Đề Xuất 2/2023 # How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) # Top 8 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

How Does the Hebrew Bible Relate to the Ancient Near Eastern World (Vietnamese)

by Alan Lenzi

KINH THÁNH HÊ-BƠ-RƠ LIÊN QUAN VỚI THẾ GIỚI CẬN ĐÔNG CỔ ĐẠI

NHƯ THẾ NÀO?

Tác giả: Alan Lenzi 

Phiên dịch: Bùi Kim Thanh

Có được một số kiến thức về Thời đại Khai sáng thế kỷ 18, về lịch sử thuộc địa Mỹ và về những người nào đã tham dự Hội Nghị Hiến Pháp sẽ giúp cho bạn hiểu nhiều hơn về lịch sử của Hiến pháp Hoa Kỳ.  Tương tự như vậy, có được một số kiến thức về lịch sử và văn hóa Cận Đông cổ đại sẽ giúp bạn thấu hiểu hơn về lịch sử của các tài liệu được dùng để biên soạn Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.

Truyền thống thông giáo: Ai đã viết các bản kinh văn và điều này nói lên cho chúng ta những gì?

Các thầy thông giáo đã biên soạn các bản kinh văn làm thành Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Đây là một trong những vấn đề cơ bản nhất về Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Không có các thầy thông giáo, sẽ không có Kinh Thánh! Rất ít người trong thế giới cổ đại biết chữ để biên soạn các bản văn thời Cận Đông cổ đại mà chúng ta có hiện nay, bao gồm cả Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.  Các thầy thông giáo là một thành phần của giới thượng lưu trí thức, và nhiều người trong số họ phục vụ trong các tổ chức lớn của xã hội, trong cung điện và đền thờ. Mặc dù công việc chính của một số thầy thông giáo là viết các văn kiện thông dụng hàng ngày như thư từ và hợp đồng, những thầy thông giáo có kiến thức cao thường bận rộn với các vấn đề quan trọng hơn, như vũ trụ học, nghi lễ, văn bản cầu nguyện, luật pháp và khải thị.  Các thầy thông giáo này thông thường hiếm khi công bố quyền tác giả của các bản văn của mình, và đôi khi họ quy kết tác phẩm của họ cho các danh nhân cổ xưa.

Tất nhiên, công việc của các thầy thông giáo không chỉ đơn giản bao gồm việc soạn thảo các văn bản mới; họ cũng sao chép những bản văn cũ.  Xem xét nhiều phiên bản của các bản sao chép có cùng bản gốc chúng ta biết được rằng các thầy thông giáo sao chép văn bản một cách rất thoáng đạt. Họ có thể cho thêm vào tài liệu mới, xóa các nội dung mà họ không vừa ý, hoặc sắp xếp lại toàn bộ bản văn. Ngoài ra, các thầy thông giáo cũng vấp lỗi. Bạn hãy thử viết tay sao chép lại một vài trang ấn phẩm và xem bạn mắc phải bao nhiêu lỗi!

Sự hiểu biết về truyền thống thông giáo Cận Đông cổ giải thích rất nhiều điều về Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Chẳng hạn, không phải ngẫu nhiên mà Kinh Thánh tập trung vào các vị vua và thầy tế lễ và xem xét các đề tài như vũ trụ học (Sáng-thế Ký  1, Gióp 38), nghi lễ (Lê-vi Ký, Dân-số Ký), cầu nguyện (Thi-thiên), luật pháp (Xuất Ê-díp-tô Ký 21-23, Phục-truyền Luật-lệ Ký 12-26) và khải thị (Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên).  Những đề tài đó là những mối quan tâm của các thầy thông giáo.  Đúng như dự đoán, nhiều văn bản văn Kinh Thánh không mang tên tác giả (ví dụ, xem Các Quan Xét) hoặc tác quyền được gán cho nhân vật quan trọng trong truyền thống (như Môi-se cho Phục-truyền Luật-lệ Ký và nhiều bài Thi-thiên được cho là do Đa-vít viết). Khi các kinh văn cho chúng ta thấy bằng chứng về sự bổ sung thêm (ví dụ, Ê-sai bắt đầu hai lần, một lần trong Ê-sai 1:1 và một lần nữa trong Ê-sai 2:1), chúng ta không nên ngạc nhiên. Sự hiểu biết về truyền thống thông giáo Cận Đông cổ đại cho chúng ta biết rằng đây là những điều bình thường khi chúng ta tìm thấy các bản văn tương đồng nhưng khác nhau về cách diễn đạt (so sánh Giê-rê-mi 52, Giê-rê-mi 39: 1-10, Giê-rê-mi 40: 7-9 và Giê-rê-mi 41: 1-3 với 2 Các Vua 24: 18-25: 30) hoặc khi chúng ta tìm thấy các lỗi trong các bản kinh văn tiếng Hê-bơ-rơ lâu đời nhất (xem 1 Sa-mu-ên 13: 1 [so sánh các bản dịch tiếng Anh ở đây]).

Các tài liệu thánh kinh tồn tại lâu đời sau sự sụp đổ của Do Thái cổ đại, hiển nhiên. Trên thực tế, các mối đe dọa sự sống còn của người Do Thái cổ đại là động lực thúc đẩy các thầy thông giáo bảo tồn truyền thống thân yêu mà họ ấp ủ. Các thầy thông giáo Cận Đông cổ đã lưu truyền một số bản văn qua rất nhiều thế kỷ. Nhưng không có bản văn nào khác có được một chuỗi truyền tải không bị gián đoạn cho đến ngày nay như Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.

Các giao ước là gì và việc sử dụng Phục-truyền Luật-lệ Ký có nét đặc biệt như thế nào?

Xuyên suốt lịch sử Cận Đông cổ đại, người ta đã sử dụng các thỏa thuận chính thức để trao quyền cho môi giới và phân công bổn phận giữa hai bên, thường là giữa các vị vua. Học giả gọi các thỏa thuận này hiệp ước; còn học giả trong ngành Thánh Kinh Học gọi đó là giao ước. Thành viên của giao ước đôi khi gồm có các vị vua ngang hàng với nhau, và đôi khi là vua của nước bá chủ và vua của nước chư hầu. Các hiệp ước Cận Đông cổ đại nổi tiếng nhất có nguồn gốc xuất phát từ người Hittites (từ đầu đến giữa thiên niên kỷ thứ hai B.C.E.) và Neo-Assyria (có vương quốc phát triển mạnh từ khoảng đầu thế kỷ thứ chín đến cuối thế kỷ thứ bảy B.C.E.). Các vị vua Neo-Assyrian cũng áp đặt các thỏa thuận giống như hiệp ước đối với toàn bộ dân sự; học giả gọi những thỏa thuận nầy là những tuyên thệ trung thành.

Những văn kiện hiệp ước hoặc tuyên thệ này nhằm giải quyết các vấn đề quan trọng đối với các vị vua. Vì vậy, chúng ta đọc trong các hiệp ước Hittite, ví dụ, hiệp ước về lòng trung thành với nhà vua, thiết lập biên giới và hợp tác quân sự, và những vấn đề khác. Lòng trung thành với Hoàng thái tử và sự bảo vệ việc kế vị Hoàng gia là nội dung chính của Hiệp Ước Kế Vị Esarhaddon (Esarhaddon là một vị vua Assyria cai trị từ năm 680 đến 669 B.C.E.).  Người tuyên thệ thậm chí còn được lệnh phải yêu mến Hoàng thái tử (xem hàng 266 của Hiệp Ước Kế Vị Esarhaddon), điều đó có nghĩa rõ ràng là họ phải trung thành và tuân theo Hoàng thái tử.

Mặc dù hình thức và nội dung của các hiệp ước Cận Đông cổ đại thường giống nhau, nhưng cũng có những hiệp ước chứa đựng các điều khác biệt liên văn hóa và các dạng biến thể địa phương, đặc biệt là khác biệt về nội dung và thứ tự của các tiết mục điển hình. Các hiệp ước Hittite thông thường bắt đầu với phần giới thiệu lịch sử và gồm có một bản liệt kê các phước lành cho sự vâng lời và nguyền rủa cho sự bất tuân. Các hiệp ước Neo-Assyrian không có phần giới thiệu lịch sử, không liệt kê các phước lành, và đặc biệt có phần nguyền rủa rất dài.

Thành viên của các hiệp ước cầu khẩn các quyền lực thiêng liêng để chứng kiến các quy định và tuyên thệ mà đôi bên hứa nguyện tuân theo. Và các tài liệu nầy thường được đem lưu trử trong một ngôi đền thờ, là nơi các hiệp ước này được xem như là lời nhắc nhở các vị thần để thực thi hiệp ước. Các tài liệu người Hittite cũng yêu cầu chư hầu đọc văn bản văn của họ.

Sự hiểu biết về các hiệp ước Cận Đông cổ đại giúp chúng ta thông hiểu nhiều hơn một số phân đoạn Kinh Thánh. Ví dụ nổi bật nhất là sách Phục-truyền Luật-lệ Ký, sách nầy chứa đựng các đặc điểm của các văn bản Hittite và Neo-Assyrian. Giống như các hiệp ước đó, nội dung chính của Phục-truyền Luật-lệ Ký là các quy định (luật lệ) nằm trong chương 12-26.  Phần mở đầu lịch sử đi trước các quy định (Phục-truyền Luật-lệ Ký 1-11) và phần phước lành đi tiếp theo sau đó (Phục-truyền 28:1-14), giống như trong các hiệp ước Hittite. Những lời nguyền rủa, giống như trong các bản văn Neo-Assyrian, rất bao quát (Phục-truyền Luật-lệ Ký 28: 15-68) và trong một số trường hợp rất gần giống y như những lời nguyền rủa trong Hiệp Ước Kế Vị Esarhaddon (so sánh các hàng 419 – 430 với Phục-truyền Luật-lệ Ký 28: 26-35). Nhiều phân đoạn trong Phục-truyền Luật-lệ Ký đòi hỏi sách nầy phải được ký gửi với các thầy tế lễ của Yahweh, và đọc định kỳ cũng như các hiệp ước Hittite (xem Phục-truyền Luật-lệ Ký 31: 9-13, Phục-truyền Luật-lệ Ký 31: 24-26 và Phục-truyền Luật-lệ Ký 17: 18-19). Giống như lời thề trung thành của chư hầu với bá chủ Neo-Assyria, Yahweh thực hiện giao ước với toàn bộ dân sự Israel (xem Phục-truyền Luật-lệ Ký 29: 14-15, bao gồm các thế hệ tương lai). Sau cùng, khi Môi-se khuyến khích dân Y-sơ-ra-ên kính yêu Yahweh bằng cả trái tim, linh hồn, tâm trí và sức mạnh của họ (Phục-truyền Luật-lệ Ký 6: 5), trong lịch sử chúng ta biết giao ước sự kính yêu này là một hành động trung thành và vâng phục hơn là một cảm xúc chủ quan, dịu dàng.

Điều nổi bật là đặc biệt đáng chú ý trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ là một vị thần chứ không phải là một vị vua thực hiện một hiệp ước / giao ước với người dân của mình. Sự thích nghi độc đáo này có lẽ mang tính chất đả phá. Nếu, như hầu hết các học giả nghĩ, Phục-truyền Luật-lệ Ký (hoặc một số phiên bản của nó) đã được xuất bản trong thời Neo-Assyrian khi Judah là một chư hầu của người Assyria, thì việc Phục-truyền Luật-lệ Ký nhìn nhận Yahweh là vị chúa tể trị mang định ý từ chối lãnh chúa Assyria.

Khái niệm về thần: Có phải thần của Kinh Thánh Hê-bơ-rơ không giống như các vị thần Cận Đông cổ đại?

Có và không. Kinh thánh nói chung quan niệm về Yahweh theo thuật ngữ nhân học, đó là theo hình dạng con người (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 24: 9-11, Xuất Ê-díp-tô Ký 33: 20-23) và các nhân tính (ví dụ, Ngài có cảm xúc của con người và khả năng nhìn, nghe, ngửi, và đi bộ). Ngoài ra, nhiều phân đoạn Kinh Thánh mô tả Yahweh sống trong một ngôi nhà lớn (một ngôi đền), với những người hầu (thầy tế lễ) để chăm sóc cho nhu cầu của mình (dâng của lễ). Những điều nầy và tất cả phần còn lại rất giống với các thần của Cận Đông cổ đại.

Tuy nhiên, không giống như các dân tộc Cận Đông cổ đại khác, là những người làm ra hình tượng của các thần của họ, Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ thường phỉ báng thần tượng (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 32: 4-6, Ê-sai 44: 9-20) và phản đối mạnh mẽ việc tạo ra thần tượng trong bất kỳ hình thể nào (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 20: 4-6).

Trong tất cả các nền văn hóa, người ta rất giống nhau nhờ có chung nhân tính. Nhưng mỗi nền văn hóa phát triển một số tính năng đặc biệt làm cho nó độc đáo. Do vị thế đương đại của Kinh Thánh, nên người ta có khuynh hướng quá coi trọng tính chất thực sự khác biệt của nó với các tài liệu Cận Đông cổ đại khác. Từ góc độ lịch sử, một cách tiếp cận cân bằng hơn, nhận ra những điểm tương đồng và khác biệt của Kinh Thánh so với các nền văn hóa lân cận là công thức tốt nhất để hiểu Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.

Alan Lenzi, “How Does the Hebrew Bible Relate to the Ancient Near Eastern World (Vietnamese)”, n.p. [cited 6 Aug 2021]. Online: https://www.bibleodyssey.org:443/en/tools/bible-basics/how-does-the-hebrew-bible-relate-to-the-ancient-near-eastern-world-vietnamese

Contributors

Alan Lenzi Associate Professor, University of the Pacific

Alan Lenzi is associate professor of religious and classical studies at University of the Pacific in Stockton, California. He specializes in the study of first-millennium ancient Near Eastern religious traditions, including the Mesopotamian imperial context of the Hebrew Bible. A number of his publications are accessible at the following URL: http://pacific.academia.edu/AlanLenzi.

A West Semitic language, in which most of the Hebrew Bible is written except for parts of Daniel and Ezra. Hebrew is regarded as the spoken language of ancient Israel but is largely replaced by Aramaic in the Persian period.

A region in northern Mesopotamia whose kings ruled most of the ancient Near East in the 8th and 7th centuries B.C.E.

Having the attributes of henotheism, the recognition of the existence of multiple deities while worshipping only one, often a tribal or family deity.

An empire in upper Mesopotamia for much of the first half of the first millennium B.C.E. At the height of their power, they controlled all of the ancient Near East, including Egypt. Their final defeat came in 609 at the battle of Megiddo, where a combined Neo-Babylonian and Medean army defeated the last remnants of the Neo-Assyrians forces.

Relate To: Vietnamese Translation, Definition, Meaning, Synonyms, Pronunciation, Transcription, Antonyms, Examples

We need someone who is a man of the people, a working man who voters can relate to.

Chúng ta cần một người là người của nhân dân, một người lao động mà cử tri có thể liên hệ.

Copy Report an error

And my childhood is more hick than I could ever possibly relate to you, and also more intellectual than you would ever expect.

Copy Report an error

Can you relate to Ian?

Bạn có thể liên hệ với Ian?

Copy Report an error

Invite audience to relate how they plan to consider the special Memorial Bible reading.

Mời khán giả kể lại cách họ dự định xem bài đọc Kinh thánh tưởng niệm đặc biệt.

Copy Report an error

Courtship also gives them time to get better acquainted with their partner’s family and discuss how they will relate to in-laws.

Copy Report an error

Freeman: JIM COLLABORATED WITH PHYSICISTS AND MATHEMATICIANS TO EXAMINE HOW THE PARTS OF AN ADINKRA STRUCTURE RELATE TO EACH OTHER.

Freeman: JIM HỢP TÁC VỚI CÁC NHÀ VẬT LÝ VÀ CÁC NHÀ TOÁN HỌC ĐỂ THỬ NGHIỆM CÁC BỘ PHẬN CỦA MỘT CẤU TRÚC ADINKRA LIÊN QUAN NHƯ THẾ NÀO VỚI MỖI NGƯỜI KHÁC.

Copy Report an error

Mr. Clark, perhaps you can relate.

Ông Clark, có lẽ ông có thể liên tưởng.

Copy Report an error

Or maybe you can relate to what Alice, 12, says about her 14-year-old brother, Dennis: “He gets on my nerves!

Hoặc có thể bạn có thể liên tưởng đến những gì Alice, 12 tuổi, nói về người em 14 tuổi của mình, Dennis: “Anh ấy làm tôi lo lắng!

Copy Report an error

I can relate with people from different nations and culture thanks to my foreign experience.

Tôi có thể liên hệ với những người từ các quốc gia và văn hóa khác nhau nhờ vào kinh nghiệm nước ngoài của tôi.

Copy Report an error

It would be very sad, were I to relate all the misery and privations which the poor little duckling endured during the hard winter.

Sẽ rất buồn, phải chăng tôi đã kể hết những khổ sở và sự riêng tư mà chú vịt nhỏ tội nghiệp phải chịu đựng trong suốt mùa đông khó khăn.

Copy Report an error

And in several instances they relate the same event differently.

Copy Report an error

He could sing the songs of the bees, recite the poetry of the wood-flowers and relate the history of every blinking owl in the forest.

Copy Report an error

I relate with people better when I’m not caught up worrying about myself.

Tôi quan hệ với mọi người tốt hơn khi không phải lo lắng về bản thân.

Copy Report an error

Sami and Layla could relate on different things.

Copy Report an error

If you’ll pardon my digression, I’d like to relate a little anecdote that will help me to prove my point.

Nếu bạn thứ lỗi cho sự lạc đề của tôi, tôi muốn kể lại một giai thoại nhỏ sẽ giúp tôi chứng minh quan điểm của mình.

Copy Report an error

How does the discovery relate to scientific progress?

Copy Report an error

I shall relate events that impressed me with feelings which, from what I had been, have made me what I am.

tôi sẽ liên hệ sự kiện ấn tượng tôi với những cảm xúc đó, từ những gì tôi đã, đã làm cho tôi những gì tôi.

Copy Report an error

Well, if anyone can relate, it’s me.

À, nếu ai đó có thể liên hệ, thì đó là tôi.

Copy Report an error

I shall never forget an anecdote my uncle used to relate, dealing with the period when he was chaplain of the Lincolnshire county jail.

Copy Report an error

But everyone can relate to a low-born scrapper who rescued his king from bankruptcy and saved the honor of his nation.

Copy Report an error

“It destroys one’s capacity to relate socially, to work, to play, to hold a job or enjoy life.”

“Nó phá hủy khả năng quan hệ xã hội, làm việc, vui chơi, nắm giữ công việc hoặc tận hưởng cuộc sống của một người.”

Copy Report an error

Katy has always been very true to herself, and I think that that’s why people relate to her.

Copy Report an error

Could this be relate to the Foundation?

Copy Report an error

It does relate to him, and I will tell you directly;” (resuming her work, and seeming resolved against looking up.)

Copy Report an error

Moreover, he is to wait on you to-day to relate all; and it certainly will give you great pleasure!

Hơn nữa, anh ấy sẽ chờ đợi bạn hàng ngày để liên hệ tất cả; và nó chắc chắn sẽ cung cấp cho bạn niềm vui lớn!

Copy Report an error

Such informal documents shall relate to items on the adopted agenda of the respective meeting.

Copy Report an error

There are two reasons, which relate to both the nature of our democracy and to the world we live in.

Copy Report an error

People spend a fair amount of time searching for new stuff, but in many cases they would like to relate it to old stuff – specifically, to their own information.

Mọi người dành một lượng thời gian hợp lý để tìm kiếm những thứ mới, nhưng trong nhiều trường hợp họ muốn liên hệ nó với những thứ cũ – cụ thể là với thông tin của riêng họ.

Copy Report an error

Grimm’s Law, as it became known, showed how the consonants of different Indo-European languages relate to each other.

Copy Report an error

Not only did it allow them to relate to the communities they serve, it also broke down invisible barriers and created a lasting bond amongst themselves.

Copy Report an error

I can’t find any references that relate to this passage.

Copy Report an error

He finds it very hard then to relate to other people Even though he still has the consciousness of a human.

Sau đó anh ấy cảm thấy rất khó để quan hệ với người khác mặc dù anh ấy vẫn còn ý thức của một con người.

Copy Report an error

Now, Mr. Hart, can you relate our next case… to the summary we’ve been building?

Bây giờ, ông Hart, bạn có thể liên hệ trường hợp tiếp theo của chúng tôi … với bản tóm tắt chúng tôi đang xây dựng không?

Copy Report an error

Now do you have any other pictures on your phone that relate to other cases?

Copy Report an error

Pain is always by the side of joy, the spondee by the dactyl.-Master, I must relate to you the history of the Barbeau mansion.

Nỗi đau luôn ở bên cạnh niềm vui, là người bạn đời của dactyl.-Master, tôi phải kể cho bạn về lịch sử của biệt thự Barbeau.

Copy Report an error

I am, my dear friend, at once very happy and very miserable; since you are entirely in my confidence, I will relate my pains and pleasures.

Tôi là người bạn thân yêu của tôi, có lúc rất hạnh phúc và rất đau khổ; vì bạn hoàn toàn tự tin, tôi sẽ liên hệ những nỗi đau và thú vui của tôi.

Copy Report an error

She’ll relate to me differently.

Copy Report an error

It’s a question of how you relate to the work, to what extent you feel responsible for it.

Copy Report an error

“Well, you promise me, if I tell all I know, to relate, in your turn, all that I do not know?”

Copy Report an error

Morbidity rates relate directly to the time of consumption.

Copy Report an error

The claims relate to telephone, telex and telegraph traffic.

Copy Report an error

The major long-term complications relate to damage to blood vessels.

Copy Report an error

We now briefly discuss how these various definitions relate to one another and when they are equivalent.

Copy Report an error

The DCNF maintains a list of articles, papers and more documentation that relate to DC.

Copy Report an error

Demonstrations are similar to written storytelling and examples in that they allow students to personally relate to the presented information.

Trình diễn tương tự như kể chuyện bằng văn bản và ví dụ ở chỗ chúng cho phép học sinh liên hệ cá nhân với thông tin được trình bày.

Copy Report an error

Maxwell’s equations are partial differential equations that relate the electric and magnetic fields to each other and to the electric charges and currents.

Phương trình Maxwell là phương trình vi phân riêng liên hệ giữa điện trường và từ trường với nhau và với điện tích và dòng điện.

Copy Report an error

The documentary interviews survivors from the industry who relate their experiences of the poisoning and the bureaucratic hurdles they met in seeking compensation and justice.

Các cuộc phỏng vấn tài liệu về những người sống sót trong ngành, những người kể lại kinh nghiệm của họ về vụ đầu độc và những trở ngại quan liêu mà họ gặp phải khi tìm kiếm sự đền bù và công lý.

Copy Report an error

The Bianchi identities relate the torsion to the curvature.

Copy Report an error

The primary differences between the formularies of different Part D plans relate to the coverage of brand-name drugs.

Copy Report an error

Even though the episode is the penultimate episode of the season, Nielsen felt she wanted the final scene of the episode to relate to the upcoming conclusion.

Copy Report an error

Three Bon scriptures—mdo ‘dus, gzer mig, and gzi brjid—relate the mythos of Tonpa Shenrab Miwoche.

Copy Report an error

Relating to organic input in an organisation, it can also relate to the act of closing down cost centers through established organic methods instead of waiting for a Finance list.

Copy Report an error

Genesis 19 goes on to relate how Lot’s daughters get him drunk and have sex with him.

Sáng thế ký 19 tiếp tục kể lại việc các con gái của Lót làm ông say rượu và quan hệ với ông.

Copy Report an error

The register was created in 1999 and includes items protected by heritage schedules that relate to the State, and to regional and to local environmental plans.

Copy Report an error

Next is discussed how several different dipole moment descriptions of a medium relate to the polarization entering Maxwell’s equations.

Copy Report an error

Often, the game’s goal is to compare the first and final word, to see if they relate, or to see how different they are, or also to see how many words are repeated.

Copy Report an error

A common objection to software patents is that they relate to trivial inventions.

Copy Report an error

FINs for foreigners holding long-term passes are randomly assigned and do not relate to the holder’s year of birth or year of issuance in any way.

Copy Report an error

In 2019, researchers found interstellar iron in Antarctica in snow from the Kohnen Station which they relate to the Local Interstellar Cloud.

Copy Report an error

Common themes of Matryoshkas are floral and relate to nature.

Copy Report an error

The basis for this broader spectrum of activity of lamotrigine is unknown, but could relate to actions of the drug on voltage-activated calcium channels.

Copy Report an error

Additionally, a letter of credit may also have specific terms relating to the payment conditions which relate to the underlying reference documents.

Copy Report an error

Angel primarily films within his family’s lower-class neighbourhood in Port Harcourt, as a means to portray the environment he grew up in and relate to other common people in Nigeria.

Angel chủ yếu quay phim trong khu phố thuộc tầng lớp thấp của gia đình anh ở Port Harcourt, như một phương tiện để khắc họa môi trường anh lớn lên và liên hệ với những người bình thường khác ở Nigeria.

Copy Report an error

Such spells as 26–30, and sometimes spells 6 and 126, relate to the heart and were inscribed on scarabs.

Copy Report an error

We can also find expressions which relate to prime numbers and the prime number theorem.

Copy Report an error

Webster describes segmentation variables as “customer characteristics that relate to some important difference in customer response to marketing effort”.

Copy Report an error

The two parables relate to the relationship between Jesus’ teaching and traditional Judaism.

Copy Report an error

His works relate to aqidah and fiqh Hanafi.

Copy Report an error

Pragmatics helps anthropologists relate elements of language to broader social phenomena; it thus pervades the field of linguistic anthropology.

Ngữ dụng học giúp các nhà nhân học liên hệ các yếu tố của ngôn ngữ với các hiện tượng xã hội rộng lớn hơn; do đó nó tràn ngập lĩnh vực nhân học ngôn ngữ.

Copy Report an error

It has been possible to relate microstructural information and macroscopic mechanical properties of the fibres.

Có thể liên hệ thông tin cấu trúc vi mô và các đặc tính cơ học vĩ mô của sợi.

Copy Report an error

Understanding helps one relate all truths to one’s supernatural purpose; it further illuminates one’s understanding of Sacred Scripture; and it assists us to understand the significance of religious ritual.

Sự hiểu biết giúp người ta liên hệ tất cả sự thật với mục đích siêu nhiên của mình; nó chiếu sáng hơn nữa sự hiểu biết của một người về Sách Thánh; và nó giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của nghi lễ tôn giáo.

Copy Report an error

The questions relating to the reptilian classification of Longisquama and to the exact function of the ‘long scales’ relate to a wider debate about the origin of birds, and whether they are descended from dinosaurs.

Copy Report an error

It is desired to know how the values of dP and dV relate to each other as the adiabatic process proceeds.

Copy Report an error

Some of the most difficult troubleshooting issues relate to symptoms which occur intermittently.

Copy Report an error

Ideally, the weights would relate to the composition of expenditure during the time between the price-reference month and the current month.

Copy Report an error

This large collection of meteorites allows a better understanding of the abundance of meteorite types in the solar system and how meteorites relate to asteroids and comets.

Copy Report an error

Aquinas believed all gains made in trade must relate to the labour exerted by the merchant, not to the need of the buyer.

Copy Report an error

A religion is a system of behaviors and practices, that relate to supernatural, transcendental, or spiritual elements, but the precise definition is debated.

Copy Report an error

There are many characteristics in Southern Gothic Literature that relate back to its parent genre of American Gothic and even to European Gothic.

Copy Report an error

Phân Biệt Cấu Trúc How Many Và How Much Dễ Dàng Nhất

– Cấu trúc how many mang nghĩa là “bao nhiêu”, được dùng trong tiếng Anh để hỏi về số lượng của một vật nào đó.

Cách dùng cấu trúc how many

Trong tiếng Anh, c ấu trúc how many được sử dụng với mẫu cấu trúc và câu trả lời như sau:

1. Cấu trúc how many đi với động từ “to be”

→ There is one. (Có 1 cái.)

→ There are five. (Có 5 cái.)

2. Cấu trúc how many với động từ thường

→ I want to buy five books. (Tôi muốn mua 5 cuốn.)

→ She needs a dozen. (Mẹ tôi cần một tá trứng.)

Hướng dẫn cách học tiếng Anh thực dụng, dễ dàng cho người không có năng khiếu và mất gốc. Hơn 205.350 học viên đã áp dụng thành công với lộ trình học thông minh này.

2. Phân biệt cấu trúc how many và how much

Đều mang nghĩa là bao nhiêu, nhưng cấu trúc how much trong tiếng Anh chỉ áp dụng cho danh từ không đếm được (Uncountable Noun).

→ There are three bottles. (Có 3 bình.)

→ There is one loaf. (Có 1 ổ bánh mì)

→ I want three loaves of bread. (Tôi muốn có 3 ổ bánh.)

→ She needs 3 kilos. (Cô ấy cần 3 kg.)

Ngoài cách sử dụng để hỏi về số lượng như cấu trúc how many, cấu trúc how much còn được sử dụng để hỏi về giá cả.

→ It is $40. (Nó có giá 40 đô.)

→ It is 500.000 VND. (Nó có giá 500.000 VNĐ)

→ It costs $4000. (Nó có giá 4000 đô.)

→ It costs $100. (Nó có giá 100 đô.)

3. Bài tập cấu trúc how many và how much

Bài 1: Điền How many hoặc How much vào chỗ trống thích hợp:

………………… milk is there in the fridge?

………………… apples do you want?

………………… languages can you speak?

………………… girls are there in your class?

…………………… pens are there in your bag?

………………… water do you drink everyday?

………………… kilos of rice does your mother need?

………………… loaves of bread does she want?

Bài 2: Chọn đáp án đúng nhất cho mỗi câu sau

A. How much B. how many C. how D. how long

A. How often B. How many C. How much D. How

A. How much B. How many C. How D. What

A. many B. much C. a lot D. little

A. cost B. costs C. is costing D. costing

Comments

Phân Biệt Odds Ratio &Amp; Relative Risk

Chủ nhật – 11/03/2012 19:25

GS. Nguyễn Văn Tuấn Giáo sư y khoa, Đại học New South Wales Viện nghiên cứu y khoa Garvan, Sydney, Australia

Tóm tắt: Một trong những hiểu lầm phổ biến trong diễn giải kết quả nghiên cứu lâm sàng là nhầm lẫn giữa odds ratio (OR) và relative risk (RR). Nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial – RCT) thường có xu hướng báo cáo kết quả qua chỉ số RR, nhưng cũng có khi OR được sử dụng để mô tả ảnh hưởng của một thuật điều trị hay mối liên hệ giữa hai yếu tố. Sự lựa chọn này dẫn đến hiểu lầm rằng hai chỉ số này giống nhau, và sự hiểu lầm xảy ra ở ngay cả những nhà nghiên cứu có kinh nghiệm. Tuy nhiên, OR không có cùng ý nghĩa với RR. Nói ngắn gọn, OR là một ước số của RR. Trong điều kiện tần số mắc bệnh thấp hay rất thấp (dưới 1%) thì OR và RR tương đương nhau, nhưng khi tần số mắc bệnh cao hơn 20% thì OR có xu hướng ước tính RR cao hơn thực tế. Bài này sẽ giải thích những khác biệt quan trọng giữa 2 chỉ số này, và trình bày một cách diễn giải đúng hơn.

Trong một bài báo khoa học về mối liên hệ giữa gene RUNX2 và gãy xương, các tác giả viết: ” The risk of fracture in the CC genotype was 45% lower than TT group (OR = 0.55; 95% CI: 0.32 – 0.94; P = 0.03)“. Tuy nhiên cách diễn giải này sai, vì tác giả hiểu lầm khái niệm risk và odds. Thật ra, đây là một hiểu lầm rất phổ biến, vì các nhà nghiên cứu thường hiểu OR tương đương với RR, nhưng hai chỉ số này khác nhau.

Biểu đồ 1 minh họa cách tính prevalence và incidence.

Nếu một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại thời điểm T1 thì tỉ lệ lưu hành ước tính lúc đó là 2/5 = 30%. Nhưng nếu công trình nghiên cứu thực hiện tại thời điểm T2 thì tỉ lệ lưu hành là 3/5 = 60%. Nếu công trình nghiên cứu theo dõi 5 cá nhân đến thời điểm T3, và trong thời gian này có 3 cá nhân mắc bệnh; do đó, tỉ lệ phát sinh trong thời gian này là 3/5 = 60%.

Khái niệm nguy cơ (risk) và odds

Trong y khoa, nguy cơ mắc bệnh thực chất là xác suất. Xác suất, như chúng ta biết, là một biến số giữa 0 và 1. Xác suất thực chất là tỉ lệ, tỉ số, và phần trăm. Do đó, thuật ngữ risk trong y khoa có thể có nghĩa là xác suất, tỉ lệ lưu hành, hay tỉ lệ phát sinh.

Cụm từ nguy cơ, dịch từ chữ risktrong tiếng Anh, có rất nhiều nghĩa trong y khoa. Cần phải phân biệt nguy cơ mắc bệnh và bệnh. Khi nói đến ung thư, chúng ta muốn nói đến một sự kiệncho một cá nhân; nhưng khi nói đến nguy cơ ung thư hay cancer risk, chúng ta nói đến nguy cơ xảy ra, nguy cơ phát sinh cho một cá nhân hay một quần thể. Xin nhắc lại, sự kiện khác với nguy cơ sự kiện. Do đó, ung thư khác với nguy cơ ung thư, vì ung thư là một sự kiện mang tính khẳng định (certainty), còn nguy cơ ung thư là một biến số liên tục mang tính bất định (uncertainty). Tất cả chúng ta trong bất cứ thời điểm nào đều có nguy cơ bị bệnh; nhưng có người có nguy cơ cao, có người có nguy cơ thấp.

Trong tiếng Anh còn có một chữ nữa mà các ngôn ngữ khác như Pháp, Tây Ban Nha, Đức, và ngay cả tiếng Việt cũng không có: đó là chữ odds. Nếu nguy cơ bệnh nhân mắc bệnh là p, thì có một cách nói khác rằng odds mà bệnh nhân đó mắc bệnh so với không mắc bệnh là

Ví dụ: nếu nguy cơ bệnh nhân bị ung thư trong vòng 5 năm tới là 0.10 (tức 10%) thì odds mà bệnh nhân bị ung thư là 0.1/ (1 – 0.1) = 0.11. Theo định nghĩa này odds không phải là nguy cơhay risk.

OR và RR: cơ chế tính toán

OR và RR là hai chỉ số thống kê rất phổ biến và có ích trong nghiên cứu lâm sàng, vì cả hai chỉ số kiểm định mối liên hệ giữa một yếu tố nguy cơ và bệnh tật – một mục tiêu gần như căn bản của nghiên cứu y học hiện đại. Cơ chế tính toán của hai chỉ số này cực kì đơn giản.

Hãy tưởng tượng một công trình nghiên cứu RCT với 2 nhóm: nhóm được điều trị tích cực với một loại thuốc gồm n1bệnh nhân, và một nhóm chứng (placebo) gồm n2bệnh nhân. Sau một thời gian điều trị, có k1bệnh nhân trong nhóm được điều trị mắc bệnh, và k2bệnh nhân trong nhóm chứng mắc bệnh. Như vậy, tỉ lệ mắc bệnh của nhóm điều trị (kí hiệu p1) và nhóm chứng ( p2) được ước tính như sau:

: Thay vì sử dụng tỉ lệ phát sinh p để đo lường khả năng mắc bệnh, thống kê cung cấp cho chúng ta một chỉ số khác: đó là odds. Odds như đề cập trên là tỉ số của hai xác suất. Nếu p là xác suất mắc bệnh, thì 1 – p là xác suất sự kiện không mắc bệnh. Theo đó, odds được định nghĩa bằng:

Với định nghĩa này, chúng ta quay lại với ví dụ vừa trình bày về RR. Odds mắc bệnh trong nhóm được điều trị (kí hiệu odds1) và nhóm chứng (kí hiệu odds2) là:

Nhìn vào công thức định nghĩa odds, chúng ta dễ dàng thấy nếu tỉ lệ mắc bệnh p thấp (chẳng hạn như 0.001 hay 0.01 – tức 0.1% hay 1%), thì odds≈p. Chẳng hạn như nếu p =0.01, thì 1 – p = 0.99, và do đó odds = 0.01 / 0.99 = 0.010101, tức rất gần với p = 0.01. Quay lại với công thức [2], nếu nguy cơ mắc bệnh (p 1 hay p 2) ( hay ) thấp hay rất thấp, thì OR có thể viết như sau:

Nói cách khác, nếu nguy cơ mắc bệnh thấp, thì OR gần bằng với RR. Nhưng nếu nguy cơ mắc bệnh cao (chẳng hạn như trên 10%) thì chỉ số OR cũng cao hơn chỉ số RR.

Có thể làm một vài tính toán để thấy sự khác biệt giữa RR và OR qua bảng số liệu sau đây ( Bảng 1). Với những trường hợp nguy cơ mắc bệnh dưới 5%, OR và RR không khác nhau đáng kể. Nhưng nếu nguy cơ mắc bệnh cao hơn 10%, thì OR thường ước tính RR cao hơn thực tế.

RR và OR: ứng dụng

Ví dụ 1: truy tìm ung thư vú. Chương trình truy tìm ung thư vú được khuyến khích như là một phương cách y tế công cộng nhằm giảm nguy cơ tử vong từ bệnh này ở phụ nữ. Một nhóm nghiên cứu ở Thụy Điển tiến hành một nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT), mà trong đó họ tuyển các phụ nữ tuổi 50 trở lên, và chia thành 2 nhóm: nhóm A gồm 66103 phụ nữ được chụp mammography thường xuyên (mỗi năm một lần), và nhóm B gồm 66105 phụ nữ không chụp mammography mà chỉ theo dõi bình thường (tức nhóm chứng). Sau 5 năm, nhóm A có 183 người tử vong vì ung thư vú và nhóm B có 177 người tử vong. Số liệu được trình bày trong Bảng 2 sau đây:

Bảng 2: Truy tìm ung thư vú và tử vong

Với số liệu này, chúng ta có thể thấy nguy cơ tử vong trong nhóm A là P A = 183/66103 = 0.002768 và nhóm B là P A = 177/66105 = 0.002678. Từ đó, RR có thể ước tính bằng công thức [1] như sau:

Như vậy, OR bằng RR. Nhưng cách diễn dịch của OR khác với RR. Bởi vì đơn vị của RR là nguy cơ tử vong, cho nên chúng ta có thể nói rằng nhóm chụp mammography thường xuyên có nguy cơ tử vong cao hơn nhóm đối chứng khoảng 3.4%. Nhưng đơn vị của OR là odds, cho nên chúng ta không thể phát biểu về “nguy cơ tử vong”, mà chỉ có thể phát biểu rằng “khả năng” hay odds tử vong của nhóm A cao hơn nhóm B khoảng 3.4%. Ở đây, vì nguy cơ tử vong thấp, cho nên như công thức [3] cho thấy hai chỉ số này giống nhau, và trong thực tế chúng ta có thể diễn dịch một OR như là RR.

Cách phân biệt trên có vẻ máy móc và lí thuyết, nhưng quan trọng. Để thấy rõ nguy hiểm trong cách diễn dịch OR, tôi sẽ trình bày một ví dụ sau đây:

Ví dụ 2: sắc tộc và tỉ lệ thông tim (cardiac catherization). Tập san New England Journal of Medicine số ra ngày 25/2/1999 (tập 349; trang 618-626) công bố một nghiên cứu rất thú vị về ảnh hưởng của sắc tộc đến tỉ lệ thông tim. Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu mướn một số diễn viên điện ảnh người da trắng và da đen đóng vai bệnh nhân. Các diễn viên được chỉ cách trình bày các triệu chứng và bệnh trạng cẩn thận và đầy đủ, nhưng giống nhau. Họ thu hình các diễn viên vào video; chọn ngẫu nhiên 720 bác sĩ chuyên khoa tim người da trắng, cho họ xem các video này, và hỏi “ai cần được thông tim”. Kết quả cho thấy 90.6% bác sĩ đề nghị các bệnh nhân da trắng nên được thông tim, nhưng tỉ lệ này cho bệnh nhân da đen chỉ 84.7%. Một phần của kết quả có thể tóm lược trong Bảng 3 sau đây:

Bảng 3: Sắc tộc và tỉ lệ thông tim

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng tỉ lệ bệnh nhân da đen được thông tim thấp hơn tỉ lệ ở bệnh nhân da trắng đến 40%. Sau khi nghiên cứu này công bố, giới truyền thông rầm rộ bàn về kết quả và ý nghĩa của nghiên cứu. Không cần nói ra, cũng có thể đoán được trong dư âm và tình trạng kì thị chủng tộc ở Mĩ còn kéo dài, những nhóm đấu tranh chống kì thị chủng tộc lấy kết quả này để làm bằng chứng tố cáo rằng các bác sĩ da trắng kì thị bệnh nhân da đen. Ý nghĩa còn sâu xa hơn: sự kì thị này có thể dẫn đến tử vong. Nói cách khác, có người diễn dịch rằng đây là một sự cố sát!

Nhưng rất tiếc là con số 40% đó đã được diễn dịch cực kì sai. Không những diễn dịch sai mà cách tính toán cũng sai. Để hiểu tại sao cách diễn dịch đó sai, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách tính OR của các tác giả. Odds thông tim trong nhóm bệnh nhân da trắng là:

Tại sao có sự khác biệt? Tại vì các tác giả và giới truyền thông nhầm lẫn rằng OR là RR. Trong trường hợp này, OR không phải là một chỉ số thích hợp để phân tích số liệu, bởi vì son số tỉ lệ quá cao (84.7% và 90.6%), và vì tỉ lệ quá cao, cho nên OR ước tính RR quá cao hơn thực tế.

Thật ra, ở đây cách gọi ” RR” cũng không chính xác. RR chỉ sử dụng cho tỉ lệ phát sinh (incidence), nhưng trong trường hợp này không có tỉ lệ phát sinh, mà là tỉ lệ lưu hành (prevalence). Do đó, thuật ngữ chính xác để mô tả 0.935 là prevalence ratio (PR). (Đây là một đề tài khác mà tôi hi vọng sẽ có dịp quay lại để bàn thêm). Điều ngạc nhiên là sai sót này lại hiện diện ngay trên giấy trắng mực đen của một tập san y học vào hàng số 1 trên thế giới!

Vấn đề diễn dịch OR

RR là tỉ số của 2 tỉ lệ hay 2 nguy cơ, và tỉ lệ thì chúng ta có thể hiểu được khá dễ dàng. Nếu nói tỉ lệ mắc bệnh 3%, chúng ta nghĩ ngay đến 3 trong 100 người mắc bệnh. Vì thế, vấn đề diễn dịch RR khá dễ dàng. Nếu RR = 2, chúng ta có thể nói rằng tỉ lệ tăng gấp 2 lần. Ai cũng hiểu được mà không chất vấn gì thêm.

OR là tỉ số của hai odds. Odds phản ảnh “khả năng” mắc bệnh. Odds = 2 có nghĩa là khả năng mắc bệnh cao hơn khả năng không mắc bệnh 2 lần. Khó hiểu. Odds đã khó hiểu thì tỉ số của hai odds (hay hai khả năng) lại càng là một đo lường khó hiểu hơn vì nó quá chung chung, khó cảm nhận được. Thật ra, một người bình thường khó có thể hiểu chính xác nghĩa của OR. Chúng ta biết OR = 2 không hẳn có cùng nghĩa với RR = 2. Chính vì thế mà gần đây có “phong trào xét lại” OR trên các tập san y học quốc tế. Nhiều nhà nghiên cứu, dịch tễ học và thống kê học kêu gọi bỏ OR!

Nhưng bất cứ đo lường nào cũng lợi thế và khiếm khuyết. RR, dù dễ diễn dịch cũng có khiếm khuyết của nó. Lấy ví dụ đơn giản: nếu tỉ lệ mắc bệnh ung thư trong nhóm A là 1% và nhóm B là 3%, chúng ta dễ dàng thấy RR = 3. Nhưng thay vì nói mắc bệnh, chúng ta lật ngược lại vấn đề “không mắc bệnh”: chúng ta có tỉ lệ cho nhóm A là 99% so với nhóm B là 97%, và như thế RR = 0.97 / 0.99 = 0.98, tức là tỉ lệ không mắc bệnh trong nhóm B thấp hơn nhóm A khoảng 2%. (Nhưng nếu dùng “mắc bệnh”, nhóm A mắc bệnh nhiều hơn nhóm B đến 3 lần!) Nói cách khác, RR có thể thiếu tính nhất quán (consistency).

Nhưng OR thì nhất quán. Trong ví dụ trên, nếu lấy chỉ số là “mắc bệnh” làm so sánh, OR là 3.06. Nhưng nếu lấy “không mắc bệnh” làm chỉ số son sánh, thì OR vẫn là 3.06 (bạn đọc có thể kiểm tra con số này). Trong toán thống kê, người ta gọi đặc tính của OR là symmetric (đối xứng), còn đặc tính của RR là asymmetric (bất đối xứng).

Một khác biệt cơ bản nữa giữa RR và OR là sự tùy thuộc vào thể loại nghiên cứu. Nói một cách ngắn gọn, RR chỉ có thể ước tính từ nghiên cứu xuôi thời gian (cohort prospective study), nhưng OR thì có thể ước tính từ tất cả thể loại nghiên cứu, nhưng chủ yếu là nghiên cứu bệnh – chứng.

Bởi vì OR có thể sử dụng cho nghiên cứu cắt ngang nhưng có vấn đề về diễn giải, và nghiên cứu cắt ngang chỉ có thể ước tính prevalence hay tỉ lệ lưu hành, nên các nhà nghiên cứu đề nghị sử dụng prevalence ratio ( PR) thay cho OR đối với các nghiên cứu cắt ngang. Tương tự như RR là tỉ số của hai incidence (tỉ lệ phát sinh), PR là tỉ số của 2 tỉ lệ lưu hành.

Một chỉ số khác cũng có ý nghĩa tương tự như ralative risk là hazard ratio ( HR hay tỉ số rủi ro). Thông thường các nghiên cứu lâm sàng theo dõi đối tượng trong một thời gian dài, thay vì tính tỉ lệ phát sinh bệnh trong thời gian đó, thỉnh thoảng các nhà nghiên cứu tính tỉ lệ phát sinh tích lũy (cumulative risk) trong thời gian cho từng nhóm, và tính HR. Tuy cách tính này, đứng trên phương diện toán học, chính xác hơn cách tính tỉ lệ trên 100 người-năm hay trên 100 đối tượng, nhưng trong thực tế thì HR và RR không khác nhau đáng kể. Trong trường hợp thời gian theo dõi giữa 2 nhóm tương đương nhau thì hầu như không có khác biệt nào giữa RR và HR.

Bảng 4: Thể loại nghiên cứu và sự thích hợp của OR, PR, RR

Giả dụ chúng ta muốn tìm hiểu mối liên hệ giữa phơi nhiễm chất độc màu da cam (Agent Orange – AO) và bệnh ung thư. Một cách nghiên cứu qui mô là tuyển chọn [ngẫu nhiên] một nhóm đối tượng, sau đó phân nhóm dựa vào tiền sử có bị phơi nhiễm độc chất hay không. Sau đó, theo dõi cả hai nhóm đối tượng một thời gian (chẳng hạn như 5 năm) và ghi nhận số người bị ung thư. Kết quả của nghiên cứu như thế có thể tóm lược trong Bảng 5 sau đây. Trong số 1000 người được thẩm định bị phơi nhiễm lúc ban đầu, có 20 người (hay 2%) bị ung thư trong thời gian theo dõi; trong số 10,000 người không bị phơi nhiễm AO, có 100 người (tức 1%) bị ung thư sau đó. Như vậy, RR = 0.02/0.01 = 2. Nhưng nếu tính bằng odd thì OR = 2.02. Hai chỉ số này không khác nhau đáng kể.

Bảng 6. Một nghiên cứu bệnh – chứng (giả tưởng)

Trong nhóm bệnh nhân, có 10 người (hay 10%) từng bị phơi nhiễm AO; và trong nhóm không ung thư số đối tượng từng bị phơi nhiễm là 5 người (hay 5%). Ở đây, chúng ta không thể tính tỉ lệ phát sinh bệnh (incidence), bởi vì số lượng bệnh nhân và đối chứng đã được xác định trước. Vì không thể ước tính tỉ lệ phát sinh, nghiên cứu bệnh chứng không cho phép chúng ta ước tính RR. Tuy nhiên, chúng ta có thể tính OR, và OR trong trường hợp này là một ước tính chỉ số RR.

Số liệu Bảng 6 cho thấy odds bị phơi nhiễm trong nhóm bệnh nhân là: 10/90 = 0.1111, và nhóm đối chứng: 0.05263. Do đó, OR = 0.1111 / 0.05263 = 2.11. Thật ra, có thể tính đơn giản hơn bằng công thức “giao chéo”:

Điểm chính để phân biệt hai hình thức nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu. Với nghiên cứu xuôi thời gian, chúng ta xác định số lượng đối tượng theo yếu tố nguy cơ ngay từ đầu, và số lượng bệnh phát sinh là một số ghi nhận. Ngược lại, với nghiên cứu ngược thời gian, chúng ta xác định số lượng bệnh nhân và đối tượng ngay từ đầu, và số lượng phơi nhiễm yếu tố nguy cơ là số ghi nhận.

Tuy kết quả nghiên cứu của hai thể loại nghiên cứu được trình bày rất giống nhau: hai cột và hai dòng (2×2 table), nhưng “câu chuyện” đằng sau của các số liệu này rất khác nhau. Không am hiểu câu chuyện đằng sau của một bảng số liệu rất dễ dàng sai lầm trong khi phân tích!

Tóm tắt

Tóm lại, cả hai RR và OR đều là những chỉ số phản ảnh độ tương quan giữa một yếu tố nguy cơ và bệnh; nhưng RR mới là chỉ số chúng ta cần biết (còn OR chỉ là ước số của RR). Cần phải xác định rằng odds không phải là risk hay nguy cơ. Do đó, ý nghĩa của OR rất khó diễn giải. Đây chính là lí do mà một số nhà nghiên cứu đòi “tẩy chai” OR [1,2]. Nhưng vì tính nhất quán của OR so với RR nên việc sử dụng OR cần phải đặt vào bối cảnh nghiên cứu [3]. Trong nghiên cứu cắt ngang hay nghiên cứu theo thời gian, và khi tỉ lệ lưu hành hay tỉ lệ phát sinh bệnh cao thì nên tránh sử dụng OR [4].

Việc chọn OR và RR tùy theo mô hình nghiên cứu [5-7]. OR có thể sử dụng cho tất cả các nghiên cứu bệnh chứng (case-control study), cắt ngang (cross-sectional study), nghiên cứu theo dõi bệnh nhân theo thời gian (prospective study) kể cả nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT). RR chỉ có thể sử dụng cho các nghiên cứu theo dõi bệnh nhân theo thời gian và nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên. Đối với các nghiên cứu cắt ngang, PRthường được sử dụng để khắc phục những khó khăn trong diễn giải OR.

Về mặt tính toán, không có gì sai khi một nghiên cứu cắt ngang hay theo thời gian sử dụng OR. Nhưng cần phải hết sức cẩn thận khi diễn giải OR trong các nghiên cứu cắt ngang, vì OR tùy thuộc vào nguy cơ mắc bệnh (và khi nguy cơ mắc bệnh cao – như trên 10% – thì OR thường cao hơn so với thực tế). Do đó, các nghiên cứu cắt ngang ngày nay thường sử dụng prevalence ratio.

Quay trở lại bài báo mà người viết bài này bình duyệt, khi tác giả viết: ” The risk of fracture in the CC genotype was 45% lower than TT group (OR = 0.55; 95% CI: 0.32 – 0.94; P = 0.03)“, họ nhầm lẫn giữa khái niệm nguy cơ và odds. Cách diễn giải đúng là ” The odds of fracture in theCC genotype was 45% lower than TT group” (Nhóm với biến thể gene CC có nguy cơ gãy xương thấp hơn 45% so với nhóm với biến thể TT).

Tài liệu tham khảo

1. Sackett DL, Deeks JJ, Altman DG. Down with odds ratios! Evidence-Based Med 1996; 1: 164-166.

2. Deeks J. When can odds ratios mislead? Odds ratios should be used only in case-control studies and logistic regression analyses [letter]. British Medical Journal 1998:317(7166);1155-6; discussion 1156-7.

3. Altman DG, Deeks JJ, Sackett DL. Odds ratios should be avoided when events are common. British Medical Journal 1998;317:1318.

4. Schmidt CO, Kohlmann T. When to use the odds ratio or the relative risk? International Journal of Public Health 2008; 53:165-7.

5. Fahey T, Griffiths S and Peters TJ. Evidence-based purchasing: understanding results of clinical trials and systematic reviews. British Medical Journal 1995:311(7012);1056-9; discussion 1059-60.

6. Greenland S. Interpretation and Choice of Effect Measures in Epidemiologic Analyses. American Journal of Epidemiology 1987:125(5);761-767.

7. Pearce chúng tôi Does the Odds Ratio Estimate in a Case-Control Study? International Journal of Epidemiology 1993:22(6);118

Bạn đang đọc nội dung bài viết How Does The Hebrew Bible Relate To The Ancient Near Eastern World (Vietnamese) trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!