.

Kiến thức chuyên ngành

CĐR 22:Vận dụng được các phương pháp nghiên cứu Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước trong nghiên cứu.

CĐR 23:Phân tích được ưu nhược điểm của các phương pháp giảng dạy.

CĐR 24: Phân tích được các đặc điểm, nguyên tắc, phong cách, kỹ năng của giao tiếp sư phạm.

CĐR 25:Xác định được cách thứcsoạn thảo các văn bản Đảng và văn bản hành chính nhà nước; các nguyên tắc, quy trình, phương pháp xử lý tình huống trong xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước vào thực tiễn.

CĐR 26:Phân tích, đánh giá nội dung, quy trình về công tác tổ chức, cán bộ; nội dung, phương thức lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở.

CĐR 27: Vận dụng các kỹ năng của nghệ thuật phát biểu miệng; nguyên tắc, quy trình quản lý rủi ro trong tổ chức sự kiện…

3.2. Về kỹ năng

Kỹ năng chung

CĐR 28. Kỹ năng phân tích có phản biện thông tin và dữ liệu: có khả năng thu thập và xử lý thông tin, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích, đưa ra nhận định và kết luận

CĐR 29.Kỹ năng giải quyết vấn đề sáng tạo: Khả năng xác định và phân tích những tình huống phức tạp, đưa ra nhiều phương án giải quyết, lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết tình huống.

CĐR 30. Kỹ năng giao tiếp sử dụng ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ cơ thể (ánh mắt, nụ cười biểu cảm…) và văn bản một cách trôi chảy, chuẩn xác, hiệu quả.

CĐR 31. Kỹ năng giao tiếp sử dụng ngoại ngữ bậc 3/6 theo mô tả trong Khung trình độ ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt nam, ban hành kèm thông tư 01/2014/TT-BGDĐT.

CĐR 32. Kỹ năng sử dụng CNTT trình độ cơ bản theo mô tả trong Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin ban hành kèm thông tư 03/2014/TT-BTTT.

Kỹ năng chuyên biệt cho chuyên ngành giảng viên Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

CĐR 34:Kỹ năng cơ bản trong việc tổ chức hoạt động dạy học và truyền đạt, trao đổi kiến thức cho sinh viên: kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng sử dụng các phương pháp sư phạm trong hoạt dạy học.

CĐR 35:Kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm cụ thể nhằm tổ chức thực hiện hoạt động dạy học có hiệu quả.

CĐR 36.Kỹ năng sử dụng công cụ, phương tiện CNTT trong nghiên cứu và giảng dạy XDĐ&CQNN.

CĐR 37.Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ trong lĩnh vực chuyên môn để có thể nghiên cứu các tài liệu bằng tiếng nước ngoài và tham gia viết báo, tạp chí, tham luận hội thảo quốc tế.

3.3. Về năng lực tự chủ và trách nhiệm

CĐR 38. Năng lực làm việc độc lập và làm việc nhóm trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm với nhóm.

CĐR 39. Năng lực tư duy, dẫn dắt trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ.

CĐR 40. Năng lực thích nghi với các môi trường làm việc khác nhau.

CĐR 41. Năng lực tự học tập, nghiên cứu, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm.

CĐR 42. Năng lực lập kế hoạch, điều phối, quản lý các nguồn lực và đánh giá hiệu quả công việc. 

4. Thời gian đào tạo: 4 năm.

Tuỳ theo năng lực và điều kiện cụ thể mà sinh viên có thể sắp xếp để rút ngắn tối đa 2 học kỳ chính hoặc kéo dài tối đa 4 học kỳ chính so với thời gian đào tạo quy định trên. Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

5. Khối lượng kiến thức toàn khóa: 130 tín chỉ(chưa kể Kiến thức Giáo dục thể chất và Giáo dục Quốc phòng – An ninh).

6. Đối tượng tuyển sinh, tiêu chí tuyển sinh

Mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, nguồn gốc gia đình, hoàn cảnh kinh tế đều có thể dự thi vào ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, chuyên ngành Giảng viên Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước nếu có đủ các điều kiện sau:

– Có kết quả xếp loại học lực từng năm học trong 3 năm THPT đạt 6,0 trở lên;

– Hạnh kiểm 3 năm THPT xếp loại Khá trở lên.

– Có đủ sức khỏe để học tập và lao động theo các quy định hiện hành của Nhà nước;

-Đạt điểm xét tuyển theo quy định của Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

 Đối tượng là người nước ngoài được tuyển sinh theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

7. Quy trình đào tạo, điều kiện tốt nghiệp:

Quy trình đào tạo thực hiện theo học chế tín chỉ theo Quy định đào tạo đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ, được ban hành kèm theo Quyết định số 3777/QĐ-HVBCTT-ĐT ngày 18/10/2017 của Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp được thực hiện theo Điều 27 Quy định nêu trên.

8. Cách thức đánh giá:

Điểmđánhgiábộphậnvàđiểmthikếtthúchọcphầnđượcchấmtheothangđiểm10(từ0đến10),làm trònđếnmộtchữsốthậpphân. Điểm học phần được làm tròn đến một chữ số thập phân, được chuyển thành thang điểm 4 và điểm chữ theo quy định tại điều 23; điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích luỹ được tính theo công thức và cách thức quy định tại Điều 24 Quy định đào tạo đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ, được ban hành kèm theo Quyết định số 3777/QĐ-HVBCTT-ĐT ngày 18/10/2017 của Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

9. Nội dung chương trình:

9.1.Cấu trúc chương trình

Tổngsốtínchỉphải tíchluỹ: 130tínchỉ (chưa bao gồm Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng – An ninh), trongđó:

 

Khối kiến thức giáo dục đại cương

45tín chỉ

– Khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

15tín chỉ

– Khoa học xã hội và nhân văn

15tín chỉ

Bắt buộc

9tín chỉ

Tự chọn

6/18tín chỉ

– Toán và khoa học tự nhiên

3tín chỉ

– Ngoại ngữ

12tín chỉ

Giáo dục thể chất và quốc phòng (12 tín chỉ)

 

Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp

85tín chỉ

– Kiến thức cơ sở ngành

18tín chỉ

Bắt buộc

12 tín chỉ

Tự chọn

6/18 tín chỉ

– Kiến thức ngành

36 tín chỉ

Bắt buộc

27 tín chỉ

Tự chọn

9/27 tín chỉ

– Kiến thức chuyên ngành giảng viên XDĐ&CQNN, kiến tập, thực tập, khóa luận/học phần thay thế khóa luận tốt nghiệp

31tín chỉ

Bắt buộc

25 tín chỉ

Tự chọn

6/18tín chỉ

Tổng

130tín chỉ

 

Ngành Xây Dựng Đảng Và Chính Quyền Nhà Nước Là Gì? Ra Trường Làm Gì? / 2023

Cập nhật: 02/07/2019

Ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước là ngành đào tạo cử nhân ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; có kiến thức, tư duy nền tảng về hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước Việt Nam; có hiểu biết chuyên sâu về phương hướng, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Việt Nam; chuyên sâu về ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước; có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Chương trình đào tạo ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước đảm bảo cung cấp cho người học :

Những kiến thức cơ bản, hệ thống của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.

Những tri thức chuyên sâu về Chính trị học, xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền Nhà nước; phương pháp nghiên cứu khoa học và vận dụng các kiến thức đã học vào công tác chuyên môn và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra thuộc chuyên ngành được đào tạo.

Những kiến thức và phương pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch đi ngược lợi ích dân tộc, đối lập với hệ tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Sau khi tốt nghiệp, sinh viên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước có thể công tác trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp; làm công tác giảng dạy chuyên ngành xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước, giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính trị tỉnh, thành phố, ngành, đoàn thể, các trung tâm giáo dục lý luận chính trị, các trường đại học và cao đẳng trong cả nước.

Ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

2. Chương trình đào tạo ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

Theo Học viện Báo chí và Tuyên truyền

3. Các khối thi vào ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

– Mã ngành: 7310202

– Các tổ hợp môn xét tuyển vào ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước:

C00: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí

C03: Ngữ văn, Toán, Lịch sử

C04: Ngữ văn, Toán, Địa lí

D01: Ngữ văn, Toán, Tiếng Anh

4. Điểm chuẩn ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

Các bạn có thể tham khảo mức điểm chuẩn của các trường đại học đào tạo ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước những năm gần đây. Trong năm 2018, mức điểm chuẩn của ngành này từ 15 – 24 điểm tùy theo các khối thi xét theo kết quả thi THPT Quốc gia hoặc tổ hợp môn xét theo học bạ.

5. Các trường đào tạo ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

Hiện nay, ở nước ta chưa có nhiều trường đại học đào tạo ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, để theo học ngành này, bạn có thể đăng ký xét tuyển vào các trường sau:

6. Cơ hội việc làm ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

Sau khi tốt nghiệp ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, người học có đủ năng lực để đảm nhiệm các vị trí công việc sau:

Giảng dạy các môn học: Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chính trị học… tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề và môn giáo dục công dân cho các trường trung học phổ thông trong cả nước;

Giảng dạy môn Xây dựng Đảng, Quản lý nhà nước, Công tác dân vận… ở hệ thống các trường Chính trị tỉnh – thành phố, các trung tâm giáo dục chính trị của các địa phương trong cả nước;

Làm chuyên viên tại các cơ quan Đảng, Nhà nước: Cán bộ chuyên trách trong các văn phòng Đảng ủy, các ban Đảng, các tổ chức chính trị xã hội từ Trung ương đến cơ sở;

Làm chuyên viên tham mưu, tư vấn, giúp việc trong các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp;

Làm việc tại các đơn vị, cơ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân: Bộ phận xây dựng lực lượng, chính trị, tham mưu…

Nghiên cứu, giảng dạy về Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước tại các Viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng, trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị;

7. Mức lương ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước

Hiện chưa có thống kê cụ thể về mức lương của ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước. Nếu bạn làm việc tại cơ quan nhà nước thì mức lương sẽ được tính theo quy định hiện hành. Còn nếu bạn làm việc tại các đơn vị ngoài nhà nước thì tùy thuộc vào vị trí công việc, năng lực và kinh nghiệm mà sẽ có các mức lương khác nhau.

8. Ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước cần có tố chất gì?

Để theo học và thành công trong ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước bạn cần có những tố chất sau:

Có bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, trung thành với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;

Có ý thức tổ chức, kỷ luật tự giác, có lối sống trung thực, đòan kết và tôn trọng tập thể, có tinh thần phê bình và tự phê bình;

Có khả năng giao tiếp, thuyết phục, đàm phán với các đối tượng;

Có khả năng làm việc độc lập, có khả năng đọc, hiểu các tài liệu thuộc trong nước và quốc tế chuyên ngành trong và ngoài nước;

Sử dụng thành thạo các phần mềm tin học văn phòng;

Có trình độ ngoại ngữ cao;

Có kỹ năng phân tích, tổng hợp, dự báo và trình bày thông tin một cách độc lập;

Có kỹ năng làm việc theo nhóm, phát triển nhóm;

Kiên trì, nhẫn nại, chịu được áp lực cao trong công việc.

Tạp Chí Xây Dựng Đảng / 2023

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cấp ủy, người đứng đầu. Nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh tức là gương mẫu, đi đầu, thể hiện tính tiền phong, bản chất cách mạng và khoa học của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên. Theo Người, nội dung nêu gương của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện trên cả ba mối quan hệ đó là: (1) Đối với mình, là không được tự cao, tự đại, tự mãn. Bởi vì, tự cao, tự đại, tự mãn là căn bệnh rất nguy hiểm. Nếu cán bộ, đảng viên mắc phải căn bệnh này thì dễ mù quáng, thiển cận, luôn đề cao cá nhân mình, coi thường quần chúng, nhất định sẽ thoái bộ, dừng lại. Người nhấn mạnh:”Tự mãn, tự túc là co mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”;(2) Đối với người,phải yêu thương, khoan dung, độ lượng; phải luôn có thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt điều “Nhân”: “Thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân”; (3) Đối với việc,phải tận tâm, tận lực, có trách nhiệm, gương mẫu phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải luôn giữ vững nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, nghĩa là để việc công lên trên, lên trước việc tư. Người luôn giáo dục, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải “chí công vô tư”, nghĩa là phải biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”. Theo Bác, muốn tiến hành tốt các nội dung nêu gương thì cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện nói đi đôi với làm và phải biết lấy người tốt, việc tốt để tuyên truyền cho sự nêu gương. Đây là vấn đề cực kì quan trọng, là nguyên tắc trước hết của sự nêu gương.

Để nêu gương trở thành việc làm tự giác, thường xuyên theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh, Ban Bí thư ban hành Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Đảng ủy Công an Trung ương đã ban hành Quy định số 136-QĐ/ĐUCA ngày 12/9/2013 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên Công an, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp. Có thể khẳng định rằng: Việc phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương là đặc biệt quan trọng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, làm cơ sở để toàn lực lượng Công an nhân dân (CAND) đi đầu, tiên phong thực hiện Nghị quyết 22 ngày 18/3/2018 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Có được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận trong sắp xếp tổ chức Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả không thể không nhắc đến trách nhiệm nêu gương của cán bộ, chiến sĩ, nhất là cấp ủy và người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương. Sau khi tiến hành việc sắp xếp tổ chức Bộ Công an theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nhiều vị trí, chức vụ công tác không còn, đã tác động trực tiếp đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, nhất là lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp. Tuy nhiên, cán bộ, chiến sĩ, nhất là cấp ủy, người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương đều nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đoàn kết, thống nhất, quyết tâm đổi mới, nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, vì nhân dân phục vụ; tự làm công tác tư tưởng cho chính bản thân và cho cán bộ, chiến sĩ; sẵn sàng nhận sự điều động, phân công của tổ chức. Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với mục tiêu, con đường cách mạng gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh. Tự bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là cấp ủy, người đứng đầu Công an các đơn vị địa phương thường xuyên tự soi, tự sửa, tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, tư cách người Công an cách mạng, nêu cao ý thức phục vụ nhân dân. Thật sự nêu gương về đạo đức, lối sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không sa vào chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không bị lợi ích vật chất cám dỗ, bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”. Thực hiện nghiêm Điều lệnh Công an nhân dân, kỷ luật, quy chế, quy trình công tác, quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, quy định về những điều đảng viên không được làm, quy tắc ứng xử của Công an nhân dân, nội dung, quy định của đơn vị và địa phương nơi cư trú… Nhiều đồng chí trước khi sắp xếp tổ chức bộ máy giữ các chức vụ (Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng, Trưởng phòng…), sau đó chỉ giữ chức vụ (Cục trưởng, Phó Cục trưởng hoặc Phó Trưởng phòng…) nhưng tất cả đều thể hiện tinh thần xung phong, tự nguyện và thậm chí có các trường hợp làm đơn xin về hưu trước tuổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Bộ thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy.

Trong thời gian tới, tổ chức bộ máy Bộ Công an tiếp tục có nhiều sự đổi mới, nhất là việc triển khai thực hiện quy định về tiêu chuẩn Công an 4 cấp (cấp Bộ, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) và bố trí, sắp xếp lại khối trường, học viện Công an nhân dân theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bên cạnh đó, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp với nhiều vấn đề mới nảy sinh, khó dự báo. Trong nước, bên cạnh những nhân tố thuận lợi, mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế thẩm thấu ngày càng mạnh vào mọi mặt của đời sống xã hội, làm thay đổi nhận thức, tư tưởng, hành động của một bộ phận nhân dân. Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận đảng viên chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; vấn đề “tự diễn diến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có xu hướng biểu hiện rõ nét và nghiêm trọng hơn. Các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước với những thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc. Tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng, manh động, nguy hiểm hơn; xuất hiện nhiều loại tội phạm mới, nhất là các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; tội phạm hoạt động núp bóng doanh nghiệp, “tín dụng đen”, cầm đồ, đòi nợ thuê, gắn với hành vi bắt giữ người trái pháp luật, cố ý gây thương tích, cưỡng đoạt tài sản; các đường dây mua bán, vận chuyển ma túy lớn tiếp tục hoạt động trên các tuyến, địa bàn trọng điểm; tội phạm hoạt động có tổ chức, buôn lậu, tham nhũng… đặt ra cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, nhất là người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương phải phát huy hơn nữa trách nhiệm nêu gương, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó.

Để trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương trong thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” trở thành việc làm thường xuyên, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, theo chúng tôi cần thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:

Một là, thường xuyên tích cực học tập, nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tri thức khoa học, công nghệ hiện đại vào thực tiễn công tác, chiến đấu bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình hiện nay. Cấp ủy, người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương phải luôn là hạt nhân gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Đề án 106 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”; thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; gắn kết chặt chẽ việc thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các phong trào thi đua, cuộc vận động, nhất là phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”; “CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” và Cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”…

Hai là, tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 01-QĐi/ĐUCA-X03 ngày 28/01/2019 của Đảng ủy Công an Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương; Ủy viên Ban Thường vụ và người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương. Nhất là, cấp ủy, người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương phải gương mẫu đi đầu trong thực hiện tiêu chuẩn Công an 4 cấp và bố trí, sắp xếp lại khối trường, học viện Công an nhân dân theo Đề án 106 của Bộ Công an. Chủ động quán triệt sâu sắc, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, không ngừng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo, chỉ huy và các biện pháp, giải pháp công tác để tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao nhất các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng CAND về bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực hành phong cách lãnh đạo, chỉ huy khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn; là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy tri tuệ tập thể; chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả công tác cải cách hành chính, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại. Nêu cao trách nhiệm trong công việc; dũng cảm nhận những phần việc khó khăn, phức tạp; xử lý nhanh, hiệu quả các tình huống khẩn cấp, đột xuất, bất ngờ về an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Thực hiện nghiêm quy định về phân cấp, phần quyền và kiểm soát quyền lực; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chế độ tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc, cương quyết bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cai sai, không tranh công đỗ lỗi và dũng cảm nhận khuyết điểm, trách nhiệm. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và tích cực phát hiện, thu hút, trọng dụng người có đức, có tài.

Ba là, chú trọng tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống của Đảng, của lực lượng Công an nhân dân; thực hiện lời căn dặn của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 73, đó là: “Hãy luôn luôn ghi nhớ, khắc sâu vào tâm trí mình và thực hiện cho bằng được chân lý vì nước quên thân, vì dân phục vụ, còn Đảng thì còn mình, danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Chủ động đấu tranh ngăn chặn, phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; những hành vi lợi dụng chủ trương, định hướng của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ để kích động, phá hoại, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn những thông tin xấu, độc hại trên các mạng xã hội, Internet tác động vào tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những sai phạm, vi phạm trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của cán bộ, chiến sĩ, nhất là cấp ủy, người đứng đầu Công an các đơn vị, địa phương. Kịp thời động viên, khen thưởng và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Bộ Công an về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Bốn là, phát huy hiệu quả hoạt động của bộ máy CAND sau khi kiện toàn, lãnh đạo chỉ huy gương mẫu tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để xây dựng lực lượng CAND thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với Quân đội nhân dân và các cấp, các ngành, phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, củng cố thế trận an ninh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, giữ vững từ bên trong với bảo vệ an ninh Tổ quốc từ xa, từ bên ngoài biên giới quốc gia./.

Thượng tá, TS. TRỊNH XUÂN HẠNH – Trưởng phòng, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an

Bài 2: Công tác chính trị tư tưởng trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy bộ công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả – những kinh nghiệm từ thực tiễn Lịch sử gần 75 năm xây dựng và phát triển của lực lượng Công an nhân dân (CAND) đã ghi nhận những mốc son về sự trưởng thành trong công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng. Và trong các năm 2018 – 2019, lực lượng CAND đã gương mẫu, đi đầu, thực hiện thành công đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây được ví như cuộc “cách mạng” về tổ chức theo đúng nghĩa thực chất nhất; qua đó khẳng định sự trưởng thành vượt bậc, nhất là về bản lĩnh chính trị của lực lượng CAND. 1. Cuộc “cách mạng” về tổ chức để xây dựng sức mạnh nội sinh của lực lượng CAND

Đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là chủ trương, định hướng lớn đã được đề ra từ Đại hội XII của Đảng. Để cụ thể hóa chủ trương này, Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 18 – NQ/TW ngày 25/10/2017 về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng, Bộ Công an đã chủ động chỉ đạo tổng kết quá trình hình thành, phát triển tổ chức bộ máy Bộ Công an kể từ khi thành lập để báo cáo Bộ Chính trị cho phép xây dựng Đề án “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106) theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, nhằm giải quyết hai vấn đề cốt lõi là bỏ cấp trung gian và tăng cường cơ sở. Sau khi Đề án 106 được thông qua, Đảng ủy Công an Trung ương tiếp tục tham mưu Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Nghị quyết 22). Trên cơ sở đó, Bộ Công an đã xây dựng, đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06/08/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an (Nghị định 01).

Triển khai thực hiện Nghị định mới, tổ chức bộ máy sau khi sắp xếp đã bỏ 6 tổng cục, trong đó có những tổng cục đã có lịch sử hình thành và phát triển gần 40 năm (được thành lập theo Nghị định số 250/CP ngày 12/6/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ); giảm 55 đơn vị cấp cục, 20 đơn vị cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và giảm 819 đơn vị cấp phòng, trong đó cơ quan Bộ giảm 287 phòng, công an địa phương giảm 532 phòng. Tính từ ngày Chính phủ ban hành Nghị định 01 đến tháng 3/2019, đã có 616 cán bộ, chiến sĩ được điều động từ cơ quan Bộ về địa phương; trên 5.500 cán bộ được tăng cường từ công an cấp tỉnh xuống công an cấp huyện; trên 3.000 cán bộ công an được tăng cường từ công an cấp huyện xuống công an cấp xã. Theo lộ trình đến năm 2021, Bộ Công an thực hiện xong việc chính quy hóa lực lượng công an xã, bố trí công an chính quy cho trên 9.500 đơn vị công an xã, thị trấn với việc điều động khoảng 25.000 công an chính quy trong biên chế xuống đảm nhận các chức danh công an xã.

Bước đầu thực hiện Nghị định 01 của Chính phủ, mô hình tổ chức của Bộ Công an đã có sự thay đổi lớn; chuyển từ mô hình “tam giác ngược” trước đây với sự phình ra của các cơ quan ở Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thu nhỏ công an cấp cơ sở sang mô hình mới “tam giác cân” có đỉnh là các cơ quan ở Bộ được tinh gọn lại (cả về số lượng và chất lượng) với chức năng là các cơ quan tham mưu, chiến lược và có nhiệm vụ hướng dẫn các lĩnh vực công tác công an cụ thể đối với công an các địa phương trong phạm vi toàn quốc và tăng dần đều với tỷ lệ phù hợp cho công an tỉnh, huyện và công an xã, thị trấn. Công an cấp cơ sở trở thành đáy lớn của tam giác. Cách bố trí tổ chức bộ máy mới tạo nên nền tảng rộng lớn, vững chắc, bám cơ sở và bám dân để làm tốt công tác nắm tình hình, xây dựng nền an ninh nhân dân vững chắc từ cơ sở, nhất là các phường, xã vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Song song với việc tinh gọn tổ chức bộ máy, bố trí lực lượng hướng về cơ sở, thì việc phân cấp công tác trong Công an được đổi mới mạnh mẽ theo 4 cấp: cấp bộ, cấp công an tỉnh, cấp công an huyện, cấp công an cơ sở; trong đó tăng cường phân cấp cho công an cơ sở, tạo điều kiện để lực lượng công an bám dân, sát dân hơn, nắm tình hình và giải quyết các vấn đề an ninh, trật tự, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở. Đồng thời, các quy định về cơ chế, quy chế, điều lệnh, nội quy, quy trình công tác công an cũng được bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh để phù hợp mô hình tổ chức bộ máy mới. Việc không tổ chức cấp trung gian và tăng cường bám sát vào cơ sở, bám vào dân đã làm thay đổi phương pháp công tác trong ngành công an, nhất là phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo, chỉ huy công an; tạo nên sự chuyển biến tích cực về tư duy, phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, chiến sĩ theo hướng về cơ sở, gắn bó với nhân dân, nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ…Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an thời gian qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo, cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Công an; nhất là các cơ chế, thiết chế bên trong của tổ chức, làm cho bộ máy vận hành tốt hơn, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác công an, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới.

Cuộc “cách mạng” không chỉ dừng ở việc đổi mới cách thức tổ chức, vận hành bộ máy mà thực sự là cuộc đấu tranh trong mỗi cá nhân cán bộ, chiến sĩ công an và trong từng tập thể đơn vị công an. Đó là sự thay đổi có tính tích cực trong nhận thức và hành động; là sự hy sinh một phần lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của tập thể của một bộ phận lãnh đạo và cán bộ, chiến sĩ.

Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thời gian qua xứng đáng là một “cách mạng” về tổ chức làm thay đổi tích cực các mặt công tác công an; đặc biệt đây là cuộc “lửa thử vàng, gian nan thử sức” của mỗi cán bộ, chiến sĩ và các tập thể đơn vị công an. Điều đó thể hiện ý chí, sự quyết tâm đổi mới, là niềm tin và trách nhiệm.

2. Những kinh nghiệm thực tiễn từ công tác chính trị tư tưởng trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an

Để có được kết quả trên có rất nhiều yếu tố, song yếu tố đặc biệt quan trọng, được xác định trên cả mặt lý luận và thực tiễn là đóng vai trò then chốt, ở vị trí hàng đầu, đó là làm tốt công tác chính trị tư tưởng trong quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn, chúng tôi phân tích, rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào công tác xây dựng lực lượng CAND trong giai đoạn hiện nay và cả mai sau.

Quyết tâm đã được “truyền lửa” cho cấp ủy và lãnh đạo Công an các cấp. Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an chủ động lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu các chuyên đề lớn về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ … để có cơ sở lý luận và thực tiễn làm tốt công tác tham mưu, đề xuất Đảng ban hành Nghị quyết 22 về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn; xây dựng và báo cáo Bộ Chính trị thông qua Đề án 106; tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định 01; xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật CAND 2018; Đề nghị Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo để thúc đẩy sửa đổi, điều chỉnh, thay thế các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của Đảng, tạo cơ sở chính thức cho các tổ chức, hoạt động của lực lượng công an; đề xuất kiện toàn Đảng ủy Công an Trung ương để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo đối với các lĩnh vực công tác công an. Các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đã có nhiều buổi làm việc với các thành ủy, tỉnh ủy để bàn và phối hợp chặt chẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, kiện toàn tổ chức Đảng ở công an các địa phương. Bộ chủ động đề xuất với Quốc hội, Chính phủ ban hành, áp dụng các cơ chế, chính sách phù hợp đối với những cán bộ, chiến sĩ chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp tổ chức. Quyết tâm chính trị đã trở thành hành động. Nhất là, sự nêu gương của các đồng chí trong cấp ủy, lãnh đạo công an các đơn vị, địa phương trong tinh gọn tổ chức bộ máy, trong lãnh đạo, chỉ đạo đã là tấm gương cán bộ, chiến sĩ noi theo.

Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an đã tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết số 22-NQ/TW để các cấp ủy, tổ chức Đảng, đảng viên, cán bộ, chiến sĩ nắm rõ, xác định nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể đối với từng tổ chức, cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu các đơn vị trong tổ chức triển khai thực hiện. Để thống nhất về tư tưởng, các tổ chức đảng, các đơn vị từ Bộ đến địa phương đều tổ chức những “hội nghị Diên Hồng” để trưng cầu ý kiến, đóng góp, phân tích, đồng thời có điều kiện giải thích, nói rõ những quan điểm, chủ trương để tạo sự đồng tình. Các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ đã tổ chức nhiều buổi gặp mặt các đồng chí nguyên lãnh đạo Bộ Công an, các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh, lãnh đạo, sĩ quan cao cấp để trao đổi thông tin về Đề án 106 và lắng nghe ý kiến đóng góp tâm huyết của các đồng chí để triển khai thực hiện có hiệu quả.

Tại các hội nghị nghe phổ biến, quán triệt về ý nghĩa, mục đích của vấn đề sắp xếp, đổi mới tổ chức bộ máy, hầu hết cán bộ, chiến sĩ đều thống nhất với chủ trương trên nhưng vẫn còn nhiều băn khoăn, lo lắng và có cả thắc mắc chưa giải quyết.

Ví dụ như chủ trương bỏ cấp trung gian, lúc đầu, đa số đồng ý nhưng cũng có những ý kiến còn băn khoăn, đặc biệt là từ một số cán bộ hưu trí, cán bộ lão thành, cán bộ đã có quá trình công tác hàng chục năm gắn bó với tổng cục; hoặc việc sắp xếp đội ngũ lãnh đạo các cấp và thực hiện chế độ, chính sách; việc sáp nhập, giải thể một số tổ chức… Tất cả những lo lắng, băn khoăn, tâm tư, nguyện vọng đều được lắng nghe, đối thoại tại các diễn đàn, hội nghị, với những vấn đề đã đủ cơ sở, điều kiện được giải thích cụ thể, rõ ràng… Vì vậy những vướng mắc, trở ngại trong tâm tư, tình cảm dần dần vơi đi, sự kiên định mục tiêu sắp xếp, đổi mới tinh gọn tổ chức bộ máy ngày càng khẳng định. Nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao dù chưa đến tuổi nghỉ hưu song khi thông suốt chủ trương đã tình nguyện xin nghỉ để tạo điều kiện sắp xếp, bố trí cán bộ lãnh đạo cho tổ chức bộ máy mới, nhất là phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo trẻ, có triển vọng.

Trước và trong thời gian tinh gọn bộ máy, sắp xếp cán bộ, Bộ và công an các đơn vị, địa phương đã duy trì và linh hoạt, sáng tạo đưa các phong trào thi đua, các cuộc vận động đi vào thực chất hơn, bám sát vào thực tế công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng. Bộ tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05 ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng về “Tăng cường, xây dựng, chỉnh đốn Đảng’, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ thực tiễn công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng cho thấy, một số vấn đề cần phải làm tốt hơn trong thời gian thực hiện tinh gọn bộ máy như xây dựng văn hóa ứng xử của công an, xây dựng hình ảnh đẹp về người công an, công an gắn bó mật thiết hơn nữa với nhân dân… Bộ đã kịp thời có những chỉ thị phát động tiếp tục thi đua thực hiện Chỉ thị số 07/CT- BCA-X11 ngày 26/10/2016 của Bộ trưởng Bộ Công an về “Tăng cường lãnh đạo nâng cao văn hóa ứng xử CAND trong tình hình mới”; Thông tư 27/2017/TT-BCA quy tắc ứng xử của Công an nhân dân; cuộc vận động “Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”; cuộc vận động xây dựng hình ảnh đẹp về người Công an nhân dân.

Đối với ngành Công an, một trong những yêu cầu quan trọng là phải nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật, kiên quyết chấp hành mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, kỷ luật lao động, các chỉ thị, nghị quyết, các chế độ, điều lệnh công tác; đây cũng là một trong những yêu cầu về phẩm chất, đạo đức hết sức quan trọng đối với cán bộ, chiến sĩ. Có tính tổ chức, tính kỷ luật cao mới bảo đảm cho công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ, mỗi đơn vị và của toàn ngành đạt kết quả tốt, tránh được những sai lầm, lệch lạc trong công tác hoặc những thiếu sót về phẩm chất đạo đức cách mạng. Trong giai đoạn đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, tính tổ chức, tính kỷ luật càng phải được đề cao và thực hiện nghiêm túc. Ngày 06/4/2018, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Công điện số 795/BCA-V11 gửi công an các đơn vị, địa phương về việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng ngừa sai phạm, suy thoái đạo đức, lối sống trong CAND.

Song song với tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm các trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm pháp luật, kỷ luật, có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hoặc bị mua chuộc, lôi kéo bởi các phần tử xấu, “lợi ích nhóm”… để kịp thời ngăn chặn, xử lý, tinh lọc đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, nâng cao uy tín và tăng cường xây dựng hình ảnh đẹp của lực lượng CAND./.

Thượng tá Trịnh Kiều Anh – Phó Trưởng phòng, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an

Bài 3: Kết quả một năm thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy công an theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Tóm tắt: Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Bài viết đánh giá khái quát kết quả sau hơn 01 năm thực hiện Nghị định số 01, góp phần khẳng định tính đúng đắn trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại theo quan điểm của Đảng.

Từ khóa: Tổ chức bộ máy Bộ Công an; Nghị định số 01.

Bộ máy tổ chức và nhân lực luôn là hai yếu tố hàng đầu quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động đối với bất kỳ một tổ chức nào. Nếu bộ máy tổ chức hợp lý, khoa học nhưng chất lượng nguồn nhân lực không cao thì hiệu quả cũng hạn chế; ngược lại, nếu có nguồn nhân lực tốt nhưng bộ máy lại có nhiều bất cập thì sẽ kìm hãm sự phát triển của tổ chức đó. Chính vì thế, khoa học về tổ chức bộ máy luôn chiếm vị trí hàng đầu trong lịch sử phát triển của khoa học quản lý nhà nước nói chung, với mỗi ngành, mỗi lực lượng, trong đó có Công an nhân dân nói riêng. Lịch sử đã chứng minh, qua mỗi thời kỳ cách mạng, trước từng bối cảnh lịch sử cụ thể, lực lượng Công an nhân dân luôn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng và có sự điều chỉnh thích ứng về tổ chức bộ máy nên đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó.

Ngày 25/10/2017, Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã ra Nghị quyết số 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương (CATW), lãnh đạo Bộ Công an đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành nghiên cứu xây dựng Đề án “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106), sau đó tham mưu Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018, về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2018/NĐ-CP, ngày 06/8/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.

Đến nay, việc sắp xếp tổ chức bộ máy trong toàn lực lượng Công an nhân dân đã được hơn một năm. Thời gian chưa đủ dài để khẳng định tính đúng đắn của một quyết sách, song có thể đánh giá trên một số kết quả tích cực sau:

Thứ nhất, công tác bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội có nhiều chuyển biến tích cực.

Đảng ủy CATW, lãnh đạo Bộ Công an đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Nhà nước về công tác bảo đảm an ninh, trật tự; tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền, an ninh, lợi ích quốc gia; chỉ đạo xây dựng, triển khai thực hiện hiệu quả các đề án, phương án, kế hoạch công tác; chú trọng các biện pháp phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ; tăng cường các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phòng ngừa tội phạm; nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, mở rộng công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do vậy, an ninh quốc gia được giữ vững, các mục tiêu trọng điểm, các sự kiện chính trị và hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước được bảo vệ tuyệt đối an toàn; phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các âm mưu khủng bố, phá hoại; đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả với hoạt động chống phá của số phản động lưu vong, số chống đối trong nước2; công tác phòng, chống tội phạm đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, điều tra khám phá nhanh các vụ trọng án, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm; trật tự, an toàn xã hội có chuyển biến tích cực hơn3; qua đó đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đối ngoại của đất nước, nâng cao vị thế Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Đặc biệt, đã tổ chức bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều Tiên lần thứ 2 tổ chức tại Hà Nội, được nguyên thủ Mỹ, Triều Tiên và dư luận quốc tế đánh giá cao; bảo vệ an toàn Đại lễ Vesak 2019, Hội nghị Trung ương 9, 10 (khóa XII), Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV; khám phá nhiều đường dây tổ chức đánh bạc qua mạng Internet với số tiền lớn; công tác phát hiện, đấu tranh xử lý tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu đạt nhiều kết quả tích cực; đánh đúng, đánh trúng các đường dây, tổ chức tội phạm lớn trong đó có hoạt động theo kiểu “tín dụng đen”, đường dây tội phạm ma túy lớn, xuyên quốc gia ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam và tuyến hàng không, bắt được đối tượng chủ mưu, cầm đầu, góp phần ổn định thị trường trong nước, được nhân dân khen ngợi.

Thứ hai, công tác chỉ huy, chỉ đạo kịp thời, nhanh chóng, hiệu lực, hiệu quả hơn.

Việc giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ nhiệm vụ trong Công an nhân dân qua thời gian triển khai Nghị định số 01 bước đầu đã cho thấy hiệu quả khá rõ nét. Các chỉ đạo, mệnh lệnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đảng ủy CATW, lãnh đạo Bộ Công an đối với các mặt công tác bảo đảm an ninh, trật tự được đề xuất, chuyển đến cơ quan, đơn vị, cán bộ trực tiếp thực hiện nhanh hơn rất nhiều so với trước. Các cục nghiệp vụ an ninh, tình báo, cảnh sát thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Bộ; trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu được đề cao hơn, chỉ đạo giải quyết vấn đề nổi lên, vấn đề tiềm ẩn phức tạp về an ninh, trật tự sát sao, quyết liệt và có chuyển biến tích cực hơn. Việc truyền đạt mệnh lệnh chỉ huy nhanh hơn, công tác phối hợp, hiệp đồng tác chiến trong đấu tranh một số vụ án hiệu quả, thành công.

Thứ ba, biên chế công an có sự điều chỉnh hợp lý, bảo đảm không tăng đến năm 2021 theo nghị quyết của Chính phủ, đồng thời Bộ có sự điều tiết, phân bổ nguồn lực tiết kiệm, phù hợp hơn.

Bộ Công an đã thực hiện nghiêm túc nghị quyết của Chính phủ, bảo đảm giữ nguyên biên chế hiện có đến năm 2021. Một mặt thực hiện chủ trương điều động cán bộ từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi thiếu ít tới nơi thiếu nhiều, ưu tiên cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng một việc chỉ do một đơn vị phụ trách, chịu trách nhiệm; mặt khác, xây dựng khung tiêu chuẩn, tiêu chí bố trí cán bộ ở 4 cấp Công an; rà soát, xây dựng phương án cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, kế hoạch tinh giản biên chế, xác định tỷ lệ cán bộ tăng cường cho cơ sở ở các đơn vị thuộc Bộ và đề xuất chủ trương ấn định biên chế Công an các đơn vị, địa phương. Đồng thời, lãnh đạo Bộ đã tập trung chỉ đạo rà soát nhu cầu của Công an các đơn vị, địa phương về tài chính, hậu cần – kỹ thuật để chủ động trong xây dựng các kế hoạch phân bổ, xem xét đầu tư ưu tiên trang thiết bị cho lực lượng trọng yếu, trực tiếp chiến đấu, địa bàn trọng điểm; tăng cường dự trữ, dự phòng bảo đảm phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu thường xuyên, đột xuất.

Thứ tư, tư tưởng chính trị trong toàn lực lượng tiếp tục được củng cố.

Mặc dù trước sự sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, giảm bớt đầu mối, đã ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều đồng chí (đặc biệt đối với cấp cục trưởng, trưởng phòng), sẽ không tránh khỏi nảy sinh những tâm lý tiêu cực, song có thể nói, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Công an nhân dân đã nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới với vị trí thấp hơn (đội ngũ cán bộ ở Bộ giảm 35 lãnh đạo tổng cục, 55 cục trưởng và tương đương, 287 trưởng phòng và tương đương, trên 600 cán bộ được điều động từ cơ quan Bộ về địa phương, trên 5.500 cán bộ được tăng cường từ công an cấp tỉnh xuống công an cấp huyện, trên 3.000 cán bộ được tăng cường từ công an cấp huyện xuống công an cấp xã); nội bộ hầu hết cấp ủy, ban thường vụ và lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị sau sáp nhập đoàn kết, thống nhất, thể hiện rõ tinh thần vì cái chung và hăng hái quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Chính tinh thần gương mẫu, đi đầu của cấp ủy, của người đứng đầu và của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đã tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, khích lệ, động viên cán bộ, chiến sĩ tự làm tốt công tác chính trị tư tưởng cho mình, an tâm công tác, không quản ngại vất vả, hy sinh4, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào những thành tích, chiến công trên mặt trận đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng Công an nhân dân thời gian qua.

Từ phân tích các nội dung nêu trên, có thể khẳng định, sau hơn 01 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị về “tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an” và Nghị định số 01 của Chính phủ quy định “chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Công an”, đến nay, tổ chức bộ máy Công an các cấp đã đi vào hoạt động ổn định, không gây xáo trộn trong thực hiện nhiệm vụ, hiệu quả các mặt công tác tiếp tục được nâng lên. Đây là tiền đề rất quan trọng để Bộ Công an tiếp tục điều chỉnh, bố trí lại lực lượng Công an nhân dân có bước “chuyển mình” thực sự trong thực hiện chức năng tham mưu, quản lý nhà nước và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trong thời gian tới./.

Trung tá, ThS. HÀ NAM THẮNG – Phó Trưởng phòng, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an

1. Theo Nghị định số 250-CP ngày 12/6/1981 của Hội đồng Chính phủ, 04 tổng cục là: Tổng cục An ninh nhân dân, Tổng cục Cảnh sát nhân dân, Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân và Tổng cục Hậu cần.

2. Đấu tranh có hiệu quả với các tổ chức như: “Triều Đại Việt”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Việt Tân”. Phát hiện, bóc gỡ hàng trăm cơ sở nội địa của phản động lưu vong, thành viên hội nhóm chống đối. Vô hiệu hóa một số đợt kích động “tổng biểu tình”; ngăn chặn trên 60 cuộc tụ tập của các đối tượng phản động, không để hình thành, công khai tổ chức chính trị đối lập trong nước.

3. So với cùng kỳ năm 2018, 6 tháng đầu năm 2019 đã giảm 0,99% số vụ phạm pháp hình sự; tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí; đáng chú ý, lượng ma túy tổng hợp thu được tăng 4.453 kg.

4. Tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2019, có 03 đồng chí cán bộ Công an hy sinh, 46 đồng chí bị thương trong khi làm nhiệm vụ.

5. Nguyễn Văn Thành, Một số yêu cầu đặt ra nhằm tiếp tục xây dựng lực lượng Công an nhân dân theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, Chuyên đề Khoa học và Chiến lược, số 3/2019, tr.3.

Bài 4: Quyết tâm chính trị của Đảng ủy Công an Trung ương sắp xếp, tinh gọn bộ máy tổ chức Ánh sáng từ Nghị quyết của Đảng

Hệ thống chính trị của nước ta sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn không ít hạn chế, bất cập, đặc biệt là sự cồng kềnh, chồng chéo, nhiều tầng nấc, kém hiệu lực, hiệu quả. Đổi mới hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ chủ trương lớn đã được Đảng ta xác định trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã ra Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là Nghị quyết cụ thể hóa những nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm thứ hai mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước.

Quán triệt, thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, căn cứ quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Đảng ủy Công an Trung ương (Đảng ủy CATW), Bộ Công an đã chủ động lãnh đạo chỉ đạo, tiến hành nghiên cứu xây dựng Đề án “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106). Bộ Công an là đơn vị đi đầu, tiên phong trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính trị. Vì vậy, có thể nói, đây không chỉ là quyết tâm chính trị của Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an mà còn là của cả bộ máy, từ Bộ Chính trị cho đến Quốc hội, Chính phủ.

Quá trình nghiên cứu, xây dựng Đề án 106, Đảng ủy CATW đã bám sát, cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng lực lượng CAND, tranh thủ tối đa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các địa phương; đồng thời huy động sự vào cuộc của toàn lực lượng Công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cán bộ lão thành. Ngày 15/3/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” khẳng định sự chỉ đạo của Đảng đối với lực lượng Công an nhân dân trong đổi mới tổ chức, bộ máy thống nhất, chuyên sâu theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bố trí lực lượng và thực hiện tinh giản biên chế.

Theo đó, mục tiêu kiện toàn tổ chức bộ máy Bộ Công an gắn với hoàn thiện cơ chế, đổi mới phương thức lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công an nhân dân, bảo đảm thống nhất, xuyên suốt từ trung ương đến cơ sở; xây dựng, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Đảng ủy Công an Trung ương với các tỉnh ủy, thành ủy. Việc sắp xếp, đổi mới bộ máy cũng nhằm kiện toàn Đảng ủy Công an Trung ương có cơ cấu, số lượng hợp lý và thống nhất thực hiện chế độ thủ trưởng đơn vị đồng thời là bí thư cấp ủy để kịp thời lãnh đạo chỉ đạo các mặt công tác.

Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy Bộ Công an cũng là để giảm tầng nấc trung gian trong điều hành nhưng không làm ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ của lực lượng. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi nhất để bố trí, điều chỉnh lại lực lượng, tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở và bố trí công an xã chính quy. Từ đó, lực lượng công an sẽ gần dân hơn, bám sát cơ sở hơn, nắm tình hình và giải quyết hiệu quả các vấn đề về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở, khắc phục sự chồng chéo, chia cắt.

Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị đã đưa ra mục tiêu, yêu cầu, phương hướng và những lộ trình, bước đi hết sức cụ thể để đảm bảo bộ máy Công an nhân dân vừa tinh gọn vừa đảm bảo hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị là một “ngọn đuốc sáng soi đường” cho Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an và toàn lực lượng Công an vững bước theo sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo xây dựng lực lượng Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, giữ vững an ninh, trật tự và cuộc sống bình yên của nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình an ninh, trật tự đang có những diễn biến hết sức phức tạp, nhiệm vụ của toàn lực lượng Công an đặt ra ngày càng nặng nề. Chính vì vậy, đi liền với việc tinh gọn bộ máy là vấn đề phải đảm bảo đủ nguồn lực để giải quyết công việc. Tinh gọn nhưng không đồng nghĩa với việc loại bỏ số lượng cán bộ, sĩ quan một cách cơ học. Phải biết rõ nơi nào cần cán bộ để bổ sung thêm, nơi nào dư cán bộ để cắt giảm. Tinh gọn bộ máy phải đi liền với việc kiên quyết xoá bỏ các cơ quan, đơn vị trung gian, không cần thiết, những cán bộ không hề làm việc nhưng vẫn hưởng lương từ ngân sách.

Để chuẩn bị cho việc tinh gọn bộ máy, Đảng ủy CATW, lãnh đạo Bộ Công an đã chỉ đạo tổng kết nhiều chuyên đề lớn về công tác tổ chức, cán bộ, đánh giá mô hình bộ máy Bộ Công an từ khi thành lập đến nay, rà soát chức năng, nhiệm vụ trùng lặp, chồng chéo giữa các đơn vị, lực lượng trực thuộc… Kết quả đánh giá là cơ sở để Bộ báo cáo Bộ Chính trị cho ý kiến về chủ trương, định hướng xây dựng Đề án.

Để đảm bảo đề án được hiệu quả, ngăn chặn những biểu hiện hình thức, chiếu lệ, biến tướng trong thực hiện, Đảng ủy CATW, lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo Công an các cấp chủ động công tác cán bộ, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, rà soát quy hoạch, cơ cấu lãnh đạo, chỉ huy. Cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác tuyên truyền về chủ trương sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy được triển khai rộng. Cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện nghị quyết bằng nhiều hình thức cụ thể, phù hợp; đã cụ thể hóa chủ trương, đường lối về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn vào nghị quyết của cấp ủy, kế hoạch công tác của người chỉ huy, chương trình hành động của các tổ chức quần chúng. Bộ Công an đã quán triệt để cán bộ, chiến sĩ nắm rõ, xác định nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể đối với từng tổ chức, cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu các đơn vị trong tổ chức triển khai thực hiện. Toàn lực lượng cũng tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm các trường hợp cán bộ, chiến sĩ có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” hoặc bị mua chuộc, lôi kéo… để kịp thời ngăn chặn, xử lý, tinh lọc đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, nâng cao uy tín và xây dựng hình ảnh đẹp của lực lượng Công an.

Sự đồng lòng của toàn lực lượng

Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 15-3-2018 của Bộ Chính trị và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06/8/2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Đảng ủy CATW, lãnh đạo Bộ Công an đã nhanh chóng tiến hành sắp xếp tinh gọn bộ máy tổ chức trong toàn lực lượng theo mô hình hoạt động mới. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Công an nhân dân không thay đổi, nhưng quy mô tổ chức, biên chế, cơ cấu lãnh đạo các cấp đã giảm thực sự cả ở Bộ và địa phương. Bộ không còn 6 tổng cục, giảm 55 đơn vị cấp cục, 819 đơn vị cấp phòng (ở Bộ giảm 287 phòng, Công an địa phương giảm 532 phòng); 20 đầu mối Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã hợp nhất vào Công an tỉnh tương ứng, đầu mối cấp đội giảm trên 1.000. Đây thực sự là cuộc cách mạng toàn diện và triệt để nhất trong tổ chức bộ máy Bộ Công an kể từ khi thành lập.

Có thể khẳng định, việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an là khâu đột phá theo định hướng của Đảng, bảo đảm sự phát triển của lực lượng Công an nhân dân phù hợp thực tiễn, đáp ứng theo yêu cầu, nhiệm vụ công tác trong tình hình mới. Trong quá trình triển khai việc đổi mới sắp xếp tổ chức bộ máy, lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp đã nêu cao tính gương mẫu của lãnh đạo đơn vị trong việc thực hiện nghiêm điều lệnh và sự chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên; đồng thời, chỉ đạo, kiên trì, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, động viên cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao, bảo đảm không để trống nhiệm vụ, địa bàn… Qua đó, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng, trách nhiệm và hành động của lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng. Đây là yếu tố quan trọng, quyết định thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP của Chính phủ.

Để tinh gọn bộ máy, nhiều cán bộ lãnh đạo trong CAND, gồm lãnh đạo cấp tổng cục, lãnh đạo cấp cục, cấp phòng đã thay đổi các cương vị công tác khi không còn bộ máy cấp tổng cục. Điều đó thể hiện bản lĩnh, ý chí, phẩm chất chính trị rất cao của cán bộ, chiến sĩ CAND, nhất là các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trong diện sáp nhập, biết chấp nhận những thiệt thòi, hy sinh quyền, lợi ích của chính mình vì mục tiêu, yêu cầu chung của toàn lực lượng.

Trung tá Bài 5: Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng – yếu tố then chốt của thành công trong việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an Công tác chính trị tư tưởng có vị trí đặc biệt quan trọng, được xác định là khâu then chốt, đột phá. Trong quá trình thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an, công tác chính trị tư tưởng đã được thực hiện một cách bài bản, đạt hiệu quả đề ra, tạo sự đồng thuận cao trong cấp ủy, lãnh đạo các cấp và cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng. Để hiểu rõ hơn về phương pháp tiến hành, hiệu quả và mục tiêu, phương hướng cần tiếp tục thực hiện công tác chính trị tư tưởng trong Công an nhân dân (CAND) thời gian tới, Thiếu tá Nguyễn Hà Loan – phóng viên Tạp chí Công an nhân dân đã có các cuộc trao đổi với đồng chí Thiếu tướng Đào Gia Bảo, Cục trưởng Cục Công tác đảng và Công tác chính trị, Bộ Công an; Thiếu tướng Nguyễn Hữu Cầu, Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An và Tiến sĩ Ngô Vương Anh, Ban Tuyên truyền, Lý luận, Báo Nhân dân về vấn đề này. Xin giới thiệu tới bạn đọc. Thiếu tướng Đào Gia Bảo, Cục trưởng Cục Công tác đảng và Công tác chính trị: “Cần gắn công tác chính trị tư tưởng với công tác cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ” NGUYỄNHƯƠNGPV: Theo Thiếu tướng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng của lực lượng Công an trong thời gian tới cần tập trung vào những vấn đề gì để tiếp tục thực hiện thành công Đề án 106? TRÀ – Phó Trưởng phòng, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an

PV: Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ là việc làm hệ trọng và nhạy cảm, có tác động trực tiếp tới tư tưởng, tình cảm của đảng viên, cán bộ, chiến sĩ (CBCS). Xin Thiếu tướng cho biết, công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Đảng ủy Công an Trung ương và cấp ủy đảng trực thuộc đã được triển khai như thế nào để tạo sự đoàn kết, thống nhất trong toàn lực lượng?

Thiếu tướng Đào Gia Bảo: Để bảo đảm tính ổn định và không bị xáo trộn trong sắp xếp tổ chức bộ máy, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đã tập trung chỉ đạo và tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Cụ thể là, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22, Đảng ủy Công an Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 76-KH/ĐUCA để triển khai thực hiện Nghị quyết số 22; tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc về học tập, quán triệt triển khai thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị; Bộ Công an đã ban hành Kế hoạch số 137/KH-BCA-X11 về công tác tư tưởng, tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 22; biên soạn tài liệu tuyên truyền để phổ biến, quán triệt đến các cấp ủy đảng và toàn thể CBCS; tổ chức Hội nghị giao ban công tác chính trị tư tưởng và báo chí để kịp thời nắm, giải quyết tình hình tư tưởng của CBCS và dư luận xã hội. Đảng ủy Công an Trung ương đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền các địa phương chỉ đạo đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về triển khai thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Lãnh đạo Bộ Công an và các đơn vị chức năng cũng đã nghiên cứu, sắp xếp cán bộ phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn gắn với việc giải quyết chế độ, chính sách, bảo đảm quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của CBCS. Đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy công an các cấp đã nêu cao tinh thần gương mẫu; đồng thời, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, động viên CBCS yên tâm công tác… Đến nay, việc sắp xếp tổ chức bộ máy mới cơ bản hoàn thành và tạo sự ổn định, chất lượng các mặt công tác công an, công tác xây dựng đảng, công tác tham mưu, lãnh đạo, chỉ huy từng bước được nâng cao, bảo đảm phục vụ các mặt công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng CAND.

Thiếu tướng Đào Gia Bảo: Để tiếp tục thực hiện thành công Đề án 106, trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, theo tôi, cấp ủy đảng, thủ trưởng công an các đơn vị, địa phương cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

PV: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Cầu, Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An: “Làm tốt công tác chính trị tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ và tạo sự đồng thuận của cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương là một yếu tố quyết định thành công việc bố trí Công an chính quy về xã” Xin cảm ơn Thiếu tướng!

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy mới. Thông qua giáo dục chính trị tư tưởng để nắm bắt diễn biến tư tưởng CBCS, từ đó có phương hướng chỉ đạo, đề ra biện pháp cụ thể, sát hợp, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, động viên CBCS yên tâm công tác.

Hai là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng; quan tâm thực hiện tốt chính sách cán bộ. Tiếp tục làm tốt công tác tư tưởng trong việc tổ chức sắp xếp các học viện, trường, các đơn vị báo chí, đơn vị sự nghiệp công lập và khối doanh nghiệp CAND, bảo đảm tiến độ đề ra. Thường xuyên quan tâm đến chế độ, chính sách, đời sống của CBCS; gắn công tác chính trị tư tưởng với công tác cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ; việc xây dựng và hoàn thiện chính sách phải bảo đảm công bằng, có tác dụng động viên CBCS, đồng thời thực hiện tốt công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động, đề bạt, bổ nhiệm khi có nhu cầu.

Ba là, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế công tác, quy trình làm việc, cơ chế phối hợp, phân cấp rành mạch giữa công an các cấp; tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường kiểm tra, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác; chỉ đạo và thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền; thường xuyên cung cấp thông tin có định hướng cho các cơ quan báo chí trong và ngoài lực lượng CAND về kết quả triển khai thực hiện Đề án 106. Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền để nhân dân và CBCS hiểu rõ ý nghĩa khoa học, sự cần thiết về việc sắp xếp bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

PV: Nghệ An là tỉnh có thành tích, kinh nghiệm trong việc đưa lực lượng Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã. Xin Thiếu tướng cho biết công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên được tiến hành như thế nào để tạo được sự đồng thuận?

Tiến sỹ Ngô Vương Anh, Ban Tuyên truyền, Lý luận, Báo Nhân dân: “Cần chủ động giải quyết mọi vướng mắc trong tâm tư của cán bộ, đảng viên” PV: Dư luận xã hội đang rất quan tâm đến việc triển khai mô hình tổ chức bộ máy mới của Bộ Công an. Để việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy có hiệu quả, theo ông, Bộ Công an cần làm công tác chính trị tư tưởng trong lực lượng như thế nào?

Thiếu tướng Nguyễn Hữu Cầu: Để hoàn thành bố trí Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã, theo dự kiến, Công an tỉnh Nghệ An cần tăng cường từ 1.500 – 1.800 CBCS về địa bàn cấp xã. Đây là con số lớn, chiếm 1/3 biên chế của Công an tỉnh. Để tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhận thức và hành động của CBCS, Công an tỉnh Nghệ An đặt công tác giáo dục chính trị tư tưởng là yêu cầu cấp thiết và quan trọng nhất. Ngoài quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, đề án của Trung ương, Bộ Công an, Công an tỉnh đã triển khai đồng bộ 5 biện pháp: (1) Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện trong toàn lực lượng trọng tâm đột phá “Hướng về cơ sở, xây dựng lực lượng Công an xã chính quy, phát huy hiệu quả”; (2) Phát động đợt sinh hoạt chính trị, giáo dục tư tưởng về bố trí Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã trong toàn lực lượng; phát động phong trào CBCS tình nguyện đăng ký tham gia đảm nhiệm chức danh Công an xã; (3) Bồi dưỡng, tập huấn về chính trị, pháp luật và nghiệp vụ đối với số CBCS trong nguồn bố trí Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã; (4) Động viên, khích lệ và thống nhất chủ trương ưu tiên trong bồi dưỡng, đào tạo, quy hoạch và bổ nhiệm đối với những đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đảm nhiệm chức danh Công an xã; (5) Kịp thời động viên, hỗ trợ vật chất đối với CBCS đảm nhiệm chức danh Công an xã. Do làm tốt 5 biện pháp này nên CBCS luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ đảm nhiệm các chức danh Công an xã khi có yêu cầu.

PV: Các đồng chí là Công an chính quy về công tác tại xã đã phát huy tinh thần tiền phong, gương mẫu của người đảng viên như thế nào, thưa Thiếu tướng?

PV: Xin cảm ơn Thiếu tướng!

TS. Ngô Vương Anh: Tôi không ở trong ngành Công an nên không biết rõ những nội dung cụ thể của Đề án đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Bộ Công an nhưng qua những thông tin được công bố trên các kênh thông tin đại chúng, có thể đánh giá: Bộ Công an là một trong những đầu mối thực hiện công tác tinh giản bộ máy, tái cơ cấu hệ thống một cách quyết liệt, vừa sâu (từ cấp Bộ đến cấp cơ sở), vừa rộng (trong toàn ngành). Tác dụng, hiệu quả của việc cải tổ này sẽ còn phải được đo bằng chính hiệu quả trong thực tiễn của công việc, bằng sự tiết kiệm ngân sách, bằng sự hài lòng của người dân và bằng cả sự phấn khởi tin tưởng của cán bộ, chiến sĩ trong Ngành. Tuy nhiên, những tín hiệu đầu tiên đã cho thấy có thể kỳ vọng một kết quả tốt.

Cha ông ta xưa đã nêu phương châm dụng binh “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn), nghĩa là “Quân quý tinh nhuệ không quý nhiều”. Hiểu rộng hơn đó là cách dùng quân của cha ông để đối phó với kẻ địch mạnh hơn, cũng như để “khoan thư sức dân” trong thời thái bình thịnh trị, không bắt dân nuôi một bộ máy binh lực cồng kềnh và tốn kém. Bộ Công an đang triển khai thực hiện phương châm này trong nỗ lực sắp xếp lại tổ chức bộ máy của mình. Dư luận quan tâm và đánh giá cao những nỗ lực theo hướng đó.

Chắc chắn việc tổ chức lại tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả sẽ gây nhiều xáo trộn lớn về cơ cấu tổ chức cũng như trong tâm tư CBCS. Điều này cần được trù tính trước để chủ động giải quyết mọi vướng mắc có thể nảy sinh. Thời gian này, cán bộ, đảng viên trong lực lượng CAND cũng cần được tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng hơn nữa để nhận thức rõ vai trò tiền phong, gương mẫu của người đảng viên và tinh thần “sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc, Đảng và Ngành cần đến” của người chiến sỹ CAND.

Nguyễn Hương Trà, Trịnh Xuân Hạnh, Hà Nam Thắng, Nguyễn Hà Loan, Trịnh Kiều Anh/Tạp chí Công an nhân dân

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Pháp Quyền Với Việc Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là sự kế thừa truyền thống văn hóa và những kinh nghiệm xây dựng, quản lý nhà nước của ông cha ta, là kết quả của sự trải nghiệm, nghiên cứu, khảo sát nhiều cuộc cách mạng, nhiều nhà nước điển hình ở các nước như Mỹ, Pháp, Liên Xô…, đồng thời với sự thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về nhà nước kiểu mới vào điều kiện nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người sáng lập, vừa là người trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật của nước Việt Nam mới. Trong quá trình đó, mặc dù Người không dùng khái niệm nhà nước pháp quyền, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về pháp quyền đã được đề cao từ rất sớm, thể hiện rõ nét trong tư tưởng của Người về dân chủ, nhà nước, pháp luật và quyền con người. Tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở những nội dung chính sau:

Một là, nhà nước pháp quyền xuất phát từ yêu cầu dân chủ. 

Để bảo vệ quyền dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến chuyên chính, coi thực hiện chuyên chính để phát huy dân chủ, để giữ vững quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định: “Chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với ai?… Như cái hòm đựng của cải thì phải có cái khóa. Nhà thì phải có cửa. Khóa và cửa cốt đề phòng kẻ gian ăn trộm. Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ” (4).

Hai là, Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp. 

Ba là, hệ thống pháp luật ở Việt Nam là hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, pháp luật của Nhà nước ta phải là pháp luật thật sự dân chủ, bảo vệ quyền dân chủ tự do rộng rãi cho nhân dân lao động. Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (5). Bản chất dân chủ của pháp luật kiểu mới là hệ thống pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, bảo vệ quyền lợi cho hàng chục triệu người lao động.

Bốn là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ và phát huy quyền con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề và tiếp cận vấn đề quyền con người không chỉ là quyền tự do cá nhân mà còn là quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới, độc lập dân tộc và giải phóng con người. Theo người, muốn đem lại hạnh phúc cho con người, chỉ có thể đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì chỉ có xã hội chủ nghĩa mới “đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc” (6).

Những nội dung chính của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ và đề cao yêu cầu dân chủ triệt để trong xây dựng nhà nước pháp quyền. Đây là tư tưởng rất quan trọng, khẳng định bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, là đỉnh cao của nền dân chủ, vì nó thừa nhận quyền tự do bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là chủ thể quyền lực. Vì vậy, để củng cố, mở rộng dân chủ, có dân chủ triệt để cần phải xây dựng, củng cố, hoàn thiện, đổi mới nội dung phương thức hoạt động của Nhà nước. Xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là điều kiện bảo đảm và mở rộng quyền dân chủ thực sự, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Mặt khác, để xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp quyền phải coi trọng việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật đó phải thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và thể chế hóa thành các quy định mang tính pháp quyền, thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước, cũng như các thiết chế chính trị khác, tạo nên chế độ dân chủ. Đồng thời, chính xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, chặt chẽ sẽ là cơ sở pháp lý xác lập nền tảng dân chủ, là điều kiện bảo đảm cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ và phát huy quyền con người. 

Kế thừa và phát huy những tư tưởng tiến bộ về nhà nước pháp quyền của nhân loại, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển tư tưởng đó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân.

Từ thực tiễn cho thấy, cho đến trước những năm đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền, mặc dù trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đã thể hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước. Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01-1994), Đảng ta đã dùng khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong nội dung phần hai về những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới đã nêu nhiệm vụ thứ 7: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Cùng với quá trình đẩy mạnh đổi mới, mở cửa, hội nhập, nhất là từ năm 2006 đến nay, nhận thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung và có những bước phát triển quan trọng. Từ thực tiễn đổi mới, Đại hội VIII đến Đại hội XII của Đảng đã tiếp tục làm rõ và khẳng định quan điểm này. Đại hội X (năm 2006) của Đảng ta xác định: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” do Đảng Cộng sản lãnh đạo là một trong 8 thành tố, 8 đặc trưng chủ yếu của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng. Tư tưởng này được tiếp tục khẳng định trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 do Đại hội XI của Đảng thông qua và được thể hiện trong Hiến pháp 2013. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục nêu rõ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (7). Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vừa tiếp thu thành tựu của nhân loại về nhà nước pháp quyền, vừa thể hiện bản sắc, đặc điểm riêng của Việt Nam. Điều này đã “khắc phục được quan niệm đơn giản, ấu trĩ khi “đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản” (8). Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật.

Tiếp tục hoàn thiện trong thực tiễn

Trước yêu cầu thực tiễn của đất nước kết hợp quá trình nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, những tư tưởng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã từng bước được xác định thể hiện trên những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền dựa trên nền tảng nhân dân, là nguồn gốc, là chủ thể của quyền lực nhà nước.

Thứ hai, Hiến pháp và pháp luật có vị trí và hiệu lực tối thượng không chỉ đối với xã hội mà còn đối với cả Nhà nước. Pháp luật là cơ sở tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước, pháp luật phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và phải được áp dụng công bằng, nhất quán.

Thứ ba, quyền lực Nhà nước được tổ chức, thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (9); Tòa án – cơ quan thực hiện quyền tư pháp phải độc lập, nghiêm cấm mọi sự can thiệp vào hoạt động xét xử của tòa án (10). 

Thứ tư, Nhà nước ta tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Thứ năm, Nhà nước tôn trọng và tuân thủ các cam kết quốc tế trong các tổ chức quốc tế, thể chế đa phương mà Việt Nam là thành viên.

Thứ sáu, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và quá trình xây dựng – hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Để tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định mục tiêu của xây dựng Nhà nước pháp quyền là nhằm xây dựng một quốc hội thực quyền, một chính phủ hiệu quả, một nền tư pháp độc lập, công minh; bảo đảm mối quan hệ thống nhất, hiệu lực, hiệu quả, năng động – sáng tạo giữa chính quyền trung ương và địa phương… Đồng thời, xác định rõ hơn nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Hiến pháp năm 2013 khẳng định, Đảng là “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” và “các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Điều này có nghĩa, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhận thức rõ hơn sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ của nhân dân thể hiện tập trung ở Nhà nước, được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Nhà nước pháp quyền giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị.

Trải qua 71 năm xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân với nhiều thành tựu to lớn, quyền làm chủ của người dân ngày càng được bảo đảm và tăng cường. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, đặc biệt là việc còn coi nhẹ dư luận, không nghĩ đến dân của một số cán bộ, đảng viên. Chính “cơn khát” quyền lực của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức, có quyền đã đẻ ra biết bao đau lòng mà Bác Hồ đã từng cảnh báo: “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ” (11). Một số khác thì trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, nói một đằng, làm một nẻo. Người coi đó là những “lầm lỗi rất nặng nề” và đưa đến một kết quả là hỏng việc. Điều này Đảng ta đã chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng.

Những năm gần đây, nhất là Đại hội XI, XII của Đảng với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã thẳng thắn chỉ ra thực tế dân chủ chưa được phát huy đầy đủ, còn mang nặng hình thức. Có nơi dân chủ chỉ để trang trí, trình diễn. Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển, quản lý đất nước. Cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; thủ tục hành chính còn phức tạp, phiền hà, đang là rào cản lớn đối với việc tạo lập môi trường xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, hiệu quả cho sự phát triển. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương chậm đổi mới; hiệu quả, hiệu lực ở nhiều nơi chưa cao. Trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền chưa được quy định rõ ràng. Việc triển khai một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, oan sai, bỏ lọt tội phạm. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu đề ra; tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc trong xã hội. Cách làm việc quan liêu đang dẫn tới một thực tế của nền hành chính như báo chí đã nói tới nhiều: “hành dân là chính”. Vì vậy, để có một nhà nước pháp quyền thật sự trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, thật sự của dân, do dân, vì dân, hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật và ý nguyện của dân, cần phải phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; cải cách bộ máy hành chính, xây dựng một nền hành chính dân chủ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng và tiếp sức cho quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện, bền vững của đất nước trong thời kỳ mới./.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.6, tr. 232

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.8, tr. 44

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.9, tr. 3

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.10, tr. 456 – 457

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr. 175

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.1, tr. 496

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương, Hà Nội, 2016, tr. 171

(8) TS. Đinh Thế Huynh, GS, TS. Phùng Hữu Phú – GS, TS. Lê Hữu Nghĩa, GS, TS. Vũ Văn Hiền – PGS, TS. Nguyễn Viết Thông (Đồng chủ biên): 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr. 264

(9) Yếu tố kiểm soát quyền lực được ghi nhận từ Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011, sau đó được thể chế hóa trong Hiến pháp 2013

(10) Xem: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2014

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.7, tr. 176

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 169

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5, tr. 333 

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5, tr. 81

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5, tr. 236

Thiếu tá Đặng Công Thành

Khoa tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chuyên Ngành Giảng Viên Xây Dựng Đảng Và Chính Quyền Nhà Nước (Áp Dụng Cho Khóa 38) / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!