Đề Xuất 2/2023 # Một Số Điểm Mới Trong Phần Các Tội Phạm Của Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Năm 2022 # Top 8 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Một Số Điểm Mới Trong Phần Các Tội Phạm Của Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Năm 2022 # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Điểm Mới Trong Phần Các Tội Phạm Của Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Năm 2022 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

    (1) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII)

    Có 03 điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản tại chương này: 

    

    Một là, BLHS năm 2015 không có điều luật riêng quy định về tội hoạt động phỉ như Điều 83 của BLHS năm 1999. BLHS năm 2015 không phi tội phạm hóa đối với hành vi hoạt động phỉ mà hành vi phạm tội này đã được quy định trong cấu thành của một số tội phạm cụ thể, ví dụ như: tội bạo loạn (Điều 112), tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113)… 

    Hai là, tách Điều 91 BLHS năm 1999 quy định tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân thành 02 điều luật: Điều 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân) và Điều 121 (Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân). Việc tách điều luật này để phân hóa trách nhiệm hình sự phù hợp với tích chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm. 

    Ba là, bổ sung một khung mới trong các điều luật để quy định về việc xử lý đối với trường hợp “chuẩn bị phạm tội”, theo đó, người chuẩn bị phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều phải chịu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù cao nhất đến 05 năm(1). Nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

     (2) Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Chương XIV)

    Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người BLHS năm 2015 quy định gồm 34 Điều (từ Điều 123 đến Điều 156) trong đó bổ sung mới 4 điều, sửa đổi 30 điều. Những nội dung mới cơ bản của Chương gồm:

    - Bổ sung thêm 02 tội danh mới: Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) và Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154) và tách các hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em tại Điều 120 BLHS năm 1999 thành 03 điều luật riêng: Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi (Điều 152), Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153).

    - Thay các tình tiết định tội, định khung hình phạt tương đối (gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, bằng các tình tiết định lượng tuyệt đối về hậu quả của tội phạm.

    - Bổ sung quy định “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” là hành vi thuộc mặt khách quan của một số tội xâm phạm tình dục bên cạnh hành vi “giao cấu” đã được quy định tại các BLHS trước đây.

    (3) Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Chương XV)

    Chương XV BLHS năm 2015 có những sửa đổi cơ bản, tập trung vào 04 vấn đề: (1) Tách 01 điều luật thành 02 điều độc lập và bổ sung 01 tội danh mới (Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân (Điều 167 BLHS năm 2015)). (2) Nâng mức hình phạt tù, cải tạo không giam giữ trong một số tội, đồng thời bỏ hình phạt cảnh cáo ở một số tội để thể hiện sự nghiêm khắc trong xử lý nhóm tội phạm này, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân. (3) Làm rõ, khắc phục các tình tiết có “tính định tính”, tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. (4) Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung để bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự. 

    (4) Các tội xâm phạm sở hữu (Chương XVI)

    - Sửa tên điều luật từ “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” (Điều 144 BLHS 1999) thành “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” (Điều 179 BLHS năm 2015). Việc sửa đổi như vậy nhằm bổ sung đối tượng bị xâm hại không chỉ Nhà nước mà cả cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. 

    - Bổ sung đối tượng tài sản bị xâm hại là “cổ vật” và “bảo vật quốc gia”. Những tài sản này có thể có những loại tuy giá trị quy thành tiền không đáng kể, nhưng những giá trị về văn hóa, về lịch sử về tinh thần thì không thể tính hết được, đặc biệt không thể quy giá trị tài sản này thành tiền. 

    - Nâng giá trị tài sản bị sử dụng trái phép từ 50 triệu lên 100 triệu đồng đối với Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177); Nâng mức khởi điểm tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu lên 100 triệu đồng đối với Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179); Nâng mức khởi điểm tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu lên 100 triệu đồng đối với Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180).

    - Cụ thể hóa các tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong BLHS năm 1999 (từ Điều 133 đến Điều 143) bằng các hậu quả vật chất và phi vật chất cụ thể.

    - Các hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu đều được sửa đổi theo hướng giảm nhẹ: (1) bỏ hình phạt tử hình ở tội cướp tài sản, bỏ hình phạt chung thân ở các tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; (2) giảm hình phạt tù quy định tại Điều 179, Điều 180; (3) bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính ở một số tội: Chiếm giữ trái phép tài sản Điều 176, Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Điều 178.

    - Bổ sung một khoản trong các điều quy định về tội Cướp tài sản và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản để xử lý đối với người chuẩn bị phạm các tội này.

    - Bỏ hình phạt tử hình đối với tội cướp tài sản (Điều 168).

    - Quy định cụ thể những tội danh mà người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và mức hình phạt cụ thể đối với hành vi phạm tội trong trường hợp này.

    Sửa Điều 175 quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để nâng cao tính khả thi và phù hợp với yêu cầu phòng, chống tội phạm này. Cụ thể:

    - Bãi bỏ tình tiết chiếm đoạt tài sản dưới 04 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng là điều kiện cấu thành tội này quy định tại khoản 1; 

    - Cụ thể hóa và bổ sung mới hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 04 triệu đồng quy định tại Khoản 1 điều luật này, bao gồm: “đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại”

    - Bãi bỏ “dấu hiệu bỏ trốn”, bổ sung dấu hiệu “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”.

    (5) Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (chương XVII)

    - Tội phạm hóa 3 hành vi: Cưỡng ép ly hôn (Điều 181); Cản trở ly hôn (Điều 181); Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187). 

    - Phi tội phạm hóa hành vi tảo hôn, bởi vì, xét cho cùng thì thực trạng tảo hôn xảy ra chủ yếu do các nguyên nhân xã hội, sự tuyên truyền, giáo dục của gia đình, xã hội chưa có hiệu quả cao. Thậm chí có trường hợp tảo hôn do sức ép của người lớn, của cha mẹ. Do vậy, đối với hành vi này chỉ áp dụng chế tài hành chính để xử lý là phù hợp.  

    - Thu hút hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật vào tội danh đăng ký hộ tịch trái pháp luật (Điều 336).

    - Hình sự hóa hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187). 

    - Cụ thể hóa một số tình tiết định tội tại một số điều luật: Ví dụ: tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 181 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã được cụ thể hóa thành các hậu quả như “làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn ”, “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát” hoặc tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 185 về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thành các hậu quả “Làm cho nạn nhân bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất danh dự, đau khổ tinh thần” hoặc “Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân”.

    (6) Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII)

    - Số lượng các tội phạm trong chương này tăng từ 35 tội lên 47 tội; 

    + Bỏ 4 tội: Tội kinh doanh trái phép; Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế; Tội vi phạm quy định về cấp bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng;

    + Thay thế Tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng bằng một số tội: Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Đ 217); Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản (Đ 218); Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước gây thất thoát, lãng phí (Đ 219); Tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 220); Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 221); Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 222); Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 223); Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 224); Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Đ 230); 

    + Bổ sung 01 tội danh trong lĩnh vực chứng khoán(2): tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 212) nhằm đảm bảo BLHS bao quát được hết những hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực chứng khoán, bởi vì việc làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán đã xảy ra khá phổ biến trong thời gian qua nhưng chế tài hành chính không đủ sức răn đe, trong khi đó thị trường chứng khoán là thị trường tương đối nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế đất nước. 

    + Bổ sung 4 tội danh trong lĩnh vực bảo hiểm: tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215) và tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216).

    

    + Tách tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh tại  Đ 157 BLHS năm 1999 thành 2 tội: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Đ 193) và Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Đ 194);

    + Tách tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm tại Điều 155 BLHS năm 1999 thành 2 tội là: Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Đ 190) và Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Đ 191)

    - Quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với phần lớn các tội phạm. Do người phạm tội về kinh tế nhằm mục đích về kinh tế nên có thể dùng hình phạt tiền thay thế cho hình phạt tù vẫn đạt được mục đích xử lý tội phạm, thực hiện chủ trương giảm hình phạt tù.   

    - Sửa đổi, bổ sung cụ thể hóa một số tình tiết định tính, định lượng làm căn cứ định tội hoặc định khung hình phạt một số tội phạm, cụ thể:

    + Dấu hiệu số lượng lớn, số lượng rất lớn, số lượng đặc biệt lớn được BLHS năm 1999 quy định tại các điều luật thuộc nhóm tội phạm này đã được BLHS năm 2015 cụ thể hóa bằng số lượng cụ thể.

    - Dấu hiệu phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng, trong trường hợp rất nghiêm trọng và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng làm căn cứ định khung hình phạt đã được cụ thể hóa bằng trị giá tiền thật hoặc tương ứng với tiền thật (trong trường hợp tiền giả hoặc tương ứng với công cụ chuyển nhượng giá hoặc những giấy tờ có giá giả khác). 

    - Sửa đổi, bổ sung cấu thành cơ bản của một số tội phạm như: bổ sung thêm phạm vi khách thể cần được bảo vệ của tội vi phạm quy định trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Điều 179 BLHS năm 1999), theo đó, BLHS năm 2015 không chỉ xử lý hình sự đối với những hành vi vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng như BLHS năm 1999 mà còn xử lý những hành vi vi phạm quy định trong hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng thuộc phạm vi bị xử lý hình sự; sửa đổi cấu thành cơ bản của một số tội phạm trong lĩnh vực nhằm đảm bảo chính xác hơn, đầy đủ hơn các hành vi cần được xử lý hình sự cũng như loại bỏ bớt những hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: Điều 207 BLHS năm 2015 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả) đã loại bỏ khách thể cần được bảo vệ là “ngân phiếu giả, công trái giả” như quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999; Điều 211 BLHS năm 2015 (tội thao túng thị trường chứng khoán) Khoản 1: Bỏ quy định gây hậu quả nghiêm trọng, lượng hóa hậu quả thành tiền; Khoản 2: Lượng hóa quy định thu lợi bất chính lớn bằng tiền; bỏ quy định gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, xác định rõ hậu quả xảy ra đối với nhà đầu tư và lượng hóa hậu quả đó bằng tiền; bổ sung thêm 04 loại hành vi trong cấu thành cơ bản để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác và bao quát hết những hành vi nguy hiểm trong lĩnh vực chứng khoán

    (7) Các tội phạm về môi trường (Chương XIX)

    - Sửa đổi cấu thành các tội phạm về môi trường theo hướng cụ thể hóa các hành vi và quy định mức định lượng vi phạm cụ thể để xử lý hình sự, bảo đảm tính khả thi, thuận lợi cho thực tiễn áp dụng

    Đa số các điều luật quy định tội phạm về môi trường được sửa đổi về cấu thành tội phạm theo hướng cụ thể hóa các hành vi và quy định mức định lượng vi phạm cụ thể để xử lý nhằm bảo đảm tính khả thi và thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng.

    Đối với các tội phạm quy định cấu thành hình thức thì việc quy định mức độ nghiêm trọng của hành vi để xử lý về hình sự được dựa trên cơ sở tham khảo quy định của các văn bản về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này, đồng thời căn cứ vào các yếu tố khác (quy mô của các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, tính hợp lý, khả thi của quy định). 

    Bên cạnh đó, để xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, các trường hợp vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử lý với mức phạt tiền rất cao (nhiều trường hợp phạt tiền đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù đến 07 năm đối với cá nhân). 

    - Bổ sung 01 tội danh mới “Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông” (Điều 238)

    Tội danh này được bổ sung nhằm xử lý các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai; bảo vệ bờ, bãi sông; các hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; không tuân thủ quy trình, quy chuẩn vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, công trình phân lũ, làm chậm lũ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành gây hậu quả nghiêm trọng. 

    - Mở rộng phạm vi áp dụng và nâng mức phạt tiền: Do tính chất nghiêm trọng của các tội phạm về môi trường và  mục đích chủ yếu của các hành vi phạm tội là nhằm đạt được các lợi ích kinh tế, nên phạm vi áp dụng của hình phạt tiền được mở rộng, mức phạt tiền được nâng lên đảm bảo tính răn đe, trừng trị đối với các hành vi vi phạm. Cụ thể: 

    Thứ nhất, mở rộng phạm vi áp dụng của hình phạt tiền 

    Hình phạt tiền được bổ sung tại khung cơ bản tại khoản 1 Điều 241 về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người .

    Hình phạt tiền được quy định là hình phạt chính tại khung tăng nặng của một số tội (ví dụ: tội gây ô nhiễm môi trường; tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; tội vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm).

    Thứ hai, nâng mức phạt tiền tại các điều luật

    Tất cả các điều luật trong Chương tội phạm về môi trường (12/12 điều) có sự điều chỉnh theo hướng nâng cao mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm, mức phạt tiền được quy định ở mức rất cao, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. 

    - Bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một số tội phạm về môi trường

    Bộ luật hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại tại Chương XI; có 09/12 tội phạm về môi trường quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và áp dụng hình thức xử lý vi phạm, gồm: Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 236); tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237); tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239); tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242); tội hủy hoại rừng (Điều 243); tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244); tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 245); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246).

    Hình phạt đối với pháp nhân phạm tội bao gồm phạt tiền (hình phạt chính và hình phạt bổ sung), đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm huy động vốn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định. 

    - Bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. (09/12 tội danh: tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237); tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 239); tội huỷ hoại rừng (Điều 243); tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244); tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điêu 245); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246).

    (8) Các tội phạm về ma túy (Chương XX)

    - Quy định cụ thể hơn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và định lượng đối tượng tác động, hậu quả do tội phạm gây ra; đồng thời phân hóa trách nhiệm giữa các hành vi phạm tội đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm. Như vậy đã tạo thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật. Cụ thể:

    - Quy định rõ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tại 05 điều luật (Đ. 249, 250, 252, 257 và 258), bổ sung để làm rõ hành vi “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” ở Điều 256,  bổ sung và sắp xếp lại cho phù hợp với quy trình quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần ở Điều 259.

    - Quy định rõ các trường hợp cụ thể nếu người thực hiện hành vi phạm tội phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngay tại khoản 1 của 07 điều luật (Đ. 247, 249, 250, 252, 253, 254, 259).

    - Quy định rõ mức tối thiểu chất ma túy mà người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự vào 06 điều luật (Đ. 247, 249, 250, 252, 253, 254).  

    - Bỏ hình phạt tử hình đối với 02 tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội chiếm chất ma túy. Hình phạt cao nhất đối với các tội phạm này theo quy định của Điều 249 và Điều 252 BLHS năm 2015 là tù chung thân. Mức hình phạt tù được quy định thấp hơn ở một số tội phạm thuộc các điều luật (Điều 249, 252, 258, 259).  

    - Tách Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thành 04 điều quy định về từng tội danh độc lập và bỏ hình phạt tử hình đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội chiếm đoạt chất ma túy. Hình phạt cao nhất đối với các tội phạm này theo quy định của BLHS năm 2015 là tù chung thân, (tội tàng trữ trái phép chất ma túy – Điều 249, tội vận chuyển trái phép chất ma túy – Điều 250, tội mua bán trái phép chất ma túy – Điều 251, tội chiếm đoạt chất ma túy – Điều 252).

    - Tách Điều 200 quy định tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy thành 02 điều: Điều 257. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy, Điều 258. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

    - Sửa đổi nhiều điều luật quy định cụ thể hơn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257), tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258).

    - Quy định cụ thể hơn định lượng đối tượng tác động, hậu quả do tội phạm gây ra (số lượng cây chứa chất ma túy tại Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; số lượng phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 254. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy…).

    - Nâng định lượng chất ma túy ở điểm đầu của khung cơ bản (khoản 1) một số điều luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252), tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 253), tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 254).

     (9) Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chương XXI)

    - Tội phạm hóa một số hành vi xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, bao gồm: Sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng mục đích trái pháp luật (Điều 285); Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (Điều 291); Cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 292); Sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh (Điều 293); Cố ý gây nhiễu có hại (Điều 294); Cưỡng bức lao động (Điều 297); Bắt cóc con tin (Điều 301); Cướp biển (Điều 302); Vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện (Điều 314).

    - Tách 03 tội ghép trong chương này của BLHS 1999 thành 06 tội danh khác nhau, đồng thời cụ thể hóa hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt (các Điều 263, 264, 270, 271, 275, 276). Đó là các tội: Điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ; điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt; điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ (các Điều 205, 211, 215 BLHS 1999).

    - Mở rộng phạm vi áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng thuộc các tội: Cản trở giao thông đường bộ (Điều 261); Tổ chức đua xe trái phép (Điều 265); Đua xe trái phép (Điều 266).

    - Cụ thể hóa hành vi phạm tội và bổ sung các tình tiết định khung đối với hầu hết các tội xâm phạm an toàn giao thông, các tội xâm phạm an toàn công cộng, các tội xâm phạm trật tự công cộng và cụ thể hóa các tình tiết thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn tại mục các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông. 

    (10) Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Chương XXII)

    - Bãi bỏ tội không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính quy định tại Điều 269 BLHS năm 1999. 

    - Tội phạm hóa hành vi môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép tại Điều 349.

    - Tách Điều 275 BLHS năm 1999 quy định về tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép thành 02 điều luật (Điều 349. Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, Điều 350. Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép) đề phân hóa chính sách hình sự đối với các tội phạm này. 

    

– Quy định phạt tiền là hình phạt chính đối với 04 tội danh: Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 340); làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341); chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 342)

    (11) Các tội phạm về chức vụ (Chương XXIII)

    Chương XXIII BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung tất cả 15 điều của Chương XXI BLHS năm 1999 với những sửa đổi cơ bản, tập trung vào 08 vấn đề lớn: (1) Điều chỉnh khái niệm tội phạm về chức vụ để xử lý tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực tư, đồng thời bổ sung hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư trong một số tội(3); (2) Điều chỉnh hợp lý mức định lượng tài sản bị chiếm đoạt trong hầu hết các tội phạm trong Chương này cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới; (3) Điều chỉnh một số cấu thành tội phạm, bổ sung của hối lộ là “lợi ích phi vật chất” trong một số tội; (4) Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính và hình phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời điều chỉnh mức hình phạt trong một số tội; (5) Tách các tình tiết định tính “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định trong cùng một khung hình phạt trong một số tội để quy định trong các khung hình phạt khác nhau, đồng thời cụ thể hóa tất cả các tình tiết định tính này bằng các thiệt hại cụ thể.

    - Sửa đổi nội dung quy định về định lượng (thay định lượng tương đối bằng định lượng tuyệt đối) tại các cấu thành tội phạm.

    - Mở rộng phạm vi của các tội phạm tham nhũng ra cả lĩnh vực tư và mở rộng đối tượng tác động của các tội phạm về tham nhũng (không chỉ là lợi ích vật chất mà gồm cả lợi ích phi vật chất.)

    (12) Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (chương XXIV)

Việc sửa đổi, bổ sung tập trung vào 06 vấn đề sau: (1) Sửa đổi khái niệm, phạm vi các tội xâm phạm hoạt động tư pháp(4); (2) Sửa đổi phạm vi chủ thể, đối tượng tác động của tội phạm trong một số tội phạm(5); (3) Tăng nặng hình phạt đối với một số tội phạm cụ thể; (4) Bổ sung khung tăng nặng, các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự và cụ thể hóa các tình tiết có tính “định tính” nhằm bảo đảm sự minh bạch, rõ ràng, tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất; (5) Sửa đổi, bổ sung Tội dùng nhục hình và Tội bức cung nhằm đáp ứng yêu cầu của Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người mà Việt Nam là thành viên; (6) tội phạm hóa đối với hành vi vi phạm quy định về giam giữ và hành vi gây rối trật tự phiên tòa (Điều 388 và Điều 391). 

    (13) Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu (Chương XXV)

    - Bổ sung tội ra mệnh lệnh trái pháp luật (Điều 393)(6) và tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ (Điều 418).

    - Tách Điều 321 (Tội làm nhục, hành hung đồng đội) thành 2 Điều: Điều 397 (Tội làm nhục đồng đội) và Điều 398 (Tội hành hung đồng đội).

    - Tách Điều 327 (Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự) thành 2 Điều: Điều 404 (Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự) và Điều 405 (Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự).

    - Tách Điều 328 (Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự) thành 2 Điều: Điều 406 (Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự) và Điều 407 (Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự).

    - Bỏ hình phạt từ hình ở tội chống mệnh lệnh (Điều 394) và tội đầu hàng địch (Điều 399).

    (14) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Chương XXVI)

    Chương XXVI BLHS năm 2015 đã có sự sửa đổi nhằm đảm bảo phù hợp và đầy đủ hơn, không để sót, lọt hành vi phạm tội, đồng thời tuân thủ kỹ thuật lập pháp; tội phạm được quy định thành 5 Điều, được quy định từ Điều 421 đến Điều 425 BLHS. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm vào nền hòa bình của các dân tộc, xâm phạm vào độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền khác. 

    (1) Mức chế tài này giảm hơn nhiều so với BLHS năm 1999 (các Điều 17 và 52).     (2) Tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán cũng là những tội phạm mới được bổ sung vào BLHS năm 1999 trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2009, gồm có 03 tội danh (tội công bố thông tin sai lệc hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán – Điều 181a; tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán – Điều 181b; tội thao túng giá chứng khoán – Điều 181c).      (3) Việc mở rộng khái niệm tội phạm về chức vụ cũng như khái niệm người có chức vụ để xử lý các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư chỉ áp dụng đối với tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ.     (4) BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ có tính khái quát cao như sau: “ các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án ”. Hoạt động tố tụng là quá trình (trình tự) giải quyết vụ án, vụ việc ở các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính – lao động – kinh doanh thương mại… bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, mọi công dân góp phần vào việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật.     (5) Sửa đổi, bổ sung tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc (Điều 375) theo hướng mở rộng chủ thể của tội này, theo đó, ngoài Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thâm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì những người khác có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp cũng có thể trở thành chủ thể của tội này vì họ có cơ hội tiếp xúc với hồ sơ vụ án, vụ việc.     (6) Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật là một tội danh mới được quy định trong BLHS năm 2015 và là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng.

Nguyễn Phương Thảo

Những Nội Dung Sửa Đổi Lớn Và Điểm Mới…Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2022

CHUYÊN ĐỀ

NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI LỚN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI

TRONG PHẦN CHUNG CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015

       chúng tôi Nguyễn Hòa Bình.

                                                    Bí thư Trung ương đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Để góp phần triển khai, thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đã đặt ra, trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về những nội dung sửa đổi lớn và những điểm mới sửa đổi, bổ sung trong Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015. I. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI LỚN CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm có 3 Phần, 26 chương, 426 điều. So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật này bãi bỏ 03 điều; giữ nguyên 30 điều; sửa đổi, bổ sung 396 điều, với nhiều nội dung được sửa đổi lớn như sau: 1. Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng theo tinh thần đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn trọng và bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 thể chế hóa chủ trương của Đảng về hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt ngoài tù, cụ thể: – Bộ luật quy định hình phạt tiền là hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng. Riêng đối với nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường thì phạt tiền là hình phạt chính có thể áp dụng đối với cả tội rất nghiêm trọng. – Bộ luật cũng đã mở rộng nội hàm của hình phạt cải tạo không giam giữ, theo đó, trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ với thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Biện pháp này không áp dụng đối với người già yếu, phụ nữ có thai. – Đối với hình phạt tù, Bộ luật khẳng định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý (khoản 2 Điều 37), theo đó, tại Phần các tội phạm, số lượng các khoản không quy định hình phạt tù tăng từ 06 khoản (theo Bộ luật hình sự năm 1999) lên hơn 30 khoản.           Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về hạn chế áp dụng hình phạt tử hình. Theo đó, Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xác định rõ tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định. – Bộ luật đã bổ sung thêm các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình, không thi hành án tử hình. Theo đó, hình phạt tử hình không áp dụng đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không thi hành án tử hình đối với họ. Quy định này nhằm góp phần hạn chế việc thi hành hình phạt tử hình trên thực tế và là thúc đẩy việc thu hồi tài sản bị tham nhũng trong các vụ án tham nhũng. – Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình ở 08 tội danh gồm: (1) cướp tài sản (Điều 168); (2) sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); (3) tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); (4) chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); (5) phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); (6) chống mệnh lệnh (Điều 394); (7) đầu hàng địch (Điều 399); (8) tội hoạt động phỉ (do Bộ luật Hình sự đã bỏ tội danh này). Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn duy trì hình phạt tử hình đối với 18 tội danh trong tổng số 314 tội danh. Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện với những quy định hết sức chặt chẽ nhằm tạo cơ hội cho những phạm nhân tích cực cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ được sớm trở về với gia đình và tiếp tục chứng tỏ sự cải tạo của mình trong môi trường xã hội bình thường có sự giám sát của chính quyền địa phương và xã hội. Nếu trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước thời hạn cố ý vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới thì phải trở lại cơ sở giam giữ để chấp hành tiếp phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Quy định này góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về việc giáo dục, cải tạo người phạm tội trong môi trường xã hội.           Thứ tư, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (Chương XIV) và nhóm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân (Chương XV) theo hướng tiếp tục tăng cường bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trên tinh thần Hiến pháp năm 2013 với những chế tài nghiêm khắc; bổ sung một số quy định mới để xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đồng thời, có chính sách xử lý nghiêm khắc hơn đối với các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân.           2. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, các tội phạm mà người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự là khá rộng và quan trọng hơn là quy định này không rõ ràng, minh bạch, nên bản thân các em không thể hoặc khó có thể biết được chính xác khi nào thì hành vi do mình thực hiện bị coi là tội phạm. Thực tế cho thấy, những trường hợp trẻ em từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi tự mình thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là không nhiều và chủ yếu tập trung vào một số tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, các tội xâm phạm sở hữu, còn lại phần lớn các trường hợp khác các em tham gia thực hiện tội phạm là do bị người lớn xúi giục, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa… Bản thân các em không nhận thức được một cách đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm mà mình đã thực hiện. Vì vậy, việc xử lý hình sự đối với các em trong những trường hợp này có phần quá nghiêm khắc và ít có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, giúp các em nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của bản thân. Kế thừa đồng thời khắc phục những hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ rõ hơn những tội phạm cụ thể mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, theo đó, các em chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ở 28 tội danh trong số 314 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm: (1) các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; (2) các tội xâm phạm sở hữu; (3) các tội phạm về ma túy; (4) các tội xâm phạm an toàn công cộng. Nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên, đáp ứng yêu cầu của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các văn kiện quốc tế về tư pháp người chưa thành niên, phù hợp với xu hướng chung của thế giới, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự áp dụng riêng cho từng đối tượng người chưa thành niên (người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi), đồng thời, bổ sung 03 biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự, gồm: (1) Khiển trách; (2) Hòa giải tại cộng đồng; (3) Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.           3. Bộ luật Hình sự năm 2015 tạo cơ chế bảo vệ và thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa           Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền thống về tội phạm và hình phạt. Việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào Bộ luật Hình sự xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn và nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra. (Về nội dung cụ thể của chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân sẽ được chuyên gia thuộc Bộ Tư pháp trình bày trong chuyên đề riêng vào buổi chiều ngày hôm nay).           Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (chương XVIII) theo hướng phi tội phạm hóa đối với 04 tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999, gồm: (1) Kinh doanh trái phép; (2) Báo cáo sai trong quản lý kinh tế; (3) Vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; (4) Sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; Việc loại bỏ 04 tội phạm này khỏi Bộ luật Hình sự nhằm bảo đảm quyền tự do và tự chủ của các chủ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời phù hợp với tình hình tội phạm thời gian qua. Bên cạnh đó, cùng với việc bổ sung 18 tội danh mới thuộc 08 nhóm tội phạm khác nhau, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng bổ sung 16 tội danh mới trong các lĩnh vực kinh tế để kịp thời đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm này.           Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội phạm về môi trường (Chương XIX) theo hướng cụ thể hóa các hành vi phạm tội gây ô nhiễm môi trường; quy định chế tài nghiêm khắc đối với các tội phạm về môi trường, trong đó có việc tăng mức phạt tiền (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung); đồng thời, bổ sung thêm 02 tội mới (là Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai và Tội vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông). 4. Bộ luật Hình sự năm 2015 tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả trong tình hình mới, góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm           Thứ nhất, để bảo đảm phù hợp và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiến mới, Bộ luật Hình sự đã phi tội phạm hóa đối với 06 tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Đó là các tội: (1) Tảo hôn; (2) Kinh doanh trái phép; (3) Báo cáo sai trong quản lý kinh tế; (4) Vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; (5) Sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; (6) Không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính.           Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm sở hữu (Chương XVI) theo hướng bảo đảm đối xử bình đẳng giữa chính sách xử lý hành vi xâm phạm tài sản của Nhà nước với hành vi xâm phạm tài sản của cá nhân theo tinh thần của Hiến pháp 2013; tăng mức phạt tiền bổ sung đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu; đồng thời, cụ thể hóa hành vi phạm tội, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng đối với các tội phạm thuộc nhóm này, đặc biệt là cụ thể hóa trường hợp xử lý hình sự đối với hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới mức định lượng tối thiểu 02 triệu đồng nhằm góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, nhất là người nghèo (khoản 1 Điều 173).             Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung một chương riêng (Chương IV) với 07 điều quy định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, trong đó, tiếp tục duy trì và cụ thể hóa 04 trường hợp như Bộ luật Hình sự năm 1999 gồm: (1) Sự kiện bất ngờ; (2) Phòng vệ chính đáng; (3) Tình thế cấp thiết; (4) Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự); Đồng thời, bổ sung thêm 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là: (5) Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm pháp; (6) Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; (7) Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên. Nội dung sửa đổi này nhằm tạo hành lanh pháp lý an toàn để khuyến khích người dân an tâm, tích cực tham gia phòng chống tội phạm; tham gia các hoạt động sản xuất, nghiên cứu khoa học có tính chất “đột phá” vì lợi ích chung.           5. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay thế Tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999) bằng một loạt các tội danh cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế Để bảo đảm tính minh bạch, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung 15 tội danh có tính chất “cố ý làm trái” trong Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Bộ luật Hình sự năm 1999 cho phù hợp với tình hình mới, Bộ luật Hình sự năm 2015 còn bổ sung thêm 09 tội danh mới trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, bao quát các lĩnh vực thường hay xảy ra vi phạm trong hoạt động quản lý kinh tế để thay thế cho Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. 6. Bộ luật Hình sự năm 2015 có những nội dung sửa đổi, bổ sung góp phần tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta           Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội tham ô, tội nhận hối lộ thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại khoản 3 và khoản 4 của các điều 353, 354). Quy định này nhằm khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là xử lý đến cùng tội phạm tham nhũng, đồng thời góp phần tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi xử lý tội tham nhũng ra cả khu vực tư nhân. Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà thực hiện hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ thì cũng bị xử lý về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ theo quy định tại các điều 353, 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, người có hành vi đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước thì cũng bị xử lý về tội đưa hối lộ hoặc tội môi giới hối lộ theo quy định tại các điều 364, 365 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Quy định này nhằm góp phần tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đồng thời, cũng nhằm thực thi Công ước quốc tế về chống tham nhũng mà nước ta là thành viên. 7. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa tối đa các tình tiết định tội, định khung có tính chất định tính, trừu tượng trong cấu thành của hầu hết các tội phạm Thực hiện khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013, “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật…” và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; trên cơ sở rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999, lựa chọn những nội dung hướng dẫn về các tình tiết này đã được thực tiễn kiểm nghiệm, khẳng định là còn phù hợp nhằm tăng tính minh bạch, rõ ràng, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã lượng hóa nhiều tình tiết định tính của Bộ luật Hình sự năm 1999 như: “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”; “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”; “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”; “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn” bằng các quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015.           Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn bị phạm tội theo hướng bổ sung thêm hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm để thực hiện một tội phạm cụ thể (bên cạnh các hành vi chuẩn bị phạm tội đã được quy định trước đây như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm (Điều 14). Quy định này tạo cơ sở pháp lý để chủ động ngăn chặn sớm tội phạm xảy ra, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, đồng thời phù hợp với tinh thần của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.           Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung cơ bản cấu thành của Tội mua bán người và Tội mua bán người dưới 16 tuổi theo tinh thần Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.           Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung Tội bắt cóc con tin (Điều 301) và Tội cướp biển (Điều 302) trên cơ sở các quy định của Công ước chống bắt cóc con tin năm 1979 và Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.           Thứ tư, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung Tội rửa tiền (Điều 324) nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu, các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về phòng, chống rửa tiền, trong đó đặc biệt chú ý là việc bổ sung chủ thể thực hiện tội phạm là pháp nhân thương mại.           Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 có những điều chỉnh về mặt kỹ thuật lập pháp theo hướng nâng cao tính minh bạch trong các quy định của Bộ luật Hình sự; bảo đảm tính thống nhất về mặt kỹ thuật giữa Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự và giữa Bộ luật Hình sự với các luật khác. II. VỀ NHỮNG NỘI DUNG MỚI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG PHẦN CHUNG CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 1. Về Tội phạm (Chương III) Chương III của Bộ luật Hình sự năm 2015 có 12 điều (từ Điều 8 đến Điều 19) quy định về chế định tội phạm, bao gồm: khái niệm tội phạm; phân loại tội phạm; cố ý phạm tội; vô ý phạm tội; tuổi chịu trách nhiệm hình sự; phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác; chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; đồng phạm; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, có 04 điều được giữ nguyên (gồm: Điều 10. Cố ý phạm tội; Điều 11. Vô ý phạm tội; Điều 15. Phạm tội chưa đạt và Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội); 01 điều được bổ sung mới là Điều 9 về phân loại tội phạm (được tách từ khoản 2 Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 1999) và 07 điều được sửa đổi một cách căn bản, với những nội dung cụ thể như sau: Điều 8. Khái niệm tội phạm Khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Điều 9. Phân loại tội phạm Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về phân loại tội phạm được tách ra từ khoản 2 Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và cơ bản vẫn giữ nguyên cách phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, theo đó, tội phạm được phân chia thành bốn loại: (1) tội phạm ít nghiêm trọng; (2) tội phạm nghiêm trọng; (3) tội phạm rất nghiêm trọng; (4) tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc phân loại tội phạm theo cách này giúp các nhà làm luật có thể thực hiện được nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự ngay trong luật và đây cũng chính là điều kiện để có thể cá thể hoá trách nhiệm hình sự trong luật và trong thực tiễn áp dụng, đồng thời, là cơ sở để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, để tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các thời hạn tố tụng cũng như quy định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, cần lưu ý là Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có sự khác biệt trong cách quy định về mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Cụ thể là, theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ít nghiêm trọng là đến 03 năm tù, tội nghiêm trọng là đến 07 năm tù và tội rất nghiêm trọng là đến 15 năm tù. Quy định này rất không rõ ràng vì chỉ quy định điểm cuối mà không quy định điểm bắt đầu để xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội, dẫn đến cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho việc xác định loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng. (Ví dụ, khoản 1 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức phạt tù đến 05 năm tù; khoản 2 Điều 113 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức phạt tù đến 10 năm tù. Nếu theo cách quy định mức cao nhất của khung hình phạt như trên thì không rõ các trường hợp phạm tội này thuộc loại tội nào). Để góp phần khắc phục bất cập nêu trên, đồng thời tăng tính rõ ràng, minh bạch của Bộ luật, Điều 9 đã quy định rõ điểm bắt đầu để xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội, làm cơ sở để xác định loại tội phạm, theo đó: – Tội ít nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền hoặc phạt cải tạo không giam giữ mà không có hình phạt tù hoặc là phạt tù đến 03 năm; – Tội nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 03 năm đến 07 năm tù; – Tội rất nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 07 năm đến 15 năm tù; – Tội đặc biệt nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân hoặc tử hình. Quy định này phân định rõ ranh giới giữa các loại tội, đồng thời, phù hợp với cách quy định các khung hình phạt trong từng tội danh trong Bộ luật Hình sự. Nhằm triển khai thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung khoản 2 Điều 9 Bộ luật Hình sự quy định phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại. Theo đó, tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện cũng được phân thành 04 loại, cũng dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các khung hình phạt tương ứng tại 33 điều luật quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong phần các tội phạm cụ thể. Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của người dưới 18 tuổi, trên cơ sở quán triệt quan điểm nhân đạo hóa và tăng tính hướng thiện của chính sách hình sự đối với lứa tuổi này trên tinh thần vì lợi ích tốt nhất của các em, quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự đã được sửa đổi một cách cơ bản theo hướng thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi, đặc biệt là đối với lứa tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Điều luật này có hai điểm mới đáng chú ý: Thứ nhất, khoản 1 Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự của người từ đủ 16 tuổi trở lên, theo đó, “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”, đồng thời, đã bổ sung quy định loại trừ: “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” để loại trừ trường hợp điều luật quy định chủ thể đặc biệt nhằm bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của phần chung và quy định trong phần các tội phạm cụ thể. Thứ hai, so với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đồng thời chỉ rõ những tội danh mà các em phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này thể hiện chính sách hướng thiện đối với trẻ em theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, đồng thời, góp phần nâng cao tính minh bạch của Bộ luật Hình sự, qua đó nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em ở độ tuổi này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 28 tội danh được nêu tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác Điều 13 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”. Về cơ bản, quy định này vẫn kế thừa quy định tại Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng có hai điểm mới cần chú ý: Một là, thay cụm từ “phạm tội trong tình trạng say” rất chung chung trong Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng các dấu hiệu cụ thể hơn. Đó là “phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”. Hai là, ngoài trường hợp phạm tội do rượu hoặc chất kích thích mạnh khác như Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung trường hợp phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do “bia” – loại đồ uống có cồn mà khi sử dụng nó có thể dẫn đến làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội – thì người phạm tội cũng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội để xác định vấn đề trách nhiệm hình sự của họ. Điều 14. Chuẩn bị phạm tội Về cơ bản, có ba điểm mới rất quan trọng: Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng nội hàm khái niệm “chuẩn bị phạm tội” bao gồm cả hành vi “thành lập, tham gia nhóm tội phạm”, trừ một số trường hợp hành vi này đã cấu thành một tội phạm cụ thể quy định tại Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và điểm a khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố) của Bộ luật Hình sự. Thứ hai, theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối hành vi chuẩn bị phạm tội là khá rộng, bao gồm chuẩn bị phạm bất cứ tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng nào được quy định trong Bộ luật Hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý hình sự đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội, theo đó, người có hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 24 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công cộng) Trên cơ sở quy định này, lần đầu tiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định một khung hình phạt riêng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội ngay trong điều luật quy định về từng tội danh cụ thể. Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi đối với hành vi chuẩn bị phạm tội đối với một trong hai tội danh là tội giết người và tội cướp tài sản. Điều 17. Đồng phạm Về cơ bản, Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa hoàn toàn quy định về đồng phạm tại Điều 20 của Bộ luật Hình sự 1999, đồng thời, có bổ sung thêm một quy định mới “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành” (khoản 4 Điều 17). Theo khoa học Luật hình sự hiện nay, những người đồng phạm bao gồm: người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức và người thực hành. Trong đó, Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi xướng việc tội phạm; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm; người giúp sức là người tạo điều kiện về vật chất hoặc tinh thần cho việc thực hiện tội phạm; người xúi giục là tác giả tinh thần của tội phạm; Người thực hành, là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, trong một vụ án đồng phạm, người tổ chức và người thực hành được coi là có vai trò quyết định dẫn đến hành vi phạm tội có thực hiện được hay không. Tuy nhiên, từ thực tiễn cho thấy, đôi khi người thực hành lại có hành vi vượt quá, không thực hiện đúng như những gì đã bàn với đồng phạm trước đó. Nếu buộc những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá này thì có nghĩa là buộc họ phải chịu trách nhiệm về những cái mà họ không biết, không có lỗi. Vì vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trong trường hợp này phải loại trừ trách nhiệm cho các đồng phạm để tránh việc quy tội khách quan. Điều 18. Che giấu tội phạm Quy định tại khoản 1 Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa toàn bộ nội dung quy định về che giấu tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm mới của điều luật này là đã bổ sung thêm khoản 2 quy định về việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật Hình sự. Điều đó có nghĩa là: Thứ nhất, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng mà che giấu tội phạm cho nhau thì về nguyên tắc không phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ trong trường hợp tội đã phạm là một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật Hình sự thì những người này mới phải chịu trách nhiệm hình sự; Thứ hai, trường hợp những người này che giấu tội phạm cho người khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường. Quy định này nhằm làm cho Bộ luật Hình sự phù hợp hơn với tâm lý và truyền thống đạo lý gia đình của người Việt Nam, theo đó, thông thường những người trong gia đình luôn có xu hướng che giấu, bao che cho hành vi sai phạm của những người ruột thịt, người vợ, người chồng của mình vì họ không muốn cho người thân của mình phải chịu cảnh tù giam cầm, tù tội. Điều 19. Không tố giác tội phạm Bên cạnh việc tiếp tục kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về không tố giác tội phạm, Điều 19 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm. Theo đó, khoản 3 Điều 19 quy định: “Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”. 2. Về Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự (Chương V) Chương V gồm có 3 điều quy định về hai vấn đề: Một là, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (các điều 27, 28); Hai là, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29). Nhìn chung, Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa toàn bộ quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự của Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm mới của chương này là mở rộng thêm trường hợp không áp dụng thời hiệu đối với một số tội (trong đó có tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ nếu thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng). Ngoài ra, Bộ luật còn quy định trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo hướng rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn, cụ thể: So với Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có những thay đổi như sau: Thứ nhất, tên điều luật được đổi thành “Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự”. Việc đổi tên điều luật này nhằm phù hợp và phản ánh rõ nội dung của điều luật. Thứ hai, điều luật phân định rõ hai loại căn cứ miễn trách nhiệm hình sự: (1) căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 29); (2) căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự (các khoản 2, 3 Điều 29). Cần lưu ý là theo khoản 1 Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì trường hợp “do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” là một trong những căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp này được chuyển thành căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 2 Điều 29), tức là trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng phải cân nhắc, xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định miễn hay không miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo. Thứ ba, khoản 1 Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa quy định này nhưng thể hiện lại rõ hơn theo hướng cụ thể hóa khái niệm “do chuyển biến của tình hình” bằng khái niệm “do có sự thay đổi chính sách, pháp luật”, theo đó, trong trường hợp vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nhưng do có sự thay đổi chính sách, pháp luật mà làm cho hành vi phạm tội đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự Sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa có thể là: (1) Bộ luật Hình sự đã phi tội phạm hóa đối với hành vi đó; (2) Tuy hành vi phạm tội vẫn còn quy định trong Bộ luật Hình sự do chưa kịp sửa đổi, bổ sung nhưng pháp luật chuyên ngành về lĩnh vực đó đã có sự thay đổi dẫn đến hành vi đó không còn bị nghiêm cấm nữa. Việc đưa ra xử lý người có hành vi phạm tội này sẽ không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Thứ tư, Bộ luật đã bổ sung thêm 02 căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự, bao gồm: – Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa (điểm b khoản 2 Điều 29); – Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 29). Thứ năm, quy định chặt chẽ hơn căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp người phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát giác. Theo đó, người phạm tội không chỉ tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, mà còn phải là người đã lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt được Nhà nước và xã hội thừa nhận mới được xem xét miễn trách nhiệm hình sự (điểm c khoản 2 Điều 29). 3. Về Các biện pháp tư pháp (Chương VII)           Chương VII. Các biện pháp tư pháp gồm có 04 điều (từ Điều 46 đến Điều 49) quy định về các biện pháp tư pháp. Điểm mới cơ bản nhất của chương này là việc bổ sung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Còn các nội dung khác cơ bản vẫn giữ như quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (ví dụ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015). Cụ thể như sau:           Về cơ bản, nội dung điều luật này vẫn kế thừa nhiều quy định tại Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, chỉ có vài sửa đổi nhỏ về nội dung và kỹ thuật nhằm thể hiện chính xác, cụ thể và khoa học hơn như sau:           4. Về Quyết định hình phạt (Chương VIII)           Chương VIII Quyết định hình phạt gồm 10 điều, được thiết kế thành hai mục: (1) Quy định chung về Quyết định hình phạt, gồm 04 điều (từ Điều 50 đến Điều 53); (2) Quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể, gồm 06 Điều (từ Điều 54 đến Điều 59). So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì số lượng các điều luật trong chương này không thay đổi, chỉ được sắp xếp, thiết kế lại thành hai mục rõ ràng hơn.           Thực tiễn xét xử cũng như quan điểm hướng thiện, bảo vệ quyền con người, bảo vệ những người yếu thế trong xã hội bằng pháp luật hình sự đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung thêm các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mở rộng phạm vi áp dụng đối với các trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Mặt khác các vướng mắc trong áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng đòi hỏi phải sửa đổi theo hướng minh bạch, rõ ràng để vừa tháo gỡ vướng mắc vừa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, so với Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số sửa đổi, bổ sung như sau:           Thứ nhất, bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau đây:           – Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điểm đ);           – Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra (điểm l);           – Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng (điểm p);           – Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (điểm x).           Thứ hai, sửa đổi tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 theo hướng tạo thêm cơ hội hơn cho người phạm tội được áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Theo đó, tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm” tại điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi thành “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.           Thứ ba, một số tình tiết giảm nhẹ được quy định ghép trong cùng một điểm của khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã gây tranh cãi và không thống nhất về nhận thức là một hay nhiều tình tiết giảm nhẹ. Để góp phần khắc phục bất cập này, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có gắng tách riêng từng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quy định thành những điểm khác nhau; đối với một số ít các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định chung trong cùng một điểm thì Bộ luật đã sử dụng từ “hoặc” thay cho dấu phẩy (,) trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để phân biệt. Ví dụ: điểm a khoản 1 Điều 51 (người phạm tội đã ngăn chặn hoặc giảm bớt tác hại của tội phạm) hoặc điểm b khoản 1 Điều 51 (người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả).           Thứ tư, khoản 2 Điều 51 bổ sung thêm tình tiết “đầu thú”, theo đó, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, những phải ghi rõ lý do trong bản án. Việc bổ sung quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, khuyến khích những người phạm tội đang trốn tránh ra đầu thú để được hưởng khoan hồng và giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí phục vụ cho việc điều tra, truy nã và sớm kết thúc vụ án. Về Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, so với Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số sửa đổi, bổ sung như sau:           Thứ nhất, sửa cụm từ ‘phạm tội đối với trẻ em’ thành ‘phạm tội đối với người dưới 16 tuổi’; sửa ‘người già’ thành ‘người đủ 70 tuổi trở lên’ (điểm i).           Thứ hai, bỏ các tình tiết phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng vì đây là các tình tiết định tội, định khung hình phạt mang tính chất định tính và trừu tượng. Các tình tiết này đã được lượng hóa cụ thể trong các tội phạm và khi đã là tình tiết định tội, định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng nữa.           Thứ ba, bổ sung đối tượng bị xâm hại là “người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức” vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, người phạm tội nếu phạm tội đối với người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức sẽ bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.           Thứ tư, bỏ tình tiết xâm phạm tài sản của Nhà nước. Tuy nhiên, trong Phần thứ hai “Các tội phạm” tình tiết này vẫn là tình tiết định tội, định khung hình phạt của một số tội. Ví dụ, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 2015).           Thứ năm, một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ghép trong một điểm của khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được tách ra và quy định thành các điểm riêng trong khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ví dụ như các tình tiết: Phạm tội 02 lần trở lên (điểm g); tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm h); dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội (điểm m); dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội (điểm n).           Thứ sáu, sửa tình tiết: “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội” thành “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” (điểm o).           Chú ý: Khác với các tình tiết giảm nhẹ, Tòa án không được coi các tình tiết khác là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Bị cáo quanh co, chối tội, không chịu nhận tội, không thành khẩn khai nhận tội, không ăn năn, hối cải hoặc không khai báo. Tòa án không được coi đó là thái độ “ngoan cố” để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.           Về cơ bản, nội dung của các tình tiết giảm nhẹ hoặc các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đã được hướng dẫn tại điểm c Mục 5 hoặc Mục 6 của Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại các điểm đ, l, p, x của khoản 1 Điều 51 hoặc điểm k của khoản 1 Điều 52 thì các Thẩm phán cần nghiên cứu thêm Luật người cao tuổi, Luật Người khuyết tật để hiểu sâu hơn về các quy định mới này.           Tóm lại, các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để quyết định hình phạt. Áp dụng thừa, thiếu, không đúng nội dung của các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ sẽ dẫn đến quyết định hình phạt không chính xác và sẽ đặt bản án vào nguy cơ bị sửa, thậm chí bị hủy nếu việc áp dụng các tình tiết này tùy tiện, không có căn cứ. Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng có một số sửa đổi, bổ sung như sau:           Thứ nhất, nội dung quy định tại khoản 1 điều này cơ bản kế thừa Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng có chỉnh sửa về mặt kỹ thuật cho rõ hơn theo hướng: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật này”.           Thứ hai, bổ sung mới khoản 2 của điều luật quy định về trường hợp Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung liên kề, theo đó, “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”. Đây là một quy định rất mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với những trường hợp người phạm tội lần đầu là người giúp sức, có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm, nhưng bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt nặng cùng với các đồng phạm khác. Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì dù có xem xét, khoan hồng tối đa, Tòa án cũng chỉ được phép áp dụng hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt được áp dụng và hình phạt đó vẫn là quá nghiêm khắc.           Tuy nhiên, khi áp dụng khoản 2 của điều luật này cần lưu ý là người được áp dụng cũng phải thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 của điều luật tức là họ cũng phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.           Thứ ba, khoản 3 Điều này được thiết kế trên tinh thần tách quy định tại đoạn cuối Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 về việc Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn, nhưng cụ thể và rõ ràng hơn: “Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”. 5. Về Xóa án tích (Chương X) Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, ổn định để làm ăn, sinh sống. Nội dung sửa đổi, bổ sung tập trung vào các vấn đề sau đây: (1) Quy định rõ những trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích; (2) Rút ngắn thời hạn để được xóa án tích; (3) Xác định thời điểm để tính thời hạn xóa án tích sớm hơn so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999; (4) Bỏ quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận xoá án tích đối với người được đương nhiên xoá án tích, đồng thời, giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận “không có án tích”, nếu họ có đủ điều kiện do luật định; (5) Bổ sung quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội. Cụ thể: Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án           Điều này quy định về điều kiện xoá án tích đối với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXIV (các tội phá hoạt hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh).           Cũng tương tự như quy định về đương nhiên xóa án tích, những nội dung mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 về xóa án tích theo quyết định của Tòa án tập trung vào ba vấn đề sau: Thứ nhất, bổ sung cách tính thời hạn xóa án tích đối với người bị kết án phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ , phạt tù có thời hạn nhưng hưởng án treo nhằm khắc phục hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999 là chưa quy định trường hợp này (điểm a khoản 2 Điều 71). Thứ hai, rút ngắn thời hạn để Toà án xem xét, quyết định xóa án tích từ các mức 3 năm, 07 năm và 10 năm giảm xuống với các mức tương ứng là 03 năm, 05 năm và 7 năm. Theo quy định tại Điều 71 thì trong thời hạn sau đây, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo mà người bị kết án chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới: – 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;- 03 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; – 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; – 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Thứ ba, xác định rõ thời điểm để tính thời hạn xóa án tích là kể từ thời điểm chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo. 6. Về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Chương XII) Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII gồm 18 điều luật (từ Điều 90 đến Điều 107) và chia thành 05 mục: – Mục 1. Quy định chung về xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, gồm 02 điều quy định về áp dụng Bộ luật Hình sự và các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; – Mục 2. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, gồm 04 điều quy định về điều kiện áp dụng, nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục; – Mục 3. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, gồm 02 điều quy định về điều kiện áp dụng, nghĩa vụ của người chấp hành án và việc chấm dứt trước thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng; – Mục 4. Hình phạt, gồm 04 điều quy định về các hình phạt, điều kiện áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; -Mục 5. Quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xoá án tích, gồm 06 điều quy định về cách thức tổng hợp hình phạt, mức hình phạt trong trường hợp người dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm nhiều tội hay tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; giảm mức hình phạt đã tuyên; điều kiện áp dụng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện và vấn đề xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi. So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Chương XII của Bộ luật Hình sự năm 2015 có những nội dung sửa đổi, bổ sung mới sau đây: Một là, về thuật ngữ, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” để chỉ đối tượng là người dưới 18 tuổi, thuật ngữ “trẻ em” để chỉ đối tượng là người dưới 16 tuổi, đồng thời, có sự phân hoá trong chính sách xử lý đối với trẻ em và người chưa thành niên là người phạm tội cũng như quy định xử lý nặng hơn khi đối tượng bị xâm hại là trẻ em, người chưa thành niên trong một số cấu thành tội phạm cụ thể (ví dụ: tội giết người, tội mua bán trẻ em, ….). Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” thay cho thuật ngữ “người chưa thành niên” và “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” thay cho thuật ngữ “trẻ em”,… Hai là, về nội dung, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) phạm tội nhằm bảo đảm sự phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường bảo vệ người chưa thành niên, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội được ghi nhận tại các Nghị quyết số 48/NQ-TW và số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, đồng thời bảo đảm sự phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp đối với người chưa thành niên. Nội dung sửa đổi, bổ sung về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội tập trung vào các vấn đề sau đây: (1) Tiếp tục hoàn thiện quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội; (2) Bổ sung các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự; (3) Hoàn thiện hệ thống chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng tăng cường khả năng áp dụng các chế tài không tước tự do; (4) Bổ sung các chế định pháp lý về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại; (5) Hoàn thiện quy định về xoá án tích đối với người chưa thành niên bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các em tái hoà nhập cộng đồng. Cụ thể: a)Về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91) Nội dung sửa đổi, bổ sung Điều này tập trung vào 03 vấn đề sau đây: Thứ hai, trên cơ sở kế thừa quy định tại khoản 2 Điều 69 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên, khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục: – Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này; – Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật tức là phạm tội rất nghiêm trọng thuộc một trong 28 tội danh mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định đối tượng này phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); – Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án. Như vậy, so với Bộ luật Hình sự 1999, khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 đã mở rộng đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định pháp lý này. Một số điểm cần lưu ý khi miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91: Một là, việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng đối với vụ án, bất kể ở giai đoạn điều tra, truy tố, hay xét xử và do cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ việc có thẩm quyền áp dụng. Để bảo đảm lợi ích tốt nhất đối với người chưa thành niên, sớm đưa các em ra khỏi vòng tố tụng, cần xem xét, áp dụng miễn trách nhiệm hình sự càng sớm càng tốt. Hai là, quy định này không loại trừ việc người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015 khi họ có đủ điều kiện quy định tại Điều này. Một điểm khác biệt giữa hai chế định miễn trách nhiệm hình sự này là miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 đồng nghĩa với việc trả tự do hoàn toàn cho người được miễn trách nhiệm hình sự, trong khi đó, người được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 sẽ phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức trong một thời hạn nhất định tuỳ từng trường hợp cụ thể. Do đó, chỉ miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Thứ ba, khoản 4 và khoản 5 Điều 69 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tiếp cận phù hợp hơn trong chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Công ước Quyền trẻ em khẳng định nguyên tắc: “Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em… phải là biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Như vậy, cách tiếp cận của Công ước trong việc áp dụng chế tài đối với người chưa thành niên là ưu tiên áp dụng các biện pháp không giam giữ. Các biện pháp mang tính giam giữ và hình phạt tù chỉ được áp dụng khi không còn cách nào khác. Tuy nhiên, theo cách quy định tại khoản 4 Điều 69 của Bộ luật Hình sự năm 1999 “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này” thì lại thể hiện theo hướng ngược lại, nghĩa là trước tiên Toà án phải cân nhắc việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, chỉ trong trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt thì mới áp dụng biện pháp tư pháp – với tính chất là những biện pháp thay thế hình phạt, nhân đạo hơn đối với người bị kết án. Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Hình sự 2015 đã thể hiện lại nguyên tắc này theo hướng phù hợp hơn với tinh thần của Công ước về Quyền trẻ em, theo đó, khi xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án trước hết phải cân nhắc khả năng áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc khả năng áp dụngbiện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với các em và chỉ khi xét thấy việc áp dụng các biện pháp này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt đối với các em. Đồng thời, khoản 6 của điều này cũng quy định rõ Toà án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa và với thời hạn thích hợp ngắn nhất (khoản 6 Điều 91). b) Về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự Khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự 1999 quy định việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng mà gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Tuy nhiên, chế định này cũng bộc lộ nhiều bất cập, ví dụ: thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại cộng đồng, các biện pháp hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, trên thực tế việc miễn trách nhiệm hình sự đồng nghĩa với việc trả tự do vô điều kiện mà không áp dụng bất kỳ các biện pháp giáo dục, phòng ngừa nào, điều này dẫn đến một thực tế là người chưa thành niên có thể tiếp tục tái phạm. Đây là lý do hạn chế việc áp dụng chế định này trong thực tiễn. Để góp phần khắc phục những bất cập này, đồng thời thực hiện chủ trương nhân đạo hóa, tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý hình sự, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người chưa thành niên theo hướng sớm đưa các em ra khỏi vòng tố tụng khi có điều kiện để tránh những tác động tiêu cực không cần thiết, Bộ luật Hình sự năm 2015, đã bổ sung một mục (Mục 2) với 04 điều quy định về 03 biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự, trong đó có 02 biện pháp hoàn toàn mới là khiển trách và hòa giải tại cộng đồng, còn 01 biện pháp là giáo dục tại xã, phường thị trấn được chuyển từ biện pháp tư pháp (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) thành một trong những biện pháp giám sát, giáo dục khi được miễn trách nhiệm hình nhằm tăng khả năng áp dụng các biện pháp có lợi hơn cho người chưa thành niên trong thực tiễn. Đây là các biện pháp mang tính giáo dục – phòng ngừa xã hội được áp dụng nhằm mục đích chính là giúp cho các em nhận rõ được lỗi lầm, có thái độ ăn năn hối cải, khắc phục sai phạm. Cụ thể như sau: Về Điều 93. Khiển trách Khiển trách là một trong ba biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ để sửa chữa lỗi lầm, khắc phục hậu quả và cải tạo để trở thành người có ích. Điều 93 quy định việc áp dụng biện pháp khiển trách như sau: Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Khiển trách chỉ áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự; (2) người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án. Thứ hai, về thẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện việc khiển trách. Việc khiển trách đối với người phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người phạm tội. Thứ ba, về nghĩa vụ của người bị khiển trách: Để tăng cường hiệu quả phòng ngừa tái phạm, khoản 3 Điều 93 quy định cụ thể các nghĩa vụ mà người bị khiển trách phải thực hiện như tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham giá các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Thời gian thực hiện các nghĩa vụ này từ 3 tháng đến 01 năm tuỳ từng trường hợp cụ thể. Về Điều 94. Hoà giải tại cộng đồng Điều 94 quy định về điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng cũng như nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Hòa giải chỉ áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng  hoặc tội nghiêm trọng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự; (2) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự. Thứ hai, về thẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Thứ ba, về nghĩa vụ của người dược áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng: Người dược áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các nghĩa vụ sau: xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham giá các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Cơ quan có thẩm quyền ấn định thời điểm xin lỗi và thời gian thực hiện các nghĩa vụ này từ 3 tháng đến 01 năm tuỳ từng trường hợp cụ thể. Về Điều 95. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn Điều 95 quy định điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng và nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự; (2) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự. Thứ hai, về thẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn từ 01 năm đến 02 năm và giao người được miễn trách nhiệm hình sự cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc giám sát, giáo dục. Thứ ba, về nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải thực hiện các nghĩa vụ: chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Thứ tư, về việc chấm dứt thời hạn giám sát, giáo dục: Để khuyến khích người được giám sát, giáo dục cải tạo tốt, khoản 3 Điều 95 của Bộ luật Hình sự quy định trường hợp người được giáo dục đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giám sát, giáo dục. c) Về biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng Mục 3 gồm 2 điều (Điều 96 và Điều 97) quy định về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và việc chấm dứt trước thời hạn biện pháp này. Điểm mới về biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì chỉ còn 01 biện pháp tư pháp, đồng thời tên biện pháp tư pháp này được đổi từ ”đưa vào trường giáo dưỡng” thành ”giáo dục tại trường giáo dưỡng” cho phù hợp hơn. Về bản chất của biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, điều kiện áp dụng, thủ tục áp dụng, hậu quả pháp lý cũng như việc chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cơ bản được giữ nguyên như quy định của Bộ luật Hình sự 1999 về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. d) Về hệ thống hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Mục 4 gồm 04 điều (từ Điều 98 đến Điều 101) quy định về các hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Về cơ bản các quy định này của Bộ luật Hình sự năm 2015 không có gì thay đổi so với quy định của Bộ luật Hình sự 1999.           Riêng hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 100) đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể hóa và mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt này đối với cả trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng và trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nhằm tăng cường khả năng áp dụng chế tài không tước tự do đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. e) Về việc quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xóa án tích           Nội dung sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt và xóa án tích tập trung vào các điều khoản sau đây: Điều 107. Xóa án tích Xóa án tích đối với người chưa thành niên bị kết án theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 bao gồm hai hình thức như đối với người đã thành niên. Đó là đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án. So với người đã thành niên phạm tội thì các quy định này chỉ có một điểm khác là thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người chưa thành niên thấp hơn so với người đã thành niên. Thứ nhất, quy định rõ 03 trường hợp người chưa thành niên bị kết án được coi là không có án tích (khoản 1): (1) người bị kết án là người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; (2) người bị kết án là người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý; (3) người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Thứ hai, quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng chỉ áp dụng hình thức đương nhiên xoá án tích (khoản 2). Thứ ba, quy định rõ điều kiện để người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được đương nhiên xoá án tích là không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới (khoản 2): – 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; – 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; – 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; – 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.

Tổng Quan Nội Dung Lớn Sửa Đổi, Bổ Sung Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

Thứ năm – 31/03/2016 09:10

​I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

​Xác định mục tiêu xây dựng BLTTHS thực sự khoa học, tiến bộ và có tính khả thi cao; là công cụ pháp lý sắc bén để đấu tranh hữu hiệu với mọi tội phạm, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến định.

​Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.

​Thứ hai, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cụ thể hóa các trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đầy đủ quyền và trách nhiệm luật định, hạn chế tối đa các quy định chung chung, phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành.

​Thứ ba, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, BLTTHS tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp, khắc phục căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra.

​Thứ tư, khẳng định tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn; đồng thời, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

​II. NHỮNG NỘI DUNG LỚN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

​1. Phân định mạch lạc, chính xác các giai đoạn tố tụng

​Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ riêng với những chủ thể tương ứng; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng khác nhau qua mỗi giai đoạn. Đánh dấu sự bắt đầu và kết thúc của mỗi giai đoạn là các văn bản tố tụng chuyên biệt gắn với giai đoạn đó (ví dụ: Giai đoạn khởi tố kết thúc khi có quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án; giai đoạn điều tra kết thúc khi ban hành kết luận điều tra…). Phân định chính xác, mạch lạc các giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để quy định đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trình tự, thủ tục, thời hạn nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu, yêu cầu của tố tụng hình sự.

​Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố chung trong một phần (Phần thứ Hai) và chỉ có 04 điều luật dành cho giai đoạn truy tố được đặt ở cuối cùng. Cách thiết kế cũng như số lượng điều luật như vậy chưa phù hợp với yêu cầu của một giai đoạn của tố tụng. Đồng thời, Bộ luật bố trí trình tự xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm thành 03 phần độc lập (Phần thứ Ba, Phần thứ Tư và Phần thứ Sáu). Quá trình áp dụng BLTTHS năm 2003 có ý kiến cho rằng, với kết cấu của Bộ luật như vậy có thể hiểu mỗi trình tự xét xử là một giai đoạn tố tụng. Thi hành án mặc dù được quy định là một phần trong Bộ luật nhưng luôn là vấn đề gây tranh luận trong thực tiễn áp dụng. Quá trình thi hành và sửa đổi Bộ luật, nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà thực tiễn đề nghị cân nhắc có nên coi thi hành án là một giai đoạn của tố tụng hình sự hay không.

​Nhằm bảo đảm tính khoa học trong phân chia các giai đoạn tố tụng, khắc phục những hạn chế trong kỹ thuật lập pháp của BLTTHS hiện hành(1), BLTTHS năm 2015 xác định tố tụng hình sự có 05 giai đoạn: Khởi tố; điều tra; truy tố; xét xử; thi hành án. Trên cơ sở đó, đã điều chỉnh khung kết cấu của BLTTHS. Thứ nhất, tách truy tố thành một phần độc lập với 02 chương quy định đầy đủ nội dung của giai đoạn tố tụng quan trọng này (Phần thứ Ba). Thứ hai, bố cục thủ tục xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm điều chỉnh chung trong một phần (Phần thứ Tư). Cách thiết kế này ngoài việc phản ánh chính xác nguyên tắc hai cấp xét xử, còn tạo cơ sở để loại bỏ những quy định trùng lắp, không nhất thiết phải quy định lặp đi lặp lại ở cả sơ thẩm và phúc thẩm. Thứ ba, tiếp tục khẳng định thi hành án là một giai đoạn của tố tụng hình sự; đây là giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa đưa kết quả của toàn bộ quá trình tố tụng thực thi trên thực tế, do đó cần phải tiếp tục điều chỉnh (Phần thứ Năm).

​2. Quy định đầy đủ, cụ thể trình tự, thủ tục và các hoạt động tố tụng trong từng giai đoạn nhằm đấu tranh có hiệu quả với tội phạm

​Một trong những mục tiêu quan trọng của việc sửa đổi BLTTHS lần này là phải tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đặt ra trong thực tiễn; xác lập đầy đủ cơ sở pháp lý để quá trình phát hiện, xử lý tội phạm được tiến hành chính xác, kịp thời, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển. Từ yêu cầu đó, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể là:

​Trong giai đoạn khởi tố: Trên cơ sở 10 điều của Bộ luật hiện hành, BLTTHS năm 2015 xây dựng Chương khởi tố vụ án hình sự gồm 20 điều luật với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung. Thứ nhất, làm rõ các khái niệm “tố giác về tội phạm”, “tin báo về tội phạm”, “kiến nghị khởi tố” nhằm giải quyết những vướng mắc đặt ra trong thực tiễn (Điều 144). Thứ hai, quy định đầy đủ, cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải quyết các nguồn tin về tội phạm nhằm xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích người dân tham gia đấu tranh chống tội phạm (các điều 146, 147, 151, 152). Thứ ba, điều chỉnh thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ 02 tháng lên 04 tháng nhằm tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn; đồng thời, để bảo đảm chặt chẽ, Bộ luật quy định việc gia hạn phải do Viện kiểm sát quyết định nhằm tránh lạm dụng, kéo dài thời gian giải quyết (Điều 147). Thứ tư, quy định cụ thể các biện pháp được phép áp dụng trong giai đoạn này nhằm khắc phục khoảng trống của pháp luật hiện hành (Điều 147). Thứ năm, cho phép tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm khi thuộc các trường hợp luật định (Điều 148). Thứ sáu, quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng (các điều 159, 160, 161).

​Trong giai đoạn điều tra: Thứ nhất, bổ sung đầy đủ các biện pháp điều tra nhằm đáp ứng yêu cầu phát hiện tội phạm, như: Các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp cưỡng chế tố tụng, biện pháp nhận biết giọng nói, định giá tài sản, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thứ hai, quy định chặt chẽ căn cứ và thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người, của công dân, như: Biện pháp khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu (Chương XIII). Thứ ba, quy định bắt buộc phải ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra (CQĐT) nhằm phản ánh trung thực quá trình hỏi cung, chống bức cung, nhục hình, đồng thời là căn cứ quan trọng để bảo vệ các cán bộ tư pháp đã tiến hành tố tụng đúng luật (Điều 183). Thứ tư, bổ sung và quy định đầy đủ các trường hợp tách, nhập, chuyển vụ án nhằm bảo đảm việc điều tra đúng thẩm quyền, khách quan, toàn diện (Điều 169 và Điều 170). Thứ năm, bổ sung trường hợp tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra mà chưa có kết quả định giá tài sản, tương trợ tư pháp (Điều 229).

​Trong giai đoạn truy tố: Thứ nhất, bổ sung và quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng công tố và chức năng kiểm sát trong giai đoạn truy tố (Điều 236 và Điều 237). Thứ hai, quy định Viện kiểm sát cấp trên phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa thay cho quy định “ủy quyền” hiện nay nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn (Điều 239). Thứ ba, nhằm tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ, Bộ luật quy định mọi quyết định tố tụng do Viện kiểm sát cấp dưới ban hành phải gửi cho Viện kiểm sát cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định này nếu thấy trái pháp luật (Điều 240). Thứ tư, bổ sung quy định cho phép nhập, tách vụ án trong giai đoạn truy tố để phù hợp với thực tiễn giải quyết (Điều 242). Thứ năm, quy định chặt chẽ các căn cứ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhằm tránh lạm dụng, kéo dài thời gian giải quyết; đồng thời, quy định trường hợp Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả cho CQĐT thì Viện kiểm sát trực tiếp bổ sung chứng cứ để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án (Điều 245 và Điều 246).

​Trong giai đoạn xét xử: Thứ nhất, nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, Bộ luật bổ sung quy định Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng không nhất thiết phải trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát; quy định cụ thể các trường hợp Tòa án trực tiếp xác minh, bổ sung chứng cứ (Điều 252 và Điều 284). Thứ hai, quy định khi xác định vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố thay vì chuyển trực tiếp cho Tòa án có thẩm quyền xét xử như hiện nay (Điều 274). Thứ ba, quy định chặt chẽ sự có mặt của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa nhằm bảo đảm quyền bào chữa của họ, đồng thời, tránh lợi dụng làm ảnh hưởng đến kế hoạch xét xử của Tòa án (Điều 290 và Điều 291); bổ sung quy định về tạm ngừng phiên tòa với thời hạn tối đa là quá 5 ngày, thay vì mọi trường hợp phải hoãn phiên tòa với thời hạn tối đa 30 ngày như hiện nay (Điều 251). Thứ tư, sửa đổi “giới hạn xét xử” trên cơ sở nguyên tắc việc xét xử được giới hạn trong phạm vi truy tố, truy tố tới đâu – xét xử tới đó; tuy nhiên, trường hợp cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại, nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn (Điều 298). Thứ năm, nhằm thể hiện rõ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Bộ luật không chia thành thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận như hiện hành mà nhập chung thành thủ tục tranh tụng tại phiên tòa (từ Điều 306 đến Điều 325). Thứ sáu, quy định Tòa án sẽ không mở phiên tòa nếu có căn cứ xác định việc điều tra, truy tố trước đó vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; tuyên bố bị cáo vô tội nếu không đủ chứng cứ kết tội (các điều 280, 260, 326). Thứ bảy, để bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, Bộ luật bổ sung những người có quyền kháng cáo và điều chỉnh phạm vi kháng cáo cho phù hợp (Điều 331). Thứ tám, quy định cụ thể thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm nhằm bảo đảm tranh tụng thay vì cách dẫn chiếu sang thủ tục sơ thẩm như hiện nay; bổ sung đầy đủ thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm (các điều 355, 357, 358).

​3. Thực hiện nghiêm túc yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân

​Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp khẳng định nguyên tắc: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 14). Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện tư tưởng pháp quyền, đề cao trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, đồng thời, là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con người, quyền công dân của mình.

​Thấu suốt tư tưởng của Hiến pháp, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa thành những quy định, yêu cầu cụ thể đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự. Thứ nhất, quy định mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải được quy định trong BLTTHS. Thứ hai, quy định từng biện pháp cưỡng chế tố tụng phải bị điều chỉnh chặt chẽ bởi 05 yếu tố: Căn cứ; thẩm quyền; trình tự; thủ tục; thời hạn. Thứ ba, bổ sung các quyền và cơ chế bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng một cách chặt chẽ, khả thi, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là cơ chế để bảo đảm cho người bị buộc tội nắm được các chứng cứ buộc tội nhằm thực hiện tốt việc tranh tụng. Thứ tư, bổ sung và quy định đầy đủ nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội; chừng nào chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội vẫn chưa bị coi là người phạm tội, nghiêm cấm các cơ quan tố tụng đối xử với họ như người phạm tội; trường hợp đã áp dụng đầy đủ các biện pháp cần thiết mà vẫn không đủ căn cứ để chứng minh tội phạm thì phải kết luận họ không có tội. Thứ năm, rút ngắn hợp lý thời hạn tạm giam để bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân; buộc các cơ quan tố tụng phải tính toán kỹ thời điểm bắt giam, đồng thời tổ chức lực lượng để khẩn trương kết thúc vụ án. Thứ sáu, quy định đầy đủ các cơ chế để người bị buộc tội thực hiện tốt quyền Hiến định “tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa”. Thứ bảy, bổ sung các quy định để “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được tổ chức thực thi nghiêm túc trên thực tế; tranh tụng phải trở thành quyền và nghĩa vụ của tất cả các bên; Tòa án phải thực sự khách quan, tôn trọng và lắng nghe đầy đủ các ý kiến; phán quyết của Tòa án chỉ căn cứ vào kết quả tranh tụng và các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa. Thứ tám, bổ sung và quy định cụ thể các thiết chế bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại để họ an tâm hợp tác với các cơ quan tố tụng phát hiện tội phạm. Thứ chín, sửa đổi, bổ sung các thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên”, phù hợp với chính sách bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Đảng, Nhà nước ta và các chuẩn mực quốc tế; việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên chỉ tiến hành trong trường hợp cần thiết, với mục đích chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ các em sớm nhận ra sai lầm để tích cực sửa chữa, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, trở thành công dân có ích cho đất nước. Thứ mười, bổ sung các quy định nhằm đề cao trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đồng thời quy định nghiêm khắc các chế tài áp dụng nếu cơ quan tố tụng vi phạm quy định của luật.

​4. Phân định hợp lý thẩm quyền giữa các cơ quan tố tụng và giữa các cấp tố tụng

​Nói đến tố tụng hình sự là nói đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan tố tụng trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án. Yêu cầu đặt ra là phải tổ chức bộ máy, phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan tố tụng và giữa các cấp tố tụng một cách khoa học, bảo đảm sự chủ động, độc lập và kiểm soát lẫn nhau. Làm được điều đó sẽ giúp cho hoạt động tố tụng hình sự vận hành thông suốt, hiệu quả, đề cao trách nhiệm, tránh sự lạm quyền. Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và tháo gỡ những vướng mắc qua thực tiễn thi hành, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung theo hướng:

​5. Tăng quyền, tăng trách nhiệm cho các chức danh tư pháp

​Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh, trách nhiệm luôn là mong mỏi của Bác Hồ lúc sinh thời. Giao nhiệm vụ theo tư tưởng của Bác là phải dân chủ, rõ nhiệm vụ, đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính sáng tạo của cán bộ. Người nói: Khi giao trách nhiệm cho cán bộ phải làm cho họ yên tâm công tác, hứng thú trong công việc. Muốn thế, người lãnh đạo phải làm sao cho cán bộ cả gan dám nói, cả gan đề ra ý kiến, cả gan phụ trách, cả gan làm việc(2). Đây cũng chính là nội dung quan trọng trong các chỉ đạo của Đảng ta về công tác cán bộ(3). Trong lĩnh vực tư pháp, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 yêu cầu: “tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”.

​Tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 chỉ rõ, bên cạnh những kết quả đạt được, việc phân định thẩm quyền tố tụng còn bộc lộ một số bất cập. Theo đó, các thẩm quyền chủ yếu tập trung vào thủ trưởng các cơ quan tố tụng; những người trực tiếp tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) có thẩm quyền rất hạn chế. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, tiến độ giải quyết vụ án, thậm chí là nguyên nhân của một số biểu hiện quan liêu, dựa dẫm, thiếu trách nhiệm trong quá trình tố tụng hình sự.

​- Tăng cho Điều tra viên các thẩm quyền: Thứ nhất, yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; thứ hai, triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; thứ ba, quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ; quyết định dẫn giải người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại; thứ tư, quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; thứ năm, thi hành lệnh phong tỏa tài khoản (Điều 37).

​- Tăng cho Kiểm sát viên các thẩm quyền: Thứ nhất, trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; thứ hai, triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; thứ ba, yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; thứ tư, bắt buộc có mặt khi CQĐT tiến hành đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét; thứ năm, yêu cầu CQĐT truy nã, đình nã bị can; thứ sáu, quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại; thứ bảy, quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 42).

​- Tăng cho Thẩm phán các thẩm quyền: Thứ nhất, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện biện pháp cưỡng chế; thứ hai, quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản; thứ ba, yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; thứ tư, yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; thứ năm, quyết định việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Điều 45).

​6. Đổi mới chế định chứng cứ và chứng minh cho phù hợp với tình hình mới

Chứng cứ và chứng minh là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tố tụng hình sự. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự thực chất là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, mặc dù cách thức tiến hành ở mỗi giai đoạn có khác nhau. Tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 đã chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định hiện hành về chứng cứ làm ảnh hưởng đến yêu cầu giải quyết vụ án, nhất là chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm “mạng”…

Có thể nói, những sửa đổi, bổ sung nêu trên đã góp phần hoàn thiện lý luận về chứng cứ; tạo cơ sở pháp lý vững chắc để đấu tranh hiệu quả hơn với tội phạm trong thời kỳ đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay.

7. Hoàn thiện chế định giám định tư pháp

Tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 chỉ ra nhiều hạn chế xung quanh chế định này. Bộ luật chỉ dành 05 điều để quy định về giám định là chưa tương xứng với tầm quan trọng và tính chất phức tạp của vấn đề. Việc thiếu quy định về thời hạn đang là một trong những nguyên nhân dẫn đến chậm trễ trong giám định hiện nay; thiếu cơ chế giải quyết xung đột trong trường hợp có nhiều kết luận khác nhau về cùng một đối tượng trưng cầu, làm bó tay các cơ quan tố tụng…

Những sửa đổi, bổ sung nêu trên sẽ tháo gỡ căn bản những vướng mắc trong công tác giám định. Đồng thời, đặt ra trách nhiệm cao hơn cho cơ quan tố tụng và cơ quan giám định phải phối hợp chặt chẽ nhằm bảo đảm nguyên tắc kịp thời, chính xác, tiết kiệm trong tố tụng hình sự.

8. Luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Ở Việt Nam, biện pháp điều tra đặc biệt (biện pháp nghiệp vụ) mới chỉ được đề cập có tính nguyên tắc trong các luật chuyên ngành (Luật An ninh quốc gia, Điều 24; Luật Phòng, chống ma túy (Điều 13) và giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Do BLTTHS chưa quy định biện pháp điều tra đặc biệt nên chưa phát huy cao hiệu quả của các biện pháp này, nhiều trường hợp lãng phí nguồn chứng cứ quan trọng có ý nghĩa trực tiếp chứng minh tội phạm. Trên thực tế, các Điều tra viên một mặt phải đối diện với những rủi ro trong quá trình đấu tranh chống tội phạm, nhưng đồng thời cũng gặp không ít khó khăn trong việc chuyển hóa chứng cứ để được pháp luật công nhận. Đặc biệt, trước yêu cầu của Hiến pháp năm 2013: Mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do luật định đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu và xử lý nghiêm túc, thấu đáo vấn đề này.

Trên cơ sở cân nhắc các điều kiện cụ thể của nước ta về mọi mặt, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, các cam kết quốc tế của Việt Nam và tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một chương mới để luật hóa biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thứ nhất, các biện pháp được phép áp dụng bao gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 223). Thứ hai, quy định chặt chẽ các trường hợp áp dụng chỉ đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền.

Sự Khác Nhau Về Tội Phạm Sở Hữu Trí Tuệ Giữa Hai Bộ Luât Hình Sự Năm 1999 Và Năm 2022

1

1. Người nào có thẩm quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ mà vi phạm quy định của pháp luật về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Luât hình sự năm 2015 bỏ điều khoản này.

2

Bộ luật hình sự 1999 không có quy định về tội này.

a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;

b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;

đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Luât hình sự năm 2015 bổ sung điều khoản này.

3

Điều 171. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Hàng hóa vi phạm trị giá500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Luât hình sự năm 2015 bỏ điều khoản này.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Điểm Mới Trong Phần Các Tội Phạm Của Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Năm 2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!