Đề Xuất 12/2022 # Lý Thuyết Hệ Thống Và Ứng Dụng Trong Hệ Thống / 2023 # Top 13 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Lý Thuyết Hệ Thống Và Ứng Dụng Trong Hệ Thống Thông Tin / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lý Thuyết Hệ Thống Và Ứng Dụng Trong Hệ Thống / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lý thuyết hệ thống ra đời từ những năm 60 của thế kỷ XX và được ứng dụng trong các ngành khoa học, trong đó có ngành khoa học thông tin – thư viện (TTTV). Việc nghiên cứu xây dựng hệ thống TTTV tại các trường đại học kỹ thuật (ĐHKT) Việt Nam là rất cần thiết. Bài viết đã khái quát về lý thuyết hệ thống; Ứng dụng nguyên tắc tiếp cận hệ thống trong việc xây dựng hệ thống TTTV; Đề xuất một số mô hình ứng dụng lý thuyết hệ thống trong hệ thống TTTV các trường ĐHKT Việt Nam.

1. Khái quát về lý thuyết hệ thống

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của lý thuyết hệ thống

Khái niệm về khoa học hệ thống đã có từ rất lâu với câu nói nổi tiếng của nhà Triết học Aristotle [4] “một với một không phải bằng hai”. Ngày nay, thường ngày chúng ta đọc, nghe những câu nói, cụm từ hết sức quen thuộc như: “cần xem xét vấn đề này một cách có hệ thống”. Nếu phân tích kỹ, ta sẽ thấy cả hai sự thật này đều phản ánh một thực tế của cuộc sống, đã được tổng quát hoá bằng phép duy vật biện chứng trong triết học, đó là xem xét bất cứ một hiện tượng, vấn đề nào cũng cần phải đặt nó trong mối vận động, có quan hệ qua lại giữa các hệ thống.

Khoa học nghiên cứu về hệ thống còn gọi là kỹ thuật hệ thống, phân tích hệ thống hay lý thuyết hệ thống, có bước tiến đáng kể, đặc biệt từ sau đại chiến thế giới lần thứ II, khi các hệ thống lớn được hình thành và phát triển nhanh chóng, đòi hỏi phải có những phương pháp và công cụ nghiên cứu thích ứng. Từ đó về sau của thế kỷ XX, nhờ vào những thành tựu về khoa học và công nghệ của các hệ thống lớn mà các phương pháp và công cụ của lý thuyết hệ thống được phổ cập càng rộng rãi và mang lại hiệu quả ngày càng cao.

Lý thuyết hệ thống được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Trong đó nổi lên là L.V.  Bertalanffy, Kenneth E. Boulding, Stefferd Beer.

Lý thuyết hệ thống được sáng lập bởi L.V. Bertalanffy (1901-1972) người Áo, thuộc trường Đại học Tổng hợp Chicago, tiếp cận vấn đề hệ thống từ góc độ sinh học bởi theo ông: “Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn” [1]. Trong công trình “Lý thuyết hệ thống tổng quát”, xuất bản năm 1956 của ông đã được nhân loại đánh giá là công trình có tính chất nền tảng cho sự hình thành và phát triển của lý thuyết hệ thống đã trình bày.

Trong học thuyết của mình, V. Bertalanffy đã khẳng định “Chỉnh thể bao giờ cũng lớn hơn phép cộng cơ học của các yếu tố cấu thành”. Ông phân hệ thống thành hai loại: hệ thống tĩnh và hệ thống động. Hệ thống tĩnh là hệ thống không có sự thay đổi theo thời gian. Hệ thống động là hệ thống mà trạng thái của nó thay đổi theo thời gian.

Tác giả người Mỹ Kenneth E. Boulding (1910-1993) nhìn nhận hệ thống từ khoa học quản lý, ông cho rằng: Hệ thống là một thực thể phổ biến ở trong tất cả thế giới vật chất của chúng ta, chúng ta sống trong hệ thống.

Xét theo mức tiến hoá, hệ thống có tính chất phân tầng Hierarchy (Từ hệ thống đơn giản đến hệ thống phức tạp), được chia thành 9 mức: Từ mức độ 1 đến mức độ 8 là mức độ nhận biết được, trong đó có mức độ thứ 9 hiện khoa học không nhận biết được, mức độ càng cao thì khả năng điều chỉnh và thích ứng với môi trường càng cao. Trong 9 cấp của hệ thống, các hệ thống xã hội – trong đó có hệ thống TTTV nằm trong mức độ 8 (Social Organizations) của Kenneth E.Boulding, hệ thống hữu sinh, hệ thống năng động tự tổ chức, luôn phát triển, có tính xác suất.

Tác giả Stefferd Beer (1926-2002) người Anh nghiên cứu về hệ thống từ góc độ điều khiển học. Từ phương pháp tiếp cận hệ thống điều khiển của tổ chức, ông chia hệ thống làm hai nhóm: Hệ thống tiên định và hệ thống xác suất. Trong đó, Hệ thống tiên định là hệ thống mà hành vi được xác định đơn trị: mỗi trạng thái hiện tại chỉ xác định một trạng thái tiếp theo; Hệ thống xác suất là hệ mà hành vi có thể xác định với một xác suất nào đó, mỗi trạng thái hiện tại quyết định xác suất xảy ra các trạng thái có thể tiếp theo.

Khái quát về phân loại hệ thống được trình bày ở bảng 1 [1].

Bảng 1: Sơ đồ phân loại hệ thống

1.2. Nội dung về lý thuyết hệ thống

1.2.1. Khái niệm về hệ thống

Hệ thống được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Trong tài liệu chuyên môn phần lớn các tác giả thường đưa ra các định nghĩa riêng và cụ thể về hệ thống theo đề tài quan tâm. Việc sử dụng định nghĩa cụ thể nào sẽ tuỳ thuộc vào lượng thông tin về đối tượng thực tế được nghiên cứu như một hệ thống.

Trong bài báo này, tác giả đưa ra định nghĩa tổng quát về hệ thống: Hệ thống là tập hợp các phần tử tương tác với nhau theo một cấu trúc nhất định và tạo nên một chỉnh thể tương đối độc lập.

Phân tích hệ thống cần chú ý đến mối liên hệ từ đầu vào đến đầu ra. Thực hiện mối liên kết vào/ ra trong quá trình hoạt động của hệ thống đều thể hiện qua hành vi của hệ thống. Như vậy, hành vi hệ thống là cách thức mà hệ thống nhận được giá trị đầu ra với giá trị đầu vào cho trước. Mọi hệ thống tồn tại đều có mục tiêu, ở dạng khái quát, mục tiêu của hệ thống trả lời câu hỏi, hệ thống sinh ra để làm gì ? Ví dụ hệ thống TTTV đại học có mục tiêu đảm bảo thông tin – tư liệu phục vụ cho quá trình đào tạo. Vậy lý thuyết hệ thống là cách tiếp cận khoa học góp phần tìm ra lời giải, phải làm gì và làm thế nào để đạt được mục tiêu đó.

1.2.2. Đặc trưng của hệ thống

Đặc trưng là thuộc tính căn bản, ổn định vốn có bên trong sự vật. Trong hệ thống các phần tử liên kết và tương tác với nhau theo quan hệ nhân quả, nghĩa là mỗi sự thay đổi của một hay một số phần tử đều kéo theo sự thay đổi của các phần tử còn lại, tác động này có thể là trực tiếp hay gián tiếp tuỳ theo sự quan trọng, vai trò và chức năng của phần tử đó. Một hệ thống bất kỳ có những tính chất cơ bản sau đây:

– Tính trồi: Khi sắp xếp các phần tử của hệ thống theo một cách thức nào đó sẽ tạo nên tính trồi. Đó là khả năng nổi trội, mới mẻ của hệ thống mà khi các phần tử đứng riêng rẽ thì không thể tạo ra được. Tính “trồi” là đặc tính quan trọng nhất của hệ thống. Tính trồi chỉ có ở một cấp hệ thống mà không có ở các hệ thống cấp thấp hơn nó hoặc các thành tố tạo ra hệ thống.

– Tính nhất thể: Thể hiện qua hai khía cạnh là sự thống nhất của các yếu tố tạo nên hệ thống; Mối quan hệ mật thiết của hệ thống với những yếu tố thuộc về môi trường. Tính nhất thể thể hiện như sau:

+ Quan hệ giữa hệ thống và môi trường: Một hệ thống luôn tồn tại trong môi trường, chịu sự tác động của môi trường.

+ Tính nhất thể và quản lý: Tính nhất thể của hệ thống có được là nhờ quản lý. Nếu biết tổ chức, phối hợp, liên kết các bộ phận, các phần tử một cách tốt nhất và thiết lập được mối quan hệ hợp lý với môi trường thì sẽ tạo ra sự phát triển cao.

– Tính cân bằng (năng động): Hệ thống mang tính chất là một cơ thể sống bao gồm các  chu kỳ sinh ra →phát triển → suy thoái. Như vậy, việc chuyển trạng thái là rất quan trọng đối với một hệ thống.

– Tính phức tạp: Hệ thống mang tính phức tạp là do trong hệ thống luôn có các lợi ích, mục tiêu, cách thức hoạt động riêng của các phần tử, các phân hệ.

– Tính hướng đích: Mọi hệ thống đều có xu hướng tìm đến mục tiêu và một trạng thái cân bằng nào đó.

1.2.3. Cấu trúc của hệ thống

Cấu trúc của hệ thống mang tính phân lớp và có mối quan hệ bao hàm: Phần tử → Module → Phân hệ → Hệ thống (hình 3) [2].

Các phân lớp của hệ thống mang ý niệm tương đối và tồn tại trong các phương diện nghiên cứu khác nhau. Nghĩa là phần tử của một hệ thống này có thể trở thành phần tử của một hệ thống khác.

Hình 1. Cấu trúc hệ thống

– Phần tử của hệ thống: Là tế bào nhỏ nhất của hệ thống, mang tính độc lập tương đối, là yếu tố thành phần, liên hợp, thực hiện chức năng nhất định và không thể phân chia thêm được nữa dưới góc độ hoạt động của hệ thống. Các bộ phận tạo thành hệ thống gọi là phần tử của hệ thống đó.

– Module: Là tập hợp các phần tử liên kết cận kề với nhau để tạo thành một thao tác xác định. Ví dụ: Trong một hệ thống tìm tin, mỗi một thao tác là một module (thao tác indexing, thao tác tạo lập file,…).

– Phân hệ: Là tập hợp của một số module nhằm hướng tới thực hiện một công việc, một mục tiêu con được xác định trong hệ thống. Ví dụ, phân hệ xuất bản phẩm thông tin, phân hệ bổ sung, phân hệ phổ biến thông tin có chọn lọc…

– Hệ thống: Là một tập hợp các phần tử, sắp xếp, liên hệ với nhau theo một quy luật nào đó và thực hiện một chức năng, nhiệm vụ nhất định. Tuỳ thuộc vào cấu trúc của từng hệ thống mà chọn những phương pháp nghiên cứu và điều khiển hệ thống cho phù hợp.

1.2.4. Các thành phần cơ bản của hệ thống

Một hệ thống bất kỳ có những thành phần cơ bản: phần tử, mục tiêu, đầu vào/ ra, hành vi, trạng thái…

Sơ đồ mô tả các thành phần của hệ thống được khái quát trên hình 2:

– Môi trường của hệ thống: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, môi trường là các yếu tố, điều kiện nằm ngoài hệ thống và có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của hệ thống đó. Bất cứ hệ thống nào cũng tồn tại trong môi trường, hệ thống thông tin bị chi phối bởi các yếu tố: người dùng tin (NDT), môi trường thông tin của tổ chức…

– Đầu vào/ ra của hệ thống: Đầu vào là bất kỳ những gì mà môi trường có thể tác động vào hệ thống. Đầu ra là bất kỳ những gì mà hệ thống có thể tác động trở lại môi trường.

– Mục tiêu của hệ thống: Là trạng thái mong đợi, cần có và có thể có của hệ thống sau một thời gian nhất định.

– Cơ cấu của hệ thống: Là hình thức cấu tạo bên trong của hệ thống, phản ánh sự sắp xếp có trật tự của các phân hệ, bộ phận và phần tử cũng như các quan hệ giữa chúng theo một dấu hiệu nhất định.

– Hành vi của hệ thống: Hành vi của hệ thống là tập hợp các đầu vào/ ra và mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống.

– Trạng thái của hệ thống: Là khả năng kết hợp giữa các đầu vào/ ra của hệ thống xét ở một thời điểm nhất định. Như vậy, những đặc điểm tạo nên một khả năng của quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra của hệ thống ở những thời điểm nhất định gọi là trạng thái của hệ thống.

1.2.5. Phương pháp tiếp cận hệ thống

Có 3 phương pháp chính để nghiên cứu hệ thống:

a) Phương pháp mô hình hoá: Là phương pháp tái hiện những đặc trưng của đối tượng nghiên cứu bằng một mô hình khi việc nghiên cứu chính đối tượng đó không thể thực hiện được. Mô hình là sự diễn đạt trừu tượng hoá các mối liên kết giữa các phần tử của hệ thống theo mục tiêu nghiên cứu đặt ra đối với hệ thống đó.

b) Phương pháp hộp đen: Đây là phương pháp nghiên cứu khi đã biết đầu ra, đầu vào của hệ thống, nhưng chưa nắm được cơ cấu của nó. Phương pháp hộp đen được áp dụng rất hiệu quả trong thực tế vì có nhiều hệ thống mà cấu trúc của chúng rất mờ hoặc rất phức tạp, do đó việc nghiên cứu sâu vào cấu trúc là không thể tiến hành được hoặc là quá tốn kém.

2. Ứng dụng nguyên tắc tiếp cận hệ thống trong việc xây dựng hệ thống thông tin – thư viện phục vụ công tác đào tạo tại các trường đại học kỹ thuật Việt Nam

Xây dựng hệ thống TTTV đảm bảo tính khoa học và hệ thống phải được phân thành các bước cụ thể với những quy định chặt chẽ về nội dung công việc cho từng quy trình.

Bước 1: Xác định mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống thông tin – thư viện

– Mục tiêu: Hệ thống TTTV được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thông tin khoa học và kỹ thuật, nhằm cung cấp thông tin về các lĩnh vực đào tạo của trường một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời để đạt mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu trao đổi thông tin giữa các trường.

– Chức năng: Thu thập thông tin; Xử lý thông tin: xử lý hình thức và xử lý nội dung; Bảo quản thông tin; Cung cấp thông tin.

– Nhiệm vụ của hệ thống thông tin:

+ Xây dựng và thực hiện chính sách về thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin trong hệ thống TTTV các trường đại học gồm: tài liệu, cơ sở dữ liệu (CSDL), ấn phẩm thông tin cho các thành viên trong hệ thống.

+ Nghiên cứu thường xuyên và có hệ thống nhu cầu thông tin của NDT trong trường đại học, phục vụ công tác đào tạo và đề ra những biện pháp thích hợp để thoả mãn nhu cầu thông tin đó.

+ Thu thập, xử lý thông tin các nguồn tin nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NDT khai thác và sử dụng thông tin.

+ Cung cấp bản sao tài liệu (tài liệu gốc và tài liệu số), tìm tin hồi cố, phổ biến thông tin có chọn lọc.

+ Đảm bảo việc tương tác, chia sẻ thông tin giữa thư viện các trường trong hệ thống, hệ thống TTTV hình thành các dòng tin ổn định từ trên xuống, từ dưới lên và giữa các trường thành viên.

Bước 2: Xác định nhu cầu thông tin

Nghiên cứu nhu cầu thông tin của ba nhóm NDT: Cán bộ quản lý, giảng viên, nghiên cứu viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên. Chúng ta phải hiểu được nhu cầu thông tin của NDT mới xác định được những thông tin quan trọng để nạp vào hệ thống TTTV. Vì nhu cầu thông tin là cơ sở để xây dựng nguồn lực thông tin cho các trường đại học.

Các hướng tiếp cận hệ thống:

Thứ nhất: Tiếp cận phân tích

– Phân tích dòng tin và xây dựng nguồn lực thông tin.

+ Nghiên cứu dòng tin vận động trong hệ thống.

+ Xác định những nguồn thông tin riêng biệt: Thông tin được phân thành các loại riêng biệt dành cho một đối tượng NDT… phải có tiêu chí quy định rõ cách tra cứu từ các thư viện đại học khác.

+ Xây dựng các CSDL chuyên ngành, bộ sưu tập số, CSDL luận văn, luận án,…) dùng chung cho các trường.

+ Nghiên cứu, lựa chọn, bổ sung từng loại hình tài liệu phù hợp với chương trình đào tạo của các trường đại học.

– Phân tích thành phần hệ thống thông tin: Có thể phân chia hệ thống thành các phân hệ nhỏ hơn để nghiên cứu chi tiết. Khi nghiên cứu về thành phần hệ thống thông tin, có thể nhìn ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Hệ thống thông tin với hệ thống TTTV sẽ được tạo bởi các phân hệ thông tin. Mỗi một phân hệ sẽ có chức năng riêng nhưng lại có cùng một mục tiêu chung của hệ thống là đáp ứng nhu cầu tin của NDT trong trường đại học. Các phân hệ trong hệ thống TTTV gồm có các phân hệ: tìm tin hồi cố, phân phối thông tin có chọn lọc, sao lưu CSDL, xuất bản phẩm thông tin, cung cấp bản sao… Các thống thông tin hoàn chỉnh.

Thứ hai: Tiếp cận tổng thể

Sau khi đã phân tích cơ cấu và nghiên cứu từng phân hệ (hay phần tử), bước nghiên cứu tiếp theo là nghiên cứu các khả năng phối hợp, khả năng liên kết các phần tử thành hệ thống. Muốn vậy cần phải giải quyết các vấn đề:

– Mô hình bộ máy thông tin trong từng cơ quan.

– Mối quan hệ về mặt thông tin, việc xây dựng và chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các trường đại học.

– Quy định nội bộ về nội dung, chế độ báo cáo và cung cấp thông tin giữa các thư viện.

– Nhân sự điều hành và quản trị hệ thống TTTV.

3. Đề xuất một số mô hình ứng dụng lý thuyết hệ thống trong hệ thống thông tin – thư viện các trường đại học kỹ thuật Việt Nam

3.1. Mô hình tích hợp thông tin

Mục đích: Dữ liệu trong hệ thống được chuẩn hoá, lưu trữ thống nhất nguồn lực thông tin, hình thành một “tổng kho” tránh sự trùng lặp, lãng phí, mất tin, đảm bảo việc bổ sung, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các thư viện đại học và cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời tới NDT trong các trường.

Hình3.Mô hình tích hợp thông tin trong hệ thống TTTV

Các trường hoàn toàn chủ động trong việc thu thập, xử lý, cung cấp và khai thác thông tin trong phạm vi của mình, đồng thời tập hợp thông tin để xây dựng CSDL dùng chung.

3.2. Mô hình hoạt động của hệ thống thông tin – thư viện

Mục tiêu của việc xây dựng hệ thống TTTV là đáp ứng nhu cầu của NDT trong trường đại học. Do vậy, từ sơ đồ chức năng của hệ thống có thể thiết kế mô hình hoạt động của hệ thống thông tin này:

Hình 4. Mô hình hoạt động của hệ thống TTTV

3.3. Mô hình tổ chức phân tán của hệ thống thông tin – thư viện

Hình 5. Mô hình phân tán hệ thống TTTV

Hệ thống TTTV là tập hợp các Trung tâm TTTV trong các trường đại học hợp tác, chia sẻ thông tin, tài liệu cho nhau. Thông tin của hệ thống là các thông tin về nguồn lực thông tin của các trường được tổ chức thống nhất theo chiều ngang giữa các trường tạo ra các sản phẩm và dịch vụ TTTV phong phú, nhằm đáp ứng nhu cầu tin ngày càng phong phú và đa dạng của NDT trong các trường ĐHKT ở Việt Nam.

Kết luận

Dựa trên việc tiếp cận lý thuyết hệ thống để thiết lập hệ thống TTTV, phục vụ công tác đào tạo tại các trường ĐHKT Việt Nam nhằm đáp ứng được nhu cầu tin của NDT thư viện một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu. Tiếp cận hệ thống trong môi trường và phát triển. – H.: Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007.

2. Nguyễn Hữu Hùng. Bài giảng về lý thuyết hệ thống và ứng dụng trong thông tin. – 2012.

3. Phạm Thị Bích Thuỷ. “System theory: an approach model construction in Vietnam education management”// Journal os Science of Hnue. – 2011. – Vol 6. – No. 6.- P. 73-78.

4. A systems theory approach to the study of the academic library using Banathy’s three models os systems relationships”. – Susan Colaric: INSYS.

5. Bertalanffy, L.V. General system theory: Foundations, development applications. – New York: Geroge Braziller, 1968.

ThS. Đỗ Tiến Vượng

Trung tâm TT-TV, Đại học Giao thông Vận tải

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. – 2014. – Số 5. – Tr. 35-40,18.

Hệ Thống Giám Sát An Toàn Thông Tin / 2023

Ngày nay các vấn đề về tấn công mạng, lừa đảo trực tuyến hay các vấn đề về bùng phát mã độc… đang trở nên phổ biến và là vấn đề lớn đối với các tổ chức. Hệ thống thông tin của tổ chức cần một giải pháp thu thập, quản lý và phân tích các sự kiện an ninh thông tin. Hệ thống giám sát an toàn thông tin SIEM (Security information and event management – SIEM) là hệ thống được thiết kế nhằm thu thập thông tin nhật ký các sự kiện an ninh từ các thiết bị đầu cuối và lưu trữ dữ liệu một cách tập trung, cho phép các tổ chức hạn chế được các rủi ro, tiết kiệm thời gian, nhân lực. 1. Khái quát

Ngày nay các vấn đề về tấn công mạng, lừa đảo trực tuyến hay các vấn đề về bùng phát mã độc… đang trở nên phổ biến và là vấn đề lớn đối với các tổ chức. Để giải quyết các mối lo này các tổ chức cần đầu tư vào các giải pháp an ninh, bảo vệ có chiều sâu và theo nhiều lớp. Một xu hướng phổ biến là các giải pháp này đều là các giải pháp tốt, dẫn đầu thị trường nhưng đa số lại thuộc về nhiều nhà cung cấp khác nhau.

Điều này tạo ra nhiều vấn đề đối với đội ngũ vận hành an ninh (Security) như:

Không có khả năng phân tích toàn bộ nhật ký: Hàng ngày các hệ thống như Firewall, IPS, OS, Database… đưa ra hàng triệu nhật ký. Các tổ chức với đội ngũ làm việc của mình không có cách nào hoàn thành việc phân tích với các công cụ thủ công.

Số lượng các thông báo giả: Trong số hàng triệu các sự kiện đó thì có một phần rất lớn các thông báo không chính xác và không thực sự quan trọng.

Mỗi hệ thống có một định dạng nhật ký khác nhau: Điều này gây khó khăn trong việc đồng bộ và phân tích.

Với yêu cầu như vậy, hệ thống thông tin của tổ chức cần một giải pháp thu thập, quản lý và phân tích các sự kiện an ninh thông tin, một Hệ thống giám sát an toàn thông tin SIEM (Security information and event management – SIEM) là hệ thống được thiết kế nhằm thu thập thông tin nhật ký các sự kiện an ninh từ các thiết bị đầu cuối và lưu trữ dữ liệu một cách tập trung. Hệ thống SIEM phải thực hiện thu thập nhật ký từ tất cả các hệ thống mà các tổ chức quan tâm, cung cấp đa dạng và linh hoạt các công cụ cho việc tìm kiếm, phân tích, theo dõi các sự kiện an ninh theo thời gian thực trên duy nhất một giao diện. Tính năng phân tích sự tương quan giữa các sự kiện cho phép hệ thống chỉ ra được các vấn đề lớn về an ninh mà hệ thống đang phải đối mặt. Điều này sẽ cho phép các tổ chức hạn chế được các rủi ro, tiết kiệm thời gian, nhân lực.

Hệ thống SIEM bao gồm nhiều phần, mỗi phần làm một nhiệm vụ riêng biệt. Mỗi thành phần trong hệ thống này có thể hoạt động độc lập với các thành phần khác nhưng nếu tất cả không hoạt động cùng một lúc thì sẽ có không có một SIEM hiệu quả.

Tùy thuộc vào hệ thống đang sử dụng mỗi SIEM sẽ có những thành phần cơ bản. Bằng sự hiểu biết từng phần của SIEM và cách thức hoạt động, người quản trị có thể quản lý một cách hiệu quả và khắc phục sự cố các vấn đề khi phát sinh.

Thiết bị đầu vào cung cấp dữ liệu

Thành phần đầu tiên của SIEM là các thiết bị đầu vào cung cấp dữ liệu cho SIEM. Thiết bị nguồn có thể là một thiết bị thực tế trong hệ thống mạng như Router, Switch hoặc một số loại máy chủ và cũng có thể là các bản ghi Log từ một ứng dụng hoặc chỉ là bất kỳ dữ liệu nào khác. Việc xác định những gì có trong hệ thống là rất quan trọng trong việc triển khai SIEM. Xác định được những nguồn cung cấp dữ liệu trong giai đoạn đầu sẽ giúp tiết kiệm được công sức, số tiền đáng kể và giảm sự phức tạp trong triển khai.

Hệ điều hành: Microsoft Windows và các biến thể của Linux và UNIX, AIX, Mac OS là những hệ điều hành thường hay được sử dụng. Hầu hết các hệ điều hành về cơ bản công nghệ khác nhau và thực hiện chuyên một nhiệm vụ nào đó nhưng một trong những điều mà tất cả đều có điểm chung là chúng tạo ra các bản ghi Log. Các bản ghi Log sẽ cho thấy hệ thống của đã làm gì: Ai là người đăng nhập, làm những gì trên hệ thống?…Các bản ghi Log được tạo ra bởi một hệ điều hành về hệ thống và người sử dụng hoạt động sẽ rất hữu ích khi tiến hành ứng phó sự cố an ninh hoặc chuẩn đoán vấn đề hay chỉ là việc cấu hình sai.

Thiết bị: Thực tế các quản trị viên hệ thống không có quyền truy cập từ xa vào các thiết bị trong hệ thống như router, switch, firewall, server để thực hiện một số việc quản lý cơ bản. Nhưng có thể quản lý các thiết bị thông qua một cổng giao diện đặc biệt. Giao diện này có thể dựa trên web, dòng lệnh hoặc chạy qua một ứng dụng được tải về máy trạm của quản trị viên. Hệ điều hành các thiết bị mạng chạy có thể là một hệ điều hành thông thường như Microsoft Windows, hay một bản tùy biến dựa trên nguồn mở như Linux, nhưng có thể được cấu hình theo cách mà hệ điều hành thông thường. Các thiết bị router, switch là một trường hợp điển hình, do không phụ thuộc vào nhà cung cấp, nên không bao giờ có thể truy cập trực tiếp vào hệ thống điều hành cơ bản của nó mà chỉ có thể truy cập vào thông qua dòng lệnh hoặc giao diện web được sử dụng để quản lý. Các thiết bị lưu trữ các bản ghi Log của chúng trên hệ thống hoặc thường có thể được cấu hình để gửi các bản ghi ra thông qua SysLog hoặc FTP.

Ứng dụng: Chạy trên các hệ điều hành là những ứng dụng được sử dụng cho một loạt các chức năng. Trong một hệ thống có thể có hệ thống tên miền (DNS), dịch vụ cấp phát địa chỉ động (DHCP), máy chủ web, hệ thống thư điện tử và vô số các ứng dụng khác. Các bản ghi ứng dụng chứa thông tin chi tiết về tình trạng của ứng dụng, ví dụ như thống kê, sai sót, hoặc thông tin tin nhắn. Một số ứng dụng sinh ra bản ghi Log sẽ có ích cho người quản trị? Dùng để yêu cầu duy trì, lưu trữ các bản ghi Log theo sự tuân thủ của pháp luật.

Xác định bản ghi Log cần thiết: Sau khi xác định các thiết bị nguồn cung cấp dữ liệu trong hệ thống, người quản trị cần xem xét việc thu thập các bản ghi Log từ các thiết bị nào là cần thiết và quan trọng cho SIEM. Một số điểm cần chú ý trong việc thu thập các bản ghi Log như sau:

Thiết bị nguồn nào được ưu tiên? Dữ liệu nào quan trọng cần phải thu thập? Kích thước bản ghi Log sinh ra trong khoảng thời gian nhất định là bao nhiêu? Những thông tin này dùng để xác định SIEM cần bao nhiêu tài nguyên cho chúng, đặc biệt là không gian lưu trữ.

Tốc độ các thiết bị nguồn này sinh ra bản ghi Log là bao lâu? Thông tin này kết hợp với kích thước bản ghi Log để lựa chọn việc sử dụng đường truyền mạng khi thu thập các bản ghi.

Cách thức liên kết giữa các thiết bị nguồn với SIEM?

Có cần các bàn ghi Log theo thời gian thực hay thiết lập quá trình thực hiện tại một thời điểm cụ thể trong ngày.

Các thông tin trên rất có ích trong việc xác định nguồn thiết bị cần thiết cho SIEM. Chúng có quá nhiều nhưng nó là cần thiết để xác định chính xác hơn điều gì là cần thiết cho SIEM. Số lượng người sử dụng, lịch bảo trì hệ thống và nhiều yếu tố khác có thể tác động đáng kể đến số lượng các bản ghi Log được tạo ra mỗi ngày.

2. Phương pháp thu thập thông tin Thu thập bản ghi Log

Thành phần tiếp theo trong sơ đồ là thành phần thu thập Log. Cơ chế thu thập các bản ghi Log phụ thuộc vào từng thiết bị nhưng cơ bản có hai phương thức như sau: Push Log và Pull Log.

Push Log: Các bản ghi Log sẽ được các thiết bị nguồn đẩy về SIEM

Phương pháp này có lợi ích: Dễ dàng cài đặt và cấu hình. Thông thường, chỉ cần thiết lập một bộ tiếp nhận và sau đó kết nối thiết bị nguồn đến bộ phận tiếp nhận này. Ví dụ như SysLog, khi cấu hình thiết bị nguồn sử dụng SysLog, người quản trị có thể thiết lập địa chỉ IP hoặc DNS tên của một máy chủ SysLog trên mạng và thiết bị sẽ tự động gửi các bản ghi của nó thông qua SysLog. Tuy nhiên phương pháp này cũng còn một số nhược điểm.

Sử dụng SysLog trong môi trường UDP (User Datagram Protocol – là một trong những giao thức cốt lõi của giao thức TCP/IP). Bản chất của việc sử dụng SysLog trong môi trường UDP có thể là không đảm bảo rằng các gói tin đến đích, vì UDP là một giao thức không hướng kết nối. Nếu một tình huống xảy ra trên mạng chẳng hạn như khi một loại virus mạnh trên mạng, người quản trị có thể không nhận được gói tin SysLog. Một vấn đề có thể phát sinh là nếu không đặt quyền điều khiển truy cập thích hợp trên máy thu nhận các bản ghi Log thì khi cấu hình sai hoặc có phần mềm độc hại có thể làm tràn ngập các thông tin sai lệch. Điều đó làm cho các sự kiện an ninh khó được phát hiện. Nếu là một cuộc tấn công có chủ ý nhằm chống lại SIEM thì một kẻ xấu có thể làm sai lệch các thông tin và và thêm các dữ liệu rác vào SIEM. Do vậy sự hiểu biết về các thiết bị gửi các bản ghi Log cho SIEM là điều rất quan trọng

Pull Log: Các bản ghi Log sẽ được SIEM lấy về

Không giống như phương pháp Push Log, trong đó thiết bị nguồn gửi các bản ghi Log cho SIEM mà không cần bất kỳ sự tương tác từ SIEM. Pull Log đòi hỏi SIEM bắt đầu kết nối với các thiết bị nguồn và chủ động lấy các bản ghi từ các thiết bị nguồn đó bằng một phần mềm được cài đặt trên các thiết bị an ninh. Một ví dụ nếu các bản ghi Log được lưu trữ trong tập tin văn bản chia sẻ trên một mạng. SIEM sẽ thiết lập một kết nối lấy các thông tin được lưu trữ và đọc các file bản ghi từ các thiết bị nguồn.

Đối với phương pháp Push Log, các bản ghi Log của thiết bị nguồn thường gửi các bản ghi đến SIEM ngay sau khi nó được tạo ra. Nhưng với phương pháp Pull Log thì một kết nối sẽ được tạo ra để SIEM tiếp cận với các thiết bị nguồn và kéo các bản ghi Log từ các thiết bị nguồn về. Chu kỳ của việc kết nối để lấy các bản ghi Log của Pull Log có thể là vài giây hoặc theo giờ. Khoảng thời gian này có thể cấu hình theo tùy chọn hoặc để cấu hình mặc định cho SIEM. Điều này cũng cần tính toán về chu kỳ thời gian đẩy các bản ghi về SIEM vì nếu không sẽ dẫn tới việc tràn và nghẽn của hệ thống SIEM khi quá nhiều các thiết bị nguồn cùng đẩy bản ghi Log về.

Chính sách thu thập thông tin: Có thể thiết lập một chính sách ưu tiên và thu thập để lọc và củng cố các thông tin sự kiện an ninh trước khi gửi đến hệ thống. Kỹ thuật này cho phép người quản trị để điều tiết sự kiện an ninh và quản lý những thông tin, nếu không sẽ rất nhiều các sự kiện an ninh trong hệ thống mạng làm cho người quản trị lúng túng không biết bắt đầu từ đâu.

Phân tích, chuẩn hóa Log

Vô số các bản ghi Log được gửi từ các thiết bị và ứng dụng trong môi trường đến SIEM. Tại thời điểm này, tất cả các bản ghi đang ở định dạng gốc ban đầu, do đó người quản trị không thực hiện được bất cứ điều gì ngoại trừ lưu nó vào một nơi nào đó. Hệ thống SIEM thu thập các bản ghi Log từ rất nhiều các thiết bị khác nhau, việc truyền các bản ghi log từ các thiết bị nguồn tới SIEM cần được giữ bí mật, xác thực và tin cậy bằng việc sử dụng Syslog hoặc các giao thức SNMP, OPSEC, SFTP.

Nhưng để các bản ghi Log hữu ích trong SIEM cần định dạng lại chúng sang một định dạng chuẩn duy nhất. Việc thay đổi tất cả các loại bản ghi Log khác nhau thành các bản ghi có cùng một định dạng duy nhất được gọi là chuẩn hóa. Nếu các thiết bị không hỗ trợ các giao thức này cần phải sử dụng các Agent. Đó là một điều cần thực hiện để thực hiện việc lấy các bản ghi log có định dạng mà SIEM có thể hiểu được. Việc cài đặt các Agent có thể kéo dài quá trình triển khai SIEM nhưng người quản trị sẽ có những bản ghi log theo dạng chuẩn mong muốn.

Mục đích của việc thu thập thông tin là để nắm bắt và chuẩn hóa các thông tin từ các thiết bị an ninh khác nhau và cung cấp các thông tin đó cho hệ thống để phân tích tiếp. Chức năng nay rất quan trọng vì dữ liệu có định dạng khác nhau từ các thiết bị khác nhau và các nhà cung cấp khác nhau.

Ví dụ như Hình: Chuẩn hóa Log hai hệ thống này, một hệ thống Windows Event Log và một ASA Cisco. Cả hai cho thấy cùng một người đăng nhập vào thiết bị. Cách đăng nhập của mỗi nhà cung cấp là khác nhau. Nên cần phải hiểu định dạng và chi tiết có trong sự kiện đó. Do việc chuẩn hóa Log là rất cần thiết.

Kafka Là Gì? Ứng Dụng Kafka Cho Hệ Thống Message / 2023

Kafka là gì?

Kafka là gì? – Đó là hệ thống message pub/sub phân tán (distributed messaging system). Bên pulbic dữ liệu được gọi là producer, bên subscribe nhận dữ liệu theo topic được gọi là consumer. Kafka có khả năng truyền một lượng lớn message theo thời gian thực, trong trường hợp bên nhận chưa nhận message vẫn được lưu trữ sao lưu trên một hàng đợi và cả trên ổ đĩa bảo đảm an toàn. Đồng thời nó cũng được replicate trong cluster giúp phòng tránh mất dữ liệu.

Các khái niệm cơ bản

Kafka là gì? – Có thể hiểu là một hệ thống logging để lưu lại các trạng thái của hệ thống đề phòng tránh mất thông tin.

Định nghĩa trên được giải thích bằng các khái niệm sau:

PRODUCER: Kafka lưu, phân loại message theo topic, sử dụng producer để publish message vào các topic. Dữ liệu được gửi đển partition của topic lưu trữ trên Broker.

CONSUMER: Kafka sử dụng consumer để subscribe vào topic, các consumer được định danh bằng các group name. Nhiều consumer có thể cùng đọc một topic.

TOPIC: Dữ liệu truyền trong Kafka theo topic, khi cần truyền dữ liệu cho các ứng dụng khác nhau thì sẽ tạo ra cá topic khác nhau.

PARTITION: Đây là nơi dữ liệu cho một topic được lưu trữ. Một topic có thể có một hay nhiều partition. Trên mỗi partition thì dữ liệu lưu trữ cố định và được gán cho một ID gọi là offset. Trong một Kafka cluster thì một partition có thể replicate (sao chép) ra nhiều bản. Trong đó có một bản leader chịu trách nhiệm đọc ghi dữ liệu và các bản còn lại gọi là follower. Khi bản leader bị lỗi thì sẽ có một bản follower lên làm leader thay thế. Nếu muốn dùng nhiều consumer đọc song song dữ liệu của một topic thì topic đó cần phải có nhiều partition.

BROKER: Kafka cluster là một set các server, mỗi một set này được gọi là 1 broker

ZOOKEEPER: được dùng để quản lý và bố trí các broker.

Tại sao nên sử dụng Apache Kafka?

Kafka là dự án opensoure, đã được đóng gói hoàn chỉnh, khả năng chịu lỗi cao, hiệu năng rất tốt và dễ dàng mở rộng mà không cần dừng hệ thống.

Kafka thật sự đáng tin cậy, có khả năng lưu trữ lượng dữ liệu lớn nên nó đang dần được thay thế cho hệ thống message truyền thống.

Một vài use case cho kafka:

Sử dụng như một hệ thống message queue thay thế cho ActiveMQ hay RabbitMQ

Website Activity Monitoring: theo dõi hoạt động của website

Stream Processing: Kafka là một hệ thống rất thích hợp cho việc xử lý dòng dữ liệu trong thời gian thực. Khi dữ liệu của một topic được thêm mới ngay lập tức được ghi vào hệ thống và truyền đến cho bên nhận. Ngoài ra Kafka còn là một hệ thống có đặc tính duribility dữ liệu có thể được lưu trữ an toàn cho đến khi bên nhận sẵn sàng nhận nó.

Log Aggregation: tổng hợp log

Metrics Collection: thu thập dữ liệu, tracking hành động người dùng như các thông số như page view, search action của user sẽ được publish vào một topic và sẽ được xử lý sau

Event-Sourcing: Lưu lại trạng thái của hệ thống để có thể tái hiện trong trường hợp system bị down.

Use case Kafka cho thương mại điện tử

Một hệ thống thương mại điện tử có nhiều server thực hiện các tác vụ khác nhau. Tất cả các server này đều sẽ giao tiếp với database server để đọc ghi dữ liệu.

Vì vậy sẽ có rất nhiều data pipeline kết nối từ rất nhiều server khác đến database server này. Cơ cấu như sau:

Nhìn đơn giản vậy thôi chứ đây là hệ thống nhỏ, đối với hệ thống lớn hơn thì nó sẽ như vầy:

Lúc này data pipeline sẽ phức tạp khủng khiếp do gia tăng lượng hệ thống server. Lúc này nếu ta sử dụng Kafka tách rời các data pipeline giữa các hệ thống để làm cho việc giao tiếp giữa các hệ thống trở nên đơn giản hơn và dễ quản lý hơn.

Tổng kết bài viết kafka là gì

Để sử dụng kafka, tải ở đây và làm theo hướng dẫn.

Hệ Thống Xử Lý Nước Thải Dệt Nhuộm / 2023

Trong những năm gần đây sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt nhuộm đã góp một phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế chung của cả nước. Ngành công nghiệp dệt nhuộm không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn thu được giá trị kinh tế lớn nhờ xuất khẩu. Bên cạnh đó, ngành dệt nhuộm còn giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động.

Song song với sự phát triển là vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất. Hàng năm ngành dệt nhuộm thải vào môi trường một lượng lớn nước thải với nồng độ ô nhiễm cao do chưa đầu tư hệ thống nước thải dệt nhuộm đạt chuẩn hoặc hệ thống bị hư hỏng chưa cải tạo hệ thống xử lý nước thải kịp thời.

1. Đặc trưng nước thải dệt nhuộm

Trong các nguồn phát sinh ô nhiễm từ ngành dệt nhuộm, nước thải là mối quan tâm đặc biệt từ công đoạn hồ sợi, giũ hồ, quá trình nhuộm và hoàn tất, giặt sử dụng một lượng lớn nguyên liệu thô, nước, thuốc nhuộm và chất trợ nhuộm. Tiêu thụ nước trong quá trình nhuộm dao động rất lớn từ 16-900m 3 cho một tấn sản phẩm.

Hầu như tất cả các công đoạn của quá trình nhuộm và hoàn tất đều phát sinh nước thải. Thành phần nước thải nước thải dệt nhuộm thường không ổn định, thay đổi theo loại thiết bị nhuộm, nguyên liệu nhuộm, khi sử dụng các loại thuốc nhuộm có bản chất và màu sắc khác nhau. Nước thải dệt nhuộm thường có nhiệt độ, độ màu, COD và BOD cao. Nước thải phát sinh từ nhà máy dệt nhuộm thường khó xử lý do cấu tạo phức tạp của thuốc nhuộm cũng như nhiều loại thuốc nhuộm và trợ nhuộm được sử dụng trong quá trình nhuộm và hoàn tất.

Bảng thành phần nước thải dệt nhuộm:

2. Các phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm

Xử lý nước thải dệt nhuộm bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đạt một hiệu quả nhất định đối với một vài chất ô nhiễm tương ứng. Công nghệ xử lý nước thải được áp dụng yêu cầu phải loại bỏ các thành phần như nhiệt độ, độ màu, chất rắn lơ lửng SS, COD, BOD 5 và kim loại nặng.

Phương pháp cơ học: song chắn rác thô, tinh, lọc cát để loại bỏ các vật chất có kích thước lớn, tách chất không hòa tan.

Phương pháp hóa học: sử dụng tác nhân hóa học để trung hòa hoặc oxy hóa chất độc hại trong nước thải bao gồm quá trình khử trùng, oxy hóa bậc cao, keo tụ/tạo bông

Phương pháp hóa lý: kết hợp các quá trình keo tụ/tạo bông/lắng, tuyển nổi, lọc (lọc cát và than hoạt tính) tùy thuộc vào đặc điểm nước thải, với mục đích loại bỏ SS, độ màu, một phần chất hữu cơ hòa tan và kim loại nặng

Phương pháp sinh học: sử dụng vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải nhằm loại bỏ COD, BOD. Quá trình sinh học có thể kết hợp quá trình xử lý kị khí (UASB/EGSB) và hiếu khí (bùn hoạt tính lở lửng, bùn hoạt tính với vật liệu dính bám)…

3. Quy trình công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm

Thuyết minh quy trình công nghệ xử hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm

Nước thải từ các công đoạn sản xuất của nhà máy được thu gom và bơm tập trung về Bể tiếp nhận. Trước khi vào bể tiếp nhận, nước thải được dẫn qua thiết bị lược rác tinh để loại bỏ rác có kích thước lớn, các mảnh vụ nhỏ, các xơ và các sợi chỉ mịn trước khi qua các công trình xử lý kế tiếp.

Tháp giải nhiệt: một số công đoạn của quá trình sản xuất như nhuộm, giũ hồ, giặt tẩy thường nước thải có nhiệt độ cao, để đảm bảo hoạt động của hệ thống xử lý đặc biệt là công trình xử lý sinh học, nước thải có nhiệt độ cao được đưa qua tháp giải nhiệt để hạ nhiệt độ của nước thải xuống dưới 40 0 C trước khi vào bể điều hòa

Bể điều hòa

Do nồng độ các chất thải của nước thải không ổn định và thường dao động rất lớn vào các thời điểm sản xuất khác nhau nên bể điều hòa có tác dụng điều hòa lưu lượng và đảm bảo nồng độ chất thải có trong nước thải luôn ổn định hoặc dao động ở mức độ chấp nhận trước khí đi vào hệ thống.

Bể keo tụ – tạo bông – tuyển nổi:

Tại bể phản ứng keo tụ, nước thải được bổ sung dung dịch keo tụ và chất loại màu để keo tụ các chất bẩn có trong nước thải và loại màu nước thải. Nước thải sau khi thêm hóa chất keo tụ sẽ kết tụ các chất bẩn lại với nhau, đồng thời chất trợ keo tụ (polymer) được bổ sung nhằm tăng kích thước của bông cặn. Bể tuyển nổi có tác dụng tách bông vặn khỏi nước thải.Bể keo tụ

Nước thải từ bể điều hòa được bơm lên Bể keo tụ. Tại đây, hóa chất điều chỉnh pH (NaOH) được bơm hóa chất được châm vào để điều chỉnh pH đến giá trị tối ưu

(pH = 6.0 – 6.5) của quá trình phản ứng keo tụ. Đồng thời, hóa chất trợ keo tụ (PAC) cũng được bơm hóa chất châm vào song song. Motor khuấy cũng bắt đầu khuấy trộn tạo điều kiện tiếp xúc tốt giữa hóa chất và nước thải.

Bể tạo bông

Nước thải sau khi qua bể keo tụ sẽ tự chảy vào Bể tạo bông. Tại đây, hóa chất tạo bông (Polymer) được bơm hóa chất được châm vào để tăng hiệu quả tuyển nổi. Motor khuấy cũng bắt đầu khuấy trộn tạo điều kiện tiếp xúc tốt giữa hóa chất và nước thải.

Bể tuyển nổi

Nước thải dệt nhuộm sau khi qua bể tạo bông sẽ tự chảy qua Bể tuyển nổi DAF. Tại bể tuyển nổi DAF, hỗn hợp khí và nước thải được tạo ra nhờ máy nén khí – AC và bồn tạo áp làm tăng hiệu quả tách các cặn lơ lửng nhờ các bọt khí li ti và giúp giảm lượng chất hữu cơ và tăng hiệu quả xử lý cho quá trình xử lý sinh học phía sau. Lượng cặn nổi trên bề mặt được tách khỏi nước thải nhờ thiết bị gạt tự động được dẫn xuống vị trí thu gom và thải bỏ nơi quy định.

Bể trung gian

Nước sau khi qua bể DAF sẽ tự chảy vào Bể trung gian. Tại đây, nước thải được ổn định lưu lượng và nồng độ ô nhiễm (BOD, COD,…) và điều chỉnh pH.

Bể EGSB

Nước thải sau khi qua bể trung gian ổn định lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm sẽ được các bơm chìm bơm vào thiết bị xáo trộn trước khi vào bể EGSB. Đồng thời, hóa chất điều chỉnh pH sẽ được châm vào thiết bị xáo trộn để điều chỉnh pH đến giá trị tối ưu (pH = 6.5 – 7.5) cho quá trình xử lý sinh học hiếu khí các chất hữu cơ, nitơ, phospho.

Chức năng của bể EGSB là phân huỷ kỵ khí các chất hữu cơ có trong nước thải bằng bùn kị khí lơ lửng ở đáy bể.

Bể Aerotank

Bể lắng

Nước thải sau khi ra khỏi bể Aerotank sẽ tự chảy tràn qua Bể lắng. Tại đây, xảy ra quá trình tách bông bùn khỏi nước thải dưới tác dụng của trọng lực.

Bùn sau lắng được bơm đến bể chứa bùn và một phần bùn hồi lưu bổ sung vi sinh vật cho bể bùn hoạt tính hiếu khí. Nước thải sau khi qua bể lắng tự chảy sang bể trung gian.

Bể lọc áp lực than hoạt tính

Bể lọc áp lực với than hoạt tính đượ sử dụng để xử lý các hợp chất khó phân hủy sinh học còn lại sau các quá trình xử lý và độ màu còn lại trong nước thải trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.

Nước thải sau quy trình công nghệ xử lý đạt QCVN 13:2015-MT/BTNMT, cột A

Để được tư vấn, báo giá hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm hãy gọi ngay cho Chúng tôi:

Địa chỉ: 53A Nơ Trang Long, Phường 7, Quận Bình Thạnh, Tp HCM CÔNG TY TNHH XD DV MÔI TRƯỜNG NGUỒN SỐNG XANH

Điện thoại 0283 5100127/ 0931 3434 75 Web: chúng tôi và chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lý Thuyết Hệ Thống Và Ứng Dụng Trong Hệ Thống / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!