Đề Xuất 5/2022 # Luận Án: Hoạch Định Và Thực Thi Chính Sách Công Ở Việt Nam # Top Like

Xem 8,217

Cập nhật nội dung chi tiết về Luận Án: Hoạch Định Và Thực Thi Chính Sách Công Ở Việt Nam mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 8,217 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Hoạch Định Chính Sách Công Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Quy Trình Sản Xuất Chế Biến Kem
  • Thuyết Minh Quy Trình Sản Xuất Kem ( Kem Que
  • Quá Trình Xác Lập Chủ Quyền Của Nhà Nước Việt Nam Tại Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa
  • Bài Tập Tình Huống Quản Trị Nhân Lực
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận án tiến sĩ ngành chính trị học với đề tài: Trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong hoạch định và thực thi chính sách công ở Việt Nam hiện nay, cho các bạn làm luận án tham khảo

    1. 1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÙI THỊ CẦN TR¸CH NHIÖM GI¶I TR×NH CñA CHÝNH PHñ TRONG HO¹CH §ÞNH Vµ THùC THI CHÝNH S¸CH C¤NG ë VIÖT NAM HIÖN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC HÀ NỘI – 2022
    2. 2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÙI THỊ CẦN TR¸CH NHIÖM GI¶I TR×NH CñA CHÝNH PHñ TRONG HO¹CH §ÞNH Vµ THùC THI CHÝNH S¸CH C¤NG ë VIÖT NAM HIÖN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC MÃ SỐ: 62 31 02 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1. chúng tôi Vũ Hoàng Công 2. TS. Phạm Thế Lực HÀ NỘI – 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả Bùi Thị Cần
    4. 5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CSC : Chính sách công ĐBQH : Đại biểu Quốc hội HĐCS : Hoạch định chính sách Nxb : Nhà xuất bản TNGT : Trách nhiệm giải trình TTCS : Thực thi chính sách VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật XHCN : Xã hội chủ nghĩa
    5. 7. 2 cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của người dân nhằm cung cấp những hàng hóa và dịch vụ công tới người dân, thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. Nhà nước có nhiệm vụ thay mặt người dân, đại diện cho người dân soạn thảo và thông qua chính sách. Mọi quyền lực mà nhà nước thực thi là nhân danh nhân dân. Một nhà nước hiệu quả, trung tâm là chính phủ phải là một nhà nước xây dựng được cho mình những chính sách tốt và bảo đảm tính hiệu lực của nó trong đời sống xã hội. Một chính sách tốt phải được xây dựng trên nền tảng của sự đối thoại dân chủ, minh bạch và có trách nhiệm giữa chính phủ với người dân và xã hội. Do đó, trong toàn bộ quá trình này, chính phủ cần phải giải trình trước nhân dân về những việc mình đã, đang và sẽ làm. Nói cách khác, với tư cách là chủ thể gốc của quyền lực, người dân có quyền được biết những người đại diện của mình đang thực thi các quyền lực được ủy nhiệm như thế nào, tức là chính phủ phải có TNGT trước nhân dân. Vì vậy, TNGT của chính phủ trở thành một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong nền dân chủ đại diện. Thực hiện TNGT của chính phủ trong quá trình CSC, đặc biệt trong hai giai đoạn quan trọng hoạch định chính sách (HĐCS) và thực thi chính sách (TTCS) góp phần quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh dân chủ và pháp quyền, xây dựng một chính phủ mạnh, năng động, có trách nhiệm, giải quyết hiệu quả và kịp thời những vấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, đảm bảo một chính phủ thực sự vì lợi ích của người dân. Ở Việt Nam, việc thực hiện TNGT của Chính phủ trong thời gian qua đã có những kết quả đáng ghi nhận. Tuy vậy, việc thực hiện TNGT của Chính phủ trong hoạch định và thực thi CSC còn tồn tại những hạn chế đặt ra nhiều vấn đề nan giải. Nhân dân Việt Nam – người chủ của quyền lực thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội – ủy quyền cho Chính phủ và mong muốn quyền lực đó được sử dụng đúng, hiệu quả. Tuy nhiên, thực trạng hoạch định và thực thi CSC ở Việt Nam còn có những hạn chế và chưa thiết lập được một hệ thống TNGT thuyết phục. Chính phủ Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình chính sách, từ khâu HĐCS, TTCS cho đến đánh giá chính sách. Do vậy, một chính sách tốt hay không, hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò của Chính phủ, năng lực hoạch định và thực thi chính sách của Chính phủ. Thực tiễn cho thấy, những thành tựu trong quá trình đổi mới và phát triển mà Việt Nam đạt được trong hơn 30 năm qua là nhờ có những chính sách đúng đắn và
    6. 9. 4 người dân và cải thiện TNGT của chính phủ. Trước yêu cầu của sự phát triển đất nước, sự tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quản trị quốc gia hiệu quả là chìa khóa để đạt được sự phát triển kinh tế bền vững không ngừng đặt ra yêu cầu bức thiết về TNGT của Chính phủ. Những thách thức mà Chính phủ hiện nay phải đối mặt là không nhỏ từ nền kinh tế toàn cầu, công nghệ và thông tin mới cũng như từ các đòi hỏi dân chủ, sự tham gia rộng rãi hơn của người dân. Chất lượng của chính quyền, tính minh bạch và TNGT trong hoạt động công vụ ngày càng trở nên quan trọng để xây dựng niềm tin công chúng thúc đẩy một chính quyền hiệu quả. Đối với Việt Nam, tìm cách xây dựng các thể chế chính trị cởi mở hơn và có TNGT hơn sẽ ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng trước bối cảnh hội nhập và phát triển trong khi các tổ chức quốc tế đánh giá “quản trị công xếp hạng Việt Nam ở mức độ khá thấp trong góc nhìn về trách nhiệm giai trình của nền hành chính”. Sự phát triển kinh tế – xã hội cần tới một chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động gắn liền với sự minh bạch và chịu trách nhiệm. Do đó, thiết lập và tăng cường TNGT của Chính phủ vừa là điều kiện, vừa là sự bảo đảm cho các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, thiếu điều kiện đó khó có thể nói tới huy động và thu hút các dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước. Mặt khác, có thể nhận thấy các nghiên cứu về TNGT của Nhà nước nói chung và TNGT của Chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC nói riêng ở Việt Nam vẫn còn là khoảng trống lớn. Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học chính trị nào nghiên cứu một cách có hệ thống về TNGT của Chính phủ trong hoạch định và thực thi CSC ở Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng của đề tài dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn, nghiên cứu sinh đã lựa chọn nghiên cứu “Trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong hoạch định và thực thi chính sách công ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành chính trị học. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm giải trình của chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC và khảo sát thực trạng TNGT của Chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC ở Việt Nam, luận án đề xuất các giải pháp cơ bản
    7. 13. 8 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Đóng góp khoa học của luận án được thể hiện ở những điểm mới: Thứ nhất, đây là công trình nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ chính trị học về TNGT của Chính phủ trong hoạch định và thực thi CSC ở Việt Nam. Thứ hai, trong phần nghiên cứu lý luận, luận án đã chỉ rõ được nội hàm cơ bản của khái niệm TNGT của chính phủ trong hoạch định và thực thi CSC; chỉ rõ được mối quan hệ giữa vai trò, vị trí của chính phủ – chủ thể quan trọng trong việc đề xuất, khởi xướng và điều hành CSC – với tính tất yếu của việc thực hiện TNGT của chính phủ trong quá trình hoạch định, thực thi CSC. Đây chính là điểm mới bước đầu được luận án khai thác khi luận giải một cách khoa học về TNGT của Chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC ở Việt Nam. Đồng thời, luận án đã trình bày khái quát và hệ thống được các cơ sở khác để lý giải cho việc chính phủ phải thực hiện TNGT trong quá trình hoạch định, thực thi CSC là: Nguồn gốc quyền lực của chính phủ, yêu cầu về nguyên tắc phân quyền trong kiểm soát quyền lực của chính phủ, bản chất của CSC. Đặc biệt, trong chương 2, luận án đã có đóng góp khi phân tích được mục đích, các nội dung, hình thức giải trình của Chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC, từ đó xác định cụ thể về chủ thể giải trình, đối tượng giải trình cũng như khái quát được các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện TNGT của chính phủ trong quá trình hoạch định và thực thi CSC. Thứ ba, ở phần nghiên cứu thực trạng, công trình đã có những đóng góp đáng kể. Cụ thể là làm rõ được những nét căn bản nhất của thực trạng cơ sở chính trị – pháp lý và thực trạng giải trình của Chính phủ trong hoạch định và thực thi CSC ở Việt Nam. Trong đó, luận án đã tập trung phân tích mối quan hệ chính trị giữa Chính phủ với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, giữa Chính phủ với Quốc hội và xã hội. Từ đó, xác định được cơ chế TNGT giữa các chủ thể với các đối tượng đó. Đồng thời, luận án đã hệ thống được các quy định pháp lý về TNGT của Chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC ở Việt Nam để hình thành được bộ khung cơ bản về TNGT của Chính phủ xuyên qua các quy định hiện hành. Trong phần thực trạng giải trình của Chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC ở Việt Nam, luận án đã phân tích, làm rõ được giải trình của Chính phủ trước Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, trước Quốc hội và trước xã hội nói chung; tìm ra
    8. 18. 13 Một số công trình đã phân tích mối quan hệ giữa nhóm lợi ích kinh tế (mà cụ thể là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, các doanh nghiệp nhà nước) với các chủ thể hoạch định và thực thi CSC trong bộ máy nhà nước. Qua đó, đã chỉ ra sự cần thiết của việc thực hiện TNGT: Nếu thiếu việc giải trình của các chủ thể HĐCS, TTCS thì vấn đề tham nhũng chính sách ở Việt Nam sẽ càng có cơ hội lan rộng, tinh vi và phức tạp. Tham nhũng chính sách ở Việt Nam có thể nhìn thấy về mặt hiện tượng nhưng rất khó để phát hiện và xử lý. Nguyên nhân chủ yếu của tham nhũng chính sách được nhắc đến đó là: Chính phủ chưa tách rời được chức năng quản lý kinh tế của nhà nước với chức năng sản xuất kinh doanh, nhiều lĩnh vực vẫn còn cơ chế xin-cho, vẫn còn chiếm vị thế độc quyền và được bảo hộ lớn từ phía nhà nước; luật phòng, chống tham nhũng thực thi nhưng kém hiệu quả; các chính sách kinh tế hoạch định trong tình trạng thiếu dân chủ và minh bạch, cơ chế kiểm soát quyền lực còn lỏng lẻo, v.v.. Các công trình nghiên cứu nhiều về vấn đề này là: Văn Thường Nguyễn, Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Những lực cản cần phải vượt qua ;… – Về cơ sở chính trị – pháp lý của trách nhiệm giải trình của chính phủ trong hoạch định, thực thi chính sách công Các tác giả Dennis D. Riley, Bryan E. Brophy – Baermann, trong cuốn sách có tiêu đề: Bureaucracy and the Policy Process: Keeping the Promises (Bộ máy quan liêu và quá trình chính sách: Việc giữ lời hứa) ; F. Morstein Marx, The Social Function of Public Administration (Chức năng xã hội của hành chính công) cũng đã chỉ rõ cơ sở cho việc xác định TNGT là sự ủy quyền của người dân và tính đại diện của bộ máy nhà nước. Với tư cách là người chủ, người dân phải có quyền được biết chính quyền đã, đang và sẽ làm gì cho mình thông qua các thủ tục về tiếp cận thông tin, công khai minh bạch hoạt động của bộ máy công quyền,
    9. 20. 15 cơ chế giám sát quyền lực, v.v.. Và, với tư cách là người được ủy quyền, chính phủ phải thực hiện TNGT nhằm thể hiện trách nhiệm của chính quyền trước người dân và góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền trong công việc. Các công trình nghiên cứu trong nước ít nhiều góp phần luận giải về cơ sở chính trị – pháp lý TNGT của Chính phủ trong HĐCS, TTCS ở Việt Nam. Từ việc lý giải Chính phủ có trách nhiệm rất lớn trong việc đề xuất, khởi xướng CSC và gắn liền với việc thực hiện TNGT của Chính phủ trong quá trình đó, đặc biệt trước xu hướng dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, kiến tạo sự phát triển. Các công trình có thể kể đến như: Nguyễn Đăng Dung, Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước ; Đào Trí Úc, “Vấn đề trách nhiệm giải trình trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam” … Tác giả Nguyễn Đăng Dung, trong cuốn sách Ý tưởng về một nhà nước chịu trách nhiệm nhấn mạnh những nghiên cứu về cách thức làm cho nhà nước luôn có xu hướng phục vụ cuộc sống cho con người, để cho cuộc sống ngày càng công bằng hơn, bình đẳng và bác ái hơn, luôn là một vấn đề cấp thiết. Sự hiện diện khách quan của nhà nước đại diện đặt ra những yêu cầu bắt buộc nhà nước phải chịu trách nhiệm, trong đó có TNGT. Tác giả đã luận giải về các tiêu chuẩn của một chính quyền có trách nhiệm, cho đến các nội dung, hình thức chính quyền chịu trách nhiệm trong đó phân tích sâu sắc cơ sở cho sự chịu trách nhiệm rõ ràng của hai loại chủ thể hành pháp chính trị và hành chính công vụ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; sự phân chia trách nhiệm ở chiều dọc trung ương và địa phương; bầu cử là một hình thức quan trọng để nhân dân thực hiện sự đánh giá trách nhiệm; Hiến pháp là hình thức chứa đựng những nội dung sự phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Công trình đã trình bày những vấn đề lý luận gắn liền với thực tiễn về trách nhiệm của chính quyền nhà nước Việt Nam với sự lập luận logic từ vai trò của Chính phủ, sự phân quyền và chỉ rõ Chính phủ Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội Việt Nam, tiêu điểm của vấn đề trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam – Chính phủ chịu trách nhiệm là Chính phủ phải biết HĐCS đến những đảm bảo cho vị trí, vai trò chịu trách nhiệm hiện nay của Chính phủ – cơ quan hành pháp… Công trình đã chỉ rõ
    10. 21. 16 những ý nghĩa rất quan trọng về cả phương diện lý luận và thực tiễn, cung cấp những hiểu biết căn bản nhất về nguồn gốc, cơ sở chính trị – pháp lý trách nhiệm của Chính phủ nhất là xuất phát từ vai trò, chức năng hoạch định và tổ chức thực thi chính sách của Chính phủ; nội dung, các hình thức để Chính phủ thực hiện trách nhiệm trước nhân dân và gợi mở những ý tưởng, biện pháp để tăng cường sự chịu trách nhiệm của Nhà nước trong xu hướng phát triển dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong cuốn Cải cách hành chính nhà nước – Lý luận và thực tiễn, tác giả Nguyễn Hữu Hải đã trình bày một nội dung rất quan trọng về vai trò của chính phủ với quyền hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước. Đó là cơ sở chính trị để chính phủ phải thực hiện TNGT trong quá trình chính sách. Sau khi phân tích một cách khái quát các quan điểm về quyền hành pháp trên thế giới từ trước đến nay, tác giả đã luận giải một cách logic về nội hàm của quyền hành pháp trong các nhà nước dân chủ và pháp quyền. Điều quan trọng tác giả nhấn mạnh quyền hành pháp không chỉ bó hẹp trong việc chấp hành luật, mà còn là quyền chủ động khởi xướng, HĐCS quốc gia. Quyền hành pháp không chỉ là quyền hành chính nhà nước, tức là quyền cai trị hay quản lý nhà nước theo pháp luật, quyền đưa pháp luật vào cuộc sống một cách thụ động mà còn là quyền điều hành các chính sách. Đây là quyền chủ động trong tổ chức nhân sự và bảo đảm nguồn lực tốt nhất để thực hiện chính sách quốc gia, quyền chủ động điều khiển một cách nhanh nhạy, sáng tạo, kịp thời và hiệu quả các chính sách quốc gia hay là chính sách công. Các công trình nghiên cứu về cơ sở pháp lý để thiết lập và tăng cường TNGT của Chính phủ đã phân tích một số nét cơ bản về các quy định pháp lý hiện hành ở Việt Nam qua Hiến pháp và các bộ luật, chỉ ra được các điểm chính về cơ sở pháp lý cho việc thực hiện TNGT của Chính phủ trước Đảng, Quốc hội, nhân dân và xã hội nói chung: Nguyễn Tuấn Khanh, “Thực trạng các điều kiện về thể chế pháp lý cho việc thực hiện và thực tiễn thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan hành pháp ở Việt Nam” ;… – Về phương thức thực hiện trách nhiệm giải trình của chính phủ trong hoạch định, thực thi chính sách công Trong cuốn A Study of Decision – Making Process in Administration Organization (Nghiên cứu quá trình ra quyết định trong tổ chức hành chính) đã xác định chủ thể, đối tượng TNGT của Chính phủ một cách khá cụ thể. Từ việc luận giải vai trò của Chính phủ trong HĐCS, TTCS; nhấn mạnh tiêu điểm của vấn đề trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam – Chính phủ chịu trách nhiệm là Chính phủ phải hoạch định, đề xướng, điều hành được các chính sách tốt để phát triển đất nước đến việc Chính phủ phải thực hiện TNGT trong quá trình đó. Công trình chỉ rõ chủ thể thực hiện TNGT của Chính phủ Việt Nam cụ thể là Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng phải chịu TNGT trước Quốc hội, trước nhân dân. Hệ quả TNGT của Chính phủ cũng được bàn đến theo các mức độ khác nhau như vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm đến việc buộc phải từ chức. Nếu Chính phủ không thể hoạch định được các chính sách tốt, hoặc không thể tổ chức thực thi CSC hiệu quả, hay không thể giải trình được quá trình HĐCS, TTCS khi để xảy ra những hậu quả từ các hành động, quyết sách của Chính phủ thì Chính phủ phải từ chức. – Về các nhân tố ảnh hưởng trách nhiệm giải trình của chính phủ trong hoạch định, thực thi chính sách công Các công trình nước ngoài nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện TNGT của chính phủ trong HĐCS, TTCS cũng khá phong phú. Kathe Callahan, Elements of Effective Governance: Measurement, Accountability and Participation (Các yếu tố của quản trị hiệu quả: Phương pháp đo lường, trách nhiệm giải trình và sự tham gia) , hệ thống think tank được xem là chủ thể đóng vai trò then chốt trong quá trình tư vấn, nghiên cứu, cung cấp thông tin, định hướng HĐCS. Là những tổ chức chuyên môn với tính chuyên nghiệp cao trong các hoạt động tư vấn và phản biện chính sách, think tank có khả năng nhanh nhạy trong việc phát hiện nguy cơ và đưa ra những giải pháp đối phó trong quá trình HĐCS, giúp người lãnh đạo luôn chủ động trước mọi tình huống. Còn tác giả James G. McGann, Think Tanks and Policy Advice in the US: Academics, Advisors and Advocates (Các tổ chức tư vấn và lời khuyên chính sách ở Hoa Kỳ, các học giả, cố vấn và hành vi vận động) cho rằng sự thất bại của thị trường và nhà nước thường là kết quả của những chính sách sai lầm. Nguyên nhân gây ra sai lầm trong HĐCS là do sự chủ quan, thiếu toàn diện của cơ quan quyết sách (ban lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu – tư vấn của họ). Nếu biết tranh thủ lắng nghe, tiếp thu ý kiến tư vấn của bên thứ ba – các cá nhân hoặc tổ chức tư vấn độc lập với nhà nước (Think tank), thì mức độ phạm sai lầm sẽ giảm đáng kể và chính những tổ chức tư vấn độc lập này sẽ là nhân tố quan trọng trong việc tác động, gây ảnh hưởng và đặt ra những yêu cầu đối với việc thực hiện TNGT của chính phủ ngày càng tích cực hơn. Trong đề tài cấp bộ, Viện Khoa học Thanh tra, Thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt Nam hiện nay ; Shah, Anwar “Balance, accountability, and responsiveness: lessons about decentralization” (Cân bằng, trách nhiệm giải trình và sự phản hồi: bài học về phân quyền) ;… Các công trình đã chỉ rõ: Từ các quy định về quyền hành pháp, Hiến pháp các nước có những quy định về TNGT của chính phủ gắn liền với quyền đó. Có thể kể đến: Hiến pháp nước Cộng hòa Pháp năm 1958, Hiến pháp nước Cộng hòa Liên bang Đức – Luật cơ bản năm 1949, Hiến pháp nước Cộng hòa Italia năm 1947… Đồng thời, các công trình đã phân tích thực trạng thực hiện cơ chế TNGT của Chính phủ Anh, Pháp, Mỹ, Australia… trong quá trình CSC. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của các công trình đã nhấn mạnh đến những thành tựu quan trọng của việc thực hiện TNGT mà Việt Nam có thể tham khảo như: Quy định pháp lý phải được xây dựng một cách rõ ràng, hệ thống; các tổ chức chính trị – xã hội phải được phát triển; quyền công dân phải được đảm bảo trên thực tế; các cơ chế thưởng – phạt trong thực hiện TNGT phải được thiết lập và thực hiện nghiêm. Một số công trình trong nước đã bước đầu nghiên cứu thực trạng TNGT của Chính phủ Việt Nam, tiêu biểu như: Đào Trí Úc, “Vấn đề trách nhiệm giải trình trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam” ; Nguyễn Tuấn Khanh, “Thực trạng các điều kiện về thể chế pháp lý cho việc thực hiện và thực tiễn thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan hành pháp ở Việt Nam” đã phân tích thực trạng TNGT của một số nước như Liên bang Nga, TNGT ở Ấn Độ, TNGT ở Đài Loan, TNGT ở Nhật Bản… Đồng thời, có những phân tích, đánh giá tương đối cụ thể về TNGT của Chính phủ Việt Nam. Theo đó, các tác giả nhấn mạnh các vấn đề đặt ra trong việc thực hiện TNGT của Chính phủ như: Hoạt động giải trình của Chính phủ và hoạt động giải trình của các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp đang diễn ra khá mờ nhạt; mức độ giải trình của Chính phủ với bên ngoài (xã hội) còn thấp, còn yếu kém; các yếu tố về tính độc lập của các tổ chức chính trị – xã hội và truyền thông chưa được đảm bảo để tăng cường việc thực hiện TNGT của Chính phủ; sự phân tách quyền lực giữa ba nhánh hành pháp, lập pháp, tư pháp chưa thực sự tốt;… nên trên thực tế, việc thực hiện TNGT của Chính phủ chưa thực sự hiệu quả, chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân cũng như yêu cầu của việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển. Qua phân tích các công trình nói trên, cho thấy được phần nào bức tranh thực trạng TNGT của Chính phủ ở Việt Nam. Bên cạnh những kết quả, thành tựu thì còn có những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp lý cũng như trong thực trạng thực hiện TNGT của Chính phủ. Xét đến cùng, các hạn chế, bất cập lớn được xem là các vấn đề nan giải tức là vấn đề tồn tại, những vấn đề đặt ra rất khó khăn, gian nan trong giải quyết. Tiếp cận trực tiếp về các vấn đề nan giải của việc thực hiện TNGT của chính phủ trong quá trình chính sách, một số công trình trong và ngoài nước đã có được những kết quả nghiên cứu quan trọng để làm sáng rõ hơn bức tranh thực trạng TNGT của các chính phủ nói chung, Chính phủ Việt Nam nói riêng. Các công trình đã phân tích và chỉ ra vấn đề nan giải trong việc thực hiện TNGT của chính phủ trên một số khía cạnh, có thể khái quát là: Trách nhiệm giải trình được xem là câu trả lời cho nhiều vấn đề chính phủ phải đối mặt trong khu vực công như thiếu sự lãnh đạo, thiếu sự phối hợp, các hành vi tham nhũng gia tăng… Nhưng, liệu rằng giải trình có thể làm rõ được các vấn đề đó không; cơ chế nào để ràng buộc sự giải trình gắn liền với việc chịu trách nhiệm; có quá nhiều thông tin trong TNGT của chính phủ và sẽ mất nhiều thời gian để xem xét các thông tin, tính đúng sai của thông tin và chi phí là rất lớn. Có thể nói, các công trình nghiên cứu nói trên đã chỉ ra một số vấn đề được xem là nan giải khi thực hiện TNGT của chính phủ trong hoạch định, thực thi chính
    11. 32. 27 sách. Các vấn đề đó lại xuất phát từ chính quá trình HĐCS, TTCS và chính những phức tạp trong sự ủy quyền với nguy cơ thường trực là người đại diện luôn có xu hướng “che giấu thông tin”, “che giấu hành động” trước người chủ đã ủy quyền cho mình để có thể sử dụng quyền lực được ủy nhiệm theo mục đích có lợi cho mình hoặc theo các mục đích khác nhau mà không theo ý của người chủ. Vì vậy, thiết kế các hình thức, cơ chế giải trình như thế nào mới có thể khắc phục được những nan giải đó là câu hỏi lớn để tìm ra giải pháp hữu hiệu. 1.1.3. Các công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao trách nhiệm giải trình của chính phủ trong hoạch định, thực thi chính sách công Sau khi phân tích, đánh giá thực trạng về TNGT của chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC, một số công trình đã đưa ra các quan điểm định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao TNGT của chính phủ. Các quan điểm được nhấn mạnh để nâng cao TNGT của Chính phủ trong hoạch định và thực thi CSC là: Chú trọng mối quan hệ giữa TNGT của chính phủ với đổi mới thể chế; chú trọng sự phân quyền giữa các cơ quan quyền lực nhà nước; gắn liền với đổi mới quá trình CSC theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch… Tiêu biểu có thể kể đến các công trình: Shah, Anwar”Balance, accountability, and responsiveness: lessons about decentralization” (Cân bằng, trách nhiệm giải trình và sự phản hồi: bài học về phân quyền) ; Ngân hàng Thế giới, Jody zall kusek Ray C. Rist, Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả ;… Keith Mackay, Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá thế nào để hoàn thiện công tác quản lý của nhà nước. Cuốn sách này ra đời với mục đích giúp các chính phủ xây dựng, củng cố và tổ chức thể chế hóa các hệ thống giám sát và đánh giá M&E, tiến đến mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ và cải thiện bộ máy nhà nước. Cuốn sách này tổng hợp những kinh nghiệm mà Nhóm đánh giá độc lập (IEG) thuộc Ngân hàng Thế giới đã thu thập từ các chương trình hỗ trợ bộ máy nhà nước dài hạn và những kinh nghiệm của toàn thể nhân viên, chuyên viên thuộc Ngân hàng thế giới; khai thác
    12. 33. 28 những nguồn thông tin, kiến thức ngày càng phong phú về TNGT của chính phủ với yêu cầu ngày càng cao cần được hỗ trợ, phát triển hệ thống giám sát và đánh giá M&E. Cuốn sách đã nhấn mạnh: Việc thiết lập hệ thống giám sát và đánh giá M&E sẽ giúp chính phủ xây dựng được hệ thống thông tin về tình hình thực thi các chính sách, kế hoạch, chương trình và có thể chỉ ra được những ǵ đang có hiệu quả, những gì không, và lý do tại sao. M&E cũng có thể cho biết thông tin về tình hình hoạt động của chính phủ, của cá nhân các bộ, ngành và của các nhà quản lý cũng như nhân viên cấp dưới… từ đó giúp xã hội dân sự có được thông tin về chính sách một cách phong phú nhất, người dân có thể đánh giá, phản biện về các thông tin chính sách của chính phủ và đặt ra những yêu cầu về TNGT của chính phủ một cách hợp pháp, có căn cứ. Và, chính phủ thông qua hệ thống giám sát và đánh giá M&E cũng sẽ thực hiện TNGT một cách hiệu quả hơn, chủ động hơn mang tính hệ thống cao và tiết kiệm được rất nhiều thời gian. Báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” đã xác định tầm nhìn đến năm 2035, Nhà nước Việt Nam sẽ có một hệ thống vận hành hiệu quả cơ chế kiểm soát và cân bằng giữa các nhánh quyền lực nhà nước và tăng cường năng lực của người dân trong việc quy trách nhiệm đối với nhà nước. Cả hai khía cạnh cần được thực hiện theo hướng thúc đẩy một tinh thần trách nhiệm cao hơn của mỗi cá nhân cán bộ, công chức và đề cao TNGT của bản thân mỗi cá nhân cán bộ, công chức nhà nước. Đồng thời, cần nâng cao khả năng truy TNGT của nhà nước từ phía người dân. Từ đó, Báo cáo đã đi đến những kết luận về các giải pháp, nhất là hoàn thiện các yếu tố thể chế chính trị để tăng cường việc thực hiện TNGT của Chính phủ; nâng cao trình độ dân trí, tính tích cực của công dân trong việc tham gia của vào quá trình CSC. Phạm Duy Nghĩa, Trách nhiệm giải trình: vươn tới những chuẩn mực của một nền hành chính phục vụ phát triển đã khái quát các cơ chế thực hiện TNGT của Chính phủ ở một số quốc gia trên thế giới từ đó, rút ra các kinh nghiệm và gợi mở các giải pháp cho việc nâng cao TNGT của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay. Các kinh nghiệm về: Xây dựng cơ chế trách nhiệm chính trị chính qua bầu cử tự do và công bằng; cơ chế trách nhiệm pháp lý bao gồm hiến pháp, đạo luật, nghị định, quy tắc, và các công cụ pháp lý khác quy định những gì mà các công chức có thể và không thể làm, đặc biệt thiết lập Tư pháp độc lập (cơ quan điều tra và xét xử mang tính độc lập) là một yêu cầu cần thiết cho sự thành công của trách nhiệm pháp lý; cơ chế giải trình trách nhiệm hành chính bao gồm các văn phòng trong cơ quan, các Bộ và thực tiễn trong quá trình hành chính được thiết kế để đảm bảo rằng các quyết định và hành động của các quan chức luôn bảo đảm cho các lợi ích của công dân chứ không phải lợi ích của các bộ, cơ quan nhà nước… Đặc biệt, thiết lập bộ quy tắc đạo đức trong TNGT hành chính. Ngoài ra, có thể thành lập một cơ quan độc lập gọi là Cơ quan kiểm toán
    13. 36. 31 thể về chủ thể, đối tượng, hệ quả, thời điểm… thực hiện TNGT của chính phủ. Đồng thời, một số công trình cung cấp những luận cứ khoa học về nhân tố ảnh hưởng TNGT của chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC và bước đầu bàn đến các vấn đề nan giải TNGT của chính phủ trong quá trình chính sách. Trên cơ sở kế thừa giá trị nghiên cứu về TNGT trên thế giới, những nghiên cứu trong nước về TNGT cũng góp phần đưa ra các quan điểm, cách hiểu về TNGT và có sự thống nhất TNGT được thể hiện ở các khía cạnh: nghĩa vụ, trách nhiệm cung cấp, công khai, minh bạch thông tin; giải thích, chứng minh về quá trình thực hiện nhiệm vụ và sự chịu trách nhiệm trong quá trình đó cũng như chịu trách nhiệm đối với kết quả. Các nghiên cứu nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa TNGT của Chính phủ với vấn đề công khai, minh bạch; với cải cách thể chế, phòng chống tham nhũng, nâng cao dân chủ của một nhà nước hiện đại trong quá trình chính sách; nhấn mạnh việc thực hiện TNGT của Chính phủ trước Quốc hội, nhân dân và xã hội. Một trong các hạn chế của việc thực hiện TNGT của Chính phủ trong hoạch định, thực thi CSC ở Việt Nam được chỉ ra đó là: TNGT của quá trình HĐCS, TTCS của Chính phủ còn yếu, mang tính hình thức; TNGT của Chính phủ chưa thực sự hiệu quả, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm cụ thể… Đây là những dữ liệu quan trọng để tác giả kế thừa trong nghiên cứu đề tài luận án. Đồng thời, một số công trình đã kỳ công nghiên cứu, dự báo, đề xuất tầm nhìn về TNGT của Chính phủ trong tương lai và hướng giải quyết. Đặc biệt, một số cơ chế TNGT của Chính phủ cũng đã được nghiên cứu, nhất là cơ chế về chịu trách nhiệm chính trị – pháp lý của Chính phủ như bỏ phiếu tín nhiệm, hay vấn đề từ chức nếu trong quá trình HĐCS, TTCS gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà không thực hiện TNGT hoặc giải trình không thuyết phục, không thỏa đáng. Tóm lại, với các kết quả nghiên cứu từ các công trình nêu trên đã giúp cho tác giả có cách nhìn tổng quan về TNGT của chính phủ trong quá trình hoạch định, thực thi CSC. Các công trình đó đã cung cấp những luận điểm khoa học quan trọng để tác giả có thể kế thừa và phát triển trong luận án. Qua tổng quan, cho thấy đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học chính trị nào nghiên cứu một cách có hệ thống về TNGT của Chính phủ trong hoạch định và thực thi CSC ở Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Quân Khu 3
  • Hơn 1,4 Triệu Bài Thi Tìm Hiểu Về Quân Đội Ở Quân Khu 3
  • Đáp Án Tìm Hiểu Pháp Luật Trẻ Em Và Kỹ Năng Phòng Tránh Xâm Hại Trẻ Em An Giang
  • Thể Lệ Cuộc Thi “tìm Hiểu Pháp Luật Bình Đẳng Giới Trực Tuyến” Năm 2022
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Luận Án: Hoạch Định Và Thực Thi Chính Sách Công Ở Việt Nam trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100