Đề Xuất 2/2023 # Khoa Học Lý Giải Sự Khác Biệt Giữa Người Và Động Vật # Top 10 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Khoa Học Lý Giải Sự Khác Biệt Giữa Người Và Động Vật # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khoa Học Lý Giải Sự Khác Biệt Giữa Người Và Động Vật mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chúng ta thường cho rằng con người là thực thể cao nhất, hoặc chí ít là tách biệt, so với mọi loài vật trên hành tinh. Nhưng thực tế là mỗi loài vật đều đặc biệt và con người cũng không ngoại lệ. Vậy tại sao con người thống trị động vật? Bằng những luận cứ khoa học, Giáo sư tâm lý học Thomas Suddendorf thuộc Ðại học Queensland (Úc) đã lý giải rõ vấn đề này, thông qua cuốn sách mới nhất của ông mang tên “The Gap: The Science of What Separates Us From Other Animals” (tạm dịch: Khoa học về Sự khác biệt giữa Con người và Ðộng vật).

Những khác biệt về thể chất phân biệt con người với những “họ hàng” gần gũi nhất là gì? Theo Giáo sư Suddendorf, cũng là một học giả thuộc Hiệp hội Khoa học Tâm lý – một tổ chức quốc tế, cơ thể chúng ta có nhiều điểm khác biệt so với các loài vượn và tinh tinh.

 Tinh tinh là loài có gần 99% ADN giống với con người. Ảnh: Getty Image

Theo đó, con người có thể duỗi thẳng đầu gối, có đôi chân dài hơn đôi tay, đặc biệt là khả năng đứng thẳng, giúp giải phóng đôi tay để làm những việc khác chứ không phải dùng nâng đỡ cơ thể như vượn và tinh tinh. Về phần mặt, răng nanh ở người bị thoái hóa nhưng có thêm bộ phận được gọi là cằm. Riêng tròng mắt con người tương đối nhỏ và bao quanh bởi vòng trắng, giúp chúng ta dễ dàng xác định hướng nhìn của người khác. Ngoài ra, cơ thể người được bao phủ bởi tuyến mồ hôi hoạt động như hệ thống làm mát hiệu quả hơn so với các loài linh trưởng khác.

Theo đó, con người có thể duỗi thẳng đầu gối, có đôi chân dài hơn đôi tay, đặc biệt là khả năng đứng thẳng, giúp giải phóng đôi tay để làm những việc khác chứ không phải dùng nâng đỡ cơ thể như vượn và tinh tinh. Về phần mặt, răng nanh ở người bị thoái hóa nhưng có thêm bộ phận được gọi là cằm. Riêng tròng mắt con người tương đối nhỏ và bao quanh bởi vòng trắng, giúp chúng ta dễ dàng xác định hướng nhìn của người khác. Ngoài ra, cơ thể người được bao phủ bởi tuyến mồ hôi hoạt động như hệ thống làm mát hiệu quả hơn so với các loài linh trưởng khác.

Sự khác biệt về thể chất nói trên tính ra không có gì đột phá so với việc loài chim tiến hóa thêm đôi cánh để thích nghi với cuộc sống. Vì vậy, người ta nghĩ rằng lý do chúng ta thống lĩnh hành tinh là vì có bộ não lớn hơn.

Phải chăng loài người sở hữu bộ não lớn nhất? Câu trả lời là không. Bộ não chúng ta trung bình nặng từ 1,25-1,45 kg, trong khi não của voi nặng 4 kg và não cá voi nặng khoảng 9 kg. Xét về tỷ lệ, não người chiếm 2% trọng lượng cơ thể (dù tiêu thụ tới 25% nguồn năng lượng), trong khi não của voi và cá voi chiếm chưa tới 1% thể trọng. Tuy nhiên, nếu dựa vào kích thước não tương đối (tỷ lệ não so với thể trọng) để đánh giá con người ưu việt hơn động vật cũng không đúng, bởi chuột chù và chuột có kích thước não tương đối lớn gấp 5 lần chúng ta. Điều này chứng tỏ kích thước não không quyết định.

Vậy những khác biệt nào cho phép chúng ta trở thành sinh vật làm chủ Trái đất? Trong cuốn sách, Giáo sư Suddendorf cho biết ông tiến hành xem xét các đề xuất phổ biến nhất cho thấy chúng ta nổi trội hơn động vật, gồm: ngôn ngữ, khả năng dự đoán, trực giác và trí tuệ, văn hóa và đạo đức. Mặc dù nhiều loài vật, đặc biệt là những động vật có họ hàng với chúng ta, cũng có một số khả năng đặc biệt trong các lĩnh vực này nhưng ông nhận thấy khả năng của con người là đặc biệt hơn cả khi xét trong từng bối cảnh và trên một số khía cạnh.

Cụ thể hơn, ở người xuất hiện hai tính năng rất quan trọng: mong muốn trao đổi suy nghĩ lẫn nhau và khả năng suy xét, chọn lựa giữa những tình huống có lợi nhất. Mặt khác, con người dựa vào phương thức linh hoạt để kiểm soát hành vi thông qua tư duy thông minh. Chúng ta vừa có khả năng hồi tưởng lại vừa tưởng tượng, suy xét về những gì đã xảy ra hoặc dự báo diễn biến trong tương lai, từ đó tìm ra phương thức tối ưu nhất, khiến chúng ta có lợi thế hơn so với những sinh vật khác kém về khả năng dự báo.

Nhưng tại sao chỉ có loài người thống trị thế giới?

Nếu những đặc điểm trên hữu ích như vậy, bạn có thể tự hỏi tại sao các sinh vật khác không phát triển như loài người. Theo tác giả, khác biệt giữa con người và các sinh vật khác trước đây không quá cách xa như ngày nay. Chẳng hạn cách đây 40.000 năm, chúng ta cùng chia sẻ hành tinh này với nhiều loại người tiền sử thông minh, có dáng đi thẳng và biết sử dụng công cụ bằng đá như người Neanderthal, Denisovan và người lùn ở đảo Flore (Indonesia). Nhưng chính quyền hạn đặc biệt không bắt nguồn từ cơ bắp mà xuất phát từ tinh thần tập thể và trí tuệ, bao gồm phát triển khả năng ngôn ngữ và trí khôn sinh tồn, đã giúp con người tồn tại và tiến hóa. Trong khi các loài vật khác thường đối mặt với nguy cơ diệt vong (một phần do tổ tiên chúng ta gây ra), con người vẫn phát triển, tạo ra nền văn minh và những công nghệ mà dựa vào đó, chúng ta đã cùng nhau thay đổi bộ mặt của Trái đất.

ÐƯỜNG THẤT (Theo CNN, Discovery-zone)

Sự Khác Biệt Giữa Kem Chống Nắng Vật Lý Và Hóa Học

So sánh kem chống nắng vật lý và hóa học

1/ Thành phần

Kem chống nắng vật lý chứa những thành phần khoáng chất giàu Titanium dioxide và Zinc oxide tạo nên một lớp màng mỏng màu trắng trên da, tạo hiệu ứng nâng tone da và bảo vệ da khỏi các yếu tố từ ánh nắng như tia UVA và UVB khi tiếp xúc với da.

Trong khi đó, kem chống nắng hóa học lại chứa những hợp chất hữu cơ nh oxybenzone, octinoxate, octisalate và avobenzone. Kem chống nắng hóa học sẽ tạo ra những phản ứng hóa học làm thay đổi các tia tử ngoại thành nhiệt, sau đó giải phóng chúng ra khỏi da. Kem chống nắng hóa học sẽ không có hiệu ứng nâng tone da mà sẽ để lại một lớp nền mỏng tệp màu da.

2/ Cách hoạt động

Cả kem chống nắng vật lý và hóa học đều hoạt động tức thì sau khi tiếp xúc với da, kết cấu bền vững và ít gây kích ứng cho da. Nhưng kem chống nắng vật lý sẽ có nhược điểm là khá nhanh trôi khi bạn đổ nhiều mồ hôi và da tiết dầu nhiều, đồng thời do kem chống nắng vật lý có khả năng làm sáng da nên đôi khi sẽ khó tệp màu với kem nền trang điểm.

Và hiển nhiên là kem chống nắng hóa học cũng sẽ có những khuyết điểm của nó, cụ thể là chỉ số SPF thường khá cao, không phù hợp với làn da quá nhạy cảm. Đồng thời, khi chuyển hóa tia UV thành nhiệt có thể khiến da bạn bị ửng đỏ.

Tóm lại, mỗi loại kem chống nắng sẽ phù hợp với từng làn da nên chúng ta không thể đem lên bàn cân một cách xét nét được. kem chống nắng vật lý và hóa học Dadepdangxinh xin gửi đến bạn một số kem chống nắng ổn định, có thể sử dụng được cho các loại da.

TOP 4 Kem chống nắng vật lý và hoá học tốt nhất cho da

1/ Cell Fusion C Laser Sunscreen 100 SPF 50+

Nếu làn da của bạn được xếp vào loại cực kì nhạy cảm hoặc đang cần được phục hồi sau khi điều trị thì Cell Fusion C là cái tên mà bạn không nên bỏ qua.

Bạn này thuộc dạng hỗn hợp, lai giữa kem chống nắng vật lý và hóa học vì trong thành phần có cả các chất phản quang của vật lý, vừa có hấp thụ tia UV như hóa học. Đồng thời sản phẩm còn chứa thêm các chất nuôi dưỡng da như kẽm oxit, collagen thủy phân, Vitamin E.. là các chất làm mềm da, giữ ẩm và chống oxy hóa cực cao.

2/ Kem chống nắng Laneige Sun Fluid Light SPF 50+

Kem chống nắng với kết cấu siêu mỏng nhẹ như sữa dưỡng ẩm không gây dính rít làm dịu và mịn da, giúp kiểm soát dầu tốt và giảm tác hại từ tia UV hiệu quả.

Đặc tính của sản phẩm chứa nước khoáng Ion Hydro giúp cung cấp độ ẩm cho da ở mức độ tối đa, Beta-Glucan tạo màng giữ ẩm, ngăn không cho độ ẩm ổn định trong da được thoát hơi ra môi trường bên ngoài, và chiết xuất polyphenol từ thực vật có khả năng chống oxy hóa và giúp bảo vệ da chuyên sâu hơn.

3/ Sữa chống nắng dịu nhẹ Anessa SPF50+

Sữa chống nắng là sản phẩm mới nhất của thương hiệu Anessa đình đám từ Nhật Bản, thuộc dòng lai giữa kem chống nắng vật lý và hóa học . Chỉ số SPF cao tăng cường khả năng bảo vệ da khỏi tia nắng mặt trời, kem chống nắng dạng sữa thẩm thấu nhanh và không gây bóng nhờn, đồng thời dễ làm sạch bằng sữa rửa mặt.

Hơn nữa, kem chống nắng dịu nhẹ Anessa còn được áp dụng công nghệ độc quyền Aqua Booster giúp lớp kem chống nắng lưu lại trên da lâu hơn, ngay cả khi bạn bị ra mồ hôi hay đổ dầu nhiều. Chưa hết, sữa chống nắng được tích hợp 50% thành phần là chiết xuất dưỡng da tiêu biểu như lô hội, HA, collagen, hoa tuyết nhung… giúp da luôn ẩm mịn, đồng thời ngăn được sự hình thành của nám và tàn nhang.

4/ Kem chống nắng SeoulRose Rosie First Essence Whitening Serum SPF 45

Sản phẩm cuối cùng trong bảng nhà kem chống nắng vật lý và hóa học Dadepdangxinh còn có em Seoulrose này, với thành phần toàn những chiết xuất tự nhiên tiêu biểu như trà xanh, tinh dầu jojoba, cam thảo, rau sam, lựu đỏ, rau má, đậu xanh… kem chống nắng có thể hoạt động như một sản phẩm dưỡng trắng da hiệu quả.

Kem chống nắng Seoulrose có chỉ số SPF 45, tuy thấp hơn các sản phẩm bên trên nhưng khả năng chống nắng lại không chênh lệch là mấy, sản phẩm còn không chứa cồn nên có thể sử dụng cho mọi loại da mà không sợ kích ứng. Do ở dạng kem nhẹ nên khi thoa lên mặt, kem chống nắng sẽ thấm khá nhanh mà không gây bết dính cho người dùng, đồng thời da mặt sẽ có một lớp bóng nhẹ – đó là đặc điểm mà bạn có thể dễ dàng nhận ra ở các kiểu trang điểm Hàn Quốc.

Sự Khác Nhau Giữa Protein Động Vật Và Protein Thực Vật

Khoảng 20% ​​cơ thể con người được tạo thành từ protein.

Do cơ thể người không tích trữ protein nên chất này phải được bổ sung từ chế độ ăn hàng ngày.

Protein có thể đến từ nhiều nguồn thực phẩm bao gồm thực vật và động vật

Một số người cho rằng protein động vật hay thực vật đều tốt như nhau. Nhưng lại có người đánh giá cao nguồn protein từ thực vật hơn.

Bài báo này sẽ đưa ra những so sánh về hai nguồn protein này

Thành phần axit amin trong 2 loại protein này khác nhau

Khi được đưa vào cơ thể, protein sẽ bị phân hủy thành các axit amin.

Protein và axit amin được sử dụng trong hầu hết các quá trình trao đổi chất trong cơ thể.

Tuy nhiên, các protein khác nhau có thể chứa các loại axit amin khác nhau.

Trong khi protein động vật thường chứa một lượng cân bằng tất cả các axit amin mà chúng ta cần, protein thực vật lại chứa một số loại axit amin nhất định với hàm lượng thấp.

Ví dụ, một vài protein thực vật chủ chốt thường có ít methionine, tryptophan, lycin và isoleucine.

Kết luận: Mặc dù hàm lượng và chủng loại của các axit amin là khác nhau tùy thuộc vào nguồn protein, nhưng tất cả protein đều được tạo thành từ các axit amin.

Protein động vật là loại hoàn chỉnh, còn protein thực vật thì không

Tất cả có khoảng 20 axit amin mà cơ thể con người sử dụng để tạo ra protein.

Những axit amin này được phân làm hai loại là cần thiết và không cần thiết.

Cơ thể có thể sản xuất các axit amin không cần thiết. Tuy nhiên, nó không thể sản xuất axit amin cần yếu, các chất này cần phải được bổ sung thông qua chế độ ăn.

Để có được sức khỏe tối ưu, cơ thể bạn cần tất cả các axit amin thiết yếu theo đúng tỷ lệ.

Cá nguồn protein động vật như thịt, cá, thịt gia cầm, trứng và sữa cũng có tính chất tương tự như protein có trong cơ thể.

Đây được coi là nguồn protein hoàn chỉnh vì chúng chứa tất cả các axit amin thiết yếu mà cơ thể bạn cần để hoạt động hiệu quả.

Ngược lại, các nguồn protein thực vật như đậu, đậu lăng và các loại hạt được xem là không hoàn chỉnh vì chúng thiếu một hoặc nhiều axit amin thiết yếu mà cơ thể cần ( 1).

Một số thông tin cho rằng protein từ đậu nành là hoàn chỉnh. Tuy nhiên, chỉ có hai loại axit amin thiết yếu được tìm thấy với hàm lượng nhỏ trong đậu nành, vì vậy nó không thể sánh được với protein động vật ( 2).

Kết luận: Thực phẩm động vật là nguồn cung cấp protein chất lượng cao nhất. Trong protein thực vật thiếu một hoặc nhiều loại axit amin, nếu chỉ ăn thực vật sẽ rất khó có thể cung cấp đủ các axit amin cần thiết.

Một số chất dinh dưỡng có nhiều hơn trong thực phẩm từ động vật

Các protein rất hiếm khi tồn tại đơn độc. Chúng thường tồn tại cùng nhiều chất dinh dưỡng khác.

Các thực phẩm chứa protein động vật thường có nhiều chất dinh dưỡng mà thực vật thiếu.

Các chất dinh dưỡng này bao gồm:

Vitamin B12: Vitamin B12 được tìm thấy chủ yếu trong cá, thịt, gia cầm và các sản phẩm từ sữa. Những người không ăn thực phẩm từ động vật thường bị thiếu hụt chất này (3).

Vitamin D: Vitamin D được tìm thấy trong dầu cá, trứng và sữa. Một số thực vật cũng chứa vitamin D, những loại vitamin D có trong động vật có tác dụng tốt cho cơ thể hơn (4).

DHA: Docosahexaenoic acid (DHA) là chất béo omega-3 thiết yếu có trong cá béo. Đây là chất quan trọng đối với não bộ và có rất ít trong thực vật (5).

Sắt trong hemoglobin: Sắt trong hemoglobin chủ yếu có trong thịt, đặc biệt là thịt đỏ. Chất này được cơ thể hấp thụ tốt hơn so với sắt phi heme có trong thức ăn thực vật.

Kẽm: Kẽm chủ yếu có trong các nguồn protein động vật như thịt bò, thịt lợn và thịt cừu. Kẽm từ thực phẩm động vật cũng được hấp thụ và sử dụng dễ dàng hơn (6).

Tất nhiên cũng có rất nhiều chất dinh dưỡng có trong thực vật mà động vật không có. Vì vậy, bạn bên có chế độ ăn cân bằng giữa thực vật và động vật để đem lại hiệu quả tốt nhất.

Kết luận: Các nguồn protein động vật chứa nhiều chất dinh dưỡng như vitamin B12, vitamin D, DHA, sắt trong hemoglobin và kẽm.

Một số loại thịt có thể gây bệnh

Thịt đỏ là một nguồn cung cấp protein chất lượng cao.

Một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra ăn thịt đỏ có thể góp phần làm tăng nguy cơ bệnh tim, đột quỵ và tử vong sớm ( 7, 8, 9).

Tuy nhiên, một nghiên cứu chuyên sâu hơn lại cho rằng thịt đỏ đã qua chế biến mới là một trong những nhân tố khiến nguy cơ bệnh tật gia tăng.

Một nghiên cứu khác với hơn 34.000 phụ nữ cũng cho ra những kết quả tương tự với căn bệnh suy tim ( 11).

Dù vậy, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng thay thế 1 khẩu phần thịt đỏ mỗi ngày bằng thịt gia cầm có thể giúp giảm 27% nguy cơ đột quỵ ( 7).

Chế độ ăn giàu protein thực vật đem lại nhiều lợi ích

Các chế độ ăn giàu protein thực vật, ví dụ như chế độ ăn chay, đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Các nghiên cứu cho thấy người ăn chay thường có trọng lượng cơ thể, lượng cholesterol và huyết áp thấp hơn.

Họ cũng có nguy cơ đột quỵ, ung thư và tử vong do bệnh tim thấp hơn so với những người không ăn chay ( 15).

Một nghiên cứu cho thấy chế độ ăn giàu protein (một nửa là protein thực vật) sẽ làm huyết áp, lượng cholesterol và nguy cơ mắc bệnh tim giảm nhiều hơn chế độ ăn uống thông thường hoặc chế độ ăn nhiều cacbon hydrate lành mạnh ( 16).

Thử nghiệm EcoAtkins cho thấy chế độ ăn low – carb kết hợp nhiều protein thực vật giúp giảm cholesterol và huyết áp nhiều hơn chế độ ăn nhiều cacbon hydrate và ít chất béo ( 17).

Giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2

Một nghiên cứu nhỏ trên những người mắc tiểu đường tuýp 2 cho thấy thay thế 2 phần ăn thịt đỏ bằng các loại đậu trong 3 ngày mỗi tuần sẽ giúp cải thiện lượng cholesterol và lượng đường trong máu ( 18).

Tuy nhiên, một nghiên cứu nhỏ khác trong 6 tuần ở bệnh nhân tiểu đường đã so sánh chế độ ăn giàu protein thực vật với chế độ ăn giàu protein động vật. Kết quả là không có sự khác biệt trong lượng đường huyết, cholesterol và huyết áp ( 19).

Chế độ ăn giàu protein thực vật cũng có thể giúp bạn kiểm soát cân nặng.

Ngoài ra, ăn một lượng đậu, đậu gà, đậu lăng hoặc đậu Hà Lan mỗi ngày có thể làm tăng cảm giác no, giúp kiểm soát cân nặng tốt hơn và giảm cân ( 21).

Có liên hệ không có nghĩa đó là nguyên nhân chính

Điều quan trọng cần nhớ là các nghiên cứu quan sát chỉ đưa ra kết quả là các mối liên hệ dựa trên con số thống kê. Các kết quả này không thể chứng minh rằng những lợi ích có được chính là do loại bỏ thịt hoặc các nguồn protein động vật khác.

Một điều cần phải được xem xét đó là những người có chế độ ăn chay thường có ý thức bảo vệ sức khỏe cao hơn những người khác ( 22).

Do đó, lợi ích sức khỏe của việc ăn chay có thể là do chế độ ăn uống và lối sống lành mạnh hơn, chứ không phải do bất kỳ sự khác biệt nào giữa protein thực vật và thực vật ( 23, 24, 25).

Protein động vật cũng có lợi cho sức khỏe

Mặc dù protein động vật thường được cho là không lành mạnh bằng thực vật, nhưng protein động vật cũng có thể đem lại các ảnh hưởng tốt cho sức khỏe ( 26).

Những người ăn cá thường xuyên dường như cũng có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong do bệnh tim thấp hơn ( 28).

Một nghiên cứu trên 40.000 nam giới cho thấy rằng những người thường xuyên ăn cá mỗi tuần có nguy cơ mắc bệnh tim thấp hơn 15% ( 29).

Ngoài ra, ăn trứng được cho là có thể cải thiện lượng cholesterol và hỗ trợ giảm cân. Trong một nghiên cứu, những phụ nữ ăn trứng trong bữa sáng, thay vì bánh vòng, có cảm giác nó hơn và tiêu thụ thức ăn trong ngày ít hơn ( 30, 31, 32).

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là việc ăn thịt động vật có thể làm tăng khối lượng cơ và giảm tình trạng mất cơ bắp xảy ra ở tuổi già ( 33, 34, 35, 36).

Kết luận: Một số nguồn protein động vật có thể làm giảm nguy cơ bệnh tim, cải thiện lượng cholesterol, giảm cân và tăng khối lượng cơ.

Vì protein trong thực vật thường không có chất lượng cao, nên người ăn chay và thuần chay nên ăn đa dạng nhiều loại thực phẩm để có thể cung cấp đầy đủ các axit amin mà cơ thể cần.

Đối với người ăn thịt, việc cân bằng giữa thực phẩm động vật và thực vật là rất quan trọng.

Sự Khác Biệt Giữa Khoa Học Và Triết Học Là Gì?

Sự khác biệt giữa khoa học và triết học là gì?

Lý tưởng nhất, khoa học là một lĩnh vực của triết học, trong đó “triết học” bao gồm tất cả kiến ​​thức của con người. Các ranh giới không được xác định chính xác (xem

Vấn đề phân định ranh giới

) nhưng nói đại khái khoa học là nghiên cứu về các đặc điểm phù hợp, có thể quan sát được của thế giới. Đó là, về việc quan sát rằng thế giới dường như tuân theo một số mẫu nhất định, cố gắng tạo ra những mẫu đó là gì và liên tục cải thiện sự hiểu biết của chúng ta về các mẫu đó để làm cho chúng ngày càng đáng tin cậy hơn.

Trong lịch sử, “khoa học” là “triết học tự nhiên”, với “tự nhiên” là một từ khác của “thế giới” khi tôi chỉ sử dụng nó. Ngày nay, “triết học” thường được coi là tàn dư của triết học một khi các khía cạnh khác đã bị loại bỏ: âm nhạc, toán học, luật và ngôn ngữ đều là một phần của triết học. Những gì còn lại là một mớ hỗn độn của các lĩnh vực không xác định: siêu hình học (nghiên cứu về cách mọi người nghĩ về thế giới, mặc dù câu nói đó tự nó là vấn đề của siêu hình học, nhiều người sẽ tranh cãi về nó), đạo đức và đạo đức, và khó định lượng tương tự tên miền. Khi một miền trở nên tương đối dễ dàng để định lượng, nó sẽ ngừng được coi là triết lý và bắt đầu được coi là một thứ khác.

Trong một xấp xỉ thô, khoa học là nghiên cứu về các đề xuất có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm. Triết học là cuộc tìm kiếm những sự thật chung nhất. Bạn có thấy điều gì trong những định nghĩa này khiến cho các lĩnh vực của hai ngành này bị tách biệt không? Tôi không. Ý tưởng rằng khoa học không thể hoặc không nên giải quyết các câu hỏi của triết học (và ngược lại) dựa trên sự phân đôi giả.

Nhân tiện, một trong những điều đầu tiên người ta học được từ triết học là tất cả các khái niệm trừu tượng đều do con người tạo ra; chúng không thực sự tồn tại trong thực tế. Không có gì giống như một ranh giới tự nhiên thực sự, khách quan giữa “vùng đất khoa học” và “vùng đất triết học”. Sự phân biệt này thuộc về bản đồ, không thuộc về lãnh thổ. Đối với một số mục đích, sự khác biệt là hữu ích, và đối với một số thì không. Vậy tại sao bạn hỏi?

Khoa học và triết học thậm chí không phải là hai quốc gia duy nhất trên bản đồ. Thế còn lịch sử chẳng hạn? Còn những nhân văn khác thì sao? Toán học thì sao? Nó có những điểm tương đồng cả về khoa học và triết học, vì nó có sự khác biệt. Chẳng hạn, về lý thuyết, các câu hỏi được điều tra bằng toán học khá giống với các câu hỏi siêu hình học; trong thực tế, hai môn học hoàn toàn không giống nhau. Tương tự như vậy, về mặt lý thuyết, toán học là một trong số ít các hoạt động có ý nghĩa mà ai đó có khả năng tư duy trí tuệ có thể tiếp tục thực hiện ngay cả khi “phần còn lại của Vũ trụ đã biến mất”. Trong thực tế, toán học bị ảnh hưởng khá nhiều bởi vật lý thực tế của Vũ trụ hiện tại.

đặc biệt

ranh giới giữa khoa học và triết học) được thúc đẩy bởi nhu cầu rõ ràng là đặc quyền diễn ngôn khoa học đối với “phần còn lại”, đặc biệt, diễn ngôn chỉ đóng vai trò là khoa học. Nhưng khi chúng ta nhìn vào nó, chúng ta thấy rằng nhu cầu thực tế không phải là phân định giữa các khái niệm trừu tượng; nhu cầu (ngoại trừ có thể đối với các nhà triết học chuyên nghiệp) là tìm ra những gì đáng tin và những gì không; những gì hoạt động và những gì không; những gì hữu ích và những gì không. Và sau đó chúng tôi thấy rằng có rất nhiều khoa học phù hợp mà không hoạt động tốt – chẳng hạn như khoa học dinh dưỡng, hoặc kinh tế vĩ mô. Chúng tôi cũng thấy rằng nhiều thứ phi khoa học dường như hoạt động khá tốt. Vì vậy, sẽ có kết quả hơn khi hỏi các loại câu hỏi khác nhau (“điều gì tách nhóm trước với nhóm sau?”), Cho chúng ta những câu trả lời hữu ích, thay vì tham gia vào một loại khái niệm trừu tượng.

Tôi đã hiểu rằng cách duy nhất bạn có thể kiếm sống trong những ngày này với tư cách là một triết gia là phê bình khoa học!

Cách tốt nhất để trả lời câu hỏi này là bối cảnh hóa nó trong phong trào hậu hiện đại. Triết học hậu hiện đại, trong số các ý nghĩa khác, thực sự là một sự tự phê bình về chính triết học. Triết học từng được gọi là kỷ luật bậc thầy, một lý thuyết bao gồm tất cả mọi sự tồn tại mà ngay cả khoa học cũng là phụ thuộc. Tại một số thời điểm, triết học nhận ra rằng những câu chuyện bậc thầy cố gắng tìm hiểu toàn bộ lực đẩy của sự tồn tại của con người có nhiều lỗ hổng trong chúng và hơn nữa, là đồng lõa trong một số hành động tồi tệ nhất của loài người. Trường hợp điển hình, phép biện chứng Hegelian (triết gia Đức), những ý tưởng như “tinh thần thế giới” và “tổng hợp” cung cấp khuôn khổ lý thuyết cho cả hai cuộc chiến tranh thế kỷ 20.

Trường hợp nào khoa học đến đây? Vì vậy, tiết lộ đầy đủ, tôi là một loại Foucautian, vì vậy tôi nghĩ rằng nó là thích hợp để hỏi: Làm thế nào câu hỏi của bạn đến? Tại sao bạn lại hỏi nó? Tôi đoán là bạn đã nhận ra sự tương đồng giữa khoa học và triết học bởi vì họ đã thèm muốn trong thời kỳ Khai sáng. Khai sáng là một phong trào triết học / chính trị / xã hội tôn sùng khoa học. Đó là một giai đoạn, khi hoàn thành câu chuyện kể về chủ nhân phương Tây, phương tây cảm thấy nó có thể hoàn thiện xã hội và chấm dứt sự bất công thông qua khoa học, hoặc khám phá tất cả những bí mật của Chúa.

Nghịch lý thay, Khai sáng kết thúc khi hai quả bom nguyên tử phát nổ ở Nhật Bản. Khác xa với việc giải thoát chúng ta khỏi sự trói buộc, khoa học dường như nghiêng về sự hủy diệt của loài người. Kể từ đó, những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại đã lý luận (haha) rằng khoa học và sự tận tâm của chúng ta đối với lý trí không thể cứu vãn được là ánh sáng dẫn đường duy nhất của xã hội.

Vì vậy, nếu bạn nhìn vào khoa học lịch sử đôi khi là một triết lý và có một triết lý mạnh mẽ về khoa học. Tuy nhiên, cả hai, vẫn khác biệt. Khoa học là hệ thống tạo ra kiến ​​thức thông qua bằng chứng và bằng chứng cho thấy nhiều khám phá hơn. Triết học là khó khăn hơn nhiều để xác định trong hậu hiện đại. Thật buồn cười, khi cố gắng đưa ra một định nghĩa, tôi gặp khó khăn trong việc phân biệt nó khỏi tôn giáo, không phải khoa học. Triết học là tư tưởng phê phán về nhân loại và vị trí của chúng ta trên thế giới. Nó không cần bằng chứng theo cách khoa học làm. Cả hai kỷ luật cạo râu đã bị đánh sập một hoặc hai chốt trong 65 năm qua.

Tôi không đồng ý với hầu hết các câu trả lời được đưa ra.

Hãy để tôi giải thích đầu tiên bằng cách ví dụ.

Aristotle là một triết gia. Anh suy nghĩ sâu sắc, chủ yếu là trên ghế bành tôi đoán, và xem xét cẩn thận những quan sát được thực hiện bởi những người khác (như chuyển động rõ ràng của các ngôi sao, mặt trăng và mặt trời trên bầu trời) theo mệnh giá của chúng, và đưa ra những lời giải thích rất phức tạp (ngoại luân vv) đã được chứng minh hoàn toàn vô nghĩa bởi khoa học. Tuy nhiên, ông và các triết lý của mình có ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn minh phương Tây. Một số người nói, và tôi có xu hướng đồng ý, rằng Aristotle theo sau là Giáo hội Công giáo, thiết lập nền văn minh phương Tây gần 2000 năm.

Kepler là một nhà khoa học (có lẽ là người đầu tiên), người đã phân tích dữ liệu cực kỳ chính xác về vị trí của các ngôi sao lang thang ở thành phố (các hành tinh di chuyển so với nền của các ngôi sao cố định) được Tycho Brahe thực hiện một cách cẩn thận và nhận thấy rằng chuyển động của các hành tinh thực sự lắp hình elip với mặt trời tại một trong những tiêu điểm của nó. Đây là phương pháp khoa học. Mở để thách thức bởi bất cứ ai đưa vào bất kỳ dữ liệu có thể kiểm chứng nào làm sai lệch kết luận dự kiến.

Khoa học chỉ quan tâm đến phân tích định lượng của thực tế khách quan, có nghĩa là phân tích các phép đo cẩn thận được thực hiện bởi các nhà quan sát không thiên vị, và đưa ra một kết luận dự kiến ​​phù hợp với tất cả các dữ liệu có thể kiểm chứng. Do các phép đo với các công cụ và dụng cụ chỉ hoạt động với các vật thể vật lý (bao gồm các hạt năng lượng như photon), nên khoa học cũng chỉ quan tâm đến thực tế vật lý.

Khoa học không có vai trò trong cảm xúc, tầm nhìn và niềm tin của mọi người, đó là lĩnh vực của triết học. Tôn giáo là một tập hợp triết học đặc biệt bắt đầu từ niềm tin vào một thực thể siêu nhiên (không thể quan sát được, không thể đo lường được, không thể kiểm chứng) được cho là thông qua một con người đặc biệt nào đó, quy định một số giá trị và nguyên tắc nhất định để sống theo cuộc sống, và sau đó thêm một danh sách dài các nghi thức. và thực hành để phân biệt chính nó dễ dàng hơn với các tôn giáo cạnh tranh. Nếu bạn thực sự nghiên cứu các tôn giáo, bạn sẽ thấy rằng triết lý cơ bản rất giống nhau, chỉ có các nghi thức và chi tiết khác nhau.

Tôi là một nhà khoa học nhưng tôi cũng đăng ký một số triết lý nhất định về cách tôi sống cuộc sống của mình.

Ví dụ, một triết lý quan trọng mà tôi tin tưởng mạnh mẽ, trong một từ, là: MODERATION.

Tôi tin rằng hầu hết mọi thứ được thực hiện trong chừng mực đều ổn (với một vài ngoại lệ như giết người, v.v.) trong khi đi đến cực đoan (như ăn quá nhiều trước, sau đó chạy bộ để đốt cháy lượng calo dư thừa, hoặc hoàn toàn ngừng ăn thịt hoặc carbs) có vẻ phi logic.

Một triết lý khác (thường được quy định bởi nhiều tôn giáo nhưng bị bỏ rơi bởi những người đăng ký của họ) Tôi tin và thực hành là: đối xử với con người và các động vật khác theo cách tôi muốn được đối xử.

Tôi hy vọng tôi đã trả lời rõ ràng những gì nhìn thấy là sự khác biệt giữa khoa học và triết học.

Cả khoa học và triết học ban đầu tấn công một vấn đề bằng cách nghĩ về nó dưới ánh sáng của các kết quả trong quá khứ và sau đó cố gắng phát triển một lý thuyết có ý nghĩa. Sau thời điểm đó, họ phân kỳ. Khoa học cố gắng xác định các hậu quả có thể quan sát được của lý thuyết, và sau đó thử các thí nghiệm để xác minh hoặc bác bỏ lý thuyết. Triết học không có công cụ như vậy theo ý của mình, bởi vì lý thuyết của nó chủ yếu là về những thứ vốn không thể quan sát được. Do đó, nó chỉ có thể có cách xem xét ý nghĩa logic của lý thuyết và nghiên cứu về tính nhất quán của chúng.

Lý tưởng nhất, niềm tin triết học dựa trên logic / lý luận / suy nghĩ thuần túy. Niềm tin khoa học dựa trên bằng chứng.

Theo triết lý riêng của nó dễ bị tổn thương bởi rác vô nghĩa, vì vậy nó cần quan sát / bằng chứng để cung cấp logic hợp lý. Hơn nữa, triết học phải được giới hạn trong trí thông minh và trực giác của con người, trong khi theo các bằng chứng có thể chiếu sáng các khu vực nơi trực giác của con người không còn giá trị (gần tốc độ ánh sáng, ở quy mô của một nguyên tử, v.v.). Sẽ không có cách nào để nghĩ theo cách của bạn đối với thuyết tương đối rộng hoặc cơ học lượng tử – tốc độ ánh sáng liên tục và thảm họa tia cực tím phải được quan sát trước tiên.

Các nhà khoa học cố gắng đóng góp cho cơ thể kiến ​​thức trong các lĩnh vực cụ thể của họ và bị hạn chế bởi các phương pháp thông thường của lĩnh vực và khoa học nói chung. Đôi khi các nhà khoa học cần phải có triết lý trong lĩnh vực của họ, đặc biệt là nếu bản chất nghiên cứu của họ không cho vay đặc biệt tốt với cách nó đã được nghiên cứu trước đây. Thách thức sau đó là làm thế nào để áp dụng các phương pháp khoa học chung để kiểm tra giả thuyết cụ thể. Nhiều nhà khoa học cũng trở nên triết học khi họ bắt đầu diễn giải kết quả thí nghiệm của họ, hoặc khái quát chúng cho các câu hỏi khác. Khi nhà khoa học bắt đầu đặt câu hỏi cơ bản về bản chất của khoa học, thực sự không có sự phân biệt nào nữa giữa nhà khoa học và nhà triết học, ngoại trừ có thể, bởi vì họ có nền tảng khác nhau, làm thế nào họ có được những câu hỏi đó.

Khoa học là chính xác và khách quan. Nó chứng minh hoặc bác bỏ dựa trên bằng chứng.

Ngoài những thứ chính xác và khách quan, Triết học còn đề cập đến những suy nghĩ trừu tượng và chủ quan. Trong triết học, bạn phải thuyết phục hoặc bị thuyết phục hơn là kiểm tra hoặc chứng minh.

Tôi nghĩ chủ nghĩa duy lý là một triết lý mà khoa học là một công cụ quan trọng.

svcministry.org © 2021

Bạn đang đọc nội dung bài viết Khoa Học Lý Giải Sự Khác Biệt Giữa Người Và Động Vật trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!