Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Thí Nghiệm Chương Trình Sinh Học 6 / 2023 # Top 13 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Thí Nghiệm Chương Trình Sinh Học 6 / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Thí Nghiệm Chương Trình Sinh Học 6 / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Người thực hiện: Ngô Thị Minh Hiền Tổ : HÓA SINH Đơn vị: Trường THCS Thành Phố Bến Tre PHẦN I : MỞ ĐẦU ïï&ïï I/-Bối cảnh đề tài: ï Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa trên các quan sát thực tế, các thí nghiệm, thực hành để rút ra những kiến thức chung, khái quát về các hiện tượng tự nhiên và các qui luật của sinh học. ï Song song đó, dạy học theo phương pháp mới, đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, xây dựng giờ học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình Dạy- Học, việc dạy thí nghiệm thực hành và rèn kỹ năng thực nghiệm cho học sinh, kích thích óc tìm tòi, nghiên cứu, tích cực tham gia trong quá trình học tập là điều quan trọng và cần thiết trong việc tìm hiểu về bộ môn sinh học ở nhà trường phổ thông. II/-Lý do chọn đề tài: ï Sinh học 6 nghiên cứu chủ yếu về thực vật, về sự sinh trưởng, phát triển của thực vật, về các quá trình quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước, nảy mầm của hạt, sự dài ra của thân, sự vận chuyển các chất trong thân, để hiểu được các quá trình này cần phải qua tiến hành các thí nghiệm. ïVậy làm thế nào cho học sinh nắm vững được các thao tác tiến hành thí nghiệm, mục đích thí nghiệm và biết cách thiết kế một thí nghiệm đơn giản phục vụ cho học tập, tham gia tích cực trong giờ học Sinh học, và biết cách tự học tự nghiên cứu sau này? ïĐó là lý do bản thân chọn đề tài: “Một vài kinh nghiệm trong giảng dạy thí nghiệm chương trình sinh học 6″ II/- Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: – Đề tài nghiên cứu nhằm phục vụ cho các tiết giảng dạy có tiến hành thí nghiệm của chương trình sinh học 6: Thân dài ra do đâu? Vận chuyển các chất trong than; Quang hợp; Hô hấp; Thoát hơi nước; Hạt và các bộ phận của hạt; Điều kiện cần cho sự nảy mầm của hạt, – Đối tượng: học sinh lớp 6. III/- Mục đích nghiên cứu: Học sinh nắm được mục tiêu, đối tượng, các bước tiến hành và giải thích được kết quả thí nghiệm, trên cơ sở đó rút ra các kiến thức chung, tổng quát về điều cần nghiên cứu và từ đó vận dụng vào giải thích thực tế hoặc sản xuất ở gia đình, địa phương. V/- Điểm mới trong kết quả nghiên cứu: – Nghiên cứu dựa trên việc thực hiện các thí nghiệm phục vụ cho học tập bộ môn của học sinh ở từng lớp à học sinh tích cực tham gia giờ học, tìm tòi, nghiên cứu khoa học, giải thích tốt các ứng dụng trong thực tiễn đời sống. PHẦN II : NỘI DUNG ĐỀ TÀI I/ Cơ sở lý luận: Năm học 2011 – 2012, là năm tiếp tục triển khai tích cực và hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị với yêu cầu đặc thù của ngành là gắn chặt với các cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Mặt khác “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Trích: “Chương trình giáo dục phổ thông”, ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. II/ Thực trạng của vấn đề: Sinh học là môn học khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học vừa có ở kênh chữ, vừa có ở kênh hình, vật mẫu thật và trong các thí nghiệm. Do đó, dạy học sinh học không chỉ có tranh ảnh, vật mẫu, mà còn phải tiến hành các thí nghiệm và thực hành. Nhưng với đa số các em học sinh, việc tiến hành thí nghiệm được xem là không cần thiết, các em nghĩ rằng chỉ cần học thuộc những gì ghi nhận trong lớp là xong. Tiến hành thí nghiệm vừa mất thời gian, vừa phải mang vào lớp, làm không thành công thì bạn chọc ghẹo. Không có thí nghiệm cô vẫn dạy được như thường và mình vẫn thuộc bài. Nên việc thực hiện yêu cầu của giáo viên, về chuẩn bị thí nghiệm học tập, thì nhiều học sinh chuẩn bị cho có hay để được điểm cộng và không bị thầy cô la rầy. Các em có thói quen tiến hành một cách qua loa, chiếu lệ như: thời gian tiến hành thí nghiệm không đủ, điều kiện thí nghiệm không đúng, vật mẫu thí nghiệm không đạt yêu cầu, … Các em chưa thật sự tích cực và có kỹ năng hoạt động theo nhóm, chưa quen với việc tự mình làm chủ, tiến hành thực nghiệm để tìm ra kiến thức, khắc sâu kiến thức cần nhớ. III/ Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề: 1. Biện pháp chung: – Học sinh chuẩn bị tốt thí nghiệm, tự mình thực hiện thí nghiệm, là cơ sở để hình thành và rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu khoa học cho các em, tạo điều kiện cần thiết cho học sinh khả năng tự giác học tập, biết tự tìm hiểu, phát hiện kiến thức. 2. Biện pháp cụ thể: * Giáo viên cần khuyến khích, động viên, kích thích óc tìm tòi, quan sát, tạo hứng thú trong việc chuẩn bị thí nghiệm cho tiết học bằng cách: * Yêu cầu học sinh nắm được các bước tiến hành và làm thành công một số thí nghiệm đơn giản trong chương trình học: thí nghiệm chứng minh sự dài ra của thân là do ngọn, thí nghiệm vận chuyển nước và muối khoáng nhờ mạch gỗ, thí nghiệm chứng minh có sự thoát hơi nước qua lá, chuẩn bị vật mẫu trong tìm hiểu các bộ phận của hạt, thí nghiệm về các điều kiện nảy mầm của hạt. Từ việc tiến hành thí nghiệm biết nhận xét kết quả và rút ra kết luận thông qua thí nghiệm à kiến thức cần tiếp thu. * Nêu cụ thể đối tượng thí nghiệm, mục đích thí nghiệm, thời gian thí nghiệm và các yêu cầu cần đạt được qua thí nghiệm. * Yêu cầu các em làm việc theo tổ, nhóm, nắm các bước tiến hành thí nghiệm, làm thí nghiệm và mang vào lớp các thí nghiệm đã thực hiện. * Giới thiệu nội dung tham khảo của SGK để học sinh vận dụng trong khi tự tiến hành thí nghiệm. * Giờ học giáo viên chú ý tối đa tới việc sử dụng có hiệu quả các thí nghiệm nhóm đã thực hiện, đưa thí nghiệm đúng lúc, để học sinh thấy được sự quan trọng của thí nghiệm cho bài học, tạo sự hứng thú, sinh động trong giờ học và giúp các học sinh khác nắm được kiến thức qua thí nghiệm. * Học sinh hoặc nhóm làm được thí nghiệm tốt, có giá trị trực quan tốt, giáo viên cần khen ngợi và động viên tinh thần tham gia tích cực trong giờ học của học sinh hay nhóm bằng cách ghi điểm cộng. Nhóm hay học sinh chưa làm tốt có có lưu ý cách làm, đối tượng hay thời gian tiến hành chưa đúng, giúp phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong giờ học và học sinh tự tin hơn, hứng thú hơn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học sinh học thực nghiệm. 3. Ứng dụng biện pháp trong giảng dạy: a) Đối với việc chuẩn bị thí nghiệm: Giáo viên lên kế hoạch tiết dạy, hướng thực hiện và các hoạt động cụ thể của học sinh trên lớp, các phiếu học tập, các tình huống sẽ đặt ra cho học sinh, thời gian cần để thực hiện thí nghiệm. Chuẩn bị trước các thí nghiệm cần cho bài dạy, các dụng cụ cần thiết cho việc thực hiện thí nghiệm, thời gian cần để thực hiện thí nghiệm, có tính đến các yếu tố thời tiết nếu là các thí nghiệm cần điều kiện bên ngoài như xem các bộ phận của hạt, điều kiện nảy mầm của hạt, Nếu là thí nghiệm do giáo viên biểu diễn cần chuẩn bị thêm một bộ dụng cụ để học sinh tiến hành các bước thí nghiệm trên lớp trong giờ học. Đặt yêu cầu cụ thể và phân công cho các nhóm học sinh thực hiện thí nghiệm. b) Trong giờ lên lớp: ï Đối với các thí nghiệm có sự tham gia của học sinh trong thực hiện thí nghiệm: – Kiểm tra việc thực hiện thí nghiệm của học sinh, ghi nhận nhanh kết quả thực hiện của các nhóm: nhóm làm tốt, nhóm làm chưa tốt. – Cho học sinh quan sát thí nghiệm giáo viên đã tiến hành à học sinh so sánh với kết quả nhóm đã thực hiện. – Cho 1 – 2 nhóm học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm trên cơ sở nhóm đã thực hiện, nêu kết quả thu được, các nhóm nhận xét bổ sung. – Giáo viên nêu nhận xét tóm tắt các bước chủ yếu trong quá trình tiến hành làm thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm của các nhóm, khen ngợi nhóm làm tốt, hỏi về nguyên nhân thí nghiệm chưa thành công, giải thích cụ thể trên từng thí nghiệm hỏng và rút kinh nghiệm chung cho cả lớp. Ví dụ: cụ thể trong giảng dạy bài 17: “Vận chuyển các chất trong thân” – Phần 1: Vận chuyển nước và muối khoáng hòa tan. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh + GV sau khi kiểm tra và ghi nhận sơ lược kết quả thí nghiệm của các nhóm. Yêu cầu nhóm trình bày thí nghiệm đã tiến hành trước ở nhà chọn những nhóm nào có kết quả tốt. + GV cho HS cả lớp xem thí nghiệm trên cành mang hoa (cành hoa hồng), cành mang lá (cành dâu). Hỏi: Vì cần thực hiện thí nghiệm trên cả cành hoa hồng và cành dâu? + GV hướng dẫn HS cắt lát mỏng qua cành của nhóm ® quan sát bằng kính lúp (kính hiển vi) ® xác định chỗ bị nhuộm màu à Vì sao có sự khác nhau giữa nơi bị nhuộm màu ở cành hoa hồng và cành hoa huệ? à sự khác nhau về cách sắp xếp bó mạch của thân cây 1 và hai lá mầm. à Phần nào của thân đã bị nhuộm màu ? Vì sao em biết? à Vậy nước và muối khoáng được vận chuyển từ rễ lên thân, lá nhờ bộ phận nào của cây? + GV nhận xét, đánh giá cho điểm nhóm trả lời tốt. * GV nêu nhận xét về kết quả thí nghiệm của nhóm làm tốt, làm chưa tốt, cho h/s tự giải thích nguyên nhân à tóm tắt ý chính của hoạt động à kết luận. + HS hoạt động theo nhóm, đại diện nhóm trình bày trước lớp các bước tiến hành TN và kết quả thực hiện của nhóm mình. – Nhóm khác nhận xét bổ sung. – Quan sát. à chứng minh có sự vận chuyển các chất trong thân lên hoa và lá. + H/s cắt lát mỏng ngang cành cả hoa huệ và cành hoa hồng, xem xét nơi bị nhuộm màu. à Nêu nhận xét. – Đại diện 1 ® 2 nhóm trình bày kết quả của nhóm mình, nhóm khác bổ sung. ï Đối với các thí nghiệm do giáo viên tiến hành mẫu, học sinh chỉ dựa trên quan sát để thu nhận kiến thức. _ Cho học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm thông qua các dụng cụ được giáo viên chuẩn bị sẵn à rèn kỹ năng thực hành thí nghiệm. Ví dụ: giảng dạy thí nghiệm 1 bài 23 : ” Cây có hô hấp không?”, chứng minh hiện tượng cây thải ra môi trường khí cácbonic. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh . Thí nghiệm 1 (tr. 77, SGK) : + Cho 1 h/s đọc thông tin < . + Sau khi h/s đọc xong, GV hỏi : Khi để cốc nước vôi trong trong không khí có lớp váng trắng đục mỏng, vì sao? + Cho h/s gạch dưới các từ sau : “ Cốc nước vôi trong để một thời gian, có lớp váng trắng đục mỏng vì trong không khí có khí cacbônic” à chính khí cacbônic làm cho cốc nước vôi trong có váng trắng đục mỏng, điều đó diễn ra như thế nào các em sẽ được học ở chương trình hóa học sau này. + Yêu cầu h/s đđọc thí nghiệm 1 ® nắm cách tiến hành, kết quả của thí nghiệm. à Cho h/s nêu các bước tiến hành thí nghiệm thông qua dụng cụ được giáo viên chuẩn bị sẵn: 2 chuông A, B; 2 tấm kính ướt; 2 cốc nước vôi trong; 1 cây nhỏ trồng trong cốc; 2 túi giấy đen. + Cho một số học sinh quan sát kết quả thí nghiệm 1. Không khí trong hai chuông có chất khí gì? Vì sao em biết? Vì sao trên mặt cốc nước vôi trong chuông A có lớp váng trắng đục dầy hơn? Từ kết quả thí nghiệm 1 ta có thể rút ra được kết luận gì? GV hoàn thiện đáp án à tiểu kết. è Khi không có ánh sáng, cây đã thải ra nhiều khí cácbônic. + HS đọc thông tin < SGK tr.77. + Trả lời câu hỏi. + H/s thực hiện theo yêu cầu của giáo viên. + Quan sát hình 23.1, đọc thí nghiệm tìm hiểu về chuẩn bị, cách tiến hành, kết quả. à H/s thực hiện và nêu các bước tiến hành thí nghiệm thông qua dụng cụ có sẵn. + H/s quan sát kết quả thí nghiệm mà g/v đã thực hiện. Không khí trong hai chuông đều có khí cacbônic, vì trên mặt cốc nước vôi trong 2 chuông đều có lớp váng trắng đục. Lớp váng trắng trên mặt cốc nước vôi trong chuông A dày hơn vì trong chuông có nhiều khí cacbônic hơn. Cây đã thải ra nhiều khí cácbônic. IV/- Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: Về phía Giáo viên: Vận dụng tốt hơn phương pháp đặc trưng bộ môn vào giảng dạy và giúp được cho học sinh phát triển tư duy từ thực hành, thí nghiệm (trực quan cụ thể) à khái quát hóa các kiến thức cần nhớ và ghi nhận trong học tập, từ đó biết vận dụng vào giải thích các hiện tượng và ứng dụng trong thực tế cuộc sống. Về phía Học sinh: Hứng thú trong việc chuẩn bị các thí nghiệm và trong khi tham gia thực hiện thí nghiệm, các em nắm được các bước tiến hành, đối tượng thí nghiệm, trên cơ sở đó tìm hiểu mục đích thí nghiệm đồng thời dựa vào kết quả, suy nghĩ đến nội dung kiến thức cần thu nhận. Trong quá trình thực hiện đa số học sinh các lớp dạy dựa trên cơ sở quan sát và trực tiếp làm thí nghiệm, các em đều nắm được các bước tiến hành và biết rút ra kết luận từ thực tế. So sánh giữa các lớp nếu lớp các nhóm đều làm thí nghiệm, có sự so sánh giữa các nhóm thì học sinh không quên cách làm thí nghiệm cũng như ghi nhớ tốt, lớp không làm thí nghiệm mà chỉ quan sát thí nghiệm GV hay hình ảnh SGK thì khả năng ghi nhớ của các em kém hơn. – Kết quả đạt được: Chất lượng Giỏi Khá Trung bình Yếu – Kém Năm học 2009 – 2010 225/319 70,5% 69/319 21,6% 21/319 6,6% 5/319 1,3% Năm học 2010 – 2011 137/176 77,8% 34/176 19,3% 6/176 1,8% 2/176 1,1% Học kỳ I năm học 2011 – 2012 253/315 80,3% 41/315 13% 16/315 5,1% 5/315 1,6% PHẦN III : KẾT LUẬN I/- Những bài học kinh nghiệm: Qua quá trình giảng dạy, vận dụng đề tài “Một vài kinh nghiệm trong giảng dạy thí nghiệm chương trình sinh học 6”, bản thân rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau: Tâm lý học sinh cấp THCS, nhất là học sinh lớp 6 các em thay đổi môi trường mới, dù chững chạc hơn nhưng các em còn rất hiếu động, mặt khác việc học tập, ghi nhớ vẫn còn thiếu trình tự. Để các em nắm kiến thức được tốt, cần có các phương pháp giảng dạy phù hợp lứa tuổi và tâm sinh lý các em, cụ thể là thông qua trực quan trên cơ sở quan sát, thực hiện để thu nhận kiến thức. Trong quá trình thực hiện, GV dễ dàng vận dụng phương pháp dạy học mới vào giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học, kích thích học sinh tham gia tích cực trong giờ học, đồng thời biết cách nghiên cứu khoa học thông qua thực hiện thí nghiệm, rèn kỹ năng thí nghiệm thực hành. Mặt khác để giờ học có hiệu quả thì khâu chuẩn bị của giáo viên và học sinh là điều không thể xem nhẹ. Giáo viên cần có kế hoạch cụ thể cho việc chuẩn bị của học sinh, yêu cầu học sinh ghi nhận để thực hiện, thời gian cần thiết để thực hiện. Bản thân giáo viên cũng phải nghiêm túc trong việc làm thí nghiệm mẫu, nghiên cứu các phương cách biện pháp để lôi kéo thu hút các em hoạt động tích cực trong học tập, trong việc tìm tòi nghiên cứu tự nhiên. Trong giờ học phải làm sao cho học sinh chú ý, tích cực tìm hiểu nghiên cứu khoa học, ghi nhận, khen ngợi các học sinh tích cực trong hoạt động, phê bình học sinh chưa nghiêm túc và hướng các em vào hoạt động chung của lớp. Ghi điểm cho nhóm hoặc cá nhân tích cực và thực hiện tốt thí nghiệm có kết quả tốt hoặc kết quả có các tình huống cần khai thác. Ví dụ khi dạy bài “Những điều kiện cần cho hạt nảy mầm” khi đối chiếu giữa thí nghiệm của giáo viên – học sinh hoặc học sinh – học sinh, có những thí nghiệm kết quả không giống với kết quả giáo viên hoặc đa số nhóm thực hiện, điều đó tạo nên tình huống cần giải quyết và đặt ra câu hỏi cho học sinh suy nghĩ. Như thí nghiệm 2 tìm hiểu về ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự nảy mầm của hạt, có nhóm sau khi thực hiện theo hướng dẫn, kết quả tất cả các hạt đều nảy mầm và nảy mầm rất đẹp, vậy nguyên nhân do đâu à các em đã chưa tuân thủ nghiêm các yêu cầu đặt ra trong thí nghiệm à ảnh hưởng đến kết quả. Những thiếu sót đó giúp các em nhận ra cần cẩn thận trong tiến hành và thực hiện chính xác các yêu cầu mới thu được kết quả như mong muốn. Điều đó cũng cho thấy khi hướng dẫn học sinh thực hiện cần nhấn mạnh các yêu cầu cụ thể để thực hiện thí nghiệm tốt, có kết quả như mong muốn. II/- Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm: Dạy học Sinh học nhất là giảng dạy các thí nghiệm là một vấn đề tương đối khó, do điều kiện cơ sở vật chất, do ảnh hưởng của môi trường dẫn tới thí nghiệm đôi khi không đạt kết quả mong muốn, chính vì lẽ đó bản thân luôn cố gắng bằng tất cả khả năng có được để đầu tư, nghiên cứu, lựa chọn phương pháp dạy học hợp lý vào từng bài có thí nghiệm, từng hoạt động dạy học trong bài, giúp các em tự nguyện, tự giác và hứng thú học thật tốt môn Sinh học 6, tham gia tích cực trong giờ học, nắm chắc được mục đích, đối tượng nghiên cứu và kiến thức cần lĩnh hội qua tư duy thực nghiệm khoa học. Đồng thời dạy các thí nghiệm hay thực hành sinh học có thể dễ dàng vận dụng phương pháp dạy học mới thông qua việc chuẩn bị của học sinh, việc tham gia thực hiện thí nghiệm, thực hành và học tập tích cực trong giờ học, giúp phát triển tư duy thực nghiệm, đồng thời phát triển kỹ năng thực hành, thí nghiệm đáp ứng yêu cầu đổi mới quá trình dạy-học, học đi đôi với hành. Giúp giáo viên luôn chủ động, sáng tạo trong vai trò người hướng dẫn các em học tập. Giáo viên luôn có nhu cầu đòi hỏi phải cập nhật kiến thức, tự học, tự rèn, ứng dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp từng loại bài. Luôn học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và tận tâm trong hướng dẫn, giúp đỡ các em học sinh học tập. Giúp học sinh tự tin vào bản thân, tự mình tìm ra con đường đi tới kiến thức. Bồi dưỡng năng lực tự học, lòng yêu thích tự nhiên, môn học, vận dụng kiến thức vào thực tế đời sống. Giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. III/- Khả năng ứng dụng triển khai: Đề tài nghiên cứu cũng có thể được ứng dụng và triển khai trong chương trình sinh học 8, đối với những bài có thí nghiệm. Để hoàn thành đề tài, bản thân cũng chân thành cảm ơn ý kiến đóng góp chân tình của quí thầy, cô đồng nghiệp tổ Hóa Sinh trường THCS Thành Phố Bến Tre. Bến Tre, ngày 28 tháng 01 năm 2012 Người viết Ngô Thị Minh Hiền TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách giáo khoa Sinh học 6 – Nhà xuất bản giáo dục. 2. Sách giáo viên Sinh học 6 – Nhà xuất bản giáo dục. 3. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III Môn Sinh học (2004 – 2007) – Nhà xuất bản giáo dục. 4. Hướng dẫn số 24/HD-SGD&ĐT ngày 31 tháng 8 năm 2009 của Sở Giáo dục và Đào tạo Bến Tre về tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá SKKN 5. Dạy môn Sinh học 6 theo chương trình THCS mới. 6. Sách thiết kế bài giảng sinh học 6. 7. Sách thực hành sinh học 6. MỤC LỤC Trang Phần mở đầu I / Bối cảnh của đề tài 2 II/ Lí do chọn đề tài 2 III/ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2 IV/ Mục đích nghiên cứu 3 V/ Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 3 Phần nội dung I/ Cơ sở lý luận 3 II/ Thực trạng của vấn đề 3 III/ Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề 4 IV/ Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 8 Phần kết luận I/ Những bài học kinh nghiệm 9 II/ Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 10 III/ Khả năng ứng dụng triển khai 11

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8 / 2023

vị công tác : Trường cấp II - III Tân Quang Năm học 2008- 2009 lời nói đầu Ngành Giaó dục đã và đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực tự giác của học sinh. Trong phương pháp dạy học mới này, học sinh là người chủ động giành lấy kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đặc biệt năm học 2006-2007 toàn ngành đang tích cực hưởng ứng cuộc vận động hai không " Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục". Vì vậy việc trang bị hệ thống kiến thức cho học sinh là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Với mục tiêu phát triển toàn diện, mỗi bộ môn có một vị trí và vai trò nhất định, môn Sinh học 8 cũng nằm trong hệ thống đó và nó góp phần thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Sinh học. Để thực hiện được mục tiêu đó phải kể đén vai trò quan trọng của các tiết thực hành. Trong khi đó các tiết thực hành thường bị xem nhẹ, ít được coi trọng chưa phát huy được vai trò của nó. Vì vậy tôi tham gia nghiên cứu đề tài: " Phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các bài thực hành trong chương trình Sinh học 8" Để tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng khi giảng dạy bài thực hành. Do thời gian nghiên cứu mở rộng kiến thức của đề tài còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo và các đồng nghiệp! Xin chân thành cảm ơn! I- Lí do chọn đề tài: 1- Cơ sở lý luận: Bộ môn Sinh học nói chung và Sinh học lóp 8 nói riêng là bộ môn khoa học thực nghiệm nằm trong hệ thống khoa học tự nhiên cần có sự kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp, giữa lý thuyết và thực hành. Qua quá trình giảng dạy Sinh học 8 nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết khoa học về đặc điểm cấu tạo, hoạt động của các cơ quan, hệ cơ quan và trong mọi hoạt động sống của con người gíup cho con người sinh tồn và phát triển. Trên cơ sở đó giáo dục cho học sinh biết các biệt pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, nâng cao năng suất, hiệu quả trong học tập góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo những con người lao động linh hoạt năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đồng thời cũng rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu bộ môn cho học sinh và cũng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục THCS. Để thực hiện mục tiêu trên, việc dạy Sinh học 8 cần phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ trang bị các kiến thức, phát triển năng lực nhận thức, rèn kỹ năng và nhiệm vụ giáo dục tư tưởng cho học sinh như nhiệm vụ giảng dạy Sinh học 8 đã nêu ở trên. Để có được kết quả đó không thể không kể đến vai trò to lớn của các tiết thực hành ( tuy rằng chúng chiếm thời lượng rất nhỏ 7/70 tiết) Qua các tiết thực hành gíup học sinh rèn luyện các năng lực sau: Khai thác kiến thức từ quan sát và từ mẫu vật, hình ảnh. Rèn kỹ năng bộ môn, đặc biệt là các kỹ năng áp dụng trong thực tế: kỹ năng sơ cứu băng bó gãy xương, cầm máu và hô hấp nhân tạo. Rèn luyện kỹ năng làm tường trình, thu hoạch từ đó giúp học sinh bổ sung kiến thức và kiểm nghiệm kiến thức qua thực tế. 2- Cơ sở thực tiễn: Các bài dạy về cấu tạo mô, tế bào, hoạt động của enzim trong nước bọt, chức năng của tuỷ sống.. sẽ không sâu sắc học sinh không được củng cố và kiểm nghiệm kiến thức nếu như không có các tiết thực hành hỗ trợ và các tiết thực hành cũng không được thực hiện thành công nếu không có lý thuyết " lý thuyết không có thực hành là lý thuyết suông, thực hành không có lý thuyết là thực hành mù quáng" Các kiến thức sẽ đầy đủ hơn, sâu sắc hơn khi học sinh được tự tìm tòi, kiểm nghiệm qua thực hành "trăm nghe không bằng một thấy" các thí nghiệm, các buổi quan sát thiên nhiên sẽ gây hứng thú học tập Sinh học cho học sinh, phát huy tính tích cực tư duy, chủ động giúp học sinh tìm ra kiến thức. Để nâng cao chất lượng giảng dạy các bài thực hành trong chương trình Sinh học 8 quả cũng khó. Bởi vì có những bài thực hành thì rất thực tế như các bài về Sơ cứu người, nhưng có những bài rất khó và vượt xa khả năng của học sinh như bài phân tích một khẩu phần ăn và lập khẩu phần ăn cân đối và nhiều yếu tố khác tác động tới hiệu quả các bài thực hành sẽ không cao. Thông qua nghiên cứu đề tài nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy của bản thân đồng thời góp thêm một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy Sinh học 8 nói riêng và bộ môn Sinh học THCS nói chung. II/ Mục đích nghiên cứu. Qua 7 bài thực hành trong chương trình Sinh học 8 sẽ xây dựng phương pháp tổ chức một tiết dạy thực hành có hiệu quả. Định hướng cho việc nghiên cứu để có thể phát triển một số dụng cụ thực hành, cải tiến một số đồ dùng phục vụ cho tiết thực hành có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, tình hình cụ thể trong chương trình Sinh học và ở địa phương với điều kiện thiếu thốn đồ dùng thực hành cũng như đồ dùng dạy học. Mặt khác, cần cho học sinh tham quan thực tế tại các cơ sở y tế của địa phương, các hình ảnh mẫu và làm mẫu của giáo viên giúp học sinh định hướng hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thúc đẩy quá trình phát triển tư duy tích cực của học sinh tạo được hứng thú, động cơ học tập và yêu thích bộ môn. Đề tài không chỉ áp dụng với lớp 8 mà còn áp dụng với cả bộ môn Sinh học ở cấp THCS và góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong giảng dạy môn Sinh học nói riêng và nâng cao chất lượng ở cấp THCS. III- Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 1- Đối tượng nghiên cứu. Tất cả các yếu tố trong một tiết thực hành là đối tượng nghiên cứu của đề tài: + Sự nghiên cứu, chuẩn bị của giáo viên. + Sự chuẩn bị đồ dùng của học sinh + Sự hướng dẫn thực hành của giáo viên. + Nội dung của bài thực hành. + Phương pháp tổ chức hoạt động thực hành của giáo viên. + Hoạt động thực hành của học sinh. + Kết quả của tiết thực hành (được thể hiện chủ yếu trên sản phẩm của hoạt động thực hành) 2- Nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài có chất lượng và có tính khả thi, gắn liền với yêu cầu thực tế, nhất thiết phải thực hiện các yêu cầu sau: Chọn đối tượng để nghiên cứu. Tìm hiểu sự chuẩn bị của giáo viên trước buổi thực hành. Tìm hiểu các tiết thực hành về các phương diện: + Sự chuẩn bị đồ dùng thực hành của học sinh. + Sự hướng dẫn thực hành của giáo viên. + Nội dung của buổi thực hành. + Theo dõi phương pháp tổ chức hoạt động thực hành của giáo viên và hoạt động của học sinh. + Tìm hiểu sản phẩm như: kết quả hoạt động thí nghiệm, các hình vẽ (nếu có) để học sinh điền, các sản phẩm thực hành(cố định xương, cầm máu) bản thu hoạch của học sinh. Thiết kế một bài thực hành trong Sinh học 8. IV. Phương pháp nghiên cứu Điều tra cơ bản Thực trạng công tác giảng dạy các bài thực hành ở nhà trường Kết quả tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của học sinh qua các bài thực hành. 2. Phân tích tổng hợp gắn với lý luận thực tiễn. Nghiên cứu kỹ các bài thực hành, xác định rõ mục tiêu: về kiến thức, kỹ năng và thái độ tư tưởng. Vận dụng linh hoạt phương pháp sư phạm, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy môn Sinh học được đề cập trong các bài thực hành. Từ đó xây dựng phương pháp dạy học mang tính đặc thù đối với các tiết dạy bài thực hành Sinh học 8. Thiết kế những hoạt động dậy học tích cực nhằm đạt được những mục tiêu của bài thực hành trên cơ sở lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc trưng của bài thực hành, nội dung kiến thức và trình độ của học sinh. Kiểm nghiệm. Vận dụng phương pháp tổ chức các bài thực hành Sinh học 8 và thực tiễn giảng dạy, tiến hành kiểm tra kết quả giảng dạy so sánh các mặt: + Việc nắm nội dung kiến thức của học sinh được thể hiện bằng các sản phẩm của hoạt động thực hành. + Sự phát triển tư duy khoa học, tư duy khái quát hoá, trừu tượng hoá. + Khả năng sáng tạo, vận dụng thực tế của học sinh. + Rèn luyện các kỹ năng bộ môn, đặc biệt là kỹ năng cố định xương, cầm máu, hô hấp nhân tạo, băng bó vết thương và làm thí nghiệm chứng minh vai trò của tuỷ sống. Bằng các hình thức: + Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. + Quan sát quá trình hoạt động thực hành của học sinh. + Vấn đáp tìm tòi nắm thực tế. + Nghiên cứu sản phẩm của hoạt động thực hành như: cố định xương, băng bó vết thương, cầm máu và hoàn thành bảng thu hoạch chuẩn bị sẵn. + Sử dụng phiếu học tập đã được chuẩn bị sẵn. 4.Tổng kết rút kinh nghiệm Từ những kết quả đạt được, từ những vấn đề còn thiếu sót thể hiện trên sản phẩm của hoạt động thực hành, tiến hành phân tích đánh giá cải tiến, bổ sung phương pháp phát huy các thế mạnh và khắc phục tồn tại để hoàn thiện phương pháp giảng dạy các bài thực hành Sinh học 8 tiến tới đạt hiệu quả chất lượng cao nhất. V: Nội dung nghiên cứu. A. Điều tra cơ bản 1. Sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh Đối với bài thực hành nói riêng thì sự chuẩn bị là rất quan trọng ảnh hưởng tới sự thành công của tiết dạy. Trên thực tế thì sự chuẩn bị của giáo viên còn nằm trong khuôn mẫu có sẵn ở SGK còn học sinh đương nhiên phụ thuộc vào giáo viên. Có những tiết thực hành đáng lẽ có thể có kết quả rất tốt song do sự chuẩn bị không tốt của học sinh dẫn đến kết quả không cao. 2. Phương pháp tổ chức. Với các bài thực hành, thường yêu cầu học sinh được thực hành hoàn thiện một số kỹ năng: băng bó vết thương, phân tích khẩu phần ăn cho trước... Nhưng thực tế thì học sinh ít được thực hành mà chủ yếu quan sát giáo viên làm thực hành, những sản phẩm sau khi giáo viên đã băng bó, cố định xương, làm thí nghiệm, tính toán sẵn. Trong khi đó học sinh có thể làm được hơn thế rất nhiều các em có thể tham gia trực tiếp băng bó vết thương, làm thí nghiệm về enzim, tính toán các thành phần của một khẩu phần ăn cho trước, làm thí nghiệm chứng minh vai trò của tuỷ sống. Việc tổng kết đánh giá công việc của học sinh hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng khi tự mình làm việc và học sinh cần được đánh giá nhìn nhận đầy đủ khách quan tạo hứng thú trong quá trình tiếp thu kiến thức. Vậy mà hiện nay các sản phẩm hoạt động thực hành của học sinh ít được kiểm tra đánh giá, phần nhiều vì lý do thời gian. Đa số các giáo viên chỉ quan tâm làm thế nào để truyền tải hết kiến thức mà không để ý đến việc học sinh tiếp thu như thế nào, lĩnh hội được những gì và đã làm được những gì qua tiếp thu kiến thức lý thuyết. B. Giải pháp khắc phục. 1. Sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh * Đối với giáo viên: - Cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương tiện và nội dung giáo viên phải xây dựng kế hoạch từ đầu năm về phương tiện thực hành ở mỗi bài, để nắm thế chủ động trong tiết thực hành. Trong thực hành cần có những dụng cụ, thiết bị, vật mẫu có sẵn hoặc tìm tòi trong thiên nhiên đặc biệt là bộ môn Sinh học. * Đối với học sinh: - Cần nêu cao tinh thần ý thức, thái độ trong giờ thực hành. Giáo dục cho các em lòng yêu thiên nhiên từ đó biết cách bảo vệ và giữ gìn sức khoẻ cho chính mình, sự chuẩn bị các dụng cụ cần thiết( que nẹp, bông băng, ếch đồng để chứng minh vai trò của tuỷ sống) sẽ tạo hứng thú học tập. Do vậy giáo viên cần quan tâm sát sao đến sự chuẩn bị của học sinh, có như vậy hiệu quả của việc chuẩn bị mới cao, góp phần thực hiện thành công giờ thực hành sinh học lớp 8. 2. Phương pháp tổ chức: Trong giờ thực hành học sinh phải thực hiện những công việc cơ bản, giáo viên chỉ hướng dẫn và làm mẫu, học sinh có được trực tiếp làm việc thì mới đảm bảo mục tiêu là học sinh được tự mình tìm tòi, phát hiện kiến thức trên sản phẩm thực hành, trên cơ sở đó giúp học sinh phát huy tính tích cực tư duy , tự lực, chủ động giúp học sinh có thể tìm ra kiến thức từ đó hình thành các kỹ năng kỹ xảo, thúc đẩy tư duy tích cực cho học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh yêu thích bộ môn. 3.Tổng kết đánh giá. Tổng kết đánh giá là khâu quan trọng trong phương pháp dạy học. Trên cơ sở đó cần kết hợp sự đánh giá của giáo viên với sự tự đánh giá của học sinh, qua đó giáo viên thấy được kết quả học tập của các em và mức độ truyền đạt kiến thức của mình từ đó rút ra được kinh nghiệm nhằm điều chỉnh phương pháp dạy học của mình sao cho có hiệu quả và thích hợp với đối tượng mình giảng dạy. -Giáo viên có thể đánh giá dưới nhiều hình thức khác nhau: mức độ hoàn thành bài thực hành, ý thức thực hành của học sinh và kết quả bài thu hoạch. Phần đánh giá cần tỉ mỉ cụ thể cho từng học sinh để từ đó các em tìm ra ưu điểm và nhược điểm, có biện pháp khắc phục các nhược điểm đó nhằm nâng cao chất lượng các bài thực hành Sinh học 8 nói riêng và bộ môn Sinh học. C. Định hướng phương pháp chung dạy các bài thực hành SH 8 * Về phương pháp giáo viên tổ chức thực hiện: - Chuẩn bị đồ dùng thực hành cần thíêt. - Căn cứ vào các bước thực hành của SGK phát triển theo định hướng của GV. - Trong quá trình thực hành được thể hiện ở các nhóm nhưng thu hoạch lại được thể hiện ở các cá nhân. * Về hoạt động của học sinh: - Rèn luyện các kỹ năng bộ môn đặc biệt là các kỹ năng cố định xương, làm thí nghiệm, cầm máu.. - Tìm ra kiến thức kiểm nghiệm kiến thức qua thực hành, quan sát sản phẩm thực hành. - Có kỹ năng hoạt động nhóm, làm tường trình, viết thu hoạch. * Về kết quả: Được thể hiện trên sản phẩm của hoạt động thực hành. D. Một số thí dụ minh hoạ: Thiết kế dạy một bài thực hành Sinh học 8: Bài 26: Thực hành : tìm hiểu hoạt động của enzim trong nước bọt I-Mục tiêu: - Biết đặt các thí nghiệm để tìm hiểu những điều kiện bảo đảm cho enzim hoạt động ( trong thí nghiệm này enzim trong nước bọt chỉ tác động với tinh bột chín trong điều kiện áp suất 1 at, t0 = 370C, môi trường kiềm nhẹ) - Biết rút ra kết luận từ kết quả so sánh giữa thí nghiệm với đối chứng. - Rèn luyện tính bền bỉ, khoa học. - Giáo dục vệ sinh ăn uống. II-Chuẩn bị: 1. Dụng cụ thực hành :12 ống nghiệm nhỏ, giá để ống nghiệm, đèn cồn và giá đun, ống đong chia độ, cuộn giấy đo pH, phễu nhỏ và bông lọc, bình thuỷ tinh, đũa thuỷ tinh, nhiệt kế, cặp ống nghiệm, mayso đun nước. 2. Vật liệu : - Nước bọt hoà loãng( 25%) lọc qua bông lọc. - Hồ tinh bột 1% - Hoá chất : dd HCl 2%, dd Iốt 1%, thuốc thử Strôme III.Nội dung và cách tiến hành: Bước 1: Hướng dẫn thực hành: * HĐ1: Tổ chức thực hành - GV phân chia các nhóm thực hành. - GV kiểm tra các dụng cụ thực hành của các nhóm. - GV hướng dẫn cách pha nước bọt( 6ml nước bọt + 18 ml nước cất) * HĐ2: Hướng dẫn học sinh cách làm thí nghiệm: - Lấy 4 ống nghiệm đặt tên là A, B, C, D với dd trong các ống như sau: + ống A: 2 ml hồ tinh bột + 2ml nước lã. + ống B: 2 ml hồ tinh bột + 2ml nước bọt. + ống C: 2 ml hồ tinh bột + 2 ml nước bọt đã đun sôi. + ống D: 2 ml hồ tinh bột + 2 ml nước bọt + vài giọt dd HCl 2%. - Đặt 4 ống nghiệm trong chậu nước nóng 370C trong thời gian 15 phút (hình 26.1). * HĐ3: Hướng dẫn học sinh quan sát: - GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng xảy ra và ghi lại kết quả. - GV hướng dẫn HS giải thích các hiện tượng. * HĐ 4: Kiểm tra kết quả thí nghiệm: - GV yêu cầu HS so sánh dd trong ống nghiệm với ban đầu. - GV hướng dẫn HS chia dd trong mỗi ống nghiệm ra làm 2 phần đựng trong 2 ống nghiệm mới: + ống A thành: A1 và A2 + ống B thành: B1 và B2 + ống C thành: C1 và C2 + ống D thành: D1 và D2 - Tiếp tục hướng dẫn HS cách kiểm tra như sau: + ống A1 + ống B1 Thêm vào mỗi ống vài giọt dd Iốt 1% + ống C1 + ống D1 + ống A2 + ống B2 Thêm vào mỗi ống vài giọt dd Strôme. + ống C2 Đun sôi mỗi ống trên ngọn lửa đèn cồn. + ống D2 Bước 2: Hoạt động thực hành: * HĐ1: HS thực hiện các thao tác cho dd vào các ống A, B, C, D đúng tỉ lệ như hướng dẫn. HS thực hành theo các nhóm tuỳ theo số lượng HS HS làm thí nghiệm quan sát hiện tượng xảy ra trong khi để 15 phút( H26) HS tiến hành kiểm tra kết quả thí nghiệm và ghi lại vào bảng 26.2SGK HĐ 2: Kiểm tra kết quả làm thí nghiệm: GV kiểm tra kết quả bảng 26.1, 26.2 HS đã thực hiện. GV đưa kết quả chuẩn Bảng 26.1, 26.2 và giải thích các hiện tượng. - Tinh bột + Iốt màu xanh - Đường + thuốc thử Strôme mầu đỏ nâu GV nhận xét kết quả các nhóm, chỉ ra chỗ sai sót và nguyên nhân. * HĐ 3 : Tổng kết: - Gv nhận xét cách làm thí nghiệm của HS. - Gv cho biết những sai sót thường xảy ra khi làm thí nghiệm và chứng minh vai trò của enzim trong nước bọt. - Gv nhận xét, cho điểm vài nhóm làm tốt và nhắc nhở các nhóm hoạt động có kết quả chưa cao. - Gv cho HS thu dọn vệ sinh. IV. Củng cố: Gv đánh giá nhận xét toàn bộ quá trình thực hành. Hs trình bày nhấn mạnh các nội dung đã quan sát được. Gv hướng dẫn HS viết thu hoạch theo yêu cầu SGK. V. Dặn dò: HS chuẩn bị đồ dùng, xem trước bài tiêu hoá ở dạ dày. Bảng 26.1: Các ống nghiệm Hiện tượng ( độ trong) Giải thích A Không đổi Nước lã không có enzim biến đổi tinh bột. B Tăng lên Nước bọt có enzim làm biến đổi tinh bột. C Không đổi Nước bọt đun sôi làm mất hoạt tính của enzim biến đổi tinh bột D Không đổi Do dd HCl đã hạ thấp pH nên enzim trong nước bọt không hoạt động, không làm biến đổi tinh bột Bảng 26.2: Các ống nghiệm Hiện tượng ( màu sắc) Giải thich A1 Có màu xanh Nước lã không có enzim biến đổi tinh bột thành đường A2 Không có mầu đỏ nâu B1 Không có mầu xanh Nước bọt có enzim làm biến đổi tinh bột thành đường. B2 Có mầu đỏ nâu C1 Có màu xanh Enzim trong nước bọt bị đun sôi không còn khả năng biến đổi tinh bột thành đường C2 Không có mầu đỏ nâu D1 Có màu xanh Enzim trong nước không hoạt động ở pH axit nên tinh không bị biến đổi thành đường D2 Không có mầu đỏ nâu VI . kết luận và ý kiến đề xuất: 1. Kết luận: Qua nghiên cứu ta thấy được vai trò to lớn của các tiết thực hành góp phần hệ thống hoá kiến thức, hình thành kiếnthức ở học sinh một cách logic và sâu sắc.Tuy rằng nó chiếm thời lượng nhỏ ( 7/70 tiết) nhưng rõ ràng để giảng dạy có hiệu quả thì lýluận luôn luôn phải gắn liền với thực tiễn,lý thuyết phải gắn liền với thực hành đặc biệt là bộ môn Sinh học. Để nâng cao chất lượng các tiết thực hành ở chương trình Sinh học 8 Giáo viên cần phải chuẩn bị chu đáo cho các tiết thực hành, kết hợp linh hoạt các phương pháp thực hành và yêu cầu HS có thái độ nghiêm túc trong quá trình chuẩn bị đồ dùng và thực hành. Từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về môn Sinh học, yêu thích bộ môn và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. 2. ý kiến đề xuất: * Đối với các cấp quản lý giáo dục : - Cung cấp bổ sung các đồ dùng thực hành. - Kiểm tra thường xuyên hơn việc sử dụng thiết bị dạy học ở trên lớp của mỗi giáo viên. - Tổ chức bồi dưỡng về sử dụng các thiết bị dạy học cho giáo viên. * Đối với các giáo viên dạy bộ môn: - Thường xuyên trau dồi kiến thức, tự rút kinh nghiệm qua các bài thực hành. - Cần có kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy các bài thực hành theo PPCT và căn cứ tình hình thực tế của nhà trường và địa phương. - Thường xuyên sử dụng, cải tiến đồ dùng dạy học và quan tâm đúng mức tới các tiết thực hành. - Nên thực hiện đầy đủ những yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình và SGK mới. Tân Quang, ngày 10 tháng 02 năm 2009 Người viết Lã văn châu ý kiến nhận xét của trường Nội dung trang Lời nói đầu 1 I. Lý do chọn đề tài 2 II. Mục đích nghiên cứu 4 III. Đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu 5 IV. Phương pháp nghiên cứu 6 V. Nội dung nghiên cứu 8 A. Điều tra cơ bản 8 B. Giải pháp khắc phục 9 C. Định hướng phương pháp chung dạy các bài thực hành SH8 D. Một số thí dụ minh hoạ 11 VI. Kết luận và ý kiến đề xuất 15 ý kiến nhận xét của nhà trường và phòng GD 17 18

Một Vài Kinh Nghiệm Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Môn Mĩ Thuật Bậc Tiểu Học / 2023

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO VẠN NINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VẠN PHÚ 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT VÀI KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN MĨ THUẬT BẬC TIỂU HỌC Tên tác giả : Nguyễn Thùy Vinh Giáo viên Tổng phụ trách Năm học : 2013-2014 Đặt vấn đề Lí do chọn đề tài Một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng, nhớ sự vật lâu hơn. Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm bàn bạc thống nhất. Cụ thể biện pháp nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá quá trình dạy học, tăng cường khả năng tư duy của học sinh ở quá trình lĩnh hội tri thức, phát huy tính độc lập, tính tích cực của học sinh được làm việc dưới nhiều hình thức và có được hứng thú trong giờ học. Một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng, nhớ sự vật lâu hơn. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan và mạnh dạn xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Một vài kinh nghiệm sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn Mĩ thuật Bậc tiểu học II . Đặc điểm tình hình 1. Thuận lợi - khó khăn 1.1 . Thuận lợi . Trường tiểu học Vạn Phú 2 có cơ sở vật chất; đồ dùng dạy học cơ bản đầy đủ cho việc dạy và học . Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện giúp đỡ về đồ dùng dạy học , đồng thời phân bố thời gian giảng dạy hợp lý . 1.2 . Khó khăn . Quan điểm của một số phụ huynh học sinh trong trường chưa có cái nhìn tích cực về môn Mĩ thuật nên dẫn đến việc một số học sinh chưa có đầy đủ đồ dùng . 2 . Nguyên nhân . Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật tại trường Tiểu học Vạn Phú 2, tôi thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh hay một bài tập thực hành. Bên cạnh đó còn một số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em còn chán nản không thích học vẽ. Tất cả những vấn đề trên rất đáng lo ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã tiến hành điều tra ở một số lớp xem có bao nhiêu em thích học vẽ và không thích học vẽ để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục. Chúng ta đã biết việc sử dụng đồ dùng trực quan tốt ở tiết giảng sẽ phát huy được sự tham gia của nhiều giác quan. Hơn nữa, lứa tuổi học sinh tiểu học lại là lứa tuổi tư duy còn đang ở độ thấp (tư duy cụ thể), cho nên khi sử dụng đồ dùng trực quan thì đồ dùng phải sinh động, phải cụ thể để học sinh có được khả năng tự giác tư duy trừu tượng qua tay sờ, mắt thấy, tai nghe và có được hứng thú học tập, hiểu vấn đề nhanh, nhớ đồ dùng trực quan lâu trong khi vận dụng làm bài thực hành. Chính vì thế khi nói đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong môn Mĩ thuật là ta phải nghĩ ngay đến một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vấn đề đưa lên hàng đầu trong các phương pháp giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học. Như chúng ta đã biết, một tiết dạy Mĩ thuật có đồ dùng trực quan được khai thác triệt để sẽ bồi dưỡng và phát triển cho các em lòng ham thích, say mê học tập và đáp ứng yêu cầu, mục đích của bài. Khi các em biết khai thác đồ dùng trực quan độc lập các em sẽ nắm được các yếu tố tạo nên vẻ đẹp trong môn Mĩ thuật, ngoài ra còn phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo tốt hơn. Cho nên việc đổi mới phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là một nhu cầu tất yếu của quá trình dạy học và cũng là để hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên trên bục giảng. Hiện nay ở các trường tiểu học, nhìn chung đã có đủ giáo viên dạy chuyên môn Mĩ thuật. Do vậy trong mỗi bài giảng việc nghiên cứu áp dụng sử dụng đồ dùng trực quan luôn là vấn đề mà các giáo viên chuyên Mĩ thuật quan tâm để cho chất lượng của môn mĩ thuật ngày một được nâng cao. Qua nhiều năm thực tế giảng dạy, cùng với nghiên cứu các tài liệu nói về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan; Tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy môn mĩ thuật nhìn mặt bằng chung là chưa cao. Đặc biệt là vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan còn chưa nhiều hoặc có sử dụng đồ dùng trực quan nhưng học sinh lại không khai thác kiến thức cơ bản từ đồ dùng trực quan mà vẫn thụ động quan sát đồ dùng. Tại một số lớp các trường lân cận tôi có dịp được tiếp xúc với các em học sinh và được biết các em rất thích học có đồ dùng trực quan. Nhưng qua thí điểm dạy cụ thể bằng các phương pháp sử dụng đồ dùng khác nhau tôi đã nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trong một tiết dạy mà giáo viên xử lý dữ kiện của bài soạn với đồ dùng không đúng thì đồ dùng đó cũng vô tác dụng. Hay sử dụng đồ dùng để minh hoạ cũng vậy, nếu không để học sinh khai thác một cách tự nhiên thì cũng không có hiệu quả. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan. Dạy Mĩ thuật nói chung góp phần mở rộng môi trường mĩ thuật cho xã hội để mọi người đều hướng tới cái đẹp và thưởng thức cái đẹp từ đó giúp cuộc sống của con người phong phú hơn, đẹp hơn. III. Nhiệm vụ nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mĩ thuật ở trường Tiểu học. 2. Đối tượng nghiên cứu. Học sinh tiểu học _ Trường tiểu học Vạn Phú 2 B. Những vấn đề cần giải quyết 1. Xác định phân môn trong chương trình. Chương trình mĩ thuật bậc tiểu học bao gồm : - Vẽ theo mẫu - Vẽ tranh theo đề tài - Vẽ trang trí - Tập nặn tạo dáng - Thường thức mĩ thuật 2. Thực trạng tình hình học tập của học sinh Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học còn nhỏ, sự tập trung chưa cao, nhận thức của các em mới là làm quen với những kiến thức ban đầu, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực hành còn yếu chưa chú ý đến vai trò của các bước thực hành khi vẽ tranh. Giờ học vẽ còn trầm, học sinh vẽ bài uể oải, chán nản, tiết học đạt hiệu quả không cao nhiều học sinh không hoàn thành bài (kêu là khó, không biết vẽ). Đó là một số nguyên nhân dẫn đến tiết dạy chưa thành công. muốn khắc phục được điều đó, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ chương trình để có kế hoạch hướng dẫn cho học sinh. Không hướng dẫn chung chung với tất cả học sinh, cần có ý định trong từng đối tượng học sinh. Tổ chức tiết dạy sinh động, học sinh hứng thú làm bài đạt hiệu quả. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan. 3. Phương pháp thực hiện Theo mục đích, yêu cầu mỗi bài giảng thì phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan luôn được vận dụng trong việc giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học vì nó phù hợp với đặc điểm của môn học và phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh. Phương pháp trực quan đối với môn Mĩ thuật có những yêu cầu cụ thể như: Yêu cầu về chuẩn bị đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực quan. Vậy khi nói đến việc chuẩn bị đồ dùng trực quan ta phải nghĩ đến nhiệm vụ của môn Mĩ thuật, ngoài việc cung cấp những tri thức bộ môn và rèn kỹ năng nó còn nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Do đó đồ dùng giảng dạy đưa ra cho học sinh học tập ngoài yêu cầu là đối tượng cho học sinh quan sát, phù hợp với nội dung bài giảng còn có yêu cầu là phải đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh, tạo nên không khí nghệ thuật trong giờ học. Làm cho các em học sinh yêu thích vật mẫu bởi vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc của mẫu, làm phấn chấn tinh thần học tập của các em. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Vì thế đồ dùng học tập môn Mĩ thuật không thể tuỳ tiện phải cần có sự chuẩn bị chu đáo trước theo yêu cầu của bài giảng. Mẫu vẽ to rõ ràng để học sinh nhìn rõ màu sắc, đường nét phải tươi vui, sáng sủa. Khi đồ dùng trực quan đã được chuẩn bị đầy đủ, thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi hình thức mĩ thuật mà có những yêu cầu về trình bày trực quan, để làm sao phát huy được khả năng tư duy khai thác kiến thức triệt để ở mỗi học sinh. Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan mỗi giáo viên vẫn còn sự hạn chế khác nhau. Mà cụ thể được thể hiện ở chất lượng bài tập của các em chưa cao. Khả năng tư duy hiểu bài, nhớ bài thông qua đồ dùng trực quan là rất thấp. Thậm chí có em chỉ quan sát đồ dùng trực quan như một vật không tác dụng, các em hoàn toàn không nắm được, không thâu tóm được nội dung chính của bài qua đồ dùng. Để khắc phục tình trạng này tôi đưa ra một số vấn đề từ thực tế cần giải quyết, nhằm mục đích giúp giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả để cho các em học sinh biết tự khai thác nội dung bài giảng từ trực quan. Nói tóm lại, khi sử dụng đồ dùng trực quan mà đồ dùng trực quan không đủ với yêu cầu bài giảng hay không đúng với mục đích bài giảng hoặc đồ dùng sử dụng không phù hợp với trình tự giảng, thời gian sử dụng ngắn quá, nhiều đồ dùng quá trong một tiết dạy đều không đem lại không khí nghệ thuật trong giờ học mà còn có tác dụng tiêu cực đến khả năng quan sát, phân tích đồ dùng của học sinh. 4. Vấn đề cần giải quyết Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ giảng Mĩ thuật là việc làm ban đầu, việc làm không thể thiếu đối với người giáo viên chuyên mĩ thuật khi đứng trên bục giảng. Nó là đặc thù của bộ môn vì thế giáo viên cần phải hết sức quan tâm chú trọng đến sự chuẩn bị đồ dùng trước giờ lên lớp sao cho thật chu đáo, thật đầy đủ và sát với yêu cầu, mục đích bài soạn. Ngoài ra, đồ dùng được chuẩn bị phải có thẩm mĩ. Từ những vật tĩnh, những vật vô tri, vô giác giáo viên phải thổi vào đó cái hồn của sự vật và phải là người truyền cái hồn của sự vật đến từng học sinh. Có như vậy thì đồ dùng trực quan khi được đưa ra mới phát huy tác dụng và có sức thuyết phục đối với học sinh. Giáo viên phải tạo cho lớp học một không khí nghệ thuật bằng kiến thức có ở đồ dùng trực quan để học sinh thực hành tốt. 5 - Phương pháp tiến hành 5.1. Biện pháp tiến hành Bước 1: Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, phải có giáo án chi tiết trước khi lên lớp, phải tìm phương pháp truyền đạt nhanh nhất, ngắn nhất từ trực quan. Bởi đồ dùng trực quan nó phù hợp với đặc điểm môn học, phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh (tri giác bằng trực quan cụ thể) Bước 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp với các tiến trình giảng trong mục đích yêu cầu bài soạn. Đồ dùng gồm mẫu vẽ như đồ vật, dụng cụ sinh hoạt, hoa quả, hình khối...Tranh, ảnh như các phiên bản tranh của họa sĩ, minh hoạ các bước thực hiện bài vẽ,. Tất cả phải đáp ứng yêu cầu thẩm mĩ, đúng trọng tâm. Bước 3: Sử dụng trực quan để có hiệu quả thì khi sử dụng đồ dùng trực quan trong một tiết học vẽ giáo viên cần lấy mẫu , tranh ảnh làm trung tâm, lấy mẫu, tranh ảnh thay tiếng giảng giải, thuyết trình của cô. Cô chỉ gợi mở để học sinh tự tư duy, khám phá, khai thác kiến thức từ mẫu. Có như vậy phương pháp trực quan mới được khai thác triệt để, kết quả bài học mới đạt chất lượng cao. Giờ học có không khí nghệ thuật sôi nổi hơn. Qua đó ta thấy phương pháp trực quan sử dụng ở phần quan sát, nhận xét sẽ phát huy được tác dụng tốt, học sinh hiểu bài một cách dễ dàng, nhanh, độc lập và hiểu sâu Giáo viên thì làm việc ít, không phải vất vả mà vẫn gây được hứng thú học tập ở các em. 5.2. Kết luận sau khi tiến hành: - Để giúp học sinh làm tốt một bài vẽ trước tiên giáo viên phải trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản của bài học như hình mảng, màu sắc, bố cục, đường nét ... - Nắm chắc các phân môn trong môn mĩ thuật về cách quan sát, cách vẽ cũng như cách thực hiện. - Đối với giáo viên phải chuẩn bị tốt về giáo án, đồ dùng trực quan. - Khi sử dụng trực quan phải có ngôn ngữ giảng giải, thuyết trình phù hợp với đồ dùng trực quan. - Đồ dùng sử dụng không nên dễ dãi, không có chọn lọc hoặc nhiều quá làm cho đảo lộn nhận thức của học sinh. - Ví dụ: Bài 4. Vẽ theo mẫu: Khối hộp và khối cầu - Mẫu có dạng hình trụ và hình cầu Giáo viên cần sử dụng vật thật ( trực quan) có thể sử dụng kết hợp nhiều PPDH trong bài học như phương pháp quan sát, trực quan, giảng giải- minh hoạ, thực hành Giáo viên có thể tổ chức cho học làm việc theo nhóm,các nhóm tự chọn và bày mẫu (mẫu đã được chuẩn bị trước). Sau khi các nhóm bày mẫu xong, giáo viên phân tích cái được và chưa được cần điều chỉnh lại cho đẹp. Qua đó học sinh hiểu được để có mẫu như thế nào? Có mẫu đẹp chưa mà cần phải đặt như thế nào để có bố cục đẹp? Hình a hình b Hình c hình d Hình a. bố cục loãng Hình b.bố cục thu hẹp Hình c. bố cục không thuận mắt Hình d. bố cục đẹp, thuận mắt. Sau khi đã bày mẫu, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh quan sát nhận ra đặc điểm, hình dáng, màu sắc và cấu trúc hình thể của từng vật mẫu và so sánh sự khác nhau giữa các vật mẫu về hình dáng, màu sắc, tỉ lệ ( quan sát nhóm mẫu mà học sinh sẽ thực hiện bài vẽ ) + Những đồ vật hình trụ là những đồ vật có hình dạng như thế nào ? Kể tên một số đồ vật có dạng hình trụ ? + Hãy kể tên một số đồ vật có dạng hình cầu ? + Miêu tả những màu sắc, chất liệu sẵn có trên mẫu ? + So sánh tỉ lệ của hình cầu và hình trụ ? Bước này giáo viên vần hướng dẫn học sinh quan sát từ tổng thể đến chi tiết. Sau khi quan sát nhận ra đặc điểm riêng của từng vật mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh quy nhóm mẫu vào khung hình chung theo tỉ lệ chiều ngang, chiều cao ( lấy chiều cao của đồ vật cao nhất, chiều ngang tính từ vật nằm bên trái qua phải ), sắp đặt khung hình chung lên giấy vẽ sao cho cân đối đẹp mắt ( không quá to, quá nhỏ, lệch lên lệch xuống hoặc lệch sang trái sang phải.) giáo viên có thể dùng đồ dùng trực quan để minh hoạ cho các dạng bố cục đó để học sinh nhận ra thế nào là bố cục đẹp và chưa đẹp. Sau khi xác định được khung hình chung, giáo viên cần hướng học sinh tiến hành phác khung hình riêng của từng vật mẫu. Quan sát, so sánh tỉ lệ của từng vật mẫu để có hình vẽ chính xác với đặc điểm của mẫu. Khi hình dáng chung của từng mẫu vật đã được xây dựng, tiến hành chỉnh hình cho đúng với đặc điểm của mẫu. Quan sát, so sánh các bộ phận của mẫu để điều chỉnh vẽ cho đúng. Chú ý đến nét vẽ có chỗ đậm, chỗ nhạt dựa trên cơ sở ánh sáng chiếu vào mẫu vật. Không nên viền chu vi của hình vẽ bằng nét có độ đậm đều nhau làm cho hình vẽ trở nên khô cứng. Khi hình vẽ được chỉnh sửa, tiếp tục quan sát, so sánh độ đậm nhạt lớn trên mẫu để phân chia các mảnh đậm nhạt trên hình vẽ và gợi đậm nhạt bằng các nét đan xen nhau, chồng lên nhau. Trên cơ sở các mảng đậm nhạt lớn điều chỉnh, đẩy sâu, nhấn đậm nhạt một số chi tiết cần thiết để bài vẽ hoàn chỉnh. Vẽ đậm nhạt cần chú ý đến nguồn ánh sáng chiếu vào để diễn tả cho đúng. Sau phần hướng dẫn chung giáo viên cho học sinh thực hành bài vẽ. Trong khi thực hành giáo viên đến từng nhóm để hướng dẫn cá nhân thực hiện bài vẽ cho đúng các bước tiến hành. Tiến trình một bài Vẽ theo mẫu Lớp 5 VẼ THEO MẪU MẪU CÓ DẠNG HÌNH TRỤ VÀ HÌNH CẦU I.MỤC TIÊU : Kiến thức: Học sinh nhận biết được các vật mãu có dạng hình trụ và hình cầu. Kỹ năng: Học sinh biết các vẽ và vẽ được hình gần giống mẫu. Thái độ: Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của vật mẫu và thích quan tâm, tìm hiểu các đồ vật xung quanh. II.CHUẨN BỊ: 1.Giáo viên: -SGK, SGV -Một vài mẫu vẽ có dạng hình trụ, hình cầu khác nhau. -Hình gợi ý cách vẽ -Bài vẽ mẫu có dạng hình trụ, hình cầu của học sinh năm trước 2. Học sinh: -Giấy vẽ hoặc vở thực hành. -Bút chì, tẩy, màu. 3. Phương pháp: Quan sát, gợi mở, vấn đáp, thực hành - luyện tập. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CHỦ YẾU: 1. ổn định: 2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra đồ dùng học vẽ. Nhận xét kiểm tra bài cũ. 3. Bài mới : a.Giới thiệu bài : GV đưa vật mẫu lên và hỏi: -Những vật này là gì ? ( hộp sữa và quả cam, cái cốc, quả bóng ) -Những vật này có dạnh hình gì ? ( hình trụ và hình cầu ) Hôm nay chúng ta cùng thực hành vẽ mẫu có dạng hình trụ và hình cầu. b. Các hoạt động dạy-học Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Hoạt động 1: Quan sát, nhận xét: -GV giới thiệu một số vật mẫu có dạng hình trụ đã được chuẩn bị ( cái ca, cái chai, quả táo,quả cà) -GV và HS bày vật mẫu ở nhiều vị trí khác nhau gợi ý để học sinh tìm ra bố cục hợp lý. +Bố cục nào đẹp? Vì sao? +Mẫu gồm những vật gì? +Hình dáng của vật ra sao? -Ở mỗi góc nhìn khác nhau mẫu sẽ có bố cục, tỉ lệ khác nhau. +Khung hình chung của vật mẫu? +Hướng ánh sáng chiếu tới? So sánh độ đậm nhạt của hình trụ và hình cầu? Hoạt động 2: Hướng dẫn cách vẽ: -Vẽ khung hình chung. -Vẽ khung hình riêng của từng vật mẫu: ( đặc điểm, chiều cao, chiều ngang ) -Vẽ phác hình: theo tỉ lệ đã ước lượng bằng các nét thẳng mờ. -Vẽ chi tiết: trên những nét đã phác vẽ các nét chi tiết ( nét cong ) Chú ý điều chỉnh cho giống mẫu hơn Vẽ luôn những nét khuất nhằm để kiểm tra độ chính xác của mẫu, sau đó tẩy đi. Hoạt động 3: Hướng dẫn HS làm bài: -GV cho HS xem một số bài vẽ tĩnh vật có 2 vật mẫu có dạng tương tự. -GV hướng dẫn HS quan sát mẫu, ước lượng tỉ lệ khung hình chung, riêng, cách phác nét vẽ hình. -Vẽ màu theo ý thích hoặc vẽ đậm nhạt -GV theo dõi giúp đỡ HS Hoạt động 4: Nhận xét - đánh giá: -Trưng bày một số bài đã vẽ xong, gợi ý HS nhận xét về bố cục, nét vẽ, hình vẽ theo cảm nhận riêng. -GV nhận xét, góp ý Hoạt động 5: Củng cố dặn dò: -HS quan sát +Hình cầu che khuất một phần nhỏ của hình trụ. Bố cục như vậy bài vẽ có trong có ngoài, có sự liên kết chặt chẽ hơn. +Cái ca và quả +Hình trụ và hình cầu. +Hình chữ nhật đứng ( học sinh trả lời theo quan sát được ) HS nhìn mẫu so sánh chiều ngang, chiều cao của vật mẫu ( để vẽ giấy ngang hay dọc ) HS tìm đặc điểm riêng của từng vật mẫu và so sánh chiều cao và chiều ngang của 2 vật mẫu -HS quan sát rút kinh nghiệm -HS thực hành -HS nhận xét theo cảm nhận riêng 6. Hiệu quả đề tài: - Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. C. Kết luận Phương pháp dạy học là phạm trù rộng trong việc nghiên cứu giáo dục. Mỗi giáo viên có những ưu thế riêng của mình trong cách dạy và thực hiện phương pháp. Với bản thân trải qua những năm giảng dạy, tôi đã rút ra kinh nghiệm và áp dụng trong giảng dạy của mình và của đồng nghiệp. Song tôi luôn suy nghĩ đảm bảo chất lượng cho học sinh ngoài kinh nghiệm của mình, tôi không ngừng học hỏi các đồng nghiệp để nâng cao tay nghề đáp ứng với sự nghiệp giáo dục trong xã hội hiện nay. 1.Kết quả đạt được: - Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. Việc học tập của các em đã có chuyển biến rõ rệt . Cuối HKI học sinh đạt được những kết quả khả quan, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học qua từng giai đoạn. Kết quả cụ thể như sau: Các giai đoạn KhốiLớp TSHS HT tốt ( A+ ) HT ( A ) Chưa hoàn thành SL TL% SL TL% TS TL% GHKI 5 102 14 14% 88 86% 0 0 HKI 26 25% 76 75% 0 0 MỘT SỐ BÀI VẼ CỦA HỌC SINH 2.Đúc kết nội dung, kinh nghiệm : Các hình thức, phương pháp dạy học phong phú, linh hoạt tránh sự nhàm chán cho học sinh Khẳng định sử dụng đồ dùng trực quan vào giảng dạy đạt hiệu quả cao. Bài học kinh nghiệm: Để đạt được hiệu quả tốt sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Mĩ thuật, bả

Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs / 2023

+ Đa số học sinh ngoan, có ý thức học tập, phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em. * Khó khăn: -Về phía học sinh: + Học sinh của trường gồm đa số là đối tượng học sinh dân tộc, sống trên địa xã EaBông, trong đó học sinh các buôn Rieng, Buôn Knul, Thôn 10/3 ở rất xa trường, học sinh đi lại khó khăn. + Đại đa số gia đình học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn, đa số gia đình thuộc diện hộ nghèo. + Một số phụ huynh còn lo việc làm kinh tế, chưa coi trọng vấn đề học tập, ít chú ý đến việc học của con em. Chưa biết động viên, khuyến khích con em học tập. Còn để con em bỏ tiết, bỏ học. + Đặc biệt: Học sinh dân tộc thiểu số có tính tự ti, thiếu tự tin và bản chất ít nói nên chưa mạnh dạn phát biểu xây dựng bài cũng như không dám nêu những thắc mắc hoặc trình bày những vấn đề khó hiểu với thầy cô và bạn bè. Khi được mời trình bày trước đông người học sinh có phần lúng túng. – Về phía giáo viên: + Một số giáo viên còn trẻ, ít hoặc chưa có kinh nghiệm giảng dạy. + Một số giáo viên ở một số vùng miền có giọng nói khó nghe, nói nhanh, dẫn đến học sinh nghe không hiểu. – Về đồ dùng dạy học: + Chưa có các loại sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ và lứa tuổi của học sinh, giúp học sinh có điều kiện thu nhập thông tin, nâng cao trình độ tiếng Anh, có hiểu biết thêm về xã hội. b. Thành công, hạn chế: – Thành công là đã tạo được hứng thú cho học sinh, giúp các em cũng cố lại những kiến thức đã học của các môn học khác, các em liên hệ với các tình huống trong cuộc sống, biết vận dụng kiến thức vào thực tế để mang lại lợi ích cho bản thân và cho mọi người. – Hạn chế chủ yếu đề tài này khi giảng dạy trên lớp phải sử dụng phương tiện dạy học là máy chiếu mới có thể chuyển tải được hết những cách xử lí các tình huống trong thực tể khi liên hệ, nhưng do trường sở tại điều kiên cơ sở vật chất còn thiếu thốn và vấn đề xử dụng máy chiếu thường xuyên trong các tiết dạy là chưa đáp ứng được. c. Mặt mạnh, mặt yếu: – Mặt mạnh là các em học sinh trung bình, khá giỏi tham gia rất hào hứng, và còn kích thích các em tìm tòi hiểu biết nhiều hơn. – Mặt yếu là các em học sinh yếu tiếp thu chậm, tham gia tích cực nhưng thực sự kết quả chưa cao. d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động: Với bộ môn Tiếng Anh: học sinh – đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số đã học chậm các môn học khác đồng thời cùng một lúc học cả 3 thứ tiếng ( tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt và cả tiếng Anh nữa) là rất khó. Hơn nữa các em học sinh chưa thật sự tự giác, tích cực trong việc học của mình. Tình hình xã hội hiện nay nhiểu sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường vẫn không xin được việc làm tác động đến tư tưởng của phụ huynh trong việc quan tâm đến việc học của con em mình và từ đó tác động tiêu cực đến ý thức cũng như thái độ học tập của học sinh. e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra: – Nhiều học sinh thấy chán môn Tiếng Anh không muốn học vì đặc điểm của trường chúng tôi thuộc vùng khó khăn, số lượng học sinh là dân tộc thiểu số chiếm 56% tổng số học sinh. Việc học tiếng Việt đối với các em vốn dĩ đã xem như là học một ngoại ngữ . Do đó việc học Tiếng Anh đối với các em lại càng khó hơn. Hơn nữa do là thuộc vùng khó khăn nên trong công tác tuyển sinh lớp đầu cấp nhà trường cũng gặp nhiều khó khăn. Các học sinh khá giỏi thường đăng ký vào các trường có điều kiện tốt hơn. Kết quả là số lượng học sinh nhà trường tuyển được đa số là học sinh có học lực trung bình và yếu nhiều. Môn tiếng Anh là một môn học về ngôn ngữ có phần khó, nhiều học sinh không hứng thú nên thấy chán và bỏ qua, không quan tâm đến. – Cũng do các nguyên nhân nêu trên nên dẫn đến chất lượng học tập thống kê qua các kì kiểm tra vẫn còn thấp. II. 3. GIẢI PHÁP: a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp: b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp: Cách làm cụ thể như sau: Bước 1. Chọn đề tài Chọn một tiết dạy nào đó trong chương trình tiếng Anh khối 6,7,8 hoặc 9. Sau đó xác định xem đề tài nó về vấn đề gì, có liên qua đến những kiến thức đã học của các môn học nào. Bước 2. Trao đổi với đồng nghiệp: Bước 3. Thu thập dữ liệu: Sau khi giáo viên đã xác đinh đươc những nội dung sẽ tích hợp vào đề tài của mình thì bước tiếp theo là thu thập nhưng dữ liệu, hình ảnh, video minh họa. Có thể tìm trong sách báo, trên mạng, hoạc trong các bộ phim mình đã xem Bước 4. Thực hiên soạn bài giảng: Soạn trên phần mềm power point, cần áp dụng phong phú các loại bài tập, trò chơi để tạo sự sinh động hứng thú cho bài dạy. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng các trò chơi và cần ấn định thời gian cho mỗi phần. Bước 5. Hoàn thành hồ sơ: Gồm các loai hồ sơ sau: PHỤ LỤC II PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN DỰ THI – Sở Giáo Dục và Đào tạo tỉnh Đăk Lăk – Phòng Giáo Dục và Đào tạo huyện Krông Ana – Trường Trung Học Cơ Sở Tô Hiệu – Địa chỉ : Xã Ea Bông, Huyện Krông Ana, Tỉnh Đăk Lăk – Điện thoại : 05003650606. Email Thông tin về giáo viên – Họ và tên giáo viên : Diệp Bích Thùy – Ngày sinh : 18 – 06 – 1976. Môn : Tiếng Anh – Điện thoại : 0974450291. Email: bichthuycomay@gmail.com +Phiếu mô tả hồ sơ dạy họcdự thi của giáo viên. PHỤ LỤC III PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN 1. Tên hồ sơ dạy học UNIT 6: THE ENVIRONMENT LESSON 3: READ (English 9) ( Tích hợp kiến thức môn Tiếng Anh lớp 9 và môn Giáo Dục Công Dân lớp 8 giúp học sinh hình thành ý thức bảo vệ môi trường, phát huy tính tự giác và tính cộng đồng trong mỗi cá nhân.) 2. Mục tiêu bài học Sau khi học xong bài học này học sinh có khả năng: * Kiến thức: – Hiểu được rõ hơn vấn đề ô nhiễm môi trường và tầm quan trọng của việc giữ gìn môi trường không bị ô nhiễm. – Nhận thức được một số nguyên nhân mà con người đã gây ra ô nhiễm môi trường. – Liên hệ lại với chương trình Giáo Dục Công Dân lớp 8 ( Bài 9 : Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa cộng đồng, Bài 11: Lao động tự giác và sáng tạo ) để phát huy tính cộng đồng và tính tự giác trong suy nghĩ và trong hành động. Biết yêu quý thiên nhiên và bảo vệ môi trường. * Kỹ năng: – Sử dụng Tiếng Anh để có thể nghe, nói, đọc, viết các vấn đề về môi trường. – Trang bị những kiến thức cần thiết trong việc bảo vệ môi trường. – Linh hoạt trong các hoạt động cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường. * Thái độ: – Có ý thức bảo vệ môi trường, yêu quý thiên nhiên, quan tâm đến cộng đồng, biết yêu thương mọi người, yêu quê hương, yêu tổ quốc . – Rèn luyện ý thức cộng đồng cao và phát huy tính tự giác. 3. Đối tượng dạy học của bài học – Học sinh lớp 9. ( Lớp học gồm 30 học sinh ) – Trình độ của các em ở mức trung bình nên khi giảng nội dung bài học trong sách giáo khoa giáo viên giảng bằng Tiếng Anh, nhưng khi đưa phần tích hợp và liên hệ thực tế giáo viên có thể cho các em sử dụng Tiếng Việt ở một số phần để đảm bảo các em có thể hiểu được vấn đề một cách triệt để và liên hệ thực tế tốt hơn. 4. Ý nghĩa của bài học – Bài học có ý nghĩa, vai trò rất lớn trong cuộc sống đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Thời kỳ mà vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết và cả thế giới đang chung tay trong công tác bảo vệ môi trường. Bài học cung cấp cho học sinh một số kiến thức về vấn đề ô nhiễm môi trường bằng Tiếng Anh. Đồng thời giúp học sinh nâng cao được ý tự giác, ý thức cộng đồng, ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ thế giới mà chúng ta hiện đang sinh sống . 5. Thiết bị dạy học, học liệu: – Giáo án, đề cương bài giảng. – Máy chiếu, máy tính cá nhân, camera, phấn viết… – Phiếu trắc nghiệm ( giấy A4 ) 6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học Cấu trúc bài giảng (Thời gian : 45 phút) TT Nội dung Thời gian Phương pháp chủ đạo 1 Ổn định lớp (Stabilization.) 1’ Hỏi đáp 2 Dẫn nhập ( Warm-up: ) 3’ Hình ảnh, hỏi đáp 3 (Leading / Pre- reading) 9’ Trực quan, thuyết trình, hỏi đáp 4 Giải quyết vấn đề (While – reading ) 16’ Thuyết trình, trực quan,hỏi đáp, chơi trò chơi. 5 Kết thúc vấn đề ( Post –reading ) 14’ Trực quan, thuyết trình, hỏi đáp. 6 Hướng dẫn tự học ( Homework ) 2’ Thuyết trình HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC – Hướng dẫn vận dụng kiến thức liên môn ( Giáo dục công dân ) để hình thành ý thức. – Đánh giá sản phẩm theo từng cá nhân I. ỔN ĐỊNH LỚP HỌC: Thời gian: 1’ – Chào hỏi: Good morning – Kiểm tra sĩ số: 30/30 II. THỰC HIỆN BÀI HỌC: Thời gian 3’ Nội dung WARM UP Hoạt động của Giáo viên và học sinh I. Dẫn nhập ( Warm-up ) Giáo viên (Gv): Hiện một số hình ảnh trên bảng và hỏi học sinh một số câu hỏi về ý thức đối với những hành động gây ô nhiễm môi trường: Học sinh (Hs): Trả lời Gv: Hỏi tiếp Hs: Lắng nghe và trả lời: Gv: Dẫn dắt học sinh vào bài Now we study a lesson about people’s attitute to the environmental pollution. 9’ UNIT 6: THE ENVIRONMENT Lesson 3: Read ( Pre-reading ) 1. Từ mới Gv: Giới thiệu bài mới Hs: Lắng nghe. Gv: giới thiệu từ mới bằng tranh. Gv: What is this? Hs: It is a treasure ( kho báu) (Học sinh đã có khâu soạn bài trước ở nhà nên các em có thể dể dàng trả lời những câu hỏi này) Gv: Cho học sinh đọc đồng thanh theo âm cài sẵn Hs: Đọc từ ( đọc cá nhân, đọc cả lớp) Gv: Gọi một số em đứng tại chỗ đọc. Hs: đọc từ Gv: sữa lỗi phát âm 1. Kiểm tra việc hiểu từ Gv: Hiện lên bảng một phần bài tâp kiểm tra từ, cho một hs đọc qua, giải thích một số cụm từ mới và gọi bất kì học sinh nào lên chọn từ của cột A phù hợp với cụm từ của cột B Hs: làm theo yêu cầu của giáo viên Gv: Hiện kết quả và sữa sai (nếu có) 16’ 1.Read the poem about the environment: 2. Match the lines of the poem to the suitable headings: Lines Headings Answer 1 1 – 6 a. The mother’s request to the son. 1 - 2 7 – 8 2 - 3 9 – 12 c. Effects of pollution in the future. 3 - 4 13 – 16 d. The son’s ideas of polluting the place. 4 - 3. True or False *Đáp án: 2. True 3. True 5. True 4.Complete the open – dialogue: 5.Answer the questions (1 – 5) on page 51 a) According to the mother, what will happen if the pollution goes on? b) Who does the mother think pollute the environment? c) What will happen to the boy if he keeps on asking his mother such questions? d) Do you think the boy’s question ( lines 9 – 10 ) is silly? Why ( not )? 6. Lucky number. III. Giải quyết vấn đề (While – reading ) 1.Read the poem about the environment: Hs: Lắng nghe Gv: Đọc lại bài một lần nữa giải thích thêm một số cụm từ, và yêu cầu học sinh đóng vai đọc tại chỗ Hs: Đóng vai đọc theo cặp. Gv: gọi một cặp đọc trước lớp. 2. Matching (bài tập nối) Gv:Hiện lên bảng bài tập “Matching” Cho học sinh làm bài tập “Matching” nối các dòng thơ với ý chính cho phù hợp ( mục đích của phần này là giúp các em hiểu rõ hơn nội dung ý chính của bài thơ) Hs: Làm việc theo nhóm (4 em) Gv: trao đổi bài làm của các nhóm và gọi đại diện của một nhóm đứng lên đọc to kết quả và hiện đáp án so, sánh kết quả Hs: Nhóm này chữa bài của nhóm kia và so kết quả. Gv: Nhận xét 3. True/False (bài tập đúng /sai) Gv: Hiện bài tập “True/ False” ( đúng / sai ) lên bảng, gọi một học sinh đọc qua, cho các em suy nghĩ 1 phút , sau đó gọi một số cá nhân chọn qua một lượt True(đúng) hoặc False (sai). . Hs: 5 em chọn 05 câu. Gv: Gọi hs khác nhận xét, sau đó bấm vào nút còn lại sẽ hiện đáp án chính xác, nếu chọn False(sai) thì nhấp chuột một lần nữa sẽ chữa câu đó thành đúng. 4. Gap filling: ( điền vào chỗ trống) Gv. Hiện một đoạn hội thoại mở (chứa nội dung tóm tắt ý chính của bài thơ), cho hs làm việc theo cặp điền vào chỗ trống. ( Mục đích của bài tập này là giúp các em hiểu sâu hơn nội dung của bài và cung cấp thêm một số mẫu câu bằng tiếng Anh để các em có thể sử dụng trong phần trả lời câu hỏi sau.) Hs: làm việc theo cặp Gv: Gọi một cặp thực hành trước lớp, và hiện đáp án sữa lỗi. 5. Anwser the questions: ( Trả lời câu hỏi ) Gv: Cho hiện lên bảng nội dung câu hỏi, gọi một hs đọc qua, yêu cầu các em thực hành theo cặp hỏi và trả lời. Hs: làm theo cặp 6. Play a game “ Lucky number” Gv: Chia lớp thành 02 nhóm, nhóm A và nhóm B chơi trò chơi con số may mắn, có 06 con số, 02 số may mắn, hai nhóm lần lượt chọn, nếu chọn trúng số may mắn, được thưởng 10 điểm, nếu chọn trúng 04 số kia phải trả lời câu hỏi, trả lời đúng mỗi câu được 10 điểm ( nội dung câu hỏi của phần trên ). Chọn xong hết lược, đội nào được nhiều điểm hơn sẽ thắng. Hs: Chơi theo đội 14’ 2.Look at the picture and answer the questions. What should we do to protect the environment? 1.Sơ đồ tư duy: What should we do to protect the environment? 3. Read the conversation. 4. Let watch a video and anwser the qustions. Trong năm 2014, nhờ vào điều gì mà Đảng và nhân dân đã buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan 981 khỏi quần đảo Trường Sa thân yêu của chúng ta sau 75 ngày chiếm đóng. IV. Kết thúc vấn đề ( Post –reading ) ( PHẦN DẠY TÍCH HỢP ) Gv: Cho hiện ra một số hình ảnh về việc con người đã gây ra ô nhiễm môi trường bằng nhiều cách và hỏi các em bằng Tiếng Anh. What should we do to protect the environment? Hs. Trả lời ( có thể trả lời bằng Tiếng Anh hoặc Tiếng Việt. Nếu chúng ta bắt buột các em trả lời bằng Tiếng Anh thì các em không thể nói hết ý mình muốn nói, vì kiến thức Tiếng Anh của các em có giới hạn. Gv có thể giúp các em chuyển tải những suy nghĩ của các em từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh) Gv: Hiện bản đồ tư duy hệ thống lại những ý chính giúp các em hiểu được vấn đề tốt hơn. Gv: Nhấn mạnh rằng ngoài nội dung nói về ô nhiễm môi trường, bài thơ còn gửi đến chúng ta một thông điệp khác rất quan trọng, sau đó Gv đưa một đoạn đối thoại vắn tắt của người mẹ và cậu con trai, yêu cầu học sinh đọc kỷ lai rồi Gv đặt câu hỏi: Hs: trả lời Gv: Cho các em xem qua một đoạn video về một số tình huống thường gặp trong cuộc sống hàng ngày và cách cư xử đúng đắn của những người tốt, rồi đặt câu hỏi: Hs: Trả lời ( đáp án là: Voluntary character and community character ( tính tự giác và tính cộng đồng) Gv: Kết luận Hs: Lắng nghe Gv: Cho hiện một bức tranh về việc người dân Việt Nam ta biểu tình phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan 981 trái phép trên Đảo Trường Sa của chúng ta. Sau đó đặt câu hỏi: Hs: Trả lời Nhờ ý thức tự giác và tính cộng đồng cao. Gv: Kết luận Hs: Lắng nghe 2’ Homework: – Learn by heart new vocabulary – Practice reading the poem – Do Ex a, b / p.51 again – Prepare unit 6. Write V. Hướng dẫn tự học ( Homework ) Gv. Nhắc nhở Hs học bài ở nhà Hs: Lắng nghe và nhớ 7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập – Sau khi học xong, giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra tại lớp. – Nội dung bài kiểm tra gồm 50% kiến thức bài học ( nội dung Tiếng Anh ) 50% kiến thức tích hợp liên môn ( nội dung Tiếng Việt ) – Hình thức kiểm tra là làm bài trắc nghiệm trên giấy. Bài kiểm tra gồm 16 câu hỏi trắc nghiệm, mỗi câu 1.25 điểm, tổng điểm là 20, sau đó quy về điểm 10. ( Có phiếu trắc nghiệm kèm theo trong hồ sơ.) – Thời gian làm bài là 15 phút. 8. Các sản phẩm của học sinh: Tổng số học sinh : 30 em Kết quả bài kiểm tra đạt : 95% ( có gửi kèm bài làm của học sinh trong hồ sơ) Hiệu Trưởng Ngày 05 tháng 01 năm 2015 Giáo viên Diệp Bích Thùy c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp; * Cần chuẩn bị tốt các khâu sau: – Giáo viên phải phải nắm rõ nội dung chương trình môn học Tiếng Anh cấp THCS. – Giáo viên phải có am hiểu một số kỹ năng soạn giảng sử dụng công nghệ thông tin. – Giáo viên phải linh hoạt trong khâu tích hợp kiến thức, phải khoa học, logich, không áp đặt, máy móc. – Giáo viên phải xây dựng một đề kiểm tra trắc nghiệm mang kiến thức bao quát, khoa học vừa có Tiếng Anh vừa có Tiếng Việt. – Phải chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học như: máy chiếu, laptop, loa … d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp; – Học sinh phải tập trung chú ý, phát huy hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân. Giáo viên phải bao quát lớp, linh hoạt giúp các em trả lời tốt các câu hỏi, có thể liên hệ thực tế giáo dục đạo đức cho các em ở những nội dung cho phép. Ở phần tích hợp thực hiện linh hoạt sẽ giúp các em hiểu bài vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống được tốt hơn. e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu II. 4. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC: Sau khi thực hiện xong bài giảng giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra ( cả những lóp không áp dụng phương pháp dạy học tích hợp cũng làm bài này) Nội dung đề kiểm tra: To Hieu Secondary school PHIẾU KIỂM TRA KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Class 9A5 Môn : Tiếng Anh Name: Thời gian : 15 phút Trong bài kiểm tra này các em sẽ vận dụng kiến thức liên môn (Tiếng Anh, Giáo Dục Công Dân và những hiểu biết thực tế) để trả lời 16 câu hỏi trắc nghiệm. 08 câu bằng Tiếng Anh, 08 câu bằng Tiếng Việt. If we pollute the , we will have no fresh water to use? air water forests 2. We are going to take part in cleaning the areas near our school next Sunday. a. into b. about c. up 3. Governments should . heavily anyone doing harm to the environment. a. fine b.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Thí Nghiệm Chương Trình Sinh Học 6 / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!