Đề Xuất 12/2022 # Lịch Sử Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ / 2023 # Top 20 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Lịch Sử Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lịch Sử Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

25.05.2020

Trong lịch sử phương pháp giảng dạy ngoại ngữ (PPGDNN) giảng dạy tiếng luôn gắn liền với các trào lưu trong ngôn ngữ học, tâm lí học và sư phạm học. Theo Celce-Murcia (1991) thì PPGDNN luôn dựa vào ba hòn đá tảng: bản chất ngôn ngữ (giảng dạy tiếng và ngôn ngữ học), bản chất người học (giảng dạy tiếng và tâm lí học), và mục đích giảng dạy và học tập (mục đích của cá nhân và nhu cầu xã hội).

Phương pháp giảng dạy là phạm trù cơ bản trong giáo học pháp, thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong khoa học sư phạm thì nó là phương thức nhận thức, là cách thức nghiên cứu và giải quyết tình huống. Trong PPGDNN nó có nghĩa hẹp hơn: là mô hình tổng hợp hoá quá trình dạy học dựa trên một trong các hướng tiếp cận cụ thể, điển hình cho các phương hướng cụ thể, có thể là việc sử dụng tài liệu giảng dạy, lựa chọn thủ pháp giảng dạy, phương thức tương tác giữa giáo viên và học viên. Dựa trên khái niệm của Anthony (1963) Richards và Rodgers (1986) nhìn nhận phương pháp như một cái ô bao trùm ba cấp độ: lí thuyết (approach – lối tiếp cận), xử lí (design – thiết kế) và ứng dụng thực tế (procedure – qui trình). Các tác giả trên đã giúp chúng ta định hình được cấu trúc của phương pháp bao gồm vai trò giáo viên và học viên, loại hình chương trình, đặc trưng tổ chức quá trình đào tạo và các ngữ liệu giảng dạy.

Trong quá trình phát triển, hơn một thế kỉ qua, ngành PPGDNN được biết đến các phương pháp phổ biến như: Phương pháp dịch-ngữ pháp (Grammar-Translation Method), Phương pháp trực tiếp (Direct Method), Phương pháp nghe khẩu ngữ (Audiolingualism, audiolingual method, mim-mem method), Phương pháp nghe nhìn, còn gọi là phương pháp cấu trúc toàn cầu (Audiovisual Method / Structural-Global Method), Phương pháp giảng dạy tiếng theo tình huống, còn gọi là lối tiếp cận bằng lời (Situational Language Teaching – SLT/ The Oral Approach), Phương pháp/ lối tiếp cận tự nhiên (Natural Method / Natural Approach), và Phương pháp giao tiếp, còn gọi là giảng dạy tiếng giao tiếp (Communicative Method/ Communicative Language Teaching (CLT). Cũng cần bổ sung rằng, về thuật ngữ, các nhà phương pháp học có những cách gọi khác nhau. Chẳng hạn, Celce-Murcia (1991) thì đồng nhất gọi chúng là Lối tiếp cận (LTC), ví dụ, LTC dịch-ngữ pháp, LTC trực tiếp, LTC đọc, LTC nghe ngôn ngữ, LTC Tình huống, LTC nhận thức, LTC hiểu và LTC ảnh hưởng nhân văn trong khi đó Richards và Rodgers (1986) lại dùng cả hai thuật ngữ là phương pháp (Phương pháp dịch ngữ pháp) và lối tiếp cận (LTC giao tiếp,LTC tự nhiên).

1. Phương pháp dịch ngữ pháp.

Phương pháp này hiểu ngôn ngữ như những hệ thống. Lối tiếp cận của phương pháp này là lối tiếp cận nhận thức trong giảng dạy, trong thời kì đầu (thế kỉ 19), nó được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để dạy các ngôn ngữ La-tinh và Hi Lạp, sau này là các thứ tiếng Đức, Pháp, Anh.

Mục đích giảng dạy của phương pháp này là để đọc các tác phẩm văn học. Ngoại ngữ được nhìn nhận như một bộ môn giáo dục toàn diện với vai trò chủ đạo là phát triển trí tuệ và tư duy lô gic của người học.

Phương pháp này chú trọng vào văn viết. Các hình thức giao tiếp bằng lời thường chỉ dùng với mục đích công cụ giảng dạy.

Ưu điểm cơ bản của phương pháp này là học viên được học các tác phẩm văn học nguyên tác, ngữ pháp được học qua tình huống cụ thể, tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ giảng dạy và là đối tượng so sánh đối chiếu của học viên. Tuy nhiên, khi học ngoại ngữ, học viên chủ yếu nghiên cứu các cấu trúc ngữ pháp và chuyên tâm vào dịch nhưng hầu như không dùng được ngoại ngữ để giao tiếp.

2. Phương pháp trực tiếp

Ưu điểm chính của phương pháp này là học viên có nhiều điều kiện tiếp xúc bằng ngoại ngữ. Đồng thời họ cũng có thể ứng dụng được ngôn ngữ đã học vào các giao tiếp thực tế. Tuy nhiên, người quản lí luôn gặp trở ngại về vấn đề tuyển mộ giáo viên.

3.Phương pháp đọc hiểu.

Xuất hiện vào những năm 1930 khi hầu hết các cơ sở đào tạo tiếng không có khả năng tuyển mộ những giáo viên đạt yêu cầu. Với phương pháp đọc hiểu, giáo viên không cần phải biết nói giỏi mà chỉ cần có kiến thức từ vựng, ngữ pháp tốt bởi phương pháp này chỉ chú trọng vào kĩ năng đọc. Từ vựng là vấn đề then chốt. Các hiện tượng ngữ pháp chỉ được đề cập nếu trợ giúp quá trình đọc hiểu.

4.Phương pháp nghe nói khẩu ngữ.

          Người ta nhanh chóng nhận ra được những bất cập của phương pháp đọc vốn chỉ chú trọng vào một kĩ năng mà hoàn toàn bỏ qua nghe-nói. Trong những năm 1940 phương pháp nghe khẩu ngữ bắt đầu hình thành, dựa trên những đặc điểm của ngôn ngữ học cấu trúc và tâm lí học hành vi, và nhanh chóng chiếm ưu thế ở Mỹ khi nhu cầu học ngoại ngữ nhanh đặt ra đối với các lính chiến Hoa Kì. Cũng theo Celce-Murcia thì với phương pháp này, bài học bắt đầu bằng một mẩu hội thoại với trọng tâm kĩ năng theo trật tự: nghe, nói (cơ bản, cần thiết), đọc, viết (chưa cần thiết). Điều đó có nghĩa là chú trọng vào nghe nói – theo đúng tên gọi của nó. Với phương pháp này, ngữ âm rất quan trọng, ngữ pháp giảng dạy theo cấu trúc và luật ngữ pháp dạy theo phương pháp qui nạp. Học viên có thể bắt chước và học thuộc lòng. Giáo viên chỉ cần nắm vững một lượng từ vựng hay cấu trúc hạn chế trong chương trình giảng dạy vì mọi hoạt động và ngữ liệu trên lớp đều được giám sát chặt chẽ.

5.Phương pháp tình huống

Charles Curran (1972) tiếp thu tư tưởng giáo dục của Carl Rodgers (dẫn theo Brown, 1994:59) trong mô hình giáo dục “học tư vấn” coi người học trong lớp là một nhóm nhỏ chứ không phải là một lớp lớn với những cá nhân khác nhau, với từng khả năng riêng và hoàn cảnh riêng. Do đó, người học, giống như những bệnh nhân, cần thiết phải được “trị liệu” riêng bệnh, có nghĩa là giảng dạy theo các cách khác nhau. Với phương pháp này giáo viên đóng vai trò tư vấn viên, học viên là người cộng tác (Rodgers, 2001). Học viên, thường ngồi đối diện với nhau trong một nhóm nhỏ theo cộng đồng ngôn ngữ, tranh luận bằng tiếng mẹ đẻ trước, sau đó bằng ngoại ngữ, giáo viên có thể dịch những câu nói đó của học viên sang ngoại ngữ, sau đó học viên nhắc lại lời giáo viên. Phương pháp này chú ý tới tính xã hội trong giảng dạy và tính nhân văn, đồng thời duy trì bầu không khí thân thiện, thoải mái trong lớp học. Tuy nhiên nó thể hiện vô số những khiếm khuyết như chương trình giảng dạy lộn xộn, thiếu tính hệ thống và có thể gây khó khăn cho nhà quản lí khi tìm kiếm giáo viên, vừa biết ngoại ngữ của học viên, vừa phải được đào tạo kĩ càng bộ môn tâm lí học, mới có thể thực hiện tốt vai trò tư vấn khi sử dụng phương pháp này.

7. Phương pháp học tiếng thư giãn. Còn gọi là phương pháp Lozanov

          Gattegno phát triển phương pháp này năm 1972 với niềm tin vững chắc rằng người học tiếng cần phải học độc lập, tự giác, biết cộng tác với các thành viên khác trong lớp học để giải quyết tình huống. Quá trình học, theo Gattegno, là quá trình tìm kiếm, phát hiện – một xu hướng phổ biến của những năm 1960, giáo viên thuần tuý là người hỗ trợ nhưng hầu hết giữ trạng thái im lặng với những que tính (Cuisinere Rods) màu dài ngắn khác nhau, với các bảng ngữ âm, ngữ pháp dán tường. Học viên tự phát âm, chỉnh sửa lời nói của mình theo chỉ dẫn bằng hành động của giáo viên (trong trường hợp cần thiết). Richard & Rodgers (1986:99) tóm tắt phương pháp này như là phương pháp có khả năng thúc đẩy quá trình học nếu người học sáng tạo chứ không phải thuần tuý học thuộc lòng hay nhắc lại những gì phải học. Đồng thời, học viên được tiến hành xử lí tình huống những ngữ liệu phải học. Tuy nhiên, với phương pháp này, vai trò của giáo viên trên lớp dường như bị lu mờ và giao tiếp tích cực bằng lời của giáo viên bị hạn chế.

9. Phương pháp hoàn toàn bằng hành động.

          James Asher phát triển phương pháp này năm 1977 dựa trên lí thuyết ngôn ngữ học cấu trúc, chủ nghĩa hành vi trong tâm lí học và xu hướng nhân văn trong giảng dạy, theo nguyên tắc của phương pháp tự nhiên. Theo phương pháp này, quá trình học ngoại ngữ cũng giống như quá trình cảm thụ tiếng mẹ đẻ của trẻ em, chúng cũng trải qua thời kì “im lặng”, có nghĩa là cảm nhận âm thanh, những kết cấu phức tạp trước khi biết nói. Hiểu cấu trúc được tiến hành dễ dàng hơn nếu học viên được cảm nhận bằng những hành động cụ thể của những người xung quanh. Những cấu trúc được sử dụng hầu hết là ở dạng mệnh lệnh thức. Học viên nghe “lệnh” như “giơ tay trái lên”, “hãy sờ vào mũi người bên phải”, “đừng đưa chân trái ra phía trước”, “người mặc áo vàng bên cạnh cửa sỗ hãy đi về phía góc trái trên của lớp học” v.v. và hành động theo hiệu lệnh. Phương pháp này tỏ ra đặc biệt hiệu quả đối với trình độ sơ cấp, khá phù hợp với trẻ em học tiếng nhưng có nhiều hạn chế với trình độ nâng cao, và nhiều phiền toái cho học viên lớn tuổi. Một mặt, phương pháp này tạo ra sự an toàn tinh thần cho học viên “chưa cần nói khi chưa sẵn sàng” thì nó vẫn là phương pháp học thụ động, chưa khuyến khích phát triển ngữ năng giao tiếp ở mức độ tự nhiên và cũng khá cứng nhắc bởi trật tự tiến hành kĩ năng nghe trước nói sau trong học tiếng.

10. Phương pháp giao tiếp.

          Hymes (1972), một nhà ngôn ngữ học nhân chủng cùng với Halliday (1973) coi ngôn ngữ hành chức chủ yếu với tư cách là chức năng giao tiếp. Mục đích học và giảng dạy của phương pháp này là đạt được ngữ năng giao tiếp, có nghĩa là đạt được “khả năng không chỉ ứng dụng luật ngữ pháp để hình thành câu đúng mà còn biết dùng đúng lúc, đúng nơi, đúng đối tượng” (Richards và Platt, 1992:65), nói cách khác, thoả mãn được ba yêu cầu: trôi chảy (fluency), chính xác (accuracy), và phù hợp (appropriacy). Với những mục tiêu nổi trội như vậy, hiện nay nó đang giữ vị trí độc tôn trong lịch sử giáo dục nói chung và ngôn ngữnóiriêng.

          Nhìn chung, sẽ dễ dàng chấp nhận nhận định: không có một phương pháp tối ưu cho tất cả mọi trường hợp. Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm nhất định. Giáo viên cần có khả năng lựa chọn, tổng hợp và khai thác để sử dụng hài hoà các phương pháp sao cho phù hợp với đối tượng giảng dạy.

Bài viết của cô Trần Thị Lan – ĐHHN

Dựa Trên Những Gì Các Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ? / 2023

rất khó khăn để có được một công việc tại một công ty có uy tín, đặc biệt là khi nói đến các chuyến đi hợp tác và kinh doanh nước ngoài quốc tế mà không có kiến thức về một ngôn ngữ nước ngoài. Tiếng Anh, Trung Quốc, Pháp, Đức, có lẽ đến nay là phổ biến nhất. Đang cố gắng để đảm bảo một tương lai tươi sáng cho con cái của họ, cha mẹ gửi con cái họ đến trường học đặc biệt, nơi mà việc sử dụng truyền thống hay hiện đại phương pháp giảng dạy bằng tiếng nước ngoài. Tất nhiên, không chỉ là đối tượng của trẻ nhỏ học ngôn ngữ, nhiều người lớn tự nguyện tiếp thu kiến thức mới, bởi vì vấn đề chính ở đây – động lực đúng đắn, đó là không chỉ hữu ích, nhưng cũng thú vị.

Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ bao gồm các yếu tố sau: – các mục tiêu học tập, – Nội dung – Các hoạt động dạy học, – hiệu quả học tập của sinh viên. Trong thực tế, tất cả các mục có thể được đặc trưng bởi câu hỏi “Tại sao? Gì? Làm thế nào? Có đáng không?”.

Cần lưu ý rằng phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cho thấy khả năng tự nghiên cứu. Trong trường hợp này, nó là rất quan trọng để làm điều đó đúng và thường xuyên, mà không trì hoãn.

Để giáo dục mình tốt nhất để kết hợp truyền thống và hiện đại phương pháp giảng dạy ngoại ngữ. Chúng tôi liệt kê những cách hiệu quả nhất để nhanh chóng tìm hiểu và học hỏi làm thế nào để áp dụng các kỹ năng lý thuyết trong thực tế: – đọc bằng ngôn ngữ mục tiêu sách, tạp chí và báo (chỉ sau khi một sự phát triển tối thiểu của lý thuyết) – ghi nhớ những lời sáng tác hiệp hội giúp đỡ để mỗi từ mới, – hữu ích cho việc xem phim bằng tiếng nước ngoài có phụ đề, mà trên hết là làm cho nó có thể để nhớ cách phát âm đúng các từ (rất hữu ích cho sự phát triển của phong cách đàm thoại) – Nghe âm thanh cuốn sách, bài hát và những thứ khác bằng tiếng nước ngoài trên đường để làm việc, – Nghe radio – cách hoàn hảo để bạn có thể kiểm tra kiến thức của bạn trong thực tế, – để ghi nhớ tốt hơn những lời, hãy viết chúng trên tờ giấy riêng và được đăng trên một căn hộ (với sự giúp đỡ của phương pháp đơn giản này, bạn có thể bắt đầu giảng dạy đầu của ngoại ngữ) – cách hiệu quả nhất để học ngoại ngữ – giao tiếp với người nước ngoài, thậm chí c qua Skype.

Nó là tốt nhất để bắt đầu học một ngoại ngữ như một đứa trẻ. Rất tốt, nếu nhà trường đã đủ điều kiện giáo viên có thể cung cấp cơ sở tối thiểu cho sự phát triển hơn nữa các kỹ năng độc lập. Nhiệm vụ của giáo viên không chỉ là một khởi đầu học một ngôn ngữ nước ngoài, mà còn để tạo động lực, sự hiểu biết về sự cần thiết phải tiếp tục tự học trong lĩnh vực này.

Nhiều bậc cha mẹ đang cố gắng để có được trước sự phát triển của trẻ em, theo nghĩa đen vpihivaya thông tin trong họ, gửi cho họ để phát triển nhà trường, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, trong đó nỗ lực và thường xuyên nhằm tìm hiểu một số ngôn ngữ. nhà tâm lý học trẻ em phản đối này, bởi vì tình trạng quá tải não của đứa trẻ có thể dẫn tiến tới sự phát triển của tâm thần phân liệt và các rối loạn tâm thần khác. Về vấn đề này, nó không phải là cần thiết để nhập nhiều hơn một ngôn ngữ, và bắt đầu giáo dục bản thân với những điều cơ bản của ngôn ngữ, nếu một đứa trẻ muốn học một ngôn ngữ nước ngoài, sau đó để cho anh ta làm điều đó bản thân mình trong tương lai.

Một ngôn ngữ nước ngoài là rất quan trọng đối với công tác truyền thông, quen và, tất nhiên, du lịch, mà trong thời gian gần đây đặc biệt phổ biến trong các cư dân của nước ta.

Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Lịch Sử, Giáo Dục Công Dân / 2023

Để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn; đồng thời hướng tới kỳ thi THPT quốc gia đạt kết quả tốt, Sở GD&ĐT Phú Yên đã có những lưu ý rất cụ thể đến các nhà trường, các thầy cô giáo về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học với hai môn học này.

Trong đó nhấn mạnh: Tránh việc dạy học theo lối đọc – chép, nhìn – chép thuần túy dưới mọi hình thức. Sử dụng có hiệu quả phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong việc hỗ trợ bài dạy. Cần xem CNTT là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho bài dạy chứ không thể xem đó là một phương pháp dạy học mới thay thế hoàn toàn cho vai trò của giáo viên.

Tuy nhiên, cần phải có một số câu hỏi nâng cao nhằm phân loại học sinh và kích thích khả năng tư duy của một số học sinh khá, giỏi. Cần tránh trình trạng giáo viên chưa giảng, chưa trình bày sự việc hoặc học sinh chưa được tìm hiểu bài học mà đã đặt câu hỏi cho học sinh.

Cách đặt câu hỏi như vậy là trái với đặc trưng bộ môn, buộc học sinh phải nhìn vào sách giáo khoa để trả lời chứ hoàn toàn không hiểu gì về câu hỏi mà giáo viên vừa đặt ra.

Với việc xác định mục tiêu, nội dung trọng tâm bài dạy, ông Ngô Ngọc Thư cho rằng, cần phải xác định mục tiêu cuối cùng của bài dạy là học sinh hiểu bài như thế nào qua bài học, chứ không phải là bài dạy phải đầy đủ trình tự các bước, có sử dụng đầy đủ các phương pháp, không “ướt”, “cháy” … là được.

Không nhất thiết tiết nào cũng phải học theo nhóm

Lưu ý, không nhất thiết tiết học nào cũng sử dụng phương pháp hoạt động nhóm, ông Ngô Ngọc Thư nêu rõ: Tùy theo yêu cầu, nội dung của bài học, giáo viên tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh.

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài ở nhà theo nhóm, sau đó vào tiết học giáo viên mời đại diện từng nhóm trình bày kết quả tìm hiểu và cho nhóm khác nhận xét, bổ sung, qua đó hoàn thiện nội dung bài học và sẽ làm giảm tối đa hoạt động của giáo viên.

Tăng cường thiết bị dạy học, tài liệu tham khảo

Chia sẻ chỉ đạo của Sở GD&ĐT Phú Yên về việc sử dụng đồ dùng dạy học, ông Dương Bình Luyện – Trưởng phòng Giáo dục Trung học Sở GD&ĐT Phú Yên – cho biết: Giáo viên cần tăng cường trang thiết bị dạy học và tài liệu tham khảo, sưu tầm tài liệu, vấn đề cập nhật sự kiện số liệu…

Việc sử dụng đồ dùng dạy học phải đảm bảo yêu cầu: Tính khoa học, tính trực quan và tính thẩm mĩ giáo dục.

Để giờ dạy chủ động, giáo viên phải chuẩn bị chu đáo cơ sở vật chất, các phương tiện từ những chiếc đinh treo bản đồ, nam châm,… đến các đồ dùng dạy học hiện đại.

Việc đưa hình ảnh, biểu đồ, bản đồ động, đoạn phim… sẽ làm cho bài học sinh động hơn. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh khai thác đoạn phim, hình ảnh…giảm bớt cảm giác nhàm chán và kiến thức được khắc sâu hơn.

Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT phải hài hòa với việc ghi chép của học sinh và phù hợp với thời lượng của tiết học để tránh trình trạng “cháy” giáo án và cũng không nên quá lạm dụng CNTT như tạo nhiều hiệu ứng lạ mắt, màu mè về phông nền – phông chữ…dẫn đến trình trạng học sinh bị phân tâm.

Việc ghi bảng khi có sử dụng CNTT, giáo viên nên thực hiện một cách linh động, sáng tạo; không nên ghi quá chi tiết (chiếm nhiều thời gian) nhưng cũng không thoát li hoàn toàn bảng đen phấn trắng.

Lưu ý trong củng cố bài học

Với nội dung này, quan điểm chỉ đạo của Sở GD&ĐT Phú Yên là: Đặc điểm của bộ môn lịch sử là kiến thức không lặp lại: nghĩa là trong một cấp học, học sinh chỉ được học kiến thức đó 1 lần duy nhất, những bài sau không lặp lại nữa. Điều này gây khó khăn trong việc ghi nhớ, do đó trong dạy học lịch sử.

Giáo viên cần cố gắng đến việc củng cố bài học cho học sinh, giúp cho các em nhớ nhanh, bền vững kiến thức lịch sử đã học. Nhất là trong bối cảnh hiện nay khi học sinh coi trọng các môn khoa học tự nhiên hơn; trong khi đó bài tập lịch sử về nhà lại rất ít thậm chí không có.

Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Ngữ Văn / 2023

Giờ học ngữ văn tại Trường THPT Trưng Vương. Ảnh: P.N.Q

Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) trong môn ngữ văn không có sự hạ thấp vai trò của giáo viên (GV) mà ngược lại GV chính là người tổ chức, thiết kế, điều hành giờ học. Đây là phương pháp hạn chế tối đa lối dạy lý thuyết một chiều, chuyển quá trình thuyết giảng của GV thành những cuộc trao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, giữa học sinh (HS) và HS giúp các em tự tìm hiểu và đánh giá được mức độ tìm hiểu bài học của mình. Dạy tích cực – Học tích cực

Trước hết GV phải biết thiết kế tổ chức HS thực hiện các hoạt động học tập ngữ văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nghe – nói – đọc – viết, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương. Thường xuyên điều chỉnh các hoạt động học tập của HS, động viên và luôn tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh văn bản. Song song đó, GV phải biết sử dụng và hướng dẫn HS sử dụng các thiết bị đồ dùng và ứng dụng CNTT để khai thác và vận dụng kiến thức ngữ văn có hiệu quả. Bằng mọi cách GV phải tạo điều kiện cho HS rèn luyện kỹ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong giảng dạy cần chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghe – nói – đọc – viết mà HS đã có.

Về phía HS đòi hỏi các em luôn tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện thái độ và tình cảm đúng đắn. Có thể mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân trước các vấn đề của bộ môn ngữ văn, tiếng Việt, tập làm văn. Đánh giá và tự đánh giá các quan điểm của bản thân, của nhóm. Tích cực sáng tạo trong vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn học tập bộ môn. HS biết chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập bộ môn ngữ văn phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của cá nhân. Biết sưu tầm và tìm hiểu các tài liệu văn, tiếng Việt, tập làm văn bằng các hình thức khác nhau. Có ý thức sử dụng đồ dùng học tập và các ứng dụng của CNTT để học tập bộ môn ngữ văn có hiệu quả.

Để đảm bảo tính khoa học cho các giờ học ngữ văn thì sự vận dụng các PPDH phải thực sự linh hoạt sáng tạo. Đổi mới cách dạy không có nghĩa là GV phải từ bỏ phương pháp giáo dục truyền thống để độc tôn cải tiến hoặc áp dụng một cách máy móc những PPDH từ các nước khác. Cũng không thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng một nửa còn một nửa HS tự làm lấy. Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã có đến cái HS cần có, từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống. So với cách dạy truyền thống, sự vận dụng PPDH trong giờ ngữ văn đã có sự thay đổi cơ bản về chất: từ thông báo, tái hiện sang tổ chức cho HS tiếp nhận, cảm thụ; từ dạy học tính chất tĩnh sang tính chất động…

Phương pháp dạy học đặc thù

Các văn bản trong chương trình ngữ văn THCS đều được chọn lọc rất kỹ và là những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc. Nó giúp HS nhận thức cuộc sống, đưa đến những bài học, những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, sâu lắng trong tâm hồn và tình cảm con người. Những điều này lại phụ thuộc vào bề dày vốn sống, tri thức kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Do vậy tiếp nhận văn bản là một hệ thống mở và kết quả tiếp nhận ở mỗi HS có thể khác nhau, thậm chí có nhiều mới lạ chưa hẳn trùng khớp với dự kiến của GV. Dạy văn thực chất là giúp cho HS biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của mình. Chính vì thế đổi mới PPDH còn có nghĩa là tôn trọng và đề cao những tìm tòi, khám phá, cảm thụ phân tích văn bản tích cực của HS. Đây cũng là một biểu hiện của tính cá thể hóa và sáng tạo trong tiếp nhận văn bản.

– Phương pháp đọc sáng tạo: Đây là phương pháp rất quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận văn bản bao gồm cả đọc, hiểu và cảm thụ. Hoạt động đọc sáng tạo không chỉ là đọc thuần túy mà bao gồm cả sự tổ chức hướng dẫn HS đọc có vận động kết hợp tư duy logic với tư duy hình tượng, giọng đọc và điệu bộ.

– Phương pháp dùng lời có nghệ thuật (còn gọi là phương pháp diễn giảng, bình giảng, truyền thụ): Là cách dạy học truyền thống theo mô hình truyền thông tin một chiều, được sử dụng trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương hay cung cấp kiến thức mới.

(GV Trường THCS Cầu Kiệu, Q. Phú Nhuận, TP.HCM)

Không thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng một nửa còn một nửa HS tự làm lấy. Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã có đến cái HS cần có; từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lịch Sử Phương Pháp Giảng Dạy Ngoại Ngữ / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!