Đề Xuất 12/2022 # Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Trong Học Tập Của Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Quảng Kim : Phòng Gd&Amp;Đt Quảng Trạch / 2023 # Top 21 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Trong Học Tập Của Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Quảng Kim : Phòng Gd&Amp;Đt Quảng Trạch / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Trong Học Tập Của Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Quảng Kim : Phòng Gd&Amp;Đt Quảng Trạch / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim

Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

– GV: Giáo viên

– HS: Học sinh

– PPDH: Phương pháp dạy học

– GD: Giáo dục

– GDTH: Giáo dục tiểu học

– DĐH: Đồ dùng dạy học

– GVCN: Giáo viên chủ nhiệm

PHẦN MỞ ĐẦU

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Với từng nhịp đập của thời chúng tôi người, vạn vật không ngừng thay đổi và phát triển để tồn tại. Đặc biệt là con người, muốn vươn lên làm bá chủ vạn vật thì bản thân phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm, tích lũy để phát triển. Cội nguồn của mọi sự phát triển đó chính là sự phát triển của Giáo dục(GD)

Giáo dục chính là nền tảng phát triển của con người, thậm chí là tương lai của một đất nước. Để có một nền tảng giáo dục tốt cần phải có những người thầy giỏi, tận tâm, tận lực với nghề để đưa những chuyến đò tri thức cập bến.

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước. Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để phát triển mọi mặt sau này.

Nền tảng nhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản( nghe, nói, đọc, viết, và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộc đời con người. Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhất như cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng sáng tạo. Như vậy Giáo dục Tiểu học là nền tảng cho sự hình thành và phát triển toàn diện của con người.Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định. Vì thế làm tốt GDTH là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

Xác định được tầm quan trọng của GD như vậy thì GD nước nhà không thể dậm chân tại chổ theo lối dạy học truyền thụ một chiều,không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều, biết rộng mà chỉ cho trẻ cách hành động, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, đây mới là phương châm của nền GD mới.Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết sử dụng và kết hợp một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học, biết lựa chọn các hình thức tổ chức  phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Song để đi đến thành công GD đòi hỏi mọi người phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của mình. Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa mang tính nghệ thuật.. chúng tôi Men Xi đã viết “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn”. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim” để làm bài báo cáo thu hoạch của mình.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Để đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu đòi hỏi đi đầu trong công cuộc đổi mới đó chính là GD. giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học tập của các em ở trường, chúng tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít. Chính vì vậy báo cáo này bước đầu đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1.

III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp1.

2.Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh lớp 1.

3.Đề xuất biện pháp và xây dựng kế hoạch nhằm phát huy tính tích cực , tự giác của học sinh tại trường.

ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

    Khách thể nghiên cứu:

    Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 21 em học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

    V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Phương pháp quan sát:

    Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt… Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.

      Phương pháp thực nghiệm:

      Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

        Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

        Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót và

        những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình đạt chất lượng cao.

          Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:

          Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đề xuất.

            Phương pháp đàm thoại:

            Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò chuyện với một số phụ huynh học sinh. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết quả tốt nhất.

              Phương pháp thống kê, tính toán:

              Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước như thế nào?

                Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

                Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữa trong quá trình nghiên cứu.

                PHẦN NỘI DUNG

                CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

                1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?

                Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình. Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, toàn bộ các tác động giáo dục của nhà trường sẻ không có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò. Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng học sinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục.

                Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập, người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu để vận dụng vào kết quả học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hoàn thành. Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên phải có trình độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, vốn kinh nghiệm của học sinh. Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý, sự quan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

                Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hổ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chổ nhưng không làm thay. Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối xữ thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xữ nhưng luôn có thái độ chân thành. Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hổ trợ, đề cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của học sinh, gây dựng lòng tin ở học sinh và bản thân. Trong môi trường giáo dục, cần có sự thông hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên cơ sở tình cảm đạo đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng. Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng có tác dụng cảm hoá, thuyết phục cao trong công tác giáo dục.

                1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

                Quá trình dạy học gồm hai hoạt động hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thúc đúng đắn.Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứ không phải là người day, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau. Như vậy mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Do đó cần thật sự coi trọng việc hình thành, phát triển những kỷ năng tự học và có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng.

                    Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những kiến thức, kỷ năng, kỷ xão, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình. Vì vậy trong khi dạy học cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thụ các kiến thức, kỷ năng…biết biến những cái đó thành kiến thức, kỷ năng của mình. Nói cách khác là biết điều cần học thành cái “ vốn ”, cái “ tài sản ” của bản thân. Học tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các em được tăng cường hơn. Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được khơi dậy, phát triển và coi trọng. Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực

                1.3. Tác dụng của dạy học tích cực

                Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn. Dạy học phát huy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của người học. Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ vai trò chủ động hơn. Người học không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin. Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội thông tin, để giúp đỡ nhau trong học tập. Dạy học phát huy tính tích cực không chỉ giúp người học lĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và phát triển những kỷ năng học tập của mình, hình thành và phát triển cách học. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nâng cao hiệu quả

                và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể làm cho học sinh:

                – Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu kiến thức

                – Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình.

                – Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể

                – Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau.

                CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

                2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B

                Lớp 1B có 21 học sinh, trong đó có 10 em HS nữ, 11 em HS nam đều nằm trong độ tuổi sinh năm 2010

                Sau 1 học kì, các cán bộ lớp luôn được thay đổi nhằm phát huy mọi năng lực chinh bản thân mỗi em. Bên cạnh đó sơ đồ vị trí lớp học luôn được thay đổi sau mỗi mỗi kì nhằm hạn chế các tật về mắt.

                Các em học tập chăm chỉ, đạo đức tốt, sức khoẻ bình thường, ít em nghỉ học

                * Thuận lợi: Đa số các em đều chăm ngoan, biết vâng lờ thầy cô, cha mẹ. Có ý thức học tập và lao động tốt, Biết giữ gìn vệ sinh cá nhâ, vệ sinh trường lớp sạch sẽ. Học sinh cùng độ tuổi sinh năm 2010 nên giáo viên thuận lợi trong việc quản lí và giáo dục học sinh. Đa số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em mình,các em được chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ khi đến lớp. Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, các phòng học đều có điện quạt, phục vụ cho việc dạy và học, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ.

                * Khó khăn: Nhiều học sinh ở khá xa điểm trường, đường sá đi lại khó khăn, nhiều sông suối, rừng núi nên ảnh hưởng nhiều đến việc đến trường, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, nhiều học sinh phải nghỉ học. Một số em gia đình có hoàn cảnh khó khăn,con thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, con đông, ăn uống còn thiếu thốn nên không đảm bảo sức khỏe cho việc học tập ngày 2 buổi.Các em học sinh ở lứa tuối nhỏ, còn hiếu động, ham chơi hơn ham học, chưa có ý thức đầy đủ về học tập nên giáo viên rất vất vả, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn để sinh hoạt học tập đúng theo nội qui nhà trường, còn một số ít cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình nên việc truyền thụ kiến thức cho các em còn gặp khó khăn, trình độ học sinh không đồng đều.

                2.2 Thực trạng của vấn đề

                – Do vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh quá nghèo nàn. Học sinh không hiểu được yêu cầu của giáo viên trong giờ học.                       . – Do đồ dùng dạy học, sách giáo khoa còn thiếu nên ảnh hưởng tới sự tích cực của học sinh.                                                   . – Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh tìm tòi tiếp nhận tri thức chưa để HS chú trọng trong học tập. – GV chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động của HS. – GV chưa sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh.

                CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

                3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1:

                Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ tức là phải có năng lực sư phạm.

                Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là những đặc điểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả, năng lực sư phạm gồm:

                – Năng lực khoa học

                – Năng lực hiểu học sinh

                – Năng lực ngôn ngữ

                – Năng lực tổ chức

                – Năng lực phân phối chú ý

                – Năng lực trình bày bài giảng

                – Óc tưởng tượng sư phạm

                Ngoài ra giáo viên muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh thì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp. Hiện nay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung môn học, từng đối tượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong học tập, cụ thể là:

                Phương pháp thuyết minh.    9. Phương pháp trò chơi học tập.

                Phương pháp đàm thoại. 10. Phương pháp quan sát.

                Phương pháp hỏi đáp. 12. Phương pháp nêu vấn đề.

                Phương pháp tìm tòi.  13. Phương pháp giải quyết vấn đề.

                Phương pháp kể chuyện.  14. Phương pháp khảo sát điều tra.

                Phương pháp động não.     15. Phương pháp thực hành luyện tập.

                Phương pháp đóng vai.      16. Phương pháp lập luận đề án.

                    Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh. Đồng thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc, hình thức dạy học cá nhân rất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập, ngoài ra còn có một số hình thức khác như: Làm bài tập trong sách, làm các trò chơi, tiến hành các thí nghiệm, sự thể hiện tài năng, các hoạt động độc lập như: Sưu tầm tranh ảnh, thu tập tài liệu, khảo sát thực tế nơi mình ở.

                    Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, đồng thời học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và học được công tác tổ chức, điều khiển.

                Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:

                – Tìm hiểu, điều tra về một vấn đề thực tế, hay trao đổi chung quanh một đề tài.

                – Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.

                – Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.

                – Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập.

                – Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.

                Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy học lấy GV làm trung tâm. Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, để xuất hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.

                Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho học sinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tai nghe…Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể. Mặt khác, bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau.

                Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông, hồ, thác nước…

                Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với bài học HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.

                Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa tuổi. Đặc biệt là những em ở lứa tuôi tiểu học nói riêng và học sinh lớp 1 nói chung. Trò chơi giúp các em phát triển. Bên cạnh đó sẽ thúc đẩy quá trình nhận thức của các em có hiệu quả. Vì vậy tổ chức trò chơi chú ý những đặc tính: Vui – Khoẻ – An toàn – Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư giản…được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.

                Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

                + Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học.

                + Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

                Quan trọng hơn vẫn là sau mỗi trò chơi học sinh càng ham thích hoạt động, tự tin ở bản thân, mạnh dạn khẳng định bản thân.Bên cạnh đó, tinh thần đồng đội, đoàn kết, sự quan tâm giữa những thành viên trong lớp

                Tóm lại: Đổi mới PPDH cũng như đổi mới hình thức tổ chức dạy học, mục đích chính là nhằm vào đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh trong học tập, tập trung vào các vấn đề sau:

                – Dạy học hướng tập trung vào học sinh: Phương pháp này làm cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo và linh hoạt trong học tập.

                – Dạy học nêu vấn đề: Là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở học sinh nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới.

                – Tăng cường tính tích cực, tư duy của học sinh khi giáo viên trình bày kiến thức bằng lời; phương pháp này sẽ củng cố hứng thú học tập của học sinh, nâng cao tính ham hiểu biết và tò mò trong quá trình thông hiểu các vấn đề nghiên cứu.

                – Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học. Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng ẩn sau các hình thức và những biểu hiện bề ngoài, kích thích ham hiểu biết của học sinh.

                – Cải tiến công tác tự học: Công tác tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và tiếp thu kiến thức mới, không phải vô cớ mà trong giáo dục học coi trọng sự nghiên cứu của cơ sở lí luận dạy học của việc tổ chức công tác tự học của học sinh.

                – Ngoài 4 nội dung trên, thái độ ngôn ngữ truyền đạt, tình cảm quan hệ giữa giáo viên (GV) và HS cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Do đó đòi hỏi người GV phải là người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.

                3.2.Tổ chức thực hiện:

                3.2.1. Đối với việc học ở nhà:

                – Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể.

                – Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các em cho phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết hợp với cha mẹ học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.

                – Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt,  những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường xuyên giữa gia  đình và giáo viên chủ nhiệm.

                – Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau).

                3.2.2. Đối với việc học ở lớp:

                – Mượn thư viện của trường: Sách, đồ dùng học tập cho những học sinh còn thiếu.

                – Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức giáo viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.

                – Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị đồ dùng học tập của các em thông qua tổ trưởng, lớp trưởng.

                – Có hình thức nhắc nhở, khen thưởng cụ thể, kịp thời và hợp lí. Động viên, khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em lười học và không chú ý trong giờ học.

                – Câu hỏi kiểm tra ngắn gọn, sát nội dung bài học và phù hợp với ba đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình để học sinh nắm bài được tốt.

                – Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và thi đua giữa các tổ, nhóm hoặc giữa các cá nhân…

                – Thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực cụ thể từng môn.

                3.2.3. Đối với môn toán:

                – Khi đến lớp: GV sử dụng nhiều phương pháp như: Trực quan, đàm thoại, thuyết trình, thực hành. Bởi vì học sinh tiểu học, tư duy của các em là trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do đó, GV phải sử dụng triệt để các dồ dùng dạy học (ĐDDH). Bên cạnh đó GV nên dành nhiều thời gian cho HS thực hành nhằm phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo của các em. Sau mỗi dạng bài chúng ta nên cho HS chốt kiến thức bài đó.

                – Tạo hứng thú cho các em bằng cách: Tổ chức thi giải toán nhanh; đố vui để học hoặc trò chơi học tập; thi điền đúng điền nhanh kết quả giữa các cá nhân, giữa các tổ, nhóm… Sau đó cho học sinh cả lớp nhận xét, đánh giá, GV bổ sung và tuyên dương, khen thưởng, khuyến khích tinh thần cố gắn học tập để các em lần sau thêm tự tin.

                * VD: Toán : Bài phép trừ trong phạm vi 4

                Khi hướng dẫn hs thực hiện phép trừ trong phạm vi 4, để giúp hs dễ dàng hình dung ra thế nào là trừ( trừ là lấy đi, mất đi , cho đi) thì gv phải sử dụng hình ảnh trực quan: tranh ảnh hoặc thao tác trên vật thật để hs dễ dàng

                hình dung.

                Hình 1: Phép trừ trong phạm vi 4

                Bài 1: Tính

                4 – 1 =                4 – 2 =             3 + 1 =                1 + 2 =

                3 – 1 =                3 – 2 =             4 – 3 =                 3 – 1 =

                2 – 1 =              4 – 3 =                4 – 1 =                 3 – 2 =

                Bài này GV có thể tổ chức cho HS hoạt động nhóm 4, mỗi nhóm thực hiện một cột, nhóm trưởng hướng dẫn các thành viên trong nhóm thực hiện

                Hình 2 : Hoạt động nhóm

                Cuối bài, để củng cố lại bảng trừ trong phạm vi 4, giáo viên có thể tổ chức cho HS tham gia trò chơi tiếp sức. Tổ chức thành 2 đội, mỗi đội 5 hoặc 4 HS. Sau khi GV ra hiệu lệnh từng thành viên các đội tuyền tay nhau tìm kết quả . Đội nào tìm nhanh, đúng được nhiều kết quả đội đó chiến thắng

                Hình 3: Trò chơi học tập” Tiếp sức”

                 3.2.4. Đối với môn Tiếng việt:

                – Khi hướng dẫn học sinh trả lời bài cũ: Yêu cầu học sinh đọc bài và trả lời câu hỏi ngắn gọn, đúng nội dung và đảm bảo kiến thức trọng tâm, mức độ hoàn thành từ 50% trở lên.

                – Khi hướng dẫn HS học bài mới ở nhà, GV yêu cầu:

                + Đối với phân môn Tập đọc: Yêu cầu HS đọc bài trước, tìm hiểu kĩ cách đọc, tập đọc diễn cảm và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa.

                + Đối với phân môn Chính tả: Yêu cầu học sinh đọc trước bài cần viết, tập chép bài đó vào vở ở nhà.

                Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì  giúp các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng cố kiến thức cho các em.Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu gương, thi đua giữa các cá nhân, giữa các nhóm, tổ… qua các trò chơi học tập…

                * VD: Học âm /gi/ – Tiếng việt CGD lớp 1

                Trong bài học vần này GV có thể sử dụng một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực cho HS như sau:

                Việc 0: Tiến hành bình thường

                Việc 1: Trong phần tìm tiếng mới bằng cách cho HS thay thanh, thay phụ âm đầu trong mô hình:

                GV có thể tổ chức trò chơi”Bắn tên” hoặc trò chơi” Xì điện” để HS tìm ra được nhiều tiếng mới vừa tạo không khí lớp học sôi nổi hơn, vừa rèn cho HS kĩ năng điều hành hoạt động học tập trong lớp

                Hình thức trò chơi” Bắn tên” như sau:

                Gọi 1 HS lên điều hành trò chơi, Khi HS này hô bắn tên, bắn tên cả lớp hô đồng thanh tên gì tên gì, khi đó người điều hành sẽ chỉ tên 1 bạn trong lớp, bạn đó sẽ phải đọc lên tiếng mới mà mình vừa tìm được. Ai không nêu được tiếng mới hoặc nêu sai là người thua cuộc.

                Hình 4: Trò chơi” Bắn tên”

                * DV: Dạy viết chữ  /gi/:  GV có thể sử dụng phương pháp trực quan, cho HS quan sát chữ gi in thường và gi viết thường trên tranh theo mẫu chữ viết của Bộ Giáo dục, yêu cầu HS nhận xét độ cao độ rộng chữ, so sánh chữ gi in thường và gi viết thường, chữ gi viết thường có nét giống con chữ nào đã học Sau đó GV viết mẫu, hướng dẫn HS cách viết

                Như vậy cùng một lúc GV đã rèn cho HS hình thành các kĩ năng (nghe,nhìn, tổng hợp, so sánh) từ đó các em ghi nhớ lâu hơn, cụ thể hơn.

                CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN

                Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung và lớp 1A tôi đang nghiên cứu nói riêng, với PPDH mới kết hợp với hình thức tổ chức  dạy học mới (Dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngoài trời, tham quan, trò chơi học tập..) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo.Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp . Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng, DH theo hướng đổi mới sẽ huy động được năng lực, nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy rằng người GV không chỉ cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình.

                * Kết quả khảo sát học kì I

                Đánh giáđịnh kì Điểm 9- 10  Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6  Điểm dưới 5

                SL TL SL TL SL TL SL TL

                Tiếng việt 13 62% 7 33% 1 5%

                Toán 17 81% 4 19%

                Đánh giáthường xuyên Hoàn thành tốt(T) Hoàn thành(H) Chưa hoàn thành(C)

                SL TL SL TL SL TL

                Tiếng việt 13 62% 8 38%    

                Toán 17 81% 4 19%    

                Đạo đức 15 71% 6 29%    

                Âm nhạc 10 48% 11 52%    

                Mĩ thuật 9 42% 12 58%    

                Thủ công 12 58% 9 42%    

                Thể dục 14 67% 7 33%    

                PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

                KẾT LUẬN

                Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là những giờ thực tập giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ ích.

                Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước. Đòi hỏi người GV phải nổ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

                Về công tác giảng dạy:

                Muốn nâng cao hiệu quả và học tập hứng thú trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học, hệ thống câu hỏi:

                – Thâm nhập kĩ giáo án, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .

                – Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.

                – Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiểu quả.

                – Sử dụng tốt các câu chuyển ý, chuyển đoạn, tạo ra sự liên kết chặt chẽ, lôgic

                của bài dạy.

                – Sử dụng tối đa ĐDDH và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng môn học.

                – GV phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội.

                – GV cần tạo điều kiện để HS tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức.

                Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi ngay từ bây giờ tôi xác định rằng muốn trở thành một người GV thực sự thì trước hết phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, lòng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.

                Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, GV cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: ĐDDH, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng đẫn HS cho hiểu nội dung bài một cách dễ dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của HS khá, giỏi.

                  Về công tác chủ nhiệm:

                  GV chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức lãnh đạo, điều hành, kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử trong phạm vi lớp mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách của HS. Với vai trò, vị trí như vậy GV chủ nhiệm còn là cầu nối liền giữa nhà trường với đời sống xã hội.

                  Để trở thành người GVCN giỏi thì ngoài những công việc trên, người GV phải rèn cho mình những năng lực sau:

                  – Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh.

                  – Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.

                  – Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy,nề nếp của trường, lớp.

                  – Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong và

                  ngoài nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục học sinh.

                  Thông thường trẻ ở Tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.

                  KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

                  Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:

                  – Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.

                  – Nên  duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.

                  2.Đối với nhà trường:

                  – Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.

                  – Có thêm nhiều sách tham khảo.

                  – Trường phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên nghỉ học hay bỏ học.

                    Đối với địa phương, gia đình:

                    – Gia đình phải chú trọng  quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.

                    – Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.

                    – Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.

                    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

                    Phạm Minh Hạc (1996), Tâm lí học, NXB. Giáo dục

                    Nguyễn Đức Hoành (2006), Chuyên đề : Một số Phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học

                    Nguyển Sinh Huy (1997), Giáo dục học, NXB.Giáo dục

                    Luật giáo dục (NXB Chính trị Quốc Gia-1998)

                    5. Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (Bộ GDSX năm 2005)

                     

                    MỤC LỤC

                    DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT. 1

                    III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3

                    V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4

                    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.. 6

                    1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?. 6

                    1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. 7

                    1.3. Tác dụng của dạy học tích cực. 7

                    CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 9

                    2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B.. 9

                    2.2 Thực trạng của vấn đề. 9

                    CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.. 11

                    3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1: 11

                    3.2.Tổ chức thực hiện: 15

                    3.2.1. Đối với việc học ở nhà: 15

                    3.2.2. Đối với việc học ở lớp: 15

                    3.2.3. Đối với môn toán: 16

                    3.2.4. Đối với môn Tiếng việt: 18

                    CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN.. 21

                    PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 22

                    TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25

                    DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

                    – GV: Giáo viên

                    – HS: Học sinh

                    – PPDH: Phương pháp dạy học

                    – GD: Giáo dục

                    – GDTH: Giáo dục tiểu học

                    – DĐH: Đồ dùng dạy học

                    – GVCN: Giáo viên chủ nhiệm

                    PHẦN MỞ ĐẦU

                    LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

                    Với từng nhịp đập của thời chúng tôi người, vạn vật không ngừng thay đổi và phát triển để tồn tại. Đặc biệt là con người, muốn vươn lên làm bá chủ vạn vật thì bản thân phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm, tích lũy để phát triển. Cội nguồn của mọi sự phát triển đó chính là sự phát triển của Giáo dục(GD)

                    Giáo dục chính là nền tảng phát triển của con người, thậm chí là tương lai của một đất nước. Để có một nền tảng giáo dục tốt cần phải có những người thầy giỏi, tận tâm, tận lực với nghề để đưa những chuyến đò tri thức cập bến.

                    Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước. Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để phát triển mọi mặt sau này.

                    Nền tảng nhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản( nghe, nói, đọc, viết, và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộc đời con người. Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhất như cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng sáng tạo. Như vậy Giáo dục Tiểu học là nền tảng cho sự hình thành và phát triển toàn diện của con người.Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định. Vì thế làm tốt GDTH là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

                    Xác định được tầm quan trọng của GD như vậy thì GD nước nhà không thể dậm chân tại chổ theo lối dạy học truyền thụ một chiều,không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều, biết rộng mà chỉ cho trẻ cách hành động, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, đây mới là phương châm của nền GD mới.Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết sử dụng và kết hợp một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học, biết lựa chọn các hình thức tổ chức  phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Song để đi đến thành công GD đòi hỏi mọi người phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của mình. Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa mang tính nghệ thuật.. chúng tôi Men Xi đã viết “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn”. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim” để làm bài báo cáo thu hoạch của mình.

                    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

                    Để đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu đòi hỏi đi đầu trong công cuộc đổi mới đó chính là GD. giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học tập của các em ở trường, chúng tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít. Chính vì vậy báo cáo này bước đầu đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1.

                    III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

                    1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp1.

                    2.Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh lớp 1.

                    3.Đề xuất biện pháp và xây dựng kế hoạch nhằm phát huy tính tích cực , tự giác của học sinh tại trường.

                    ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

                    Đối tượng nghiên cứu:

                    Các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

                      Khách thể nghiên cứu:

                      Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 21 em học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

                      V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

                      Phương pháp quan sát:

                      Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt… Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.

                        Phương pháp thực nghiệm:

                        Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

                          Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

                          Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót và

                          những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình đạt chất lượng cao.

                            Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:

                            Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đề xuất.

                              Phương pháp đàm thoại:

                              Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò chuyện với một số phụ huynh học sinh. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết quả tốt nhất.

                                Phương pháp thống kê, tính toán:

                                Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước như thế nào?

                                  Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

                                  Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữa trong quá trình nghiên cứu.

                                  PHẦN NỘI DUNG

                                  CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

                                  1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?

                                  Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình. Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, toàn bộ các tác động giáo dục của nhà trường sẻ không có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò. Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng học sinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục.

                                  Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập, người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu để vận dụng vào kết quả học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hoàn thành. Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên phải có trình độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, vốn kinh nghiệm của học sinh. Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý, sự quan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

                                  Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hổ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chổ nhưng không làm thay. Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối xữ thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xữ nhưng luôn có thái độ chân thành. Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hổ trợ, đề cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của học sinh, gây dựng lòng tin ở học sinh và bản thân. Trong môi trường giáo dục, cần có sự thông hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên cơ sở tình cảm đạo đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng. Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng có tác dụng cảm hoá, thuyết phục cao trong công tác giáo dục.

                                  1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

                                  Quá trình dạy học gồm hai hoạt động hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thúc đúng đắn.Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứ không phải là người day, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau. Như vậy mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Do đó cần thật sự coi trọng việc hình thành, phát triển những kỷ năng tự học và có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng.

                                      Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những kiến thức, kỷ năng, kỷ xão, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình. Vì vậy trong khi dạy học cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thụ các kiến thức, kỷ năng…biết biến những cái đó thành kiến thức, kỷ năng của mình. Nói cách khác là biết điều cần học thành cái “ vốn ”, cái “ tài sản ” của bản thân. Học tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các em được tăng cường hơn. Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được khơi dậy, phát triển và coi trọng. Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực

                                  1.3. Tác dụng của dạy học tích cực

                                  Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn. Dạy học phát huy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của người học. Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ vai trò chủ động hơn. Người học không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin. Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội thông tin, để giúp đỡ nhau trong học tập. Dạy học phát huy tính tích cực không chỉ giúp người học lĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và phát triển những kỷ năng học tập của mình, hình thành và phát triển cách học. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nâng cao hiệu quả

                                  và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể làm cho học sinh:

                                  – Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu kiến thức

                                  – Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình.

                                  – Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể

                                  – Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau.

                                  CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

                                  2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B

                                  Lớp 1B có 21 học sinh, trong đó có 10 em HS nữ, 11 em HS nam đều nằm trong độ tuổi sinh năm 2010

                                  Sau 1 học kì, các cán bộ lớp luôn được thay đổi nhằm phát huy mọi năng lực chinh bản thân mỗi em. Bên cạnh đó sơ đồ vị trí lớp học luôn được thay đổi sau mỗi mỗi kì nhằm hạn chế các tật về mắt.

                                  Các em học tập chăm chỉ, đạo đức tốt, sức khoẻ bình thường, ít em nghỉ học

                                  * Thuận lợi: Đa số các em đều chăm ngoan, biết vâng lờ thầy cô, cha mẹ. Có ý thức học tập và lao động tốt, Biết giữ gìn vệ sinh cá nhâ, vệ sinh trường lớp sạch sẽ. Học sinh cùng độ tuổi sinh năm 2010 nên giáo viên thuận lợi trong việc quản lí và giáo dục học sinh. Đa số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em mình,các em được chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ khi đến lớp. Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, các phòng học đều có điện quạt, phục vụ cho việc dạy và học, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ.

                                  * Khó khăn: Nhiều học sinh ở khá xa điểm trường, đường sá đi lại khó khăn, nhiều sông suối, rừng núi nên ảnh hưởng nhiều đến việc đến trường, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, nhiều học sinh phải nghỉ học. Một số em gia đình có hoàn cảnh khó khăn,con thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, con đông, ăn uống còn thiếu thốn nên không đảm bảo sức khỏe cho việc học tập ngày 2 buổi.Các em học sinh ở lứa tuối nhỏ, còn hiếu động, ham chơi hơn ham học, chưa có ý thức đầy đủ về học tập nên giáo viên rất vất vả, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn để sinh hoạt học tập đúng theo nội qui nhà trường, còn một số ít cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình nên việc truyền thụ kiến thức cho các em còn gặp khó khăn, trình độ học sinh không đồng đều.

                                  2.2 Thực trạng của vấn đề

                                  – Do vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh quá nghèo nàn. Học sinh không hiểu được yêu cầu của giáo viên trong giờ học.                       . – Do đồ dùng dạy học, sách giáo khoa còn thiếu nên ảnh hưởng tới sự tích cực của học sinh.                                                   . – Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh tìm tòi tiếp nhận tri thức chưa để HS chú trọng trong học tập. – GV chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động của HS. – GV chưa sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh.

                                  CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

                                  3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1:

                                  Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ tức là phải có năng lực sư phạm.

                                  Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là những đặc điểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả, năng lực sư phạm gồm:

                                  – Năng lực khoa học

                                  – Năng lực hiểu học sinh

                                  – Năng lực ngôn ngữ

                                  – Năng lực tổ chức

                                  – Năng lực phân phối chú ý

                                  – Năng lực trình bày bài giảng

                                  – Óc tưởng tượng sư phạm

                                  Ngoài ra giáo viên muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh thì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp. Hiện nay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung môn học, từng đối tượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong học tập, cụ thể là:

                                  Phương pháp thuyết minh.    9. Phương pháp trò chơi học tập.

                                  Phương pháp đàm thoại. 10. Phương pháp quan sát.

                                  Phương pháp hỏi đáp. 12. Phương pháp nêu vấn đề.

                                  Phương pháp tìm tòi.  13. Phương pháp giải quyết vấn đề.

                                  Phương pháp kể chuyện.  14. Phương pháp khảo sát điều tra.

                                  Phương pháp động não.     15. Phương pháp thực hành luyện tập.

                                  Phương pháp đóng vai.      16. Phương pháp lập luận đề án.

                                      Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh. Đồng thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc, hình thức dạy học cá nhân rất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập, ngoài ra còn có một số hình thức khác như: Làm bài tập trong sách, làm các trò chơi, tiến hành các thí nghiệm, sự thể hiện tài năng, các hoạt động độc lập như: Sưu tầm tranh ảnh, thu tập tài liệu, khảo sát thực tế nơi mình ở.

                                      Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, đồng thời học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và học được công tác tổ chức, điều khiển.

                                  Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:

                                  – Tìm hiểu, điều tra về một vấn đề thực tế, hay trao đổi chung quanh một đề tài.

                                  – Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.

                                  – Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.

                                  – Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập.

                                  – Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.

                                  Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy học lấy GV làm trung tâm. Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, để xuất hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.

                                  Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho học sinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tai nghe…Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể. Mặt khác, bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau.

                                  Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông, hồ, thác nước…

                                  Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với bài học HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.

                                  Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa tuổi. Đặc biệt là những em ở lứa tuôi tiểu học nói riêng và học sinh lớp 1 nói chung. Trò chơi giúp các em phát triển. Bên cạnh đó sẽ thúc đẩy quá trình nhận thức của các em có hiệu quả. Vì vậy tổ chức trò chơi chú ý những đặc tính: Vui – Khoẻ – An toàn – Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư giản…được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.

                                  Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

                                  + Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học.

                                  + Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

                                  Quan trọng hơn vẫn là sau mỗi trò chơi học sinh càng ham thích hoạt động, tự tin ở bản thân, mạnh dạn khẳng định bản thân.Bên cạnh đó, tinh thần đồng đội, đoàn kết, sự quan tâm giữa những thành viên trong lớp

                                  Tóm lại: Đổi mới PPDH cũng như đổi mới hình thức tổ chức dạy học, mục đích chính là nhằm vào đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh trong học tập, tập trung vào các vấn đề sau:

                                  – Dạy học hướng tập trung vào học sinh: Phương pháp này làm cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo và linh hoạt trong học tập.

                                  – Dạy học nêu vấn đề: Là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở học sinh nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới.

                                  – Tăng cường tính tích cực, tư duy của học sinh khi giáo viên trình bày kiến thức bằng lời; phương pháp này sẽ củng cố hứng thú học tập của học sinh, nâng cao tính ham hiểu biết và tò mò trong quá trình thông hiểu các vấn đề nghiên cứu.

                                  – Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học. Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng ẩn sau các hình thức và những biểu hiện bề ngoài, kích thích ham hiểu biết của học sinh.

                                  – Cải tiến công tác tự học: Công tác tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và tiếp thu kiến thức mới, không phải vô cớ mà trong giáo dục học coi trọng sự nghiên cứu của cơ sở lí luận dạy học của việc tổ chức công tác tự học của học sinh.

                                  – Ngoài 4 nội dung trên, thái độ ngôn ngữ truyền đạt, tình cảm quan hệ giữa giáo viên (GV) và HS cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Do đó đòi hỏi người GV phải là người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.

                                  3.2.Tổ chức thực hiện:

                                  3.2.1. Đối với việc học ở nhà:

                                  – Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể.

                                  – Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các em cho phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết hợp với cha mẹ học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.

                                  – Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt,  những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường xuyên giữa gia  đình và giáo viên chủ nhiệm.

                                  – Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau).

                                  3.2.2. Đối với việc học ở lớp:

                                  – Mượn thư viện của trường: Sách, đồ dùng học tập cho những học sinh còn thiếu.

                                  – Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức giáo viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.

                                  – Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị đồ dùng học tập của các em thông qua tổ trưởng, lớp trưởng.

                                  – Có hình thức nhắc nhở, khen thưởng cụ thể, kịp thời và hợp lí. Động viên, khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em lười học và không chú ý trong giờ học.

                                  – Câu hỏi kiểm tra ngắn gọn, sát nội dung bài học và phù hợp với ba đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình để học sinh nắm bài được tốt.

                                  – Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và thi đua giữa các tổ, nhóm hoặc giữa các cá nhân…

                                  – Thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực cụ thể từng môn.

                                  3.2.3. Đối với môn toán:

                                  – Khi đến lớp: GV sử dụng nhiều phương pháp như: Trực quan, đàm thoại, thuyết trình, thực hành. Bởi vì học sinh tiểu học, tư duy của các em là trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do đó, GV phải sử dụng triệt để các dồ dùng dạy học (ĐDDH). Bên cạnh đó GV nên dành nhiều thời gian cho HS thực hành nhằm phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo của các em. Sau mỗi dạng bài chúng ta nên cho HS chốt kiến thức bài đó.

                                  – Tạo hứng thú cho các em bằng cách: Tổ chức thi giải toán nhanh; đố vui để học hoặc trò chơi học tập; thi điền đúng điền nhanh kết quả giữa các cá nhân, giữa các tổ, nhóm… Sau đó cho học sinh cả lớp nhận xét, đánh giá, GV bổ sung và tuyên dương, khen thưởng, khuyến khích tinh thần cố gắn học tập để các em lần sau thêm tự tin.

                                  * VD: Toán : Bài phép trừ trong phạm vi 4

                                  Khi hướng dẫn hs thực hiện phép trừ trong phạm vi 4, để giúp hs dễ dàng hình dung ra thế nào là trừ( trừ là lấy đi, mất đi , cho đi) thì gv phải sử dụng hình ảnh trực quan: tranh ảnh hoặc thao tác trên vật thật để hs dễ dàng

                                  hình dung.

                                  Hình 1: Phép trừ trong phạm vi 4

                                  Bài 1: Tính

                                  4 – 1 =                4 – 2 =             3 + 1 =                1 + 2 =

                                  3 – 1 =                3 – 2 =             4 – 3 =                 3 – 1 =

                                  2 – 1 =              4 – 3 =                4 – 1 =                 3 – 2 =

                                  Bài này GV có thể tổ chức cho HS hoạt động nhóm 4, mỗi nhóm thực hiện một cột, nhóm trưởng hướng dẫn các thành viên trong nhóm thực hiện

                                  Hình 2 : Hoạt động nhóm

                                  Cuối bài, để củng cố lại bảng trừ trong phạm vi 4, giáo viên có thể tổ chức cho HS tham gia trò chơi tiếp sức. Tổ chức thành 2 đội, mỗi đội 5 hoặc 4 HS. Sau khi GV ra hiệu lệnh từng thành viên các đội tuyền tay nhau tìm kết quả . Đội nào tìm nhanh, đúng được nhiều kết quả đội đó chiến thắng

                                  Hình 3: Trò chơi học tập” Tiếp sức”

                                   3.2.4. Đối với môn Tiếng việt:

                                  – Khi hướng dẫn học sinh trả lời bài cũ: Yêu cầu học sinh đọc bài và trả lời câu hỏi ngắn gọn, đúng nội dung và đảm bảo kiến thức trọng tâm, mức độ hoàn thành từ 50% trở lên.

                                  – Khi hướng dẫn HS học bài mới ở nhà, GV yêu cầu:

                                  + Đối với phân môn Tập đọc: Yêu cầu HS đọc bài trước, tìm hiểu kĩ cách đọc, tập đọc diễn cảm và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa.

                                  + Đối với phân môn Chính tả: Yêu cầu học sinh đọc trước bài cần viết, tập chép bài đó vào vở ở nhà.

                                  Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì  giúp các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng cố kiến thức cho các em.Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu gương, thi đua giữa các cá nhân, giữa các nhóm, tổ… qua các trò chơi học tập…

                                  * VD: Học âm /gi/ – Tiếng việt CGD lớp 1

                                  Trong bài học vần này GV có thể sử dụng một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực cho HS như sau:

                                  Việc 0: Tiến hành bình thường

                                  Việc 1: Trong phần tìm tiếng mới bằng cách cho HS thay thanh, thay phụ âm đầu trong mô hình:

                                  GV có thể tổ chức trò chơi”Bắn tên” hoặc trò chơi” Xì điện” để HS tìm ra được nhiều tiếng mới vừa tạo không khí lớp học sôi nổi hơn, vừa rèn cho HS kĩ năng điều hành hoạt động học tập trong lớp

                                  Hình thức trò chơi” Bắn tên” như sau:

                                  Gọi 1 HS lên điều hành trò chơi, Khi HS này hô bắn tên, bắn tên cả lớp hô đồng thanh tên gì tên gì, khi đó người điều hành sẽ chỉ tên 1 bạn trong lớp, bạn đó sẽ phải đọc lên tiếng mới mà mình vừa tìm được. Ai không nêu được tiếng mới hoặc nêu sai là người thua cuộc.

                                  Hình 4: Trò chơi” Bắn tên”

                                  * DV: Dạy viết chữ  /gi/:  GV có thể sử dụng phương pháp trực quan, cho HS quan sát chữ gi in thường và gi viết thường trên tranh theo mẫu chữ viết của Bộ Giáo dục, yêu cầu HS nhận xét độ cao độ rộng chữ, so sánh chữ gi in thường và gi viết thường, chữ gi viết thường có nét giống con chữ nào đã học Sau đó GV viết mẫu, hướng dẫn HS cách viết

                                  Như vậy cùng một lúc GV đã rèn cho HS hình thành các kĩ năng (nghe,nhìn, tổng hợp, so sánh) từ đó các em ghi nhớ lâu hơn, cụ thể hơn.

                                  CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN

                                  Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung và lớp 1A tôi đang nghiên cứu nói riêng, với PPDH mới kết hợp với hình thức tổ chức  dạy học mới (Dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngoài trời, tham quan, trò chơi học tập..) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo.Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp . Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng, DH theo hướng đổi mới sẽ huy động được năng lực, nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy rằng người GV không chỉ cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình.

                                  * Kết quả khảo sát học kì I

                                  Đánh giáđịnh kì Điểm 9- 10  Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6  Điểm dưới 5

                                  SL TL SL TL SL TL SL TL

                                  Tiếng việt 13 62% 7 33% 1 5%

                                  Toán 17 81% 4 19%

                                  Đánh giáthường xuyên Hoàn thành tốt(T) Hoàn thành(H) Chưa hoàn thành(C)

                                  SL TL SL TL SL TL

                                  Tiếng việt 13 62% 8 38%    

                                  Toán 17 81% 4 19%    

                                  Đạo đức 15 71% 6 29%    

                                  Âm nhạc 10 48% 11 52%    

                                  Mĩ thuật 9 42% 12 58%    

                                  Thủ công 12 58% 9 42%    

                                  Thể dục 14 67% 7 33%    

                                  PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

                                  KẾT LUẬN

                                  Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là những giờ thực tập giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ ích.

                                  Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước. Đòi hỏi người GV phải nổ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

                                  Về công tác giảng dạy:

                                  Muốn nâng cao hiệu quả và học tập hứng thú trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học, hệ thống câu hỏi:

                                  – Thâm nhập kĩ giáo án, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .

                                  – Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.

                                  – Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiểu quả.

                                  – Sử dụng tốt các câu chuyển ý, chuyển đoạn, tạo ra sự liên kết chặt chẽ, lôgic

                                  của bài dạy.

                                  – Sử dụng tối đa ĐDDH và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng môn học.

                                  – GV phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội.

                                  – GV cần tạo điều kiện để HS tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức.

                                  Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi ngay từ bây giờ tôi xác định rằng muốn trở thành một người GV thực sự thì trước hết phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, lòng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.

                                  Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, GV cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: ĐDDH, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng đẫn HS cho hiểu nội dung bài một cách dễ dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của HS khá, giỏi.

                                    Về công tác chủ nhiệm:

                                    GV chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức lãnh đạo, điều hành, kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử trong phạm vi lớp mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách của HS. Với vai trò, vị trí như vậy GV chủ nhiệm còn là cầu nối liền giữa nhà trường với đời sống xã hội.

                                    Để trở thành người GVCN giỏi thì ngoài những công việc trên, người GV phải rèn cho mình những năng lực sau:

                                    – Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh.

                                    – Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.

                                    – Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy,nề nếp của trường, lớp.

                                    – Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong và

                                    ngoài nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục học sinh.

                                    Thông thường trẻ ở Tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.

                                    KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

                                    Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:

                                    – Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.

                                    – Nên  duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.

                                    2.Đối với nhà trường:

                                    – Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.

                                    – Có thêm nhiều sách tham khảo.

                                    – Trường phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên nghỉ học hay bỏ học.

                                      Đối với địa phương, gia đình:

                                      – Gia đình phải chú trọng  quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.

                                      – Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.

                                      – Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.

                                      TÀI LIỆU THAM KHẢO:

                                      Phạm Minh Hạc (1996), Tâm lí học, NXB. Giáo dục

                                      Nguyễn Đức Hoành (2006), Chuyên đề : Một số Phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học

                                      Nguyển Sinh Huy (1997), Giáo dục học, NXB.Giáo dục

                                      Luật giáo dục (NXB Chính trị Quốc Gia-1998)

                                      5. Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (Bộ GDSX năm 2005)

                                       

                                      MỤC LỤC

                                      DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT. 1

                                      III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3

                                      V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4

                                      CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.. 6

                                      1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?. 6

                                      1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. 7

                                      1.3. Tác dụng của dạy học tích cực. 7

                                      CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 9

                                      2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B.. 9

                                      2.2 Thực trạng của vấn đề. 9

                                      CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.. 11

                                      3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1: 11

                                      3.2.Tổ chức thực hiện: 15

                                      3.2.1. Đối với việc học ở nhà: 15

                                      3.2.2. Đối với việc học ở lớp: 15

                                      3.2.3. Đối với môn toán: 16

                                      3.2.4. Đối với môn Tiếng việt: 18

                                      CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN.. 21

                                      PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 22

                                      TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25

                                      DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

                                      – GV: Giáo viên

                                      – HS: Học sinh

                                      – PPDH: Phương pháp dạy học

                                      – GD: Giáo dục

                                      – GDTH: Giáo dục tiểu học

                                      – DĐH: Đồ dùng dạy học

                                      – GVCN: Giáo viên chủ nhiệm

                                      PHẦN MỞ ĐẦU

                                      LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

                                      Với từng nhịp đập của thời chúng tôi người, vạn vật không ngừng thay đổi và phát triển để tồn tại. Đặc biệt là con người, muốn vươn lên làm bá chủ vạn vật thì bản thân phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm, tích lũy để phát triển. Cội nguồn của mọi sự phát triển đó chính là sự phát triển của Giáo dục(GD)

                                      Giáo dục chính là nền tảng phát triển của con người, thậm chí là tương lai của một đất nước. Để có một nền tảng giáo dục tốt cần phải có những người thầy giỏi, tận tâm, tận lực với nghề để đưa những chuyến đò tri thức cập bến.

                                      Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước. Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để phát triển mọi mặt sau này.

                                      Nền tảng nhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản( nghe, nói, đọc, viết, và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộc đời con người. Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhất như cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng sáng tạo. Như vậy Giáo dục Tiểu học là nền tảng cho sự hình thành và phát triển toàn diện của con người.Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định. Vì thế làm tốt GDTH là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

                                      Xác định được tầm quan trọng của GD như vậy thì GD nước nhà không thể dậm chân tại chổ theo lối dạy học truyền thụ một chiều,không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều, biết rộng mà chỉ cho trẻ cách hành động, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, đây mới là phương châm của nền GD mới.Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết sử dụng và kết hợp một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học, biết lựa chọn các hình thức tổ chức  phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Song để đi đến thành công GD đòi hỏi mọi người phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của mình. Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa mang tính nghệ thuật.. chúng tôi Men Xi đã viết “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn”. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim” để làm bài báo cáo thu hoạch của mình.

                                      MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

                                      Để đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu đòi hỏi đi đầu trong công cuộc đổi mới đó chính là GD. giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học tập của các em ở trường, chúng tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít. Chính vì vậy báo cáo này bước đầu đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1.

                                      III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

                                      1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp1.

                                      2.Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh lớp 1.

                                      3.Đề xuất biện pháp và xây dựng kế hoạch nhằm phát huy tính tích cực , tự giác của học sinh tại trường.

                                      ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

                                      Đối tượng nghiên cứu:

                                      Các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

                                        Khách thể nghiên cứu:

                                        Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 21 em học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

                                        V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

                                        Phương pháp quan sát:

                                        Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt… Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.

                                          Phương pháp thực nghiệm:

                                          Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

                                            Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

                                            Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót và

                                            những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình đạt chất lượng cao.

                                              Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:

                                              Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đề xuất.

                                                Phương pháp đàm thoại:

                                                Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò chuyện với một số phụ huynh học sinh. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết quả tốt nhất.

                                                  Phương pháp thống kê, tính toán:

                                                  Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước như thế nào?

                                                    Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

                                                    Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữa trong quá trình nghiên cứu.

                                                    PHẦN NỘI DUNG

                                                    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

                                                    1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?

                                                    Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình. Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, toàn bộ các tác động giáo dục của nhà trường sẻ không có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò. Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng học sinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục.

                                                    Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập, người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu để vận dụng vào kết quả học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hoàn thành. Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên phải có trình độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, vốn kinh nghiệm của học sinh. Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý, sự quan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

                                                    Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hổ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chổ nhưng không làm thay. Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối xữ thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xữ nhưng luôn có thái độ chân thành. Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hổ trợ, đề cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của học sinh, gây dựng lòng tin ở học sinh và bản thân. Trong môi trường giáo dục, cần có sự thông hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên cơ sở tình cảm đạo đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng. Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng có tác dụng cảm hoá, thuyết phục cao trong công tác giáo dục.

                                                    1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

                                                    Quá trình dạy học gồm hai hoạt động hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thúc đúng đắn.Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứ không phải là người day, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau. Như vậy mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Do đó cần thật sự coi trọng việc hình thành, phát triển những kỷ năng tự học và có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng.

                                                        Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những kiến thức, kỷ năng, kỷ xão, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình. Vì vậy trong khi dạy học cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thụ các kiến thức, kỷ năng…biết biến những cái đó thành kiến thức, kỷ năng của mình. Nói cách khác là biết điều cần học thành cái “ vốn ”, cái “ tài sản ” của bản thân. Học tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các em được tăng cường hơn. Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được khơi dậy, phát triển và coi trọng. Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực

                                                    1.3. Tác dụng của dạy học tích cực

                                                    Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn. Dạy học phát huy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của người học. Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ vai trò chủ động hơn. Người học không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin. Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội thông tin, để giúp đỡ nhau trong học tập. Dạy học phát huy tính tích cực không chỉ giúp người học lĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và phát triển những kỷ năng học tập của mình, hình thành và phát triển cách học. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nâng cao hiệu quả

                                                    và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể làm cho học sinh:

                                                    – Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu kiến thức

                                                    – Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình.

                                                    – Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể

                                                    – Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau.

                                                    CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

                                                    2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B

                                                    Lớp 1B có 21 học sinh, trong đó có 10 em HS nữ, 11 em HS nam đều nằm trong độ tuổi sinh năm 2010

                                                    Sau 1 học kì, các cán bộ lớp luôn được thay đổi nhằm phát huy mọi năng lực chinh bản thân mỗi em. Bên cạnh đó sơ đồ vị trí lớp học luôn được thay đổi sau mỗi mỗi kì nhằm hạn chế các tật về mắt.

                                                    Các em học tập chăm chỉ, đạo đức tốt, sức khoẻ bình thường, ít em nghỉ học

                                                    * Thuận lợi: Đa số các em đều chăm ngoan, biết vâng lờ thầy cô, cha mẹ. Có ý thức học tập và lao động tốt, Biết giữ gìn vệ sinh cá nhâ, vệ sinh trường lớp sạch sẽ. Học sinh cùng độ tuổi sinh năm 2010 nên giáo viên thuận lợi trong việc quản lí và giáo dục học sinh. Đa số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em mình,các em được chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ khi đến lớp. Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, các phòng học đều có điện quạt, phục vụ cho việc dạy và học, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ.

                                                    * Khó khăn: Nhiều học sinh ở khá xa điểm trường, đường sá đi lại khó khăn, nhiều sông suối, rừng núi nên ảnh hưởng nhiều đến việc đến trường, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, nhiều học sinh phải nghỉ học. Một số em gia đình có hoàn cảnh khó khăn,con thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, con đông, ăn uống còn thiếu thốn nên không đảm bảo sức khỏe cho việc học tập ngày 2 buổi.Các em học sinh ở lứa tuối nhỏ, còn hiếu động, ham chơi hơn ham học, chưa có ý thức đầy đủ về học tập nên giáo viên rất vất vả, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn để sinh hoạt học tập đúng theo nội qui nhà trường, còn một số ít cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình nên việc truyền thụ kiến thức cho các em còn gặp khó khăn, trình độ học sinh không đồng đều.

                                                    2.2 Thực trạng của vấn đề

                                                    – Do vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh quá nghèo nàn. Học sinh không hiểu được yêu cầu của giáo viên trong giờ học.                       . – Do đồ dùng dạy học, sách giáo khoa còn thiếu nên ảnh hưởng tới sự tích cực của học sinh.                                                   . – Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh tìm tòi tiếp nhận tri thức chưa để HS chú trọng trong học tập. – GV chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động của HS. – GV chưa sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh.

                                                    CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

                                                    3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1:

                                                    Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ tức là phải có năng lực sư phạm.

                                                    Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là những đặc điểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả, năng lực sư phạm gồm:

                                                    – Năng lực khoa học

                                                    – Năng lực hiểu học sinh

                                                    – Năng lực ngôn ngữ

                                                    – Năng lực tổ chức

                                                    – Năng lực phân phối chú ý

                                                    – Năng lực trình bày bài giảng

                                                    – Óc tưởng tượng sư phạm

                                                    Ngoài ra giáo viên muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh thì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp. Hiện nay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung môn học, từng đối tượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong học tập, cụ thể là:

                                                    Phương pháp thuyết minh.    9. Phương pháp trò chơi học tập.

                                                    Phương pháp đàm thoại. 10. Phương pháp quan sát.

                                                    Phương pháp hỏi đáp. 12. Phương pháp nêu vấn đề.

                                                    Phương pháp tìm tòi.  13. Phương pháp giải quyết vấn đề.

                                                    Phương pháp kể chuyện.  14. Phương pháp khảo sát điều tra.

                                                    Phương pháp động não.     15. Phương pháp thực hành luyện tập.

                                                    Phương pháp đóng vai.      16. Phương pháp lập luận đề án.

                                                        Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh. Đồng thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc, hình thức dạy học cá nhân rất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập, ngoài ra còn có một số hình thức khác như: Làm bài tập trong sách, làm các trò chơi, tiến hành các thí nghiệm, sự thể hiện tài năng, các hoạt động độc lập như: Sưu tầm tranh ảnh, thu tập tài liệu, khảo sát thực tế nơi mình ở.

                                                        Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, đồng thời học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và học được công tác tổ chức, điều khiển.

                                                    Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:

                                                    – Tìm hiểu, điều tra về một vấn đề thực tế, hay trao đổi chung quanh một đề tài.

                                                    – Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.

                                                    – Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.

                                                    – Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập.

                                                    – Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.

                                                    Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy học lấy GV làm trung tâm. Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, để xuất hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.

                                                    Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho học sinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tai nghe…Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể. Mặt khác, bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau.

                                                    Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông, hồ, thác nước…

                                                    Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với bài học HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.

                                                    Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa tuổi. Đặc biệt là những em ở lứa tuôi tiểu học nói riêng và học sinh lớp 1 nói chung. Trò chơi giúp các em phát triển. Bên cạnh đó sẽ thúc đẩy quá trình nhận thức của các em có hiệu quả. Vì vậy tổ chức trò chơi chú ý những đặc tính: Vui – Khoẻ – An toàn – Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư giản…được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.

                                                    Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

                                                    + Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học.

                                                    + Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

                                                    Quan trọng hơn vẫn là sau mỗi trò chơi học sinh càng ham thích hoạt động, tự tin ở bản thân, mạnh dạn khẳng định bản thân.Bên cạnh đó, tinh thần đồng đội, đoàn kết, sự quan tâm giữa những thành viên trong lớp

                                                    Tóm lại: Đổi mới PPDH cũng như đổi mới hình thức tổ chức dạy học, mục đích chính là nhằm vào đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh trong học tập, tập trung vào các vấn đề sau:

                                                    – Dạy học hướng tập trung vào học sinh: Phương pháp này làm cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo và linh hoạt trong học tập.

                                                    – Dạy học nêu vấn đề: Là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở học sinh nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới.

                                                    – Tăng cường tính tích cực, tư duy của học sinh khi giáo viên trình bày kiến thức bằng lời; phương pháp này sẽ củng cố hứng thú học tập của học sinh, nâng cao tính ham hiểu biết và tò mò trong quá trình thông hiểu các vấn đề nghiên cứu.

                                                    – Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học. Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng ẩn sau các hình thức và những biểu hiện bề ngoài, kích thích ham hiểu biết của học sinh.

                                                    – Cải tiến công tác tự học: Công tác tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và tiếp thu kiến thức mới, không phải vô cớ mà trong giáo dục học coi trọng sự nghiên cứu của cơ sở lí luận dạy học của việc tổ chức công tác tự học của học sinh.

                                                    – Ngoài 4 nội dung trên, thái độ ngôn ngữ truyền đạt, tình cảm quan hệ giữa giáo viên (GV) và HS cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Do đó đòi hỏi người GV phải là người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.

                                                    3.2.Tổ chức thực hiện:

                                                    3.2.1. Đối với việc học ở nhà:

                                                    – Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể.

                                                    – Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các em cho phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết hợp với cha mẹ học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.

                                                    – Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt,  những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường xuyên giữa gia  đình và giáo viên chủ nhiệm.

                                                    – Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau).

                                                    3.2.2. Đối với việc học ở lớp:

                                                    – Mượn thư viện của trường: Sách, đồ dùng học tập cho những học sinh còn thiếu.

                                                    – Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức giáo viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.

                                                    – Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị đồ dùng học tập của các em thông qua tổ trưởng, lớp trưởng.

                                                    – Có hình thức nhắc nhở, khen thưởng cụ thể, kịp thời và hợp lí. Động viên, khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em lười học và không chú ý trong giờ học.

                                                    – Câu hỏi kiểm tra ngắn gọn, sát nội dung bài học và phù hợp với ba đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình để học sinh nắm bài được tốt.

                                                    – Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và thi đua giữa các tổ, nhóm hoặc giữa các cá nhân…

                                                    – Thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực cụ thể từng môn.

                                                    3.2.3. Đối với môn toán:

                                                    – Khi đến lớp: GV sử dụng nhiều phương pháp như: Trực quan, đàm thoại, thuyết trình, thực hành. Bởi vì học sinh tiểu học, tư duy của các em là trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do đó, GV phải sử dụng triệt để các dồ dùng dạy học (ĐDDH). Bên cạnh đó GV nên dành nhiều thời gian cho HS thực hành nhằm phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo của các em. Sau mỗi dạng bài chúng ta nên cho HS chốt kiến thức bài đó.

                                                    – Tạo hứng thú cho các em bằng cách: Tổ chức thi giải toán nhanh; đố vui để học hoặc trò chơi học tập; thi điền đúng điền nhanh kết quả giữa các cá nhân, giữa các tổ, nhóm… Sau đó cho học sinh cả lớp nhận xét, đánh giá, GV bổ sung và tuyên dương, khen thưởng, khuyến khích tinh thần cố gắn học tập để các em lần sau thêm tự tin.

                                                    * VD: Toán : Bài phép trừ trong phạm vi 4

                                                    Khi hướng dẫn hs thực hiện phép trừ trong phạm vi 4, để giúp hs dễ dàng hình dung ra thế nào là trừ( trừ là lấy đi, mất đi , cho đi) thì gv phải sử dụng hình ảnh trực quan: tranh ảnh hoặc thao tác trên vật thật để hs dễ dàng

                                                    hình dung.

                                                    Hình 1: Phép trừ trong phạm vi 4

                                                    Bài 1: Tính

                                                    4 – 1 =                4 – 2 =             3 + 1 =                1 + 2 =

                                                    3 – 1 =                3 – 2 =             4 – 3 =                 3 – 1 =

                                                    2 – 1 =              4 – 3 =                4 – 1 =                 3 – 2 =

                                                    Bài này GV có thể tổ chức cho HS hoạt động nhóm 4, mỗi nhóm thực hiện một cột, nhóm trưởng hướng dẫn các thành viên trong nhóm thực hiện

                                                    Hình 2 : Hoạt động nhóm

                                                    Cuối bài, để củng cố lại bảng trừ trong phạm vi 4, giáo viên có thể tổ chức cho HS tham gia trò chơi tiếp sức. Tổ chức thành 2 đội, mỗi đội 5 hoặc 4 HS. Sau khi GV ra hiệu lệnh từng thành viên các đội tuyền tay nhau tìm kết quả . Đội nào tìm nhanh, đúng được nhiều kết quả đội đó chiến thắng

                                                    Hình 3: Trò chơi học tập” Tiếp sức”

                                                     3.2.4. Đối với môn Tiếng việt:

                                                    – Khi hướng dẫn học sinh trả lời bài cũ: Yêu cầu học sinh đọc bài và trả lời câu hỏi ngắn gọn, đúng nội dung và đảm bảo kiến thức trọng tâm, mức độ hoàn thành từ 50% trở lên.

                                                    – Khi hướng dẫn HS học bài mới ở nhà, GV yêu cầu:

                                                    + Đối với phân môn Tập đọc: Yêu cầu HS đọc bài trước, tìm hiểu kĩ cách đọc, tập đọc diễn cảm và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa.

                                                    + Đối với phân môn Chính tả: Yêu cầu học sinh đọc trước bài cần viết, tập chép bài đó vào vở ở nhà.

                                                    Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì  giúp các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng cố kiến thức cho các em.Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu gương, thi đua giữa các cá nhân, giữa các nhóm, tổ… qua các trò chơi học tập…

                                                    * VD: Học âm /gi/ – Tiếng việt CGD lớp 1

                                                    Trong bài học vần này GV có thể sử dụng một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực cho HS như sau:

                                                    Việc 0: Tiến hành bình thường

                                                    Việc 1: Trong phần tìm tiếng mới bằng cách cho HS thay thanh, thay phụ âm đầu trong mô hình:

                                                    GV có thể tổ chức trò chơi”Bắn tên” hoặc trò chơi” Xì điện” để HS tìm ra được nhiều tiếng mới vừa tạo không khí lớp học sôi nổi hơn, vừa rèn cho HS kĩ năng điều hành hoạt động học tập trong lớp

                                                    Hình thức trò chơi” Bắn tên” như sau:

                                                    Gọi 1 HS lên điều hành trò chơi, Khi HS này hô bắn tên, bắn tên cả lớp hô đồng thanh tên gì tên gì, khi đó người điều hành sẽ chỉ tên 1 bạn trong lớp, bạn đó sẽ phải đọc lên tiếng mới mà mình vừa tìm được. Ai không nêu được tiếng mới hoặc nêu sai là người thua cuộc.

                                                    Hình 4: Trò chơi” Bắn tên”

                                                    * DV: Dạy viết chữ  /gi/:  GV có thể sử dụng phương pháp trực quan, cho HS quan sát chữ gi in thường và gi viết thường trên tranh theo mẫu chữ viết của Bộ Giáo dục, yêu cầu HS nhận xét độ cao độ rộng chữ, so sánh chữ gi in thường và gi viết thường, chữ gi viết thường có nét giống con chữ nào đã học Sau đó GV viết mẫu, hướng dẫn HS cách viết

                                                    Như vậy cùng một lúc GV đã rèn cho HS hình thành các kĩ năng (nghe,nhìn, tổng hợp, so sánh) từ đó các em ghi nhớ lâu hơn, cụ thể hơn.

                                                    CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN

                                                    Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung và lớp 1A tôi đang nghiên cứu nói riêng, với PPDH mới kết hợp với hình thức tổ chức  dạy học mới (Dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngoài trời, tham quan, trò chơi học tập..) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo.Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp . Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng, DH theo hướng đổi mới sẽ huy động được năng lực, nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy rằng người GV không chỉ cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình.

                                                    * Kết quả khảo sát học kì I

                                                    Đánh giáđịnh kì Điểm 9- 10  Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6  Điểm dưới 5

                                                    SL TL SL TL SL TL SL TL

                                                    Tiếng việt 13 62% 7 33% 1 5%

                                                    Toán 17 81% 4 19%

                                                    Đánh giáthường xuyên Hoàn thành tốt(T) Hoàn thành(H) Chưa hoàn thành(C)

                                                    SL TL SL TL SL TL

                                                    Tiếng việt 13 62% 8 38%    

                                                    Toán 17 81% 4 19%    

                                                    Đạo đức 15 71% 6 29%    

                                                    Âm nhạc 10 48% 11 52%    

                                                    Mĩ thuật 9 42% 12 58%    

                                                    Thủ công 12 58% 9 42%    

                                                    Thể dục 14 67% 7 33%    

                                                    PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

                                                    KẾT LUẬN

                                                    Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là những giờ thực tập giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ ích.

                                                    Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước. Đòi hỏi người GV phải nổ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

                                                    Về công tác giảng dạy:

                                                    Muốn nâng cao hiệu quả và học tập hứng thú trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học, hệ thống câu hỏi:

                                                    – Thâm nhập kĩ giáo án, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .

                                                    – Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.

                                                    – Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiểu quả.

                                                    – Sử dụng tốt các câu chuyển ý, chuyển đoạn, tạo ra sự liên kết chặt chẽ, lôgic

                                                    của bài dạy.

                                                    – Sử dụng tối đa ĐDDH và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng môn học.

                                                    – GV phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội.

                                                    – GV cần tạo điều kiện để HS tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức.

                                                    Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi ngay từ bây giờ tôi xác định rằng muốn trở thành một người GV thực sự thì trước hết phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, lòng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.

                                                    Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, GV cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: ĐDDH, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng đẫn HS cho hiểu nội dung bài một cách dễ dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của HS khá, giỏi.

                                                      Về công tác chủ nhiệm:

                                                      GV chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức lãnh đạo, điều hành, kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử trong phạm vi lớp mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách của HS. Với vai trò, vị trí như vậy GV chủ nhiệm còn là cầu nối liền giữa nhà trường với đời sống xã hội.

                                                      Để trở thành người GVCN giỏi thì ngoài những công việc trên, người GV phải rèn cho mình những năng lực sau:

                                                      – Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh.

                                                      – Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.

                                                      – Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy,nề nếp của trường, lớp.

                                                      – Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong và

                                                      ngoài nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục học sinh.

                                                      Thông thường trẻ ở Tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.

                                                      KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

                                                      Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:

                                                      – Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.

                                                      – Nên  duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.

                                                      2.Đối với nhà trường:

                                                      – Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.

                                                      – Có thêm nhiều sách tham khảo.

                                                      – Trường phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên nghỉ học hay bỏ học.

                                                        Đối với địa phương, gia đình:

                                                        – Gia đình phải chú trọng  quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.

                                                        – Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.

                                                        – Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.

                                                        TÀI LIỆU THAM KHẢO:

                                                        Phạm Minh Hạc (1996), Tâm lí học, NXB. Giáo dục

                                                        Nguyễn Đức Hoành (2006), Chuyên đề : Một số Phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học

                                                        Nguyển Sinh Huy (1997), Giáo dục học, NXB.Giáo dục

                                                        Luật giáo dục (NXB Chính trị Quốc Gia-1998)

                                                        5. Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (Bộ GDSX năm 2005)

                                                         

                                                        MỤC LỤC

                                                        DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT. 1

                                                        III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3

                                                        V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4

                                                        CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.. 6

                                                        1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?. 6

                                                        1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. 7

                                                        1.3. Tác dụng của dạy học tích cực. 7

                                                        CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 9

                                                        2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B.. 9

                                                        2.2 Thực trạng của vấn đề. 9

                                                        CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.. 11

                                                        3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1: 11

                                                        3.2.Tổ chức thực hiện: 15

                                                        3.2.1. Đối với việc học ở nhà: 15

                                                        3.2.2. Đối với việc học ở lớp: 15

                                                        3.2.3. Đối với môn toán: 16

                                                        3.2.4. Đối với môn Tiếng việt: 18

                                                        CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN.. 21

                                                        PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 22

                                                        TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25

                                                        Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Học Sinh Trong Lớp Học / 2023

                                                        MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC HỌC SINH TRONG LỚP HỌC

                                                        MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍCH CỰC HỌC SINH TRONG LỚP HỌC

                                                        Giáo dục kỷ luật tích cực: Là các biện pháp kỹ thuật không mang tính bạo lực, tôn trọng học sinh, cung cấp cho học sinh những thông tin biết để không vi phạm, chấp hành và ý thức tự giác. Giúp cho các em sự tự tin khi đến trường học và rèn luyện. Giáo dục kỷ luật tích cực (GDKLTC) là phương pháp giáo dục đạo đức giúp học sinh tiến bộ hơn trên cơ sở học sinh tự tìm, tự nhận ra và tự sửa chữa những khuyết điểm của mình.

                                                        Học sinh phát huy được tính tích cực

                                                        Phát triển ưu điểm của mỗi cá nhân

                                                        Giáo dục học sinh bằng tình thương, ý thức trách nhiệm và sự công bằng

                                                        MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC ÁP DỤNG TRONG LỚP HỌC

                                                        Có nhiều biện pháp giáo dục kỷ luật học sinh được áp dụng trong lớp học. Có thể chia thành các nhóm biện pháp chính:

                                                        NHÓM 1: Thay đổi cách cư xử trong lớp

                                                        NHÓM 2: Quan tâm đến những khó khăn của HS

                                                        NHÓM 3: Tăng cường sự tham gia của HS

                                                        NHÓM 4: Tổ chức các hoạt động xây dựng tập thể lớp.

                                                        Nhóm biện pháp: Thay đổi cách cư xử trong lớp học

                                                        Thay đổi cách cư xử trong lớp học phải dựa trên cơ sở động viên, khuyến khích, nêu gương, tìm hiểu nhằm thúc đẩy Có nhiều biện pháp giáo dục kỷ luật có thể áp dụng được trong lớp học. Có thể chia thành các nhóm biện pháp học sinh có hành vi, thái độ cư xử đúng đắn.

                                                        a. Xây dựng những quy tắc rõ ràng và nhất quán

                                                        b. Khuyến khích, động viên tích cực

                                                        + Việc khuyến khích, động viên tích cực có thể thực hiện dưới nhiều hình thức: 1 nụ cười, 1 lời khen, động viên trước lớp; tặng phiếu khen; thư khen gửi về gia đình, cá nhân…

                                                        + Việc khen thưởng, động viên có hiệu quả nhất khi HS có hành vi tốt được hưởng một số quyền lợi, còn những HS mắc lỗi nhiều lần bị tước bỏ quyền hưởng quyền lợi đó.

                                                        + Những quyền lợi phải là những điều HS thích và trân trọng.

                                                        + Cần khen thưởng động viên từng tiến bộ nhỏ nhất của HS

                                                        c. Áp dụng những hình thức phạt phù hợp, công bằng và nhất quán

                                                        + Khi phạt, GV cần nói rõ sai phạm của HS với thái độ khoan dung, nhân ái, độ lượng và bình tĩnh.

                                                        + Các biện pháp xử phạt phải giúp HS biết rằng thái độ/hành vi của các em là sai.

                                                        + Tuyệt đối không sử dụng hình phạt mang tính TPTT.

                                                        + Các hình phạt phải phù hợp với mức độ vi phạm

                                                        + Tránh gây căng thẳng, đối đầu với HS.

                                                        + Áp dụng hình thức xử phạt một cách công bằng.

                                                        + Không phạt HS vì những lỗi do những nguyên nhân khách quan.

                                                        + Không phạt HS vì những quy định chưa được thỏa thuận trước

                                                        d. Làm gương trong cách cư xử

                                                        + Dựa trên cơ sở động viên, khuyến khích, nêu gương, tìm hiểu… nhằm thúc đẩy học sinh có thái độ cư xử, hành vi đúng.

                                                        + Hình thức: Phiếu khen, ghi lời nhận xét tốt về bạn, hộp thư vui,công nhận và khuyến khích các đặc điểm tốt…

                                                        + Ngoài việc giáo viên khen ngợi học sinh, phải lưu ý khuyến khích những đối tượng khác như Cha mẹ, thầy cô khác, người thân, bạn bè, …của học sinh cùng hợp tác

                                                        Nhóm biện pháp “Quan tâm đến hoàn cảnh của học sinh”

                                                        – Việc tìm hiểu những khác biệt trong hoàn cảnh, khó khăn trong cuộc sống, học tập và những khó khăn về mặt tâm lí sẽ giúp giáo viên hiểu và tìm ra biện pháp giáo dục thích hợp

                                                        – Những hành vi tiêu cực/mắc lỗi của HS thường do những khó khăn mà HS gặp phải trong cuộc sống gây ra, tác động đến hành vi của HS.

                                                        Khó khăn của HS có thể bao gồm những khó khăn trong học tập, những vấn đề trong gia đình, những bức xúc mà HS gặp phải khi bị đối xử tàn tệ, bị tổn thương tâm lý, bị hiểu lầm,…

                                                        – Việc tìm hiểu những trở ngại trong học tập và những khó khăn về mặt tâm lý của HS sẽ giúp GV không cần phải dùng đến trừng phạt thân thể mà vẫn giáo dục HS có hiệu quả.

                                                        Để tìm hiểu nguyên nhân và giúp đỡ HS giải quyết khó khăn, GV cần lưu ý một số điểm sau:

                                                        + Tránh đối đầu với HS, nhất là trước mặt những người khác

                                                        + Lắng nghe trẻ nói và đặt mình vào vị trí của HS

                                                        + Cần tránh “lên lớp” hoặc “chỉ trích” HS trước khi tìm hiểu nguyên nhân. Cố gắng giúp HS tìm ra giải pháp phù hợp với các em.

                                                        (tặng học bổng cho học sinh nghèo vượt khó trong học tập vào khai giảng năm học mới)

                                                        (tặng xe đạp cho học sinh nghèo đạt thành tích cao trong học tập)

                                                        NHÓM BIỆN PHÁP “TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA HS”

                                                        Biện pháp xây dựng nội quy lớp học.

                                                        GV thông báo cho HS nội dung chính của năm học

                                                        Các nhóm chia sẻ ý kiến. GV và cả lớp xem xét tìm ra những ý kiến chung của tất cả HS.

                                                        Quy định chế độ thưởng và xử phạt.

                                                        Viết và trang trí nội quy lớp bằng chữ in lớn.

                                                        Xây dựng cam kết

                                                        Ban hành nội quy, thông báo/dán công khai ở nơi HS luôn nhìn thấy với hình thức hấp dẫn

                                                        Thông báo đến phụ huynh HS để cùng giám sát việc thực hiện

                                                        HS được tham gia là HS được cung cấp thông tin, được bày tỏ ý kiến, ý kiến của các em được lắng nghe và tôn trọng.

                                                        Sự tham gia của HS trong việc xây dựng nội quy lớp học là cần thiết vì:

                                                        Giúp HS hiểu, tôn trọng và thực hiện tốt nội quy do chính các em đề ra.

                                                        Giúp HS rèn KN giao tiếp, bày tỏ ý kiến và tham gia quá trình ra quyết định.

                                                        Phát huy tinh thần tập thể, nâng cao tinh thần trách nhiệm của HS.

                                                        Nhóm biện pháp xây dựng tập thể lớp học thân thiện, gắn bó.

                                                        Tập thể lớp thân thiện là tập thể lớp có môi trường lớp học thân thiện, tôn trọng, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm, biết cách giải quyết xung đột không bằng bạo lực.

                                                        Vai trò của GV: Định hướng, dẫn dắt, giải quyết tốt mối quan hệ trong lớp, xây dựng môi trường lớp học thân thiện, lắng nghe và tôn trọng ý kiến HS; là tấm gương sáng cho HS noi theo.

                                                        Vai trò HS: Tự giác xây dựng và thực hiện nội quy; thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau; có trách nhiệm với hành vi của mình; biết cách giải quyết các xung đột, có ý thức hợp tác nhóm; biết chia sẻ, giúp đỡ bạn bè; biết thực hiện quyền và bổn phận của mình.

                                                        Người biên tập

                                                        Phương Pháp Dạy Môn Tin Học Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực Của Học Sinh Trường Thpt Võ Văn Kiệt / 2023

                                                        CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP DẠY MÔN TIN HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT VÕ VĂN KIỆT

                                                        I/ Mục tiêu: Khi nói đến Tin học thì ai cũng liên tưởng đến chiếc máy tính điện tử, là công cụ mà con người tạo ra để lưu trữ, xử lý và truyền tải thông tin. Vì vậy việc dạy và học Tin học nói chung cần phải có các trang thiết bị, đồ dùng dạy học của nhà trường, điều kiện của địa phương. Dạy học Tin học thường gồm có hai phần: Lý thuyết và thực hành, cả hai được kết hợp song song với nhau trong quá trình dạy học, phần lý thuyết Tin học là rất mới đối với đa số học sinh. Vì vậy trong một tiết học lý thuyết Tin học thường rất khô khan, có thể nói, sự cung cấp kiến thức thường diễn ra một chiều, bỡi vì : Đây là một môn học mới, khó học, có nhiều khái niệm trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên ngành, ngôn ngữ tiếng Anh, vì vậy học sinh khó hiểu, khó hình dung, còn xa lạ với nhiều học sinh mà nhất là chương trình tin học lớp 11 (học lập trình) tiếp cận với nhiều từ chuyên ngành do đó trong tiết học lý thuyết Tin học rất dễ bị nhàm chán, những học sinh theo không kịp không thể tự tìm cho mình kiến thức. Vì vậy tiết học thực hành ít có hiệu quả, giờ thực hành không khỏi còn nhiều lộn xộn, xảy ra tình trạng học sinh ngại tiếp cận, thậm chí có những học sinh nhút nhát bị bạn dành máy, mặc cảm nên rất ít chụi thực hành. Như vậy để khắc phục được hạn chế nêu trên, trước hết giáo viên cần phải có một phương pháp dạy học thật tốt, một phương thức tổ chức dạy học giờ thực hành sao cho thích hợp và có hiệu quả 1

                                                        nhất. Phương pháp dạy học của giáo viên có vai trò rất quan trọng, nó sẽ là công cụ giúp học sinh hứng thú học tập hơn. Hơn nữa, trong xu thế xã hội ngày càng phát triển, sự đổi mới của đất nước, nền giáo dục cũng có những thay đổi căn bản cả về nội dung lẫn phương pháp dạy học và ngày càng hội nhập sâu vào sự tiến bộ chung của các nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy việc vận dụng các phương pháp dạy học tiến bộ, tích cực trong tất cả các môn học nói chung cũng như trong giảng dạy môn Tin học nói riêng cũng là phù hợp với xu thế chung của nền giáo dục hiện đại theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của môn học. II/ Nhiệm vụ : Tin học là một môn học mang tính khoa học và công nghệ, tốc độ phát triển và thay đổi rất nhanh, diễn ra hàng ngày, hàng giờ và thậm chí hàng giây. Vì vậy khi giảng dạy, giáo viên nên hướng cho học sinh ý thức tự học, tự tìm tòi nghiên cứu, học thông qua nhiều nguồn khác nhau, đổi mới phương pháp trong giảng dạy, sử dụng các phương tiện dạy học mới như học qua mạng, soạn giáo án điện tử, kiểm tra trắc nghiệm trên máy, sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, máy chiếu projector… để phát huy được tính tích cực, tự giác học tập của học sinh. Tóm lại: Từ những thực trạng nêu trên muốn nâng cao chất lượng giáo dục, theo kịp với nền giáo dục hiện đại giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học sao cho có hiệu quả nhất khắc phục được những hạn chế nêu trên. III/ Phương pháp nghiên cứu:

                                                        2

                                                        Học sinh ở lứa tuổi THPT rất cá biệt và thích khẳng định mình do đó đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải tìm hiểu rõ tâm, sinh lý lứa tuổi để có một phương pháp giáo dục phù hợp, gây được ấn tượng để học sinh thích học và học tốt môn mình dạy. Vì vậy để đạt được điều đó thì phương pháp dạy học của người giáo viên có vai trò rất quan trọng, dạy học không nên áp đặt, bắt học sinh phải làm cái này hay phải thuộc cái kia, mà quan trọng hơn là phải tác động đến tâm lý của học sinh, làm sao cho các em cảm thấy hứng thú, thích học tập và tự giác học tập. Như vậy nắm được đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh là điều kiện rất quan trọng để chúng tôi đưa ra một phương pháp dạy học phù hợp nhất, phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với môn học và điều kiện thực tế sẽ góp phần nâng cao chất lượng trong giảng dạy môn Tin học trong nhà trường mà bản thân tôi đã thực hiện. IV/ Nội dung và biện pháp thực hiện: 1/ Thực trạng của vấn đề đặt ra và sự cần thiết để tiến hành thực hiện chuyên đề a) Thực trạng chung Đây là một môn học mới, khó học, dạy học Tin học thường gồm có hai phần: Lý thuyết và thực hành, cả hai được kết hợp song song với nhau trong quá trình dạy học, phần lý thuyết Tin học là rất mới đối với đa số học sinh. Vì vậy trong một tiết học lý thuyết Tin học thường rất khô khan, có thể nói, sự cung cấp kiến thức thường diễn ra một chiều, bỡi vì : Đây là một môn học mới, khó học, 3

                                                        có nhiều khái niệm trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên ngành, ngôn ngữ tiếng Anh, vì vậy học sinh khó hiểu, khó hình dung, còn xa lạ với với các em mà nhất là chương trình tin học lớp 11 (học lập trình) tiếp cận với nhiều từ chuyên ngành do đó trong tiết học lý thuyết Tin học rất dễ bị nhàm chán, những học sinh theo không kịp không thể tự tìm cho mình kiến thức. Vì vậy tiết học thực hành ít có hiệu quả, giờ thực hành không khỏi còn nhiều lộn xộn, xảy ra tình trạng học sinh ngại tiếp cận, thậm chí có những học sinh nhúc nhát bị bạn dành máy, mặc cảm nên rất ít chụi thực hành. Như vậy để khắc phục được hạn chế nêu trên, trước hết giáo viên cần phải có một phương pháp dạy học thật tốt, một phương thức tổ chức dạy kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sao cho thích hợp và có hiệu quả nhất. 2/ Cách giải quyết vấn đề * Phương pháp dạy học theo nghĩa rộng Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là con đường để đạt mục đích. Dấu hiệu bản chất của phương pháp là tính hướng đích, phương pháp gắn liền với hoạt động, với các hệ thống, các chỉ dẫn. Theo đó, Phương pháp dạy học (PPDH) là con đường để đạt mục đích dạy học. PPDH là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể. Cách thức và hình thức không tách rời nhau một cách độc lập.

                                                        4

                                                        đề và chỉ dẫn các công cụ để giải quyết vấn đề. Giáo viên là người tư vấn và cùng tổ chức quá trình học tập. Việc dạy được tiến hành với ý nghĩa gợi ý, hỗ trợ và tư vấn cho người học. Tính lặp lại các phương pháp dạy đã sử dụng bị hạn chế. Quá trình học là đối tượng đánh giá nhiều hơn là kết quả học tập. Học sinh cần được tham gia vào quá trình đánh giá. Phương pháp dạy học trong giảng dạy Tin học dựa trên lý thuyết hành động nhận thức, lý thuyết hoạt động. Bỡi vì trong quá trình nhận thức cần có sự kết hợp giữa tư duy và hành động, giữa lý thuyết và thực hành, từ đó học sinh lĩnh hội được kiến thức bằng các hành động cụ thể. Vì vậy phương pháp dạy học mà chúng tôi giảng dạy môn Tin học có các đặc điểm sau: a- Người học là chủ thể của hoạt động dạy học, học trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực. Người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỉ năng, hình thành thái độ chứ không phải là nhân vật bị động hoàn toàn theo lệnh của thầy giáo. Thầy giáo đóng vai trò chủ đạo điều khiển, định hướng quá trình hoạt động của học sinh. Học sinh thông qua những hoạt động cụ thể để định hướng thành động cơ, kiến tạo tri thức mới cho mình. Chẳng hạn khi dạy một nội dung lý thuyết Tin học người giáo viên cần đưa ra một hệ thống rất nhiều câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu bao giờ cũng nêu ra những câu hỏi rất dễ để lôi cuốn, phát huy tính tích cực hoạt động đến tất cả các đối tượng học sinh mà nhất là những học sinh yếu kém, giáo viên cần ưu tiên, khuyến khích các đối tượng này. Sau đó đưa ra các câu hỏi khó dần để tất cả học sinh tham gia ý kiến và tự hình thành tri thức mới, giáo viên góp ý, nhận xét để học sinh xác nhận lại kiến thức mới đó. 7

                                                        b- Dạy học lý thuyết kết hợp với thực hành Phương pháp dạy học lý thuyết kết hợp với thực hành có thể nói là mới đối với các môn học khác, nhưng với môn Tin học thì phương pháp này là không thể thiếu khi dạy bất kì một nội dung Tin học nào. Đây là một phương pháp dạy học chủ đạo trong quá trình dạy học Tin học. Bỡi vì: học sinh học rất nhiều môn, Thực tế trong nhà trường môn Tin học bị xem như là một môn học phụ, lượng kiến thức cho học sinh học bị dồn nén. Do dó: nếu học lý thuyết chung chung học sinh rất mau quên. Kiến thức Tin học là những nội dung tương đối mới mẻ, xa lạ và có nhiều khái nệm rất trừu tượng đối với nhiều học sinh. Hơn nữa kiến thức Tin học đòi hỏi rất nhiều kỹ năng sử dụng máy tính nhanh chóng và chính xác. Chẳng hạn khi dạy nội dung tạo bảng nếu yêu cầu học sinh trình bày cách tạo bảng bằng lời lẽ thì đây là một yêu cầu rất khó ngay cả đối với học sinh giỏi. Còn nếu yêu cầu học sinh lên máy tính thực hiện và trình bày thì có rất nhiều học sinh biết, ngay cả những học sinh trung bình và yếu. Vì vậy dạy học lý thuyết gắn liền với thực hành trên máy tính là điều kiện rất quan trọng để học sinh nắm được kiến thức mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho mình. Kiến thức Tin học không đòi hỏi cao ở khả năng trình bày lý thuyết xuông mà đòi hỏi học sinh phải có kỷ năng thực hành giỏi, biết sử dụng máy tính thành thạo. c- Giáo dục vệ sinh học đường trong tiết thực hành Đây là một yêu cầu rất cơ bản và cần thiết đối với mọi người học Tin học, cần phải được giáo dục tốt. Vào đầu năm học cần thông qua cho học sinh 8

                                                        nội quy phòng máy. Các máy tính phải được đánh số thứ tự và có sơ đồ bàn giao theo nhóm hai học sinh một máy, các học sinh này có trách nhiệm quản lý và thực hành máy của mình tránh hiện tượng giành máy, gây mất trật tự trong giờ học. Giờ thực hành phải thực hiện nghiêm túc giống như một tiết học lý thuyết bình thường, học sinh ngồi thực hành phải đúng tư thế và đảm bảo các yêu cầu sau: – Ngồi thẳng, tư thế thoải mái sao cho không phải ngẩng cổ hay ngước mắt khi nhìn vào màn hình, không ngồi nghiêng, ngồi ngửa khi thực hành. – Tay đặt ngang tầm bàn phím không vươn ra xa, chuột đặt bên tay phải. – Nên giữ khoảng cách từ mắt học sinh đến màn hình trong khoảng 50cm đến 80cm. – Không nên nhìn quá lâu vào màn hình. – Máy tính nên đặt ở vị trí sao cho ánh sáng không chiếu thẳng vào màn hình và không chiếu thẳng vào mắt của học sinh. – Phòng máy phải gọn gàng, sạch sẽ đảm bảo an toàn cho học sinh. Học Tin học phải thường xuyên tiếp xúc với máy tính, nếu không giáo dục tốt cho học sinh về ý thức vệ sinh học đường khi thực hành máy tính thì học sinh rất dễ mắc các bệnh như cận thị, vẹo cột sống, mệt mỏi khi ngồi học… ảnh hưởng đến sự phát triển cả về thể lực, trí lực của học sinh. d- Các hình thức đánh giá thông thường sẽ được sử dụng phối hợp với hình thức trác nghiệm, kiểm tra trên máy, đánh giá mức độ và kết quả của bài thực hành . 9

                                                        * Kiểm tra: Là quá trình nhằm cung cấp cho thầy và trò những thông tin về kết quả dạy và học được thực hiện thường xuyên và xen lẫn trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra nhằm hai mục đích là tức thời và lâu dài. Tức thời: Tại thời điểm nào đó, thầy giáo dùng một biện pháp nào đó (thường là các câu hỏi trắc nghiệm kèm theo phương án trả lời) để nắm được ngay kết quả kiểm tra làm căn cứ cho các bước tiếp theo của tiết học. Lâu dài: Giúp thầy giáo thấy được sự thành công hay thất bại của quá trình dạy học, cung cấp một bức tranh về tình hình học sinh làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dạy học, đi sâu vào việc phân hóa đối tượng, chú ý giáo dục học sinh cá biệt. Một số hình thức kiểm tra: Kiểm tra miệng: Ngoài việc thực hiện mục tiêu chung là đánh giá kết quả học tập ngắn của học sinh. Kiểm tra miệng còn có mục tiêu riêng là thu hút sự chú ý của học sinh đối với bài học, tạo liên kết giữa bài học trước, bài học hiện tại và bài học sắp tới. Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh vào bài giảng của giáo viên. Giúp giáo viên thu thập kịp thời thông tin phản hồi để có những điều chỉnh thích hợp. Kiểm tra thực hành trên máy: Mục tiêu đánh giá năng lực thực hiện các bài tập thực hành tin học của học sinh. Đánh giá kỹ năng thực hành của học sinh. Đánh giá về thái độ trung thực độc lập, hợp tác, tính kiên trì, thận trọng trong khi thực hành. Gây hứng thú cho học sinh trong việc học tin học.

                                                        10

                                                        Kiểm tra viết: Theo truyền thống các bài kiểm tra viết vẫn có vai trò chủ đạo trong hệ thống các bài kiểm tra. Kết hợp giữa kiểm tra trắc nghiệm và tự luận. Tự luận: kiểm tra bằng các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở, học sinh tự mình trình bày lại kiến thức ở nội dung nào đó để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra. Trắc nghiệm: Đề bài thường bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và các thông tin cần thiết để học sinh có thể trả lời từng câu một cách ngắn gọn. Các thể loại của trắc nghiệm là ghép đôi, điền khuyết, trả lời ngắn, câu đúng sai, câu nhiều lựa chọn… Ngoài ra còn có hình thức kiểm tra kiến thức trên máy: Giáo viên chuẩn bị các gói câu hỏi theo đơn vị kiến thức: kiểm tra sau mỗi bài, mỗi chương, hay kiểm tra cho mỗi học kỳ bằng nhiều dạng câu hỏi có sự chọn lựa, đánh giá kết quả sau đó đưa lên trang riêng hay kết nối trường trực tuyến để học sinh truy cập và ôn tập tại nhà. 2- Đánh giá Cơ sở của việc đánh giá là những bài kiểm tra, bên cạnh đó còn phải căn cứ vào quá trình và kết quả thực hành của học sinh. Mục đích kiểm tra đánh giá không chỉ dừng ở chỗ cho học sinh một điểm số mà quan trọng là phân tích kết quả cho học sinh thấy được điểm mạnh, chỗ yếu của mình, chỗ nào nắm vững, vạch ra sai lầm và hướng khắc phục. V/ PHẦN KẾT LUẬN 11

                                                        ngày 20 tháng 03 năm

                                                        2015 Trần Lập Quốc

                                                        12

                                                        Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Ở Tiểu Học / 2023

                                                        Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học

                                                        Một số phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học

                                                        1. Phương pháp dạy học tích cực là gì?

                                                        a. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

                                                        Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.

                                                        b. Thế nào là tính tích cực học tập?

                                                        c. Phương pháp dạy học tích cực

                                                        Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.

                                                        Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.

                                                        d. Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm

                                                        Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong quá trình dạy học.

                                                        Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được. Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.

                                                        2. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

                                                        a. Dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

                                                        Trong phương pháp dạy học tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.

                                                        b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

                                                        Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.

                                                        c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

                                                        Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập.

                                                        d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

                                                        Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.

                                                        Việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.

                                                        Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.

                                                        3. Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở trường Tiểu học

                                                        a. Phương pháp vấn đáp

                                                        * Vấn đáp: Là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

                                                        * Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.

                                                        * Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn.

                                                        * Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định.

                                                        b. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

                                                        Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:

                                                        * Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

                                                        – Tạo tình huống có vấn đề;

                                                        – Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;

                                                        – Phát hiện vấn đề cần giải quyết

                                                        * Giải quyết vấn đề đặt ra

                                                        – Đề xuất cách giải quyết;

                                                        – Lập kế hoạch giải quyết;

                                                        – Thực hiện kế hoạch giải quyết.

                                                        – Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;

                                                        – Phát biểu kết luận;

                                                        – Đề xuất vấn đề mới.

                                                        * Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

                                                        Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh.

                                                        Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

                                                        Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

                                                        Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.

                                                        Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề , học trò vừa nắm được tri thức mới , vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó , phát triển tư duy hăng hái , sáng tạo , được để sẵn một năng lực thích ứng với đời sống xã hội , phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề phát sinh.

                                                        c. Phương pháp hoạt động nhóm

                                                        Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.

                                                        Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.

                                                        * Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

                                                        Làm việc chung cả lớp:

                                                        – Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

                                                        – Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ

                                                        – Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.

                                                        Làm việc theo nhóm:

                                                        – Phân công trong nhóm.

                                                        – Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

                                                        Tổng kết trước lớp:

                                                        – Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.

                                                        – Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.

                                                        d. Phương pháp đóng vai

                                                        Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định.

                                                        Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:

                                                        – Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.

                                                        – Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.

                                                        – Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.

                                                        – Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực.

                                                        – Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.

                                                        * Cách tiến hành có thể như sau:

                                                        – Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai.

                                                        – Các nhóm lên đóng vai.

                                                        – Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai.

                                                        – Vì sao em lại ứng xử như vậy?

                                                        – Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử?

                                                        – Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống.

                                                        Những điều cần lưu ý khi sử dụng:

                                                        – Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

                                                        – Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai

                                                        – Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia.

                                                        e. Phương pháp động não

                                                        Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.

                                                        * Cách tiến hành

                                                        – Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.

                                                        – Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

                                                        – Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to.

                                                        – Phân loại ý kiến.

                                                        4. Điều kiện vận dụng phương pháp dạy học tích cực

                                                        a. Thầy giáo: thầy giáo phải được đào tạo nghiêm mật để thích nghi với những đổi thay về chức năng, nhiệm vụ rất Đa chủng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục. Thầy giáo vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có Thấp sư phạm lành nghề, biết ứng sử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức.

                                                        b. Học sinh: Dưới sự chỉ đạo của thầy giáo, học sinh phải dần dần có được những phẩm chất và năng lực thích nghi với phương pháp dạy học tích cực như: giác ngộ mục tiêu học tập, tự giác trong học tập, cố ý thức trách nhiệm về Cuối cùng học tập của mình và Cuối cùng chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc , hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế…

                                                        d. Thiết bị dạy học: Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai Các quy định, sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh. Đáp ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho học trò thực hành các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm.

                                                        Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng , mẫn tiệp , ăn nhập với dạy học cá thể , dạy học hợp tác.

                                                        – Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống giao thông, thực tiễn và đạt chất lượng cao, tạo hoàn cảnh đẩy mạnh hoạt động của học trò trên tài sở tự giác, tự khám phá tri thức phê chuẩn hoạt động thực hành, thâm nhập thực tiễn trong quá trình học tập.

                                                        – Đảm bảo để nhà trường có khả năng đạt được thiết bị dạy học ở mức tối thiểu, đó là những thiết bị thực sự cần thiết chẳng thể thiếu được. Các nhà thiết kế và làm ra thiết bị dạy học sẽ quan hoài để có giá thành có lí với chất lượng đảm bảo.

                                                        – chú trọng thiết bị thực hành giúp học trò tự tiến hành các bài thực hành thử nghiệm. Những thiết bị đơn giản có khả năng được giáo viên , học trò tự làm góp phần làm sản vật phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường. Nghề nghiệp này rất cần được quan hoài và chỉ đạo của lãnh đạo trường, Sở.

                                                        – Đối với những thiết bị dạy học đắt tiền sẽ được sử dụng chung. Nhà trường cần lưu ý tới các chỉ dẫn sử dụng , bảo quản và căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của trường đề ra các quy định để thiết bị được giáo viên , học trò sử dụng tối đa.

                                                        Cần tính tới việc thiết kế đối với trường mới và Sửa sang đối với trường cũ phòng học bộ môn , phòng học đa năng và kho chứa thiết bị bên cạnh các phòng học bộ môn.

                                                        e. Cách tân đánh giá kết quả Học hỏi của học sinh.

                                                        Đánh giá là một khâu quan yếu chẳng thể thiếu được trong quá trình giáo dục. Đánh giá thường nằm ở giai đoạn sau cuối của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở nên khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với đề nghị cao hơn , chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.

                                                        Đánh giá kết quả Học hỏi là quá trình thu nhặt và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hành mục đích Học hỏi của học trò về tác động và căn nguyên của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường cho bản thân học trò để học trò Học hỏi càng ngày càng phát triển theo hướng đi lên hơn.

                                                        Cách tân biện pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những đề nghị mới của mục đích nên việc kiểm tra, đánh giá phải biến chuyển mạnh theo hướng phát triển trí sáng dạ sáng tạo của học trò, xứng đáng được đề nghị hoặc đề xuất áp dụng mẫn tiệp các tri thức Năng lực đã học vào những cảnh huống thực tiễn, làm biểu lộ những xúc cảm, thái độ hoài nghi của học trò trước những vấn đề nóng hổi của hoàn cảnh sống cá nhân chủ nghĩa, gia đình và cộng đồng. Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo Học hỏi bị động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực. Hợp nhất với quan điểm cách tân đánh giá như trên việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc bám sát mục đích của từng bài , từng chương và mục đích giáo dục của môn học ở tầng lớp cấp. Các câu hỏi bài tập sẽ đo được mức độ thực hành các mục đích được xác định.

                                                        – Hướng tới đề nghị kiểm tra đánh giá công bình, khách quan kết quả Học hỏi của học trò, bộ công cụ đánh giá sẽ được Sửa sang các hình thức đánh giá khác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học trò, quan hoài tới mức độ hoạt động hăng hái, chủ động của học trò trong từng tiết học, kể cả ở tiết hấp thu tri thức mới lẫn tiết thực hành, thử nghiệm. Điều này đòi hỏi giáo viên bộ môn đầu tư nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn. Lãnh đạo nhà trường cần quan hoài và giám sát hoạt động này.

                                                        – Hệ thống giao thông câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần biểu lộ sự phân hóa, đảm bảo 70% câu hỏi bài tập đo được mức độ đạt trình độ chuẩn – mặt bằng về nội dung học thức dành cho mọi học trò THPT và 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao , dành cho học trò có năng lực trí óc và thực hành cao hơn.

                                                        g. Bổn phận quản lý : Hiệu trưởng chịu bổn phận trực tiếp về việc cách tân biện pháp dạy học ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan yếu đúng mức trong sự kết hợp các hoạt động tất cả của nhà trường. Hiệu trưởng cần trân trọng, tỏ thái độ đồng tình, xứng đáng được đề nghị hoặc đề xuất mỗi sáng kiến, sửa đổi cho tiến bộ hơn dù nhỏ của giáo viên, đồng thời cũng cần biết chỉ dẫn, giúp đỡ giáo viên áp dụng các biện pháp dạy học hăng hái phù hợp với môn học, đặc điểm học trò, hoàn cảnh dạy và học ở địa phương, làm cho phong trào cách tân biện pháp dạy học càng ngày càng rộng rãi, luôn luôn và có công hiệu hơn.

                                                        Hãy cố gắng để trong mỗi tiết học ở trường phổ quát, học sinh thắng hoạt động nhiều hơn , thực hiện nhiều hơn, bàn luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập.

                                                        5. Khai thác yếu tố tích cực trong các biện pháp dạy học truyền thống

                                                        Đối mới biện pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các biện pháp dạy học truyền thống, hay phải “nhập nội” một số biện pháp xa lạ vào qúa trình dạy học. Sự tình là ở chỗ cần kế thừa , phát triển những mặt tích cực của biện pháp dạy học hiện có, song song phải học hỏi , áp dụng một số biện pháp dạy học mới một cách mẫn tiệp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, phù hợp với tình cảnh điều kiện dạy và học cụ thể.

                                                        Biện pháp thuyết trình là một trong những biện pháp dạy học truyền thống được thực hiện trong các hệ thống nhà trường đã từ lâu. Đặc điểm cơ bản nổi của biện pháp thuyết trình là thông cáo – tái tạo. Bởi thế , biện pháp thuyết trình còn có tên gọi là biện pháp thuyết trình thông cáo – tái tạo. Biện pháp này chỉ rõ thuộc tính thông cáo bằng lời của thầy và thuộc tính tái tạo khi lãnh hội của trò. Thầy giáo Học hỏi tài liệu, sách giáo khoa, Dự bị bài giảng và trực tiếp điều khiển thông cáo luồng thông cáo kiến thức đến học sinh. Học sinh tiếp nhận những thông cáo đó bằng việc nghe, nhìn , cùng tư duy theo lời giảng của thầy, hiểu, ghi chép và ghi nhớ.

                                                        Như vậy, những kiến thức đến với học sinh theo biện pháp này Hầu như đã được thầy “chuẩn bị sẵn” để trờ thu nạp, sự hoạt động của trò tương đối thụ động. Biện pháp thuyết trình chỉ cho phép người học đạt đến Thấp tái tạo của sự lãnh hội kiến thức mà thôi. Từ thời gian này, theo hướng hoạt động hóa người học, cần phải giữ lại bớt biện pháp thuyết trình thông cáo – tái tạo, tăng cường biện pháp thuyết trình giải quyết Sự tình. Đây là kiểu dạy học bằng cách đặt học sinh trước những bài toán nhận thức , kích thích học sinh hứng giải bài toán nhận thức, tạo ra sự chuyển hóa từ quá trình nhận thức có tính Học hỏi khoa học vào tổ chức quá trình nhận thức trong học tập. Thầy giáo đưa học sinh vào tình huống có Sự tình rồi học sinh tự mình giải quyết Sự tình đặt ra. Theo hình mẫu đặt và giải quyết Sự tình mà thầy giáo thể hiện, học sinh được học thói thường suy nghĩ lôgic, biết cách phát hiện Sự tình, đề xuất giả thuyết, bàn luận, làm thí nghiệm để thẩm tra các giả thuyết nêu ra.

                                                        Thuyết trình kiểu đặt và giải quyết Sự tình thuần túy do thầy giáo thể hiện cũng đã có công hiệu phát triển tư duy của học sinh. Nếu được xen kẽ vấn đáp, bàn luận một cách hợp lý thì công hiệu sẽ Thêm lên. Muốn vậy, lớp không nên quá đông, có điều kiện thuận lợi cho hội thoại, song song học sinh phải có thói thường bạo dạn biểu lộ tư kiến trước Sự tình nêu ra.

                                                        Để lôi cuốn sự để ý của người học và tích cực hóa biện pháp thuyết trình ngay khi khai mạc bài học thầy giáo có khả năng thông cáo Sự tình dưới hình thức những câu hỏi có thuộc tính định hướng, hoặc có thuộc tính “xuyên tâm”. Trong quá trình thuyết trình bài giảng, thầy giáo có khả năng thực hiện một số hình thức thuyết trình lôi cuốn sự để ý của học sinh như sau:

                                                        – Thể hiện kiểu nêu vấn đề: Trong quá trình thể hiện bài giảng thầy giáo có khả năng biểu đạt Sự tình dưới dạng nghi vấn, gợi mở để gây tình huống lôi cuốn sự để ý của học sinh.

                                                        – Thuyết trình kiểu thuật chuyện: thầy giáo có khả năng phê chuẩn những sự kiện kinh tế – từng lớp, những câu chuyện hoặc tác phẩm văn học, phim ảnh… làm tư liệu để phân tách, minh họa, đại quát và rút ra nhận xét, kết luận nhằm xây dựng biểu trưng, khắc sâu nội dung kiến thức của bài học.

                                                        – Thuyết trình kiểu diễn tả , phân tích: thầy giáo có khả năng dùng công thức, sơ đồ, biểu mẫu… để diễn tả phân tách nhằm chỉ ra những đặc điểm, khía cạnh của từng nội dung. Trên cơ sở đó đưa ra những bằng chứng lôgíc, nói hay để làm rõ thực chất của vấn đề.

                                                        – Thuyết trình kiểu nêu Sự tình có tính giả thuyết: thầy giáo đưa vào bài học một số giả thuyết hoặc ý kiến có thuộc tính mâu thuẫn với Sự tình đang Học hỏi nhằm xây dựng tình huống có Sự tình thuộc loại giả thuyết ( hay luận chiến ). Kiểu nêu Sự tình này đòi hỏi học sinh phải tuyển trạch ý kiến đúng, sai và có lập luận kiên cố về sự tuyển trạch của mình. Song song học sinh phải biết cách phê phán, chưng một cách chuẩn xác, khách quan những ý kiến không đúng đắn, chỉ ra tính không khoa học và căn nguyên của nó.

                                                        – Thuyết trình kiểu so sánh, tổng hợp: Nếu nội dung của Sự tình thể hiện chứa đựng những mặt tương phản thì thầy giáo cần chính xác những Dấu hiệu để ghi nhận để so sánh từng mặt, thuộc tính hoặc giao tế giữa hai đối tượng đối đầu nhau nhằm rút ra kết luận cho từng Dấu hiệu để ghi nhận so sánh. Mặt khác, thầy giáo có khả năng sử dụng số liệu báo cáo để phân tách , so sánh rút ra kết luận nhằm góp phần làm tăng tính chuẩn xác và tính thuyết phục của vấn đề.

                                                        – Hiện tại, bài giảng hiện đại đang có khuynh hướng sử dụng càng ngày càng nhiều các phương tiện công nghệ thông cáo, làm tăng sức quyến rũ và hiệu quả. Ngày trước, để minh họa nội dung bài giảng, thầy giáo chỉ có khả năng sử dụng lời nói giàu hình tượng và gợi cảm kèm theo những cử chỉ, điệu bộ biểu đạt nội tâm hoặc có thêm bộ tranh giáo khoa hỗ trợ. Hiện tại có cả một loạt phương tiện để thầy giáo tuyển trạch sử dụng như: máy chiếu , băng thu thanh, băng ghi hình, đĩa CD, phần mềm máy vi tính… Tiến tới mọi thầy giáo phải có khả năng soạn bài giảng trên máy vi tính được nối mạng , biết sử dụng đầu máy đa năng để thực hiện bài giảng của mình một cách sống động , hiệu quả , phát huy cao nhất tính tích cực học tập của học sinh.

                                                        Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Trong Học Tập Của Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Quảng Kim : Phòng Gd&Amp;Đt Quảng Trạch / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!