Đề Xuất 2/2023 # Lịch Sử Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Kỳ – Áo Dài Xưa Và Nay # Top 6 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Lịch Sử Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Kỳ – Áo Dài Xưa Và Nay # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lịch Sử Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Kỳ – Áo Dài Xưa Và Nay mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chiếc áo dài truyền thống của dân tộc Việt Nam từ trước đến nay đã trải qua rất nhiều thời kì phát triển, ở mỗi thời kì đều có một nét đặc trưng riêng khó có thể lẫn lộn.

Áo dài từ lâu đã là trang phục truyền thống và là nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam. Trải qua từng thời kì phát triển của lịch sử, áo dài luôn không ngừng biến đổi nhưng vẫn đảm bảo tôn được vẻ đẹp dịu dàng truyền thống của người phụ nữ Việt. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu đôi nét về lịch sử áo dài Việt Nam qua các thời kỳ để chúng ta cùng tham khảo.

Áo giao lãnh

Đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào có thể xác định chính chính xác lịch sử áo dài và thời điểm xuất hiện của áo dài. Theo nhận định cảm quan của người Trung Quốc thì áo dài xuất thân từ sườn xám nhưng sườn xám mới xuất hiện từ năm 1920 còn áo dài đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm.

Sự xuất hiện của áo dài bắt nguồn từ áo giao lãnh – là kiểu dáng sơ khai nhất của áo dài Việt Nam. Áo giao lãnh còn được gọi là áo đối lĩnh, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng, thân dài chấm gót. Thân áo được may bằng 4 tấm vải kết hợp mặc cùng thắt lưng màu và váy đen. Đây là kiểu áo cổ chéo gần giống với áo tứ thân.

Áo dài tứ thân (thế kỉ 17)

Theo các nhà nghiên cứu và những hiện vật tại các bảo tàng áo dài thì để tiện hơn trong việc lao động sản xuất của người phụ nữ, chiếc áo giao lãnh được may rời 2 tà trước để buộc vào với nhau, hai tà sau may liền lại thành vạt áo.

Loại áo này thường may màu tối, được xem là chiếc áo mộc mạc, khiêm tốn mang ý nghĩa tượng trưng cho 4 bậc sinh thành của hai vợ chồng.

Áo dài ngũ thân (thời Vua Gia Long)

Trên cơ sở áo tứ thân, đến thời vua Gia Long áo ngũ thân xuất hiện. Loại áo này thường được may thêm một tà nhỏ để tượng trưng cho địa vị của người mặc trong xã hội. Giai cấp quan lại quý tộc thường mặc áo ngũ thân để phân biệt với các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội.

Áo có 4 vạt được may thành 2 tà như áo dài, ở tà trước có thêm một vạt áo như lớp lót kín đáo chính là vạt áo thứ 5. Kiểu áo này được may theo phom rộng, có cổ và rất thịnh hành đến đầu thế kỉ XX.

Áo dài Lemur

Kiểu áo này được cải biến từ áo ngũ thân do họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào năm 1939. Áo dài Lemur là tên được đặt theo tên tiếng Pháp của bà, áo chỉ có hai vạt trước và sau, vạt trước dài chấm đât, áo được may ôm sát cơ thể, tay thẳng và có viền nhỏ. Khuy áo được mở sang bên sườn nhằm nhấn thêm vẻ nữ tính, kiểu áo này thịnh hành đến 1943 thì bị lãng quên.

Áo dài Lê Phổ

Đây cũng là một sự kết hợp mới từ áo tứ thân, biến thể của áo dài Lemur của họa sĩ Lê Phổ nên được gọi là áo dài Lê Phổ. Vạt áo được may dài, tay không phồng, cổ kín, nút bên phải áo, may ôm sát cơ thể.

Kiểu áo dài Việt Nam xưa này mặc với quần ống loe màu trắng, được phụ nữ Việt rất ưa thích suốt thời gian dài.

Áo dài Raglan

Áo dài Raglan còn gọi là áo dài giắc lăng, xuất hiện vào năm 1960 do nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn sáng tạo ra.

Điểm khác biệt lớn nhất của áo dài Raglan là áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo xuống một góc 45 độ giúp người mặc thoải mái linh hoạt hơn. Hai tà nối với nhau bằng hàng nút bấm bên hông.  Đây chính là kiểu áo dài góp phần định hình phong cách cho áo dài Việt Nam sau này.

Áo dài Trần Lệ Xuân

Kiểu áo dài này được gọi là áo dài bà Nhu, thiết kế và cải tiến vào năm 1968, được bà Trần Lệ Xuân đưa đi quảng bá khắp nơi với người nước ngoài, đi tiệc, đi chơi…

Phần cổ của áo được bỏ đi, gọi là áo cổ thuyền. Kiểu cổ áo này lấy ý tưởng từ áo tầm vông của người Khơmer chưa lập gia đình. Lúc đầu, thiết kế này bị phản đối vì đi ngược lại thuần phong mĩ tục, nhưng sau này lại rất được ưa chuộng vì sự đơn giản, tinh tế và thoải mái.

Áo dài truyền thống Việt Nam (từ 1970 đến nay)

Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ có sự biến đổi với nhiều kiểu dáng, chất liệu từ hiện đại đến phá cách. Áo dài còn được biến chuyển thành áo cưới, áo cách tân… Nhưng dù thế nào thì chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt vẫn giữ được nét uyển chuyển, gợi cảm, kín đáo mà không trang phục nào mang lại được.

Cùng với xu hướng năng động, thay đổi của lối sống hiện đại, tà áo dài truyền thống được các nhà thiết kế cách điệu với tà ngắn hơn, thay đổi ở cổ áo, tay áo hoặc thậm chí là tà áo hoặc quần mặc chung với áo dài đem đến cho người phụ nữ Việt nhiều sự chọn lựa.

Cũng chính vì sự cách điệu này mà áo dài ngày càng được phụ nữ Việt diện nhiều hơn trong đời sống hàng ngày.

Bạn có thể bắt gặp tà áo dài đầy màu sắc với nhiều kiểu dáng mới lạ, độc đáo trong văn phòng, chốn chùa chiền linh thiêng hay thậm chí khi đi dạo phố bên ngoài.

Cấu tạo áo dài truyền thống

Dù là áo dài ở thời kỳ nào thì cấu tạo của một bộ áo dài đều gồm các phần: cổ áo, thân áo, tà áo, tay áo, quần.

Cổ áo: Kiểu cổ áo cổ điển cao 4-5cm, khoét chữ V nhằm tôn vẻ đẹp chiếc cổ 3 ngấn của người phụ nữ Việt. Ngày nay, cổ áo được biến tấu nhiều kiểu như cổ tròn, cổ thuyển, cổ trái tim…

Thân áo: Được may vừa vặn, chiết eo ôm sát cơ thể. Cúc áo thường là cúc bấm, hai tà áo được tính từ chỗ chít eo bên hông.

Tà áo: Có hai tà trước và sau và bắt buộc phải dài qua gối.

Tay áo: May ôm sát cánh tay, dài và không có cầu vai.

Quần: Áo dài được mặc kết hợp với quần thay cho váy như trước. Quần may châm gót, vải mềm, màu sắc đa dạng.

Với lịch sử phát triển qua thời gian dài như vậy, chiếc áo dài Việt Nam đã hoàn thiện hơn bao giờ hết. Áo dài trở thành biểu tượng của nền văn hóa, tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt.

Có thể nói, áo dài không chỉ là một bộ trang phục đại diện cho cả một nền văn hóa, mà còn là cảm hứng sáng tác không dứt của nghệ thuật Việt Nam.

Lịch Sử Của Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Kỳ

Nếu đối với nữ, chiếc áo dài là trang phục tôn vinh vẻ kín đáo, dịu dàng làm toát lên nét duyên dáng, thanh lịch của người con gái Việt, thì áo dài nam lại là trang phục mang nét trang trọng, nghiêm cẩn tạo nên tâm hồn, cốt cách của người đàn ông đất Việt. Thế nhưng, ít ai biết rằng để có được vị thế như ngày hôm nay, áo dài đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử.

Lịch sử Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ

Áo dài trước thời Nguyễn

Áo dài được cho là xuất hiện đầu tiên vào những năm 38-42 SCN. Trong giai đoạn này, áo dài thường được gắn liền với hình ảnh Hai Bà Trưng mặc ra chiến trường, đánh giặt Hán giành độc lập cho nước nhà.

Áo giao lĩnh (thế kỷ 17 – thế kỷ 18)

Áo giao lĩnh hay còn gọi là Áo giao lãnh là một dạng của Áo trực lĩnh (cổ áo thẳng) phân biệt với Áo đoàn lĩnh (cổ áo tròn). Đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào có thể xác định chính chính xác lịch sử áo dài và thời điểm xuất hiện của áo dài. Theo nhận định cảm quan của người Trung Quốc thì áo dài xuất thân từ sườn xám nhưng sườn xám mới xuất hiện từ năm 1920 còn áo dài đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm.

Sự xuất hiện của áo dài bắt nguồn từ áo giao lĩnh (năm 1744) – là kiểu dáng sơ khai nhất của áo dài Việt Nam. Áo giao lĩnh còn được gọi là áo đối lĩnh, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng, thân dài chấm gót. Thân áo được may bằng 4 tấm vải kết hợp mặc cùng thắt lưng màu và váy đen. Đây là kiểu áo cổ chéo gần giống với áo tứ thân. Áo giao lãnh được xem là nguyên gốc của áo dài Việt Nam xưa.

Vào thời gian này, vua Nguyễn Phúc Khoát đã lên ngôi và cai trị vùng đất phía Nam. Miền bắc được cai quản bởi chúa Trịnh ở Hà Nội, người dân ở đây mặc áo giao lĩnh, trang phục mang nét tương đồng với người Hán.

Nhằm phân biệt giữa Nam và Bắc, vua Nguyễn Phúc Khoát đã yêu cầu tất cả phụ tá của mình vận quần dài bên trong một chiếc áo lụa. Bộ váy này kết hợp giữa trang phục người Hán và Chămpa. Có thể đây là hình ảnh của bộ áo dài đầu tiên.

Áo dài tứ thân (thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 20)

Theo các nhà nghiên cứu và những hiện vật tại các bảo tàng áo dài thì để tiện hơn trong việc lao động sản xuất của người phụ nữ, chiếc áo giao lĩnh được may rời 2 tà trước để buộc vào với nhau, hai tà sau may liền lại thành vạt áo.

Loại áo này thường may màu tối, được xem là chiếc áo mộc mạc, khiêm tốn mang ý nghĩa tượng trưng cho 4 bậc sinh thành của hai vợ chồng.

Áo dài ngũ thân (1744)

Áo ngũ thân là một loại trang phục truyền thống của người Việt Nam, ra đời năm 1744, sau cải cách trang phục đàng trong của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Áo cho nam có cổ cao, thẳng và vuông tượng trưng cho sự chính trực của người quân tử. Áo có 5 cúc làm bằng kim loại, ngọc, gỗ,… chứ không phải bằng vải như sườn xám Trung Quốc. Áo có ngũ thân tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, một thân con (nhỏ nhất, nằm trong) tượng trưng cho mình (người mặc). Tà áo không bó sát người mà rộng, càng xuống càng xòe ra. Tay áo rộng, hẹp tùy ý.

Áo luôn có 5 cúc cài thể hiện đạo lý làm người của người Việt Nam là Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín

Áo mặc thường màu sắc nhã nhặn, không có diềm cổ, diềm tay áo. Thường được mặc kèm một chiếc áo lót màu trắng để làm nền cho áo ngoài, thể hiện sự sạch sẽ ở bên trong. Thể hiện quan niệm truyền thống đẹp đẽ của người Việt: cái gì đẹp thì nên giấu vào trong. Áo ngũ thân luôn đi kèm với khăn vấn.

Ban đầu, áo ngũ thân vốn được tạo ra để cả nam và nữ cùng mặc. Tuy nhiên theo thời gian, chiếc áo dài nam dần mất. Vì thế khi nhắc đến áo dài người ta nghĩ ngay đến tà áo dài nữ.

Áo có 4 vạt được may thành 2 tà như áo dài, ở tà trước có thêm một vạt áo như lớp lót kín đáo chính là vạt áo thứ 5. Kiểu áo này được may theo phom rộng, có cổ và rất thịnh hành đến đầu thế kỉ XX.

Áo dài Lemur (1939 – 1943)

Kiểu áo này được cải biến từ áo ngũ thân do họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào năm 1939. Áo dài Lemur là tên được đặt theo tên tiếng Pháp của bà, áo chỉ có hai vạt trước và sau, vạt trước dài chấm đât, áo được may ôm sát cơ thể, tay thẳng và có viền nhỏ. Khuy áo được mở sang bên sườn nhằm nhấn thêm vẻ nữ tính, kiểu áo này thịnh hành đến 1943 thì bị lãng quên.

Áo dài Lê Phổ (1943 – 1950)

Đây cũng là một sự kết hợp mới từ áo tứ thân, biến thể của áo dài Lemur của họa sĩ Lê Phổ nên được gọi là áo dài Lê Phổ.

Bà đã thu gọn kích thước áo dài để ôm khít thân hình người phụ nữ Việt Nam, đẩy cầu vai, kéo dài tà áo chạm đất và đem đến nhiều màu sắc mới mẻ. Nói cách khác, bà khiến nó trở nên gợi cảm, tinh tế và thu hút hơn. Mẫu áo dài Lê Phổ cổ cao được xem là mẫu nguyên gốc của thiết kế áo dài Việt hiện nay.

Áo dài Trần Lệ Xuân / Áo dài bà Nhu (1958 – đầu những năm 1960)

Vào cuối thập niên 50, Mỹ thay Pháp đô hộ Việt Nam, và đây là thời điểm áo dài bước vào chính trường một lần nữa. Năm 1958, Trần Lệ Xuân, vợ của cố vấn chính trị tổng thống (đồng thời cũng là anh trai) tạo nên đột phá khi mặc bộ váy và mang găng tay cùng với cổ chữ V và tay ngắn. Mặc dù nhiều người ca ngợi vẻ tinh tế trong bộ váy của bà, rất nhiều người chỉ trích rằng bộ váy thiếu thẩm mỹ. Đó cũng là lúc ngôi vị áo dài bị rớt bảng. Thực tế, mẫu thiết kế hiện đại bị chê bai nhiều đến nỗi khiến chính quyền cấm trang phục này khỏi giới tư bản.

Vào cùng khoảng thời gian đó, bộ váy bắt đầu đặt chân đến miền Nam, và nhà thiết kế người Sài Gòn Trần Kim và Dung đã cải tiến chiếc áo một lần nữa bằng cách thêm vào tay áo bà ba. Đây là điểm nổi bật với đường may chéo chạy từ dưới cánh tay lên đến cổ áo. Rất nhiều phụ nữ thích chi tiết này vì nó giúp họ dễ cử động và thoải mái hơn.

Áo dài Raglan (1960)

Áo dài Raglan còn gọi là áo dài giắc lăng, xuất hiện vào năm 1960 do nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn sáng tạo ra. Áo dài Raglan với đặc điểm nổi bật ôm khít phần eo.

Điểm khác biệt lớn nhất của áo dài Raglan là áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo xuống một góc 45 độ giúp người mặc thoải mái linh hoạt hơn. Hai tà nối với nhau bằng hàng nút bấm bên hông. Đây chính là kiểu áo dài góp phần định hình phong cách cho áo dài Việt Nam sau này.

Áo dài Miniraglan / Áo dài chít eo (1960 – 1970)

Áo dài hiện đại Việt Nam (từ 1970 đến nay)

Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ có sự biến đổi với nhiều kiểu dáng, chất liệu từ hiện đại đến phá cách. Áo dài còn được biến chuyển thành áo cưới, áo cách tân… Nhưng dù thế nào thì chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt vẫn giữ được nét uyển chuyển, gợi cảm, kín đáo mà không trang phục nào mang lại được.

Cùng với xu hướng năng động, thay đổi của lối sống hiện đại, tà áo dài truyền thống được các nhà thiết kế cách điệu với tà ngắn hơn, thay đổi ở cổ áo, tay áo hoặc thậm chí là tà áo hoặc quần mặc chung với áo dài đem đến cho người phụ nữ Việt nhiều sự chọn lựa. Cũng chính vì sự cách điệu này mà áo dài ngày càng được phụ nữ Việt diện nhiều hơn trong đời sống hàng ngày. Bạn có thể bắt gặp tà áo dài đầy màu sắc với nhiều kiểu dáng mới lạ, độc đáo trong văn phòng, chốn chùa chiền linh thiêng hay thậm chí khi đi dạo phố bên ngoài.

Với lịch sử phát triển qua thời gian dài như vậy, chiếc áo dài Việt Nam đã hoàn thiện hơn bao giờ hết. Áo dài trở thành biểu tượng của nền văn hóa, tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt. Có thể nói, áo dài không chỉ là một bộ trang phục đại diện cho cả một nền văn hóa, mà còn là cảm hứng sáng tác không dứt của nghệ thuật Việt Nam.

Tóm lại, áo dài đã được giữ nguyên từ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 khi áo dài trở nên ôm khít hơn, với cổ áo cao và quần ống loe cho tới tận ngày nay.

Với lịch sử phát triển từ ngàn năm trước, áo dài Việt Nam đã có nhiều sử thay đổi đáng kể. Tuy nhiên vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng của tà áo dài Việt Nam. Ngày nay, áo dài được thiết kế phải dựa trên nền vải mượt mềm như lụa, đảm bảo rằng không chỉ mang màu sắc biểu tượng cho đất nước, con người Việt Nam mà còn giúp cho bạn bè thế giới biết đến người Việt Nam nhiều hơn thông qua tà áo dài.

Cấu tạo Áo dài Việt Nam

Dù là áo dài ở thời kỳ nào thì cấu tạo của một bộ áo dài đều gồm các phần: cổ áo, thân áo, tà áo, tay áo, quần.

Cổ áo cổ điển cao khoảng 4 đến 5cm. Ngày nay, kiểu cổ áo dài được biến tấu khá đa dạng như kiểu trái tim, cổ tròn, cổ chữ U, trên cổ áo thường được đính ngọc.

Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo. Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Từ eo, thân áo dài được xẻ làm hai tà, vị trí xẻ tà ở hai bên hông.

Áo dài có hai tà: tà trước và tà sau. Ngày xưa tà trước bằng tà sau nhưng ngày nay đã có nhiều loại áo tà trước ngắn hơn tà sau. Trên tà áo trước thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.

Tay áo được tính từ vai, may ôm sát cánh tay, dài đến qua khỏi cổ tay.

Chiếc áo dài được mặc với quần thay cho chiếc váy ngày xưa. Quần áo dài được may chấm gót chân, ống quần rộng. Quần áo dài khi xưa may bằng vải cứng cáp, nay thường được may với vải mềm, rũ. Màu sắc thông dụng nhất là màu trắng. Nhưng xu thế thời trang hiện nay thì chiếc quần áo dài có màu đi tông với màu của áo.

Bàn về nguồn gốc Áo dài Việt Nam

Thiển nghĩ, chúng ta không nên quá lo lắng về chuyện ai đó cho rằng, áo dài Việt Nam là sự sao chép, hay đại khái có nguồn gốc từ Trung Hoa, bởi:

– Các sách Sử ký, Tiền Hán thư, Hậu Hán thư, Giao châu ngoại vực ký, Thủy kinh chú,… của Trung Hoa đều thừa nhận sự khác biệt giữa văn minh Hán và phong hóa Giao Chỉ. Thư của Hoài Nam Vương Lưu An gửi Hán Vũ Đế khẳng định rằng, “Dân Việt là dân cạo tóc, vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai (Trung Hoa) mà trị được. Từ thời Tam Đại (Hạ Thương Chu) thịnh trị, đất Hồ, đất Việt không theo chính sóc (lịch của Trung Quốc)”2. Điều ấy cho thấy, tinh thần độc lập, tự chủ của người Việt đã được hun đúc, đã được khẳng định từ lâu rồi.

– Trong các sách Giao châu ngoại vực ký, Thủy kinh chú, Hậu Hán thư đều có ghi chép về thuật canh tác, lối ăn mặc của người Việt ở thời Đông Sơn. Đối chiếu các sách này và dựa vào trang trí trên cán dao găm hình người, hoa văn trên trống đồng và các thư tịch cổ Trung Hoa, GS Trần Quốc Vượng và các đồng sự cho rằng, “Người Đông Sơn không phải chỉ biết có ở trần, mặc vỏ sui như nhiều người thường nghĩ. (…) Các tài liệu đều phản ánh lối ăn mặc quần áo theo phương châm giản dị, gọn gàng tới mức tối đa: Ở trần, đóng khố, đi chân đất. Riêng với nữ phổ biến mặc váy thay khố. Tuy vậy cũng có một số loại áo, áo cánh dài tay, áo xẻ ngực bên trong có yếm. Ngoài ra còn có một số trang phục lễ hội như váy lông chim hay lá kết, khố dài thêu,…”3.

– GS Đào Duy Anh cũng nói rõ, “Theo sách Sử – ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo gài về bên tả (tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu – chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách chép đó thì ta có thể đoán rằng trước hồi Bắc thuộc thì dân ta gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người Trung-quốc mới mặc áo gài về tay phải”4. Có hai vấn đề cần làm rõ: 1. Rõ ràng, người Văn Lang có y phục riêng, mặc áo gài bên trái (không phải chỉ ở trần hoặc mặc yếm). Nhiều bài viết do trích dẫn không cẩn thận nên cụm từ “mặc áo gài bên trái” thành “mặc áo dài bên trái” làm cho câu văn (dịch từ Sử ký) không rõ nghĩa, dẫn đến sự ngộ nhận rằng, người Văn Lang xưa đã mặc áo dài (!), nhiều người khác sao chép một cách cẩu thả khiến nhận định áo dài đã xuất hiện từ thời Hùng Vương trở nên phổ biến, để rồi đi đến mặc nhiên thừa nhận. 2. Sự giao thoa văn hóa từ lâu đã diễn ra giữa các nước trong khu vực rộng lớn bao gồm cả Trung Hoa và các nước trong cộng đồng Bách Việt, trong đó có cả việc người Trung Hoa mặc áo gài bên trái giống như người Việt mà Khổng Tử đã đề cập trong sách Luận ngữ rằng, “Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải cài vạt áo bên tả và búi tóc như người Man di”. Quản Trọng (tức Quản Di Ngô) sống vào cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ VII TCN, tức cũng tương ứng (hoặc sớm hơn một ít) với thời kỳ dựng nước Văn Lang của các vua Hùng, như vậy có nghĩa, thời kỳ này, người Văn Lang đã mặc áo “gài bên trái”, mãi cho đến thế kỷ I Công nguyên, tức khi Âu Lạc đã bị nhà Hán đô hộ thì người Việt mới mặc áo “gài bên phải” như người Trung Hoa. Điều này cũng dễ hiểu, bởi nói như GS Trần Quốc Vượng, “Nền văn hóa Việt Nam không co lại để tự vệ một cách bảo thủ và cô lập. Nó không từ chối từ những đóng góp của những yếu tố bên ngoài, mà còn tỏ ra có khả năng thu nạp và dung hóa mạnh những cái hay, cái đẹp của các nền văn hóa ngoại lai, kể cả các nước đang xâm lược và đô hộ mình”5. Thế cho nên, việc tiếp thu loại áo gài bên phải là rất có thể, ngoài ra còn có thể tiếp biến nhiều nét văn hóa khác của Trung Hoa.

Điều đáng nói là, cho dù “gài bên trái” hay “gài bên phải” cũng không hẳn đã là áo dài. Vì không một sử liệu nào cho thấy, thời Văn Lang – Âu Lạc, người Việt đã mặc áo dài, kể cả hình ảnh trên trống đồng Ngọc Lũ hay hình người trên cán dao thời Đông Sơn.

Thế kỷ I Công nguyên, Nhâm Diên “dạy cho dân quận Cửu-chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu”. Hiện tượng này diễn ra trước khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, vì thế đã có người cho rằng, Hai Bà Trưng ra trận mặc áo dài màu vàng rực rỡ. Tôi cố tìm kiếm một hình ảnh nào đó (hoặc tượng, tranh tượng, phù điêu,…) để có thể tin rằng Hai Bà đã mặc áo dài ra trận, song, tất cả chỉ là những tranh vẽ, phù điêu do người đời sau “sáng tác” dựa vào cái gọi là “tương truyền”. Hai Bà Trưng ra trận ăn mặc đẹp là rất có thể. Còn việc Hai Bà mặc áo dài hay không chưa có cơ sở nào để khẳng định. Vậy, áo dài Việt Nam ra đời từ bao giờ? Bản thân tôi vẫn chưa thể có câu trả lời cụ thể, song một thực tế cần được ghi nhận là không đợi đến khi chiếc “Áo dài Võ Vương”6 ra đời thì lịch sử “Áo dài Việt Nam” mới bắt đầu như một số người quan niệm. Qua khảo cứu tượng bà Tiên Thiên Thánh Mẫu ở chùa Phúc Long (làng Yên Vệ, Khánh Phú, Yên Khánh, Ninh Bình) ta thấy tượng Bà còn giữ nguyên nét cổ xưa với bộ trang phục thời nhà Lý (thế kỷ XI), bên trong mặc nội y, ngoài khoác đối khâm. Có lẽ đến nay, đây là hình ảnh khá sớm về trang phục được xem là áo dài ở Việt Nam.

Với tôi, “Áo dài Việt Nam” đã ra đời trước thế kỷ XI, và có thể đã có từ thời Bắc thuộc. Vì mấy lẽ:

– Bấy giờ, người Trung Hoa đã mặc áo dài. Chính sách đồng hóa của chính quyền phương Bắc, chắc hẳn có ảnh hưởng nhiều đến trang phục của người Việt.

– Trước khi người Trung Hoa thống trị nước ta, người Việt tuy chưa mặc áo dài, nhưng những yếu tố về trang phục trước đó như áo cài khuy (bên trái rồi bên phải), váy dài, váy xẻ, váy xòe,… là tiền đề cơ bản cho sự hình thành chiếc áo dài về sau (yếu tố bản địa kết hợp tiếp biến ngoại lai).

– Việc trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa ở nước ta phát triển mạnh hơn hẳn cả Trung Hoa như thư tịch cổ đã nêu. Đó là cơ sở cho sự hình thành chiếc áo dài về mặt nguyên liệu, gắn liền với kỹ thuật chế tác, thiết kế.

Tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc Việt được hun đúc và trưởng thành trong suốt thời kỳ đấu tranh chống đồng hóa của phong kiến phương Bắc chắc hẳn đã thể hiện trong cách ăn mặc; trong phong tục tập quán và tiếng nói của người Việt, để đến thế kỷ X, khi nền độc lập tự chủ của dân tộc được khôi phục, nhiều nét văn hóa dân tộc được định hình, để rồi đến thời Lý Trần, Triều đình đã ban bố những quy chế về trang phục một cách cụ thể và rõ ràng, chặt chẽ.

Sử sách cho biết, dưới Triều Lý (1009-1225) những quy định về trang phục đã được đặt ra một cách cụ thể. Năm 1030, “Định kiểu mũ áo của các công hầu văn võ”7. Năm 1040, Nhà vua “xuống chiếu phát hết gấm vóc của nước Tống ở trong kho ra để may áo ban cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào bằng gấm, từ cửu phẩm trở lên thì áo bào bằng vóc, để tỏ là vua không dùng gấm vóc của nước Tống nữa”8,… Ở thời Trần, như sách Sứ Giao châu thi tập của Trần Cương Trung nhà Nguyên cho biết, “Người trong nước đều mặc lụa thâm, áo hoa, quần mỏng, áo cổ tròn khâu bằng là, đàn bà cũng mặc áo thâm, nhưng màu trắng ở trong rộng hơn để viền vào cổ áo, rộng bốn tấc, họ cho thế là khác với áo đàn ông, các sắc xanh, hồng vàng tía, tuyệt nhiên không có”9. Năm 1300, Triều đình “quy đinh kiểu mũ áo mới cho quan văn võ”, theo đó, “Ống tay áo của các quan văn võ rộng 9 tấc đến 1 thước 2 tấc, không cho dùng từ 8 tấc trở xuống. Các quan văn võ không được mặc xiêm, tụng quan không được mặc thường”,…10.

Điều đáng lưu ý là áo dài Việt Nam không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả đàn ông đều mặc, và cũng không chỉ là triều phục, lễ phục mà cả dân gian đều dùng. Nếu như áo dài phụ nữ được xem là nét tiêu biểu của văn hóa Việt Nam, thì áo dài đàn ông lại được xem xét để lựa chọn là “quốc phục” của nước nhà.

Những điều thú vị về Áo dài Việt Nam

Áo dài là trang phục truyền thống của Việt Nam, mặc cùng với quần dài, che thân từ cổ đến hoặc quá đầu gối và dành cho cả nam lẫn nữ nhưng hiện nay thường được biết đến nhiều hơn với tư cách là trang phục nữ. Áo dài thường được mặc vào các dịp lễ hội, trình diễn; hoặc tại những môi trườngđòi hỏi sự trang trọng, lịch sự; hoặc là đồng phục nữ sinh tại trường trung học phổ thông hay đại học; hay đại diện cho trang phục quốc gia trong các quan hệ quốc tế. Các người đẹp Việt Nam hầu hết đều chọn áo dài cho phần thi trang phục dân tộc tại các cuộc thi sắc đẹp quốc tế.

Trước đây, áo dài thường được mặc kết hợp cùng với nón quai thao, nón lá, hay là khăn đóng. Nhưng kiểu sơ khai nhất của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát là người được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam như ngày nay.

Từ “Áo dài” (ao dai /ˈaʊ ˌdʌɪ/) được đưa nguyên bản vào từ điển Oxford và được giải thích là loại trang phục của phụ nữ Việt Nam với thiết kế 2 tà áo trước và sau dài chấm mắt cá chân che bên ngoài chiếc quần dài.Trải qua biết bao thế hệ tà áo dài hiện đại có những thay đổi để phù hợp với xu thế thời trang và nhu cầu ăn mặc của con người nhưng nó vẫn giữ nguyên được bản sắc văn hóa nghìn năm của dân tộc.

Màu sắc Áo dài là biểu tượng

Thông thường, màu sắc vải vóc rất quan trọng vì nó thể hiện địa vị của một người trong xã hội. Những người phụ nữ trẻ thường thích ăn vận màu sắc trong trẻo và tươi mới. Khi cô ấy bắt đầu trưởng thành hơn, họ chuyển sang màu phấn, để tỏ ý rằng mình vẫn chưa lập gia đình. Sau khi cưới, cô ấy có quyền ăn mặc các màu đậm hơn. Còn có những màu cụ thể để dành cho những dịp lễ đặc biệt, ví dụ như lam và tím.

Mặc dù vậy, phụ nữ Việt hiện đại không bị quá gò bó vào những quy tắc này. Áo dài vẫn tiếp tục đổi thay dưới những hình hài khác nhau, với niềm tin rằng nó nên được mặc như thế nào mới chính xác.

Áo dài mượt như lụa

Nguyên gốc, trang phục phải được may bằng lụa để đảm bảo sự nhẹ nhàng và ôm vừa vặn thân thể, cũng như tính năng chóng khô khi thấm nước.

Áo dài không chỉ dành cho các quý cô

Áo dài còn dành cho đàn ông nữa nếu bạn chưa biết. Mặc dù ngày nay họ chỉ mặc vào những dịp cực kỳ quan trọng như đám cưới, nhưng ta vẫn có thể thấy ở đâu đó, đặc biệt là những thế hệ lớn tuổi.

Ý nghĩa của Áo dài Việt Nam

Qua hơn ngàn năm Bắc thuộc và trăm năm chịu sự đô hộ của thực dân Pháp chính vì thế chiếc áo dài Việt Nam chịu sự ảnh hưởng phần nào bởi hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây vượt qua bao thăng trầm để giờ đây sự góp mặt của chiếc áo dài chính là niềm tự hào dân tộc. Vậy chiếc áo dài Việt Nam có ý nghĩa sâu xa như thế nào?

Áo dài Việt Nam hơi thở của nền văn hóa Việt

Không đơn giản gì mà trước hàng trăm sự lựa chọn đến từ nhiều bộ trang phục đang có tại đất nước Việt Nam thế mà chiếc áo dài lại chiếm trọn trái tim mọi người dân đất Việt. Bởi phom dáng của áo dài tạo nên nét cuốn hút ở phần hông xẻ dài đến tà áo chia thành 2 vạt trước sau, ôm trọn đường cong cơ thể người phụ nữ. Vừa gợi cảm, quyến rũ thế nhưng vẫn không kém phần kín đáo, sang trọng.

Vào năm 1970, một sự kiện hội chợ quốc tế O-Sa-Ka diễn ra tại đất nước Nhật Bản chiếc áo dài Việt Nam vinh dự nhận huy chương vàng và được bầu chọn là một trong những bộ y phục đẹp nhất.

Áo dài Việt Nam mang đậm triết lý nhân sinh

Ngoài nét đẹp văn hóa vốn có chiếc áo dài Việt Nam còn chứa đựng ý nghĩa đạo lý truyền thống từ bao đời nay. Bởi được cải tiến dựa trên áo tứ thân thời xa xưa vốn dĩ hai tà áo đã được tựng trương tứ thân, phụ mẫu, năm chiếc khuy cài bên ngực trái của áo bên cạnh tác dụng giữ cho chiếc áo ngay thẳng, kín đáo mà còn đại diện cho năm đạo làm người: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín…

Áo dài Việt Nam bản thu nhỏ của đất nước Việt Nam

Khoác lên mình bộ trang phục truyền thống người con gái Việt Nam toát lên vẻ đẹp thuần khiết trong sáng, các chiếc áo dài được thiết kế vừa vặn tôn lên đường cong hình chữ S hoàn hảo. Tựa như hình dạng của Việt Nam trên bản đồ thế giới. Bộ trang phục truyền thống Việt Nam ngày nay được xuất hiện tại hầu hết các cuộc thi sắc đẹp trên toàn cầu, qua bàn tay nhà thiết kế chiếc áo dài được điểm tô thêm phần họa tiết tạo nên sức thu hút quyến rũ hơn.

Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một loại trang phục truyền thống mà chỉ cần nhìn cách phục sức của họ, chúng ta có thể nhận biết họ thuộc quốc gia nào. Nếu người Nhật Bản có Kimono, người Hàn Quốc có Hanbok, người Trung Quốc có Sườn xám,… thì người Việt Nam lại hãnh diện khi mang trên mình chiếc Áo dài dân tộc. Theo dòng chảy của lịch sử, chiếc áo dài đã có nhiều thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn của xã hội. Thế nhưng, dẫu thay đổi thế nào đi chăng nữa, áo dài vẫn luôn là biểu tượng của vẻ đẹp, văn hóa và là niềm tự hào của hàng triệu người con đất Việt.

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn của Áo dài dân tộc Việt Nam, dựa trên những tài liệu, thông tin của những nhà văn hóa, nghiên cứu lịch sử… khoảng 3.000 năm trước, hình ảnh chiếc áo dài với hai tà thướt tha, mềm mại, mỏng manh như cánh bướm bay trong gió đã xuất hiện trên những cổ vật như mặt trống đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ, trên thạp đồng Đào Thịnh. Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng, chiếc áo dài đã ra đời từ thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát, xưng Vũ Vương (1739-1765) ở thế kỷ XVIII.

Có tài liệu ghi chép rằng áo dài Việt Nam có nguồn gốc từ áo sườn xám – trang phục truyền thống của Trung quốc. Tuy nhiên thời gian xuất hiện của sườn xám lại sau sự xuất hiện của áo dài Việt Nam.

Áo dài Việt Nam đã có lịch sử phát triển hàng ngàn năm trước khi sườn xám xuất hiện. Ngày nay, áo dài trở thành một biểu tượng đặc trưng của truyền thống Việt Nam và mặc dù không được chính thức phong làm quốc phục, nó đã trở nên phổ biến ở đất nước này và trên khắp thế giới.

5

/

5

(

4

bình chọn

)

Áo Dài Việt Nam Xưa Và Nay

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài Việt với hai tà áo thướt tha trong gió đã được tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn cách ngày nay hàng nghìn năm. Truyền thuyết kể lại rằng, khi cưỡi voi xông trận, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng. Do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt xưa tránh mặc áo hai tà mà mạc áo tứ thân.

Theo thời gian, trong khoảng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, để có dáng dấp trang trọng và mang vẻ quyền quý hơn, phụ nữ nơi thành thị đã biến tấu kiểu áo ngũ thân từ chiếc áo dài tứ thân nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của người phụ nữ. Giống như một quy luật, trang phục cũng đi liền với diễn biến của lịch sử, chiếc áo dài ngũ thân vẫn không thể là điểm dừng của trang phục truyền thống Việt Nam.

Chiếc áo dài giao lãnh 4 vạt ở thế kỷ 17.

Cho đến đầu thế kỷ 20, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân, hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay vì các loại vải ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chít eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80cm. Cổ áo chỉ cao khoảng 2 – 3cm.

Riêng ở miền Bắc khoảng năm 1910 – 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3cm bên phải cổ áo, và cài khuy cổ lệch ra đấy; cổ áo như thế sẽ hở ra cho quyến rũ hơn, cũng để diện chuỗi hột trang sức nhiều vòng.

Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lớp lót. Lớp áo trong cùng thấm mồ hôi, vì thế được may đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt. Một áo kép mặc kèm với một áo lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba. Quần may rộng vừa phải, với đũng thấp. Thuở đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Đặc biệt, giới thượng lưu ở Huế hay mặc loại quần chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm. Trong các thập niên 1930 và 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, gấu áo dài thường được may trên mắt cá khoảng 20cm, thường được mặc với quần trắng hoặc đen.

Những cách tân đầu tiên Áo dài Le Mur bị lên án là “lai căng” với tay phồng.

Vào năm 1934, họa sĩ Cát Tường đã thực hiện một cải cách quan trọng trên chiếc áo dài hai tà truyền thống là áo dài năm thân, biến nó chỉ còn hai vạt trước và sau thành chiếc áo dài mà người ta đã gắn với cái tên Cát Tường, được dịch sang tiếng Pháp thành “Le Mur”. Kiểu áo này đã được các báo Phong hóa – Ngày nay của nhóm Tự lực văn đoàn, nơi họa sĩ này là cộng sự, giới thiệu bộ nữ phục cách tân của ông. Họa sĩ đã lấy ý tưởng từ các loại cổ, ống tay áo của phụ nữ châu Âu đưa vào áo dài như vai bồng, tay măng séc chun, hoặc loe hình phễu, cổ áo khoét sâu viền đăng ten, gấu áo hình sóng lượn đáp vải khác màu hoặc ren. Bỏ vạt con gây cộm trên ngực, phần ngực và phần eo may sát hơn, nâng cao phần xẻ tà để tạo dáng mềm mại thể hiện được nét đẹp, đường cong duyên dáng của cơ thể phụ nữ. Vạt trước được họa sĩ nối dài để tăng thêm dáng vẻ uyển chuyển trong bước đi. Để tăng thêm vẻ nữ tính, hàng nút phía trước được dịch chuyển sang một chỗ mở áo dọc theo vai rồi chạy dọc theo một bên sườn. Sự thay đổi này đã khắc phục được nhược điểm của chiếc áo năm thân vốn nặng nề và khoe được đường nét cơ thể của người phụ nữ. Cái đẹp giản dị mà thanh nhã được giữ lại những đường nét cơ bản trong bộ áo dài và càng ngày càng có những cải tiến để hoàn thiện hơn.

Áo dài chít eo, tôn ngực thịnh hành vào những năm 1960.

Tuy nhiên, áo dài Le Mur có nhiều cải tiến mà nhiều người thời đó cho là “lai căng” thái quá, như áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc cổ hở. Thêm nữa áo Le Mur mặc cho đúng mốt phải đi quần xa tanh trắng, giày cao, một tay cắp ô và quàng vai thêm chiếc bóp đầm. Kết quả là những yếu tố vay mượn và bị xem là lai căng của châu Âu của chiếc áo dài Le Mur đã không được đa số phụ nữ Việt Nam chấp nhận.

Áo dài thời nay.

Cùng với Cát Tường, họa sỹ Lê Phổ cũng đã tham gia vào công cuộc cải tiến áo dài cho phụ nữ Việt. Ai trước ai sau ý kiến còn có sự khác nhau. Chỉ biết rằng, người ta gọi áo dài tân thời từ thời đó là áo dài Lê Phổ, và xuất phát điểm của ý tưởng cách tân của Lê Phổ khác với Cát Tường là phải kế thừa các giá trị truyền thống, kết hợp các yếu tố từ áo tứ thân, ngũ thân để tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kín, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tư do bay lượn. Ông thu nhỏ cổ, gấu, nẹp tà, thân áo cho gọn và ôm khít vào người, nối vai và tay không phồng lên, cài nút bên phải, tà được xẻ cao hơn để dáng áo thêm phần mềm mại. Sự dung hợp hài hòa giữa cái mới và cái cũ được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt.

Ngày nay, trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường với sự mở cửa và hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa, trong những làn sóng “mốt” thay đổi đến chóng mặt, bộ áo dài của phụ nữ Việt cũng vẫn thể hiện được bản lĩnh của sắc thái văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nó được giới tạo mẫu, Thiết kế thời trang luôn tìm tòi, sáng tạo, cải tiến và bổ sung vào đó những hơi thở của thời đại, khuynh hướng và xu thế thời trang hiện đại. Có thể nói đây là giai đoạn mà áo dài một lần nữa đứng trước một cuộc cách tân hậu hiện đại sâu sắc cả về kiểu dáng, chất liệu, màu sắc, họa tiết trang trí…Về kiểu dáng: Cổ áo lúc cao, lúc thấp, lúc khoét hình vuông, hình thang, hình tròn, bầu dục… Vai áo: lúc bồng, lúc tròn, tay ngắn hoặc không có tay.

Về chất liệu: Chiếc áo dài truyền thống xưa và cả chiếc áo dài cách tân được may bằng chất liệu truyền thống thường chỉ có một màu, hoặc có hoa văn chìm trong vải được đặt nổi bật trên nền của chiếc quần lụa trắng, tạo nên vẻ đẹp nền nã và rất sang trọng. Ngày nay, nó được cải tiến thêu hoa lá, vẽ họa tiết hoa văn cho thêm đẹp, thêm phong phú…

Đứng trước xu hướng đa dạng hóa và hiện đại hóa, các dân tộc đều có nhu cầu bảo tồn và kế thừa các đặc trưng, giá trị và mô thức mỹ thuật của nữ phục. Áo dài tân thời của phụ nữ Việt đang phát triển phù hợp với cuộc sống của xã hội đô thị và công nghiệp theo hướng hiện đại hóa và đa dạng hóa trên nền tảng giá trị thẩm mỹ và giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.

Châu Anh (Tổng hợp)

Lịch Sử Và Quá Trình Phát Triển Áo Dài Việt Nam

Áo dài Việt Nam được coi là trang phục truyền thống quốc gia đặc biệt. Ra đời từ rất lâu áo dài là đề tài sáng tác trong nhiều rất nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Nó tôn lên giá trị vẻ đẹp truyền thống người phụ nữ Việt Nam. Khẳng định được mình trên làng thời trang thế giới. Trải qua biết bao thế hệ tà áo dài hiện đại có những thay đổi để phù hợp với xu thế thời trang và nhu cầu ăn mặc của con người nhưng nó vẫn giữ nguyên được bản sắc văn hóa của đất nước nghìn năm văn hóa của dân tộc ta.Đặc biệt là thế nhưng thực sự nhiều người trong chúng ta chưa biết nhiều về lịch sử áo dài. Bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu thêm đôi chút về Áo dài.

 

Lịch sử và quá trình phát triển áo dài Việt Nam  

 

Áo dài là trang phục truyền thống của Việt Nam, mặc cùng với quần dài, che thân từ cổ đến hoặc quá đầu gối và dành cho cả nam lẫn nữ nhưng hiện nay thường được biết đến nhiều hơn với tư cách là trang phục nữ. Áo dài thường được mặc vào các dịp lễ hội, trình diễn; hoặc tại những môi trườngđòi hỏi sự trang trọng, lịch sự; hoặc là đồng phục nữ sinh tại trường trung học phổ thông hay đại học; hay đại diện cho trang phục quốc gia trong các quan hệ quốc tế. Các người đẹp Việt Nam hầu hết đều chọn áo dài cho phần thi trang phục dân tộc tại các cuộc thi sắc đẹp quốc tế.

Trước đây, áo dài thường được mặc kết hợp cùng với nón quai thao, nón lá, hay là khăn đóng. Nhưng kiểu sơ khai nhất của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát là người được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam như ngày nay.

Từ “Áo dài” (ao dai /ˈaʊ ˌdʌɪ/) được đưa nguyên bản vào từ điển Oxford và được giải thích là loại trang phục của phụ nữ Việt Nam với thiết kế 2 tà áo trước và sau dài chấm mắt cá chân che bên ngoài chiếc quần dài.Trải qua biết bao thế hệ tà áo dài hiện đại có những thay đổi để phù hợp với xu thế thời trang và nhu cầu ăn mặc của con người nhưng nó vẫn giữ nguyên được bản sắc văn hóa nghìn năm của dân tộc.

 

Thế kỉ 17: Áo giao lãnh  

 

Kiểu dáng sơ khai của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh bốn vạt, tiền thân của áo tứ thân. Áo giao lãnh khoác ngoài yếm lót, mặc cùng váy đen và thắt lưng màu tương tự như áo tứ thân, chỉ khác là hai vạt trước buông thả chứ không buộc trước bụng.

 

Thế kỉ 18 – đầu thế kỉ 20:  Áo tứ thân

 

Để tiện lợi hơn cho người phụ nữ trong việc đồng án, buôn bán, người xưa đã tạo ra áo tứ thân gọn gàng với 2 vạt trước rời nhau và có thể buộc lại, 2 vạt sau may liền lại với nhau thành 1 tà. Chiếc áo được may để phục vụ cho tầng lớp bình dân, thời bấy giờ khổ vải chỉ rồng tầm 35-40cm nên may 1 tà sau cho tiện. Áo tứ thân thường được may bằng vải màu tối nhằm tiện cho việc đồng án.  

Áo ngũ thân – áo dành cho phụ nữ thành thị ít lao động chân tay mặc áo ngũ thân để phân biệt với tầng lớp lao động nghèo. Áo ngũ thân có bốn vạt như áo tứ thân được may liền với nhau thành 2 tà: trước và sau. Vạt con thứ 5 được may phía dưới tà áo trước nhằm tạo mảnh lót kín đáo. Áo ngũ thân có cổ và dáng rộng.

 

Những cách tân đầu tiên

 

Áo dài Lê Phổ (1934)   

Năm 1934, họa sĩ bậc thầy Việt Nam Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đây, áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó, và từ bấy giờ đến nay dù trải qua bao thăng trầm, bao lần cách tân cách điệu, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn giữ nguyên.  

                                        Áo dài LeMur   

Một vài nhà tạo mẫu áo dài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, nhưng gần như họ chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo, vì vải phương Tây dệt được khổ rộng hơn. Tay áo vẫn may nối. Nổi nhất lúc ấy là nhà may Cát Tường ở phố Hàng Da, Hà Nội. Năm 1939 nhà tạo mẫu này tung ra một kiểu áo dài được ông Âu hóa. Áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may không nối sống bên dưới. Nhưng cổ áo khoét hình trái tim. Có khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ. Vai áo may bồng, tay nối ở vai. Khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Nhưng kiểu áo này chỉ tồn tại đến khoảng năm 1943.  

                 Hồ Ngọc Hà trong mẫu lemur 

Đến khoảng năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may có eo. Các thợ may lúc đó đã khôn khéo cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau rộng hơn thân áo trước, để áo ôm theo thân dáng mà không cần chít eo. Vạt áo cắt hẹp hơn. Thân áo trong được cắt ngắn dần từ giai đoạn này. Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu được hạ thấp xuống.

 

Áo dài Trần Lệ Xuân (1958) 

 

Cuối năm 1958 khi bà Trần Lệ Xuân còn tại vị Đệ Nhất Phu Nhân của nước Việt Nam Cộng Hòa, bà đã thiết kế ra kiểu áo dài cách tân mới bỏ đi phần cổ áo gọi là áo dài cổ thuyền, cổ hở, cổ khoét, dân gian gọi là áo dài Trần Lệ Xuân hay áo dài bà Nhu. Không chỉ lạ về mẫu áo, chiếc áo dài hở cổ còn được ‘phá cách’ với họa tiết trang trí trên áo: nhành trúc mọc ngược. Một số nhà phê bình phương tây cho rằng nó hợp lý với thời tiết nhiệt đới của miền nam Việt Nam. Nhưng kiểu áo này khiến những người theo cổ học lúc đó tức giận và lên án nó không hợp với thuần phong mỹ tục. Loại áo dài không có cổ này vẫn phổ biến đến ngày nay và phần cổ được khoét sâu cho tròn chứ không ngắn như bản gốc.  

 

Áo dài tay raglan (năm 1960)  

  

Năm 1960, nhà may Dung ở Đa Kao, Sài Gòn đã sáng tạo ra cách ráp tay raglan vào áo dài. Cách ráp này khắc phục được các nếp nhăn hai bên nách áo.Với cách này, tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách. 2 tà nối với nhau bằng đường nút dọc hông. Kiểu này tạo dáng ôm theo đường cong người mặc, giúp người phụ nữ cử động tay thoải mái, linh hoạt. 

 

Áo dài chít eo – áo dài miniraglan (1960 – 1970)

 

Những năm 1960, áo dài chít eo thách thức quan điểm truyền thống trở thành kiểu dáng thời thượng. Lúc này, chiếc áo nịt ngực tiện lợi đã được sử dụng rộng rãi. Phụ nữ thành thị với tư duy cởi mở muốn tôn lên những đường cong cơ thể qua kiểu áo dài chít eo rất chặt để tôn ngực.  

Gần cuối thập kỷ 60, áo dài miniraglan trở nên thịnh hành trong giới nữ sinh vì sự thoải mái, tiện lợi của nó. Đây là kiểu áo dài dành riêng cho nữ sinh. Theo đó tà áo được may tới mắt cá chân, nhưng hai ống quần được phủ xòe ôm hai bàn chân. Với kiểu áo dài này, làm tăng thêm tính hồn nhiên, ngây thơ cho nữ sinh. Thời nay còn gọi là áo dài nữ sinh.

 

Sau những năm 1970, đời sống đổi mới đã khiến chiếc áo dài dần vắng bóng trên đường phố. Đến những năm 90, áo dài đã trở lại, cầu kỳ hơn, thanh nhã hơn và bắt đầu được bạn bè Quốc Tế nghĩ tới như là một biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.  

 

Cấu tạo áo dài Việt Nam

Cổ áo cổ điển cao khoảng 4 đến 5cm. Ngày nay, kiểu cổ áo dài được biến tấu khá đa dạng như kiểu trái tim, cổ tròn, cổ chữ U, trên cổ áo thường được đính ngọc.

Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo. Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Từ eo, thân áo dài được xẻ làm hai tà, vị trí xẻ tà ở hai bên hông.

Áo dài có hai tà: tà trước và tà sau. Ngày xưa tà trước bằng tà sau nhưng ngày nay đã có nhiều loại áo tà trước ngắn hơn tà sau. Trên tà áo trước thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.

Tay áo được tính từ vai, may ôm sát cánh tay, dài đến qua khỏi cổ tay.

Chiếc áo dài được mặc với quần thay cho chiếc váy ngày xưa. Quần áo dài được may chấm gót chân, ống quần rộng. Quần áo dài khi xưa may bằng vải cứng cáp, nay thường được may với vải mềm, rũ. Màu sắc thông dụng nhất là màu trắng. Nhưng xu thế thời trang hiện nay thì chiếc quần áo dài có màu đi tông với màu của áo.  

 

DEC Design Education sưu tầm & biên tập.

#DEC : ” Học để trở thành chuyên nghiệp “

 

 

 

 

 

 

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lịch Sử Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Kỳ – Áo Dài Xưa Và Nay trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!