Đề Xuất 12/2022 # Dạy Học Theo Hướng Kiến Tạo / 2023 # Top 20 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Dạy Học Theo Hướng Kiến Tạo / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dạy Học Theo Hướng Kiến Tạo / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lý thuyết Kiến tạo hay lý thuyết của nhận thức đã chứng minh rằng: Kiến thức chỉ là kết quả của hoạt động kiến tạo nên nó không thể thâm nhập được vào người thụ động trong học tập mà chỉ được hình thành khi người học tích cực, chủ động trong việc học của mình.

Lớp học Kiến tạo là gì? Trong lớp học kiến tạo, người học sẽ nhận được từ giáo viên những thông tin chưa định hình và những vấn đề chưa được xác định rõ. Học sinh phải hoạt động hợp tác cùng tìm ra cách thức để tiến đến đáp án cho vấn đề. Giáo viên chỉ có vai trò là người dàn xếp cho quá trình hình thành ý nghĩa (định hướng giá trị).

Hiện nay, nhiều nhà sư phạm ủng hộ mô hình dạy học này, vì nó phù hợp với cách con người học và phát triển. Khi học sinh được tạo dựng động cơ và được tham gia vào các hành động khám phá, phù hợp với trình độ nhận thức của mình thì việc học sẽ đem lại kết quả tốt hơn so với nhiều hình thức học tập khác.

Phương pháp Kiến tạo được thể hiện đầu tiên trong việc giáo dục theo hướng trải nghiệm của EraSchool thông qua các dự án, giờ học STEAM bằng tiếng Anh. STEAM là phương pháp dạy học liên môn, dạy học qua dự án, trẻ chủ động tìm tòi kiến thức thông qua các hoạt động, trẻ được trình bày ý kiến của mình mặc dù đó có thể là đúng hay sai.

Chương trình Tiếng Việt tại Eraschool cũng được xây dựng bám sát khung chuẩn kiến thức của Bộ Giáo dục về Ngữ âm, Từ vựng, Cú pháp, Văn bản. Với sự kết hợp, tinh lọc những nét hay của các bộ sách giáo khoa mới với phương pháp tiếp cận giáo dục hiện đại của nhóm Cánh Buồm, học sinh được trang bị phương pháp, tư duy, sự tự tin và chủ động nhờ vào việc được làm và làm được trong từng giờ học. Qua những giờ trải nghiệm thực tế, học sinh tự tìm ra thao tác học, nắm chắc phương pháp, biết cách tự học; biết cảm thụ cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, sử dụng văn nói, văn viết chính xác, linh hoạt, uyển chuyển và tinh tế. Học sinh yêu tiếng Việt, yêu sách, biết làm thơ, ca, hò, vè, tốc độ đọc tốt và ít mắc lỗi chính tả.

Các môn học khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và các môn thể chất cũng được thống nhất giảng dạy theo hướng khuyến khích học sinh chủ động học tập, tìm tòi nghiên cứu và sáng tạo.

EraSchool với mong muốn hướng đến 5 giá trị cốt lõi Hạnh phúc – Khỏe mạnh – Nhân ái – Tự tin – Tôn trọng, đã nhận thấy việc áp dụng phương pháp dạy học đổi mới khiến trẻ thấy hứng thú hơn trong việc học tập, để mỗi ngày đến trường là một ngày hạnh phúc trọn vẹn.

Dạy Học Theo Định Hướng Stem / 2023

GD&TĐ – Bước đầu dò dẫm tìm đường, còn rất nhiều khó khăn nhưng hầu hết các đơn vị đang thực hiện thí điểm mô hình này đều chung một nhận xét: Dạy học theo định hướng STEM sẽ nâng cao tính chủ động, sáng tạo của HS trong học tập.

Hai năm học gần đây, quán triệt tinh thần GD STEM (GD tích hợp Khoa học – Công nghệ – Kỹ thuật – Toán) trong việc đổi mới phương pháp GD, Sở GD&ĐT Hải Phòng đã triển khai thí điểm tại một số trường học trên địa bàn.

Tạo hứng thú học tập

Trường THPT An Dương (huyện An Dương, TP Hải Phòng) là trường THPT đầu tiên của Hải Phòng thực hiện thí điểm dạy học theo định hướng STEM.

Ngay từ đầu năm học 2017 – 2018, Ban giám hiệu nhà trường đã cho HS tiếp cận với nội dung chương trình giáo dục STEM dưới hình thức các câu lạc bộ trên các lĩnh vực: STEM theo chương trình SGK phổ thông, STEM tái chế và thiết kế mô hình, STEM robot và tự động hóa STEM nông nghiệp.

Việc thành lập câu lạc bộ do giáo viên nhà trường phụ trách và được các chuyên gia thuộc liên minh STEM Việt Nam tập huấn, hướng dẫn phương pháp nghiên cứu, tiến hành các hoạt động của câu lạc bộ.

Trong Ngày hội STEM của nhà trường, có các khu trưng bày như: Trải nghiệm các thiết bị tự động hóa, máy in 3D; lắp mô hình xe ô tô chạy bằng năng lượng mặt trời và các mạch điện thông minh; các mẫu thiết kế thời trang, sa bàn kích cỡ lớn làm từ nguyên liệu tái chế; các phần trưng bày sách bắt mắt…

Chương trình đã tạo được sự hứng thú học tập, tinh thần hăng say nghiên cứu, tìm tòi của HS và bước đầu tạo hiệu ứng tích cực trong việc GD định hướng STEM trong trường học.

Gian trưng bày máy in lazer 3D của HS Trường THPT An Dương được đánh giá cao tại Ngày hội STEM diễn ra vào tháng 3/2018

Gắn liền với thực tiễn đời sống

GD theo định hướng STEM không chỉ đòi hỏi người giáo viên thuần thục trong việc kết hợp kiến thức liên môn để giảng dạy cho HS mà còn đề cao sản phẩm thực tiễn của quá trình học tập đó.

Vì vậy, mỗi chuyên đề được tổ chức giáo viên phải thực sự nắm chắc kiến thức các môn học, hướng dẫn và giao việc cho HS phù hợp năng lực, niềm đam mê của các em để kích thích tính sáng tạo, giúp học trò tạo ra những sản phẩm hữu ích. Từ những sản phẩm tuy còn non nớt đó đã phần nào chạm vào mục tiêu GD STEM, giúp các em hình thành kỹ năng và sẽ thành thục trong tương lai gần khi STEM không còn xa lạ.

Mặc dù để chuẩn bị chuyên đề này còn rất nhiều khó khăn, đòi hỏi sự đầu tư công sức lớn, nhiều HS còn khiên cưỡng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng bước đầu, việc GD HS theo định hướng STEM đạt được hiệu quả tốt, tạo hứng thú cho HS tham gia và đem lại kết quả tích cực.

Bài 2: Cần áp dụng linh hoạt để tạo hiệu quả giáo dục tốt

Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực / 2023

1. Năng lực của con người: SỐ YÊU CẦU VÀ THIẾT KẾ MỘT BÀI GIẢNG PHÁT HUY NĂNG LỰC HỌC SINH

Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc. Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên. 2. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực:

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người.. 3. Phương pháp dạy học theo quan điểm

Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên“.

Dạy Học Theo Định Hướng Nghiên Cứu Bài Học Và Đổi Mới Sinh Hoạt Chuyên Môn Theo Hướng Nghiên Cứu Bài Học / 2023

Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh. Cho đến nay Nghiên cứu bài học được xem như một mô hình, một cách tiếp cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộng rãi tại các trường học ở Nhật Bản, hình thức này đã được áp dụng nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam phương pháp này bước đầu được áp dụng thử nghiệm và đã đem lại một kết quả khả quan, đã chứng minh được tính khả thi của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên so với các phương pháp truyền thống khác.

I. CÁC BƯỚC TỔ CHỨC SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC

Sinh hoạt tổ chuyên môn (TCM) dựa trên nghiên cứu bài học (NCBH) cần được thực hiện theo chu trình 4 bước.

GV cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được khi tiến hành nghiên cứu (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học), đảm bảo phù hợp với trình độ của HS, năng lực chuyên môn của GV.

Các GV trong tổ thảo luận chi tiết về thể loại bài học, nội dung bài học, các phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao, cách tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của HS, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn…

Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của HS khi tham gia các hoạt động học tập và các tình huống xảy ra và cách xử lý (nếu có)…

Sau khi hoàn thành giáo án của bài học nghiên cứu chi tiết, một GV sẽ dạy minh họa bài học nghiên cứu (BGMH) ở một lớp học cụ thể, các GV còn lại trong nhóm tiến hành dự giờ và ghi chép thu thập dữ kiện về bài học.

– GV dự giờ phải đảm bảo nguyên tắc: Không làm ảnh hưởng đến việc học tập của HS; không gây khó khăn cho giáo viên dạy minh họa; khi dự giờ phải tập trung vào việc học của HS, cách phản ứng của HS trong giờ học, cách làm việc nhóm HS, những khó khăn vướng mắc, thái độ tình cảm của HS… Quan sát tất cả đối tượng HS, không được “bỏ rơi” một HS nào.

– GV cần từ bỏ thói quen đánh giá giờ qua hoạt động của GV dạy, người dự cần học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải quyết.

– Luyện tập cách quan sát và suy nghĩ về việc học của HS trong giờ học, có khả năng phán đoán nhanh nhạy, chính xác để điều chỉnh việc dạy phù hợp, việc học của HS.

– Thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận của GV về HS trong từng hoàn cảnh khác nhau.

– Hình thành thói quen lắng nghe lẫn nhau; rèn luyện cách chia sẻ ý kiến, từ đó hoàn thành mối quan hệ đồng nghiệp thân thiện, cộng tác và học tập lẫn nhau.

Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng trong SHCM, là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của sinh hoạt chuyên môn, TTCM cần phát huy được vai trò, năng lực của người chủ trì, động viên toàn bộ giáo viên trong tổ tham gia đóng góp ý kiến cho BGMH, cần nhấn mạnh những điểm nổi bật và không xếp loại giờ dạy.

– Tìm hiểu nội dung,cách thức thực hiện mô hình SHCM dựa trên nghiên cứu bài học.

– Đăng ký tham gia nhóm thiết kế bài bạy minh họa, suy nghĩ, tìm tòi, tích cực sáng tạo để xây dựng ý tưởng/nội dung/phương pháp mới để thiết kế bài học.

– Học cách quan sát HS học, ghi chép, lắng nghe, suy nghĩ.

– Tự rút kinh nghiệm cho bản thân sau dự giờ để điều chỉnh nội dung/ cách dạy cho phù hợp với HS của mình. Thay đổi cách quan sát và suy nghĩ về việc dạy của GV và việc học của HS.

– Hình thành thói quen lắng nghe và chia sẻ ý kiến, xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp thân thiện, cộng tác và học tập lẫn nhau.

– Xác định được mục tiêu của SHCM là giúp mọi GV có cơ hội học tập lẫn nhau. SHCM không phải là nơi GV giỏi dạy bảo GV yếu.

– Cùng nhau phân tích các nguyên nhân, các mối quan hệ trong giờ học và tìm biện pháp cải thiện, nâng cao chất lượng dạy – học.

– Đi sâu nghiên cứu, phân tích các phương án dạy – học hiệu quả nhằm đáp ứng được nhu cầu và khả năng học của HS; tìm hiểu các mối quan hệ của HS với HS trong lớp, các kỹ năng cần thiết của GV để nâng cao chất lượng học tập của HS.

– Tăng cường khả năng độc lập, sáng tạo, thử nghiệm những ý tưởng mới vào bài dạy minh hoạ: Áp dụng tất cả những ý tưởng mới, những hiểu biết về phương pháp dạy học tích cực lấy hoạt động học của HS làm trung tâm trong bài dạy minh họa để rút kinh nghiệm trong SHCM và áp dụng trong các bài học hàng ngày.

– Bài dạy minh họa cần được thể hiện linh hoạt, sáng tạo. GV lựa chọn nội dung, phương pháp, kỹ thuật dạy học để đạt được mục tiêu/chuẩn kiến thức kĩ năng của từng môn học, không phụ thuộc quá nhiều vào nội dung trong sách giáo khoa, các quy trình, các bước dạy trong sách GV, mà dựa vào kinh nghiệm và vốn kiến thức của HS, GV có thể lựa chọn các ví dụ và ngữ liệu gần gũi với các em để đạt được mục tiêu của bài học.

Tổ chức dạy minh họa – dự giờ là khâu quan trọng nhất trong SHCM.

– GV cần tiến hành dạy minh họa trên HS của lớp mình. Yêu cầu không được luyện tập trước khi dạy minh họa.

– Chuẩn bị không gian, bàn ghế thuận tiện cho người dự dễ dàng quan sát các hoạt động học tập của HS.

– Các hoạt động thiết kế đảm bảo thời lượng một tiết dạy minh họa không nên kéo dài quá so với quy định của 1 tiết học.

– Ban giám hiệu và các GV trong trường cùng dự giờ. Số lượng GV dự giờ không nên quá đông, đảm bảo cho HS có thể học bình thường.

– Dự giờ minh họa đòi hỏi sự tập trung cao độ của các GV. Vị trí quan sát của người dự giờ rất quan trọng. Muốn có thông tin chính xác về việc học của HS người dự giờ cần phải đứng đối diện với HS để thấy được nét mặt, hành động, thao tác, sản phẩm của HS.

– Người dự giờ cần vẽ sơ đồ chỗ ngồi, quan sát, nghe, nhìn, suy nghĩ và ghi chép diễn biến hoạt động học của HS trong giờ học hay những biểu hiện tâm lý của HS thể hiện trong các hoạt động/tình huống cụ thể mà không bị bỏ sót khi quan sát.

– Người dự có thể chụp ảnh hoặc quay phim các hoạt động học của HS trong các tình huống nhưng không làm ảnh hưởng đến giờ học. Quan sát ghi chú các hoạt động học của HS, thái độ, cử chỉ, sự tham gia hay không tham gia của HS vào nội dung bài học.

– Tập trung quan sát những biểu hiện qua nét mặt, thái độ, hành vi, mối quan hệ tương tác giữa HS – GV, HS – HS. Người dự giờ luôn phải đặt câu hỏi cho mình là “HS học được gì? HS có hứng thú không? Vì sao có? Vì sao không? HS có biểu hiện như thế nào? Hoạt động nhóm có thực sự đảm bảo cơ hội cho tất cả HS tham gia? Có HS nào bị “bỏ quên” không …

– Người dự giờ có thể ghi chép/ghi âm những câu hỏi của GV và câu trả lời của HS, quan sát thái độ của HS, các biểu hiện trên nét mặt khi thực hiện nhiệm vụ, kết quả sản phẩm… Từ đó suy nghĩ, phân tích tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp tích cực hơn. Ví dụ:

* Vì sao HS A và nhiều HS khác không trả lời được câu hỏi, có phải HS không hiểu câu hỏi, hay câu hỏi có quá khó đối với trẻ? Nếu thực sự quá khó thì cần thay đổi câu hỏi như thế nào để HS có thể trả lời được?

* Vì sao HS A không tham gia hoạt động? Có thể HS chưa hiểu rõnhiệm vụ hay nhiệm vụ đó quá khó/quá dễ đối với HS, cần phải làm thế nào để HS tích cực tham gia hoạt động này?

* Trong hoạt động luyện tập chỉ có một số ít HS làm đúng, phần đông HS làm sai, vậy tại sao HS làm sai? Có thể HS chưa hiểu cách làm, tại sao chưa hiểu? Do ngôn ngữ hay do cách giải thích của GV chưa rõ, cần thay đổi ngôn ngữ hay thay đổi cách giải thích như thế nào để HS dễ hiểu hơn…

– Việc dự giờ và quan sát HS thường xuyên sẽ giúp cho mỗi GV tự suy nghĩ, phát hiện và hiểu rõ nguyên nhân của những khó khăn mà HS đang gặp phải trong quá trình học tập. Từ đó tự điều chỉnh cách dạy của mình cho phù hợp với đối tượng học và có kế hoạch quan tâm giúp đỡ những HS đang gặp khó khăn về nhận thức hoặc hoàn cảnh gia đình….

– Trong SHCM dựa trên nghiên cứu bài học, khi mọi người cùng nhau tập trung hướng vào hoạt động học của HS, tìm nguyên nhân và các giải pháp cho các vấn đề khó khăn về học của HS thì mối quan hệ giữa người dạy và người dự trở nên gần gũi, có sự cảm thông, chia sẻ.

+ Những điều mình học được qua bài dạy minh họa?

+ Tại sao HS A, HS B… có biểu hiện khó khăn trong giờ học?

+ Mô tả những hiện tượng quan sát được, những biểu hiện cụ thể của HS như: vẻ mặt, thái độ, hoạt động, sản phẩm…

+ Nguyên nhân của những khó khăn

+ Làm gì để khắc phục những khó khăn ?

+ Bài học có gì mới/sáng tạo so với sách giáo khoa, sách GV, điều này được thể hiện qua kết quả học tập của HS như thế nào?

+ Các nội dung/hoạt động học tập có phù hợp với khả năng nhận thức của HS không? (đủ thời gian học, dễ hiểu, thu hút sự tham gia của HS). Các phương pháp, kỹ thuật dạy học có làm cho HS hứng thú mang lại hiệu quả thực sự không? Tại sao? (hoạt động nhóm, cá nhân).

+ HS được quan tâm/ hỗ trợ như thế nào? (HS tích cực, HS yếu kém, HS bị “bỏ quên”…).

+ HS có cơ hội liên hệ kiến thức đã biết để hình thành kiến thức mới như thế nào?

+ Mối quan hệ giữa GV – HS; giữa HS – HS trong tình huống đó như thế nào?

+ HS học được gì qua hoạt động đó

+ Hoạt động đó có tác động đến quá trình lĩnh hội kiến thức, sự tham gia của HS như thế nào?

– Người góp ý cần căn cứ vào mục tiêu của bài học để hiến kế đưa ra các giải pháp để giúp người dạy khắc phục những hạn chế sao cho tạo cơ hội cho tất cả các HS đều được tham gia học tập, tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả.

– Mỗi người dự giờ tự tìm ra những yếu tố tích cực, suy nghĩ xem mình đã học được gì từ bài học này (kể cả việc rút kinh nghiệm từ những cái sai của đồng nghiệp) trước khi đưa ra những nhận xét về những hạn chế của giờ học. Người dự nên nêu những phát hiện, mà GV dạy minh họa có thể không nhìn thấy vì chưa bao quát hết được (không nghe rõ, không nhìn thấy, ít chú ý, không cảm nhận được…) điều này sẽ giúp cho GV nhìn lại mình và tự điều chỉnh để hoàn thiện hơn trong các giờ học sau.

Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nói chung đều nhằm tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của HS và khả năng thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của GV. Phân tích giờ dạy theo quan điểm đó là phân tích hiệu quả hoạt động học của HS, đồng thời đánh giá việc tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học cho HS của GV. Việc phân tích mỗi hoạt động học cụ thể trong giờ học được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Mô tả hành động của HS trong mỗi hoạt động học

Mô tả rõ ràng, chính xác những hành động mà HS/nhóm HS đã thực hiện trong hoạt động học được đưa ra phân tích. Cụ thể là:

– HS đã tiếp nhận nhiệm vụ học tập thế nào?

– Từng cá nhân HS đã làm gì (nghe, nói, đọc, viết) để thực hiện nhiệm vụ học tập được giao? Chẳng hạn, HS đã nghe/đọc được gì, thể hiện qua việc HS đã ghi được những gì vào vở học tập cá nhân?

– Sản phẩm học tập của HS/nhóm HS là gì?

– GV đã quan sát/giúp đỡ HS/nhóm HS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập được giao thế nào?

Bước 2: Đánh giá kết quả/hiệu quả của hoạt động học

Với mỗi hoạt động học được mô tả như trên, phân tích và đánh giá về kết quả/hiệu quả của hoạt động học đã được thực hiện. Cụ thể là:

– Qua hoạt động đó, HS đã học được gì (thể hiện qua việc đã chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng gì)

– Những kiến thức, kĩ năng gì HS còn chưa học được (theo mục tiêu của hoạt động học)?

Bước 3: Phân tích nguyên nhân ưu điểm/hạn chế của hoạt động học

Phân tích rõ tại sao HS đã học được/chưa học được kiến thức, kĩ năng cần dạy thông qua mục tiêu, nội dung, phương thức hoạt động và sản phẩm học tập mà HS phải hoàn thành:

– Mục tiêu của hoạt động học (thể hiện thông qua sản phẩm học tập mà HS phải hoàn thành) là gì?

– Nội dung của hoạt động học là gì? Qua hoạt động học này, HS được học/vận dụng những kiến thức, kĩ năng gì

– HS đã được yêu cầu/hướng dẫn cách thức thực hiện nhiệm vụ học tập (cá nhân, cặp, nhóm) như thế nào?

– Sản phẩm học tập (yêu cầu về nội dung và hình thức thể hiện) mà HS phải hoàn thành là gì?

Bước 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động học

Để nâng cao kết quả/hiệu quả hoạt động học của HS cần phải điều chỉnh, bổ sung những gì về:

– Mục tiêu, nội dung, phương thức, sản phẩm học tập của hoạt động học?

III. KẾT LUẬN: Những lợi ích do nghiên cứu bài học mang lại

NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì học sinh nghĩ, những gì học sinh tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn. Thông qua NCBH, giáo viên cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học.

Ngoài ra NCBH còn là cái cầu kết nối các nội dung kiến thức, giữa các bộ môn để thu được sự hỗ trợ bổ sung tốt nhất giữa các bộ môn góp phần đào tạo toàn diện cho học sinh, giữa các cấp học để thu được chương trình đào tạo mạch lạc, thông suốt. Một lợi ích nữa xuất phát từ tính linh hoạt, ưu việt của NCBH, đó là nó có thể thực hiện được ở mọi cấp học, mọi môn học từ các môn tự nhiên, xã hội,… cho tới các môn giáo dục thể chất, nó cũng không đòi hỏi một sự đầu tư khổng lồ mà chỉ cần một nhóm giáo viên sẵn sàng hợp tác cùng nhau.

Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việt của NCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác. NCBH xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của giáo viên. Thông qua NCBH giáo viên được hợp tác cùng nhau, làm việc cùng nhau để xây dựng một kế hoạch bài học hoàn chỉnh.

Thực tế trong những năm vừa qua trường THCS Quảng Hợp đã triển khai nhiều chuyên đề đổi mới PPDH trong đó dạy theo hướng NCBH đã được nhiều đ/c thể hiện rất thành công như giờ dạy của đ/c Hải, đ/c Yến, Hùng, đ/c Nga, đ/c Khánh, …và một số đ/c khác. Qua NCBH GV có thêm định hướng để nâng cao chất lượng soạn giảng, nâng cao hiệu quả trong hoạt động giáo dục của bản thân. Từ đó có thể khẳng định NCBH là một hình thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên đạt hiệu quả và hoàn toàn có thể áp dụng trong các nhà trường.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dạy Học Theo Hướng Kiến Tạo / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!