Đề Xuất 5/2022 # Đo Lường Mức Độ Rủi Ro Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Công Trình Giao Thông Đường Bộ Ở Việt Nam Bằng Phương Pháp F # Top Like

Xem 9,603

Cập nhật nội dung chi tiết về Đo Lường Mức Độ Rủi Ro Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Công Trình Giao Thông Đường Bộ Ở Việt Nam Bằng Phương Pháp F mới nhất ngày 16/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 9,603 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn 02/hđđx Hội Đồng Đặc Xá Trung Ương Thi Hành Quyết Định 478/2004/qđ
  • Tìm Hiểu Về Vật Lý Trị Liệu Hô Hấp Ở Trẻ
  • Phương Pháp Ala Pdt Có Tốt Không Và Chi Phí Bao Nhiêu Tiền 2022
  • Điều Trị Bằng Phương Pháp Ala
  • Phương Pháp Ala Pdt Bao Nhiêu Tiền? Và Có An Toàn Không?
  • Tóm tắt: Mức độ rủi ro kỹ thuật (MĐRRKT) trong xây dựng công trình giao thông đường bộ (XDCTGTĐB) ở Việt Nam đang tăng lên trong những năm gần đây. Việc đánh giá và đo lường MĐRRKT trong giai đoạn thi công của dự án là cần thiết, đây là giai đoạn xuất hiện nhiều rủi ro nhất. Bài báo trình bày một phương pháp đo lường MĐRRKT trong XDCTGTĐB ở Việt Nam thông qua phương pháp Fuzzy Analytical Hierarchy Process (PP F-AHP). Abstract: Technical risk Level in highway construction in Vietnam has increased in recent years. Technical risk management and accessment is crucial in construction phase as risks would most likely occur during this period. This paper psents a risk measurement method for highway construction projects in Vietnam using Fuzzy Analytical Hierarchy Process (F-AHP). Keywords: Technical risks, AHP, F- AHP. 1. Giới thiệu

    Thời gian gần đây, nhiều báo cáo và các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu một loạt những vấn đề trong XDCTGTĐB như: Vượt chi phí quá lớn, tiến độ bị chậm trễ trong một thời gian dài, chất lượng công trình không đảm bảo, tai nạn lao động liên tiếp xảy ra… Điều này đã làm ảnh hưởng đến uy tín của toàn ngành GTVT. Phải chăng, một trong những lý do dẫn đến các dự án kém hiệu quả là MĐRRKT ở các dự án ngày càng tăng lên hoặc chúng ta đánh giá thấp MĐRRKT của dự án. Do vậy, vấn đề đo lường MĐRRKT trong giai đoạn thi công và tìm giải pháp ứng phó với chúng là có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

    PP F-AHP đã khắc phục được một số hạn chế của PP AHP truyền thống, do đó nó ngày càng được sử dụng phổ biến trong thực tế. Trong nghiên cứu này, PP F-AHP được sử dụng để xác định trọng số của các NTRRKT trong cấu trúc bậc.

    3. Thực hiện nghiên cứu 3.1. Xây dựng cấu trúc thứ bậc

    Thông qua việc phân tích, đánh giá & phân nhóm các NTRRKT của nhóm chuyên gia đã được thực hiện ở nghiên cứu trước, cấu trúc thứ bậc của phương pháp nghiên cứu được xây dựng và trình bày ở Hình 3.2.

    3.2. Thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia

    Dựa vào cấu trúc thứ bậc được xây dựng, một bảng câu hỏi (BCH) được thiết kế để xác định trọng số của các NTRRKT. Vấn đề quan trọng nhất là độ tin cậy của dữ liệu thu thập được từ ý kiến đánh giá của các chuyên gia. Nhóm chuyên gia được yêu cầu đánh giá trên thang đo 9 điểm mờ như thể hiện trong Bảng 3.1. Thang đo F-AHP này sử dụng số mờ tam giác được đề xuất bởi Tesfamariam và Sadiq .

    Việc tính toán trọng số của các NTRRKT được dựa trên những đánh giá của các chuyên gia. Một nhóm gồm 24 chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực giao thông đã được xác định trước. Họ được mời để đánh giá so sánh cặp giữa các NTRRKT. Thành phần của nhóm chuyên gia như sau: (i) Theo số năm kinh nghiệm: từ 10÷15 năm chiếm 54%; từ 16÷20 năm chiếm 42%; trên 20 năm chiếm 4%; (ii) Theo trình độ học vấn: Đại học chiếm 46%; Thạc sĩ chiếm 46%; Tiến sĩ chiếm 8%; và (iii) theo vị trí công tác: NTTC chiếm 33,2%; TVKSTK, TVGS, CĐT/ Ban QLDA & Nhà nghiên cứu đều chiếm 16,7%.

    Một BCH được thiết kế bao gồm tất cả các ma trận so sánh cặp trước khi thu thập dữ liệu. Để cho các chuyên gia dễ dàng trong việc đánh giá, họ được giải thích rõ ràng về nội dung của nghiên cứu này và cách để thực hiện so sánh cặp.

    Bảng 3.1. Thang đo F-AHP :

    CR = CI/RI (1)

    Trong đó, CI – Chỉ số nhất quán; n – Kích thước của ma trận; l max= max(n); RI – Chỉ số ngẫu nhiên.

    Bảng 3.2. Chỉ số ngẫu nhiên Bảng 3.3. Chỉ số nhất quán đối với đánh giá tổng hợp 3.4. Tổng hợp đánh giá của các chuyên gia

    Phương pháp tính trung bình nhân (Geometric Mean) được sử dụng để tổng hợp các đánh giá cá nhân thành một đánh giá duy nhất đại diện cho ý kiến của toàn bộ nhóm .

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

    Trong đó, B ijk – Đánh giá của chuyên gia thứ k trong so sánh cặp giữa 2 nhân tố i và j.

    Nếu các đánh giá là không đồng nhất thì cách sử dụng minmax là không thích hợp . Từ đó, các kết quả đánh giá của các chuyên gia được tổng hợp theo công thức (7).

    (7)

    Trong đó, () – Các số mờ tam giác được đánh giá bởi chuyên gia thứ k. k = . Cả α-cut và l đều có giá trị từ 0 đến 1. Giá trị α-cut càng gần về 1 thì thể hiện người ra quyết định càng tự tin, trong khi mỗi giá trị l lớn hơn thể hiện quan điểm của người ra quyết định lạc quan hơn. Quá trình khử mờ được thực hiện theo công thức (8), (9), (10) và (11) . Thang điểm từ “0 = cực kỳ thấp” đến “10 = cực kỳ cao” được thể hiện ở Hình 4.1. Thang đo đặc trưng này giúp cho người tham gia dễ dàng đánh giá điểm cho mỗi NTRRKT trong dự án mà họ tham gia một cách phù hợp nhất.

    Cuối cùng, MĐRRKT (Technical Risk Level – TRL) được đề xuất như là một thước đo MĐRRKT tổng thể trong giai đoạn xây dựng một dự án. TRL có giá trị từ 0 đến 10, giá trị TRL càng lớn chỉ ra MĐRRKT trong xây dựng dự án càng lớn và ngược lại. TRL được xác định theo công thức (12):

    (12)

    Trong đó, – Điểm số RRKT của các nhân tố được đánh giá từ chuyên gia tham gia vào dự án đang xét; – Trọng số tổng hợp của các nhân tố như thể hiện trong Bảng 3.5.

    4.2. Trường hợp nghiên cứu

    Phần này trình bày cách đo MĐRRKT với việc sử dụng PP F-AHP. Nghiên cứu này đã điều tra 3 dự án đại diện cho 3 khu vực là miền Bắc, miền Trung và miền Nam.

    MĐRRKT có thể được đánh giá thông qua thang đo MĐRRKT được đề xuất trong một phạm vi từ “0 = cực kỳ thấp” đến “10 = cực kỳ cao”.

    Nghiên cứu bắt đầu bằng việc xây dựng cấu trúc thứ bậc đối với PP F-AHP. Trọng số của các NTRRKT thu được từ đánh giá của một nhóm gồm 24 chuyên gia có kinh nghiệm. Các trường hợp nghiên cứu cũng đã được giải thích rõ ràng để minh họa cho PP. Cuối cùng, MĐRRKT được tính toán cho 3 dự án thông qua thang đo 11 điểm đã đề xuất.

    Tài liệu tham khảo

    . J.J Buckley (1985), Fuzzy hierarchical analysis, Fuzzy Sets & Systems, 17, 233-247.

    . Satmetrix (2003), Measuring satisfaction on a 0-10 scale, White paper, Satmetrix Systems, New York, NY, USA.

    . T.L Saaty & K.P Kearns (1985), Analytical Planning – The organizations of Systems, New York, NY: Pergamon Press.

    . T.L Saaty (2008), Decision making with the analytic hierarchy process, International Journal of Services Sciences, 1(1), 83-98.

    [9]. T.S Liou & M.J.J Wang (1992), Ranking Fuzzy numbers with Integral value, Fuzzy Sets & Systems, 50, 247-255.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Sản Xuất Sản Phẩm Hiện Đại (Phần 2)
  • Tài Liệu Tập Huấn Phương Pháp Tiếp Cận Phát Triển Cộng Đồng Dựa Vào Nội Lực Và Do Người Dân Làm Chủ (Phương Pháp Tiếp Cận Abcd)
  • Bài Tập Và Đáp Án Phương Pháp Abc
  • Activity Based Costing Là Gì? Phương Pháp Tính Abc?
  • Phân Tích Abc Và Xyz Mang Lại Hiệu Quả Như Thế Nào Trong Quản Lý Hàng Tồn Kho
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Đo Lường Mức Độ Rủi Ro Kỹ Thuật Trong Xây Dựng Công Trình Giao Thông Đường Bộ Ở Việt Nam Bằng Phương Pháp F trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!