Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Hs Nghiên Cứu Khoa Học Kĩ Thuật / 2023 # Top 21 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Hs Nghiên Cứu Khoa Học Kĩ Thuật / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Hs Nghiên Cứu Khoa Học Kĩ Thuật / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Lựa chọn đề tài:

Muốn lựa chọn được một đề tài cần phải có ý tưởng tốt. Các thầy cô giáo tổ Hóa – Sinh  – Công nghệ rất chú trọng vào việc giúp học sinh hình thành những ý tưởng khoa học kỹ thuật. Để làm được điều này, khi triển khai cuộc thi về từng lớp, mỗi giáo viên cần đưa ra một số gợi ý, định hướng cho học sinh về các lĩnh vực nghiên cứu phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội của gia đình và địa phương; gợi ý cho học sinh phát triển ý tưởng từ một số dự án đã được thực hiện trước đó. Trên cơ sở những định hướng từ giáo viên, học sinh sẽ tư duy và tìm tòi những ý tưởng, giải pháp mới, gắn liền với thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành nên dự án khoa học, kỹ thuật. Thời gian để học sinh hình thành dự án và đưa ra được những kế hoạch nghiên cứu ban đầu có thể cần khoảng 1 tuần đến 1 tháng.

Sau khi thu thập các ý tưởng của học sinh, giáo viên sẽ nghiên cứu và lựa chọn những dự án có tính mới, tính khả thi để triển khai hướng dẫn học sinh nghiên cứu.

Lưu ý, với một số lĩnh vực học sinh gặp khó khăn trong việc tự tìm tòi ý tưởng, giáo viên hướng dẫn có thể nhờ sự giúp đỡ từ các nhà khoa học chuyên ngành đến từ các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu.

2. Lập kế hoạch thực hiện

Mỗi dự án khác nhau, mỗi lĩnh vực khác nhau có kế hoạch nghiên cứu khác nhau, cần phân biệt và xác định rõ dự án của học sinh là đề tài khoa học hay đề tài kỹ thuật để xây dựng kế hoạch nghiên cứu một cách triệt để.

Việc lập kế hoạch nghiên cứu nhằm quản lí tốt quỹ thời gian cũng như kiểm soát được tiến độ thực hiện một cách khoa học. Kế hoạch này cũng chỉ có vai trò như sợi chỉ dẫn đường, có tính linh động và dễ dàng điều chỉnh chứ không phải là bất di bất dịch.

Độ dài ngắn của từng giai đoạn còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mỗi người và thời hạn kết thúc đề tài.

3. Nghiên cứu tài liệu, xây dựng giả thuyết

Việc đầu tiên cần phải làm tốt trong một đề tài nghiên cứu là tìm kiếm tài liệu. Để học sinh làm tốt công việc này, giáo viên hướng dẫn cần định hướng cho học sinh tìm những tài liệu gì, tìm ở đâu và sắp xếp chúng như thế nào. Giáo viên cũng có thể cung cấp tài liệu và yêu cầu học sinh nghiên cứu, sắp xếp những thông tin có được một cách khoa học (theo dàn ý lập sẵn) nếu những tài liệu đó khó tìm kiếm. Giáo viên cũng cần lưu ý cho học sinh những thông tin tìm kiếm được phải xuất phát từ các nguồn tin chính thống (các bài báo, sách, tạp chí) có tác giả rõ ràng. Khi muốn lấy thông tin từ tài liệu nào, học sinh cần lưu tên tác giả, tên bài (báo, sách), nơi xuất bản, năm xuất bản, số thứ tự trang tài liệu, …

Sau khi nghiên cứu tài liệu và xây dựng giả thuyết, học sinh sẽ tiến hành viết đề cương nghiên cứu (tổng quan tài liệu) dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

4. Thu thập số liệu, xử lí thông tin

Đây là công việc trọng tâm của một dự án khoa học kỹ thuật. Từ kế hoạch nghiên cứu đã lập ra, học sinh bắt đầu tiến hành các giai đoạn thực nghiệm, thử nghiệm.

Để học sinh làm tốt công việc này, giáo viên hướng dẫn cần đề ra các bước làm cụ thể, hướng dẫn học sinh cách thu thập số liệu thực nghiệm, cách xử lí số liệu và phải yêu cầu học sinh ghi chép kết quả thực nghiệm một cách chi tiết, tỉ mỉ và cẩn thận vào một cuốn sổ, gọi là sổ tay thực nghiệm. Việc thu thập số liệu thực nghiệm cần có hệ thống, có quy luật chặt chẽ, nêu ra các yếu tố ảnh hưởng giá trị của số liệu thực nghiệm.

Từ tập hợp số liệu thu thập được, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích bằng toán học thống kê dựa trên cơ sở của lý thuyết xác suất để tìm ra quy luật, công thức chung hoặc tìm ra giá trị thực nghiệm tốt nhất.

5. Viết báo cáo kết quả nghiên cứu

Đây là công việc cuối cùng để hoàn thiện một dự án khoa học kỹ thuật trước khi dự án được gửi để tham gia cuộc thi. Một báo cáo tốt sẽ thể hiện được những kết quả đã đạt được của dự án, mức độ, phạm vi của dự án và sự cố gắng của những người thực hiện dự án. Đa số học sinh sẽ gặp khó khăn trong việc viết báo cáo kết quả nghiên cứu, vì vậy cần có sự hướng dẫn chi tiết của giáo viên.

6. Báo cáo và trưng bày sản phẩm

Một dự án khi được tham gia cuộc thi cấp tỉnh trở lên cần có:

– Sản phẩm hoàn chỉnh (nếu là dự án kỹ thuật) hoặc một báo cáo dự án hoàn chỉnh

– Tóm tắt báo cáo dự án: được viết sau khi dự án hoàn thành. Đó là một bản tóm tắt ngắn gọn (thường trong 01 trang giấy) để thông báo cho người đọc những gì dự án đã thực hiện được. Cấu trúc của tóm tắt dự án gồm:

+ Một tuyên bố về mục tiêu của dự án hay giả thuyết khoa học

+ Thiết kế thí nghiệm, phác thảo mô tả các phương pháp tiến hành thực nghiệm

+ Tóm tắt kết quả thu được

+ Kết luận

– Poster và các hình ảnh giới thiệu dự án: Không có một mẫu poster nào là cố định với mọi dự án. Một poster bắt mắt sẽ giúp người xem tập trung vào dự án. Tuy nhiên, dù là dự án khoa học hay dự án kỹ thuật, trên poster cần thể hiện được các nội dung sau:

+ Tên dự án, tên lĩnh vực, tên tác giả, tên trường

+ Lý do chọn dự án

+ Mục tiêu của dự án

+ Phương pháp, cách tiến hành thực nghiệm

+ Kết quả thực nghiệm (bảng số liệu, biểu đồ, hình ảnh quá trình thực nghiệm của học sinh, …)

+ Kết luận

+ Hướng phát triển của dự án

+ Chuẩn bị tâm lí tích cực và tự tin trước khi thuyết trình

+ Hiểu rõ và sâu sắc về dự án của mình hoặc nhóm mình thực hiện

+ Luyện tập thuyết trình nhiều lần trước cuộc thi, đặc biệt người hướng dẫn phải là người trực tiếp chỉnh sửa nội dung thuyết trình cho học sinh, đặt ra một số câu hỏi tình huống để học sinh tập trả lời

+ Cố gắng thoát li kịch bản

+ Thuyết trình có ngữ điệu, có trọng tâm, tránh dàn trải

+ Mặc trang phục thích hợp, gọn gàng

+ Giữ liên lạc bằng mắt với người nghe trong suốt thời gian trình bày

+ Trả lời tất cả các câu hỏi từ giám khảo nếu có thể, nếu không chắc chắn về một câu trả lời nào đó, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh cách trả lời, ví dụ như: “Mặc dù không chắc chắn, nhưng chúng em nghĩ có thể là…”. Nếu không trả lời được câu hỏi cũng không nên mất bình tĩnh, bởi vì mỗi lần tham gia cuộc thi là một lần học sinh được trải nghiệm, được học hỏi và đó là những gì quý báu nhất mà học sinh và giáo viên có được sau mỗi cuộc thi.

Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh – http://thptluunhanchu.thainguyen.edu.vn

Hướng Dẫn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Cho Sinh Viên / 2023

Để phục vụ công tác NCKH cho sinh viên năm học này, chúng tôi xin nêu một số phương pháp NCKH sau đây làm cơ sở tham khảo. Các quan điểm trình bày dựa trên kinh nghiệm của người viết, vì thực sự chưa có qui định chính thức về phương pháp NCKH. Các sinh viên có thể chọn phương pháp khác, sao cho phù hợp với mình, miễn là đề tài giải quyết được mục tiêu đề ra và được nghiệm thu.

Tài liệu nghiên cứu có thể đa dạng, để đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện. Thông thường, thực tiễn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tài liệu có được do khảo sát tình hình thực tế được đánh giá cao hơn tài liệu do đọc lại những tài liệu của người khác đã viết; và trong số đó thì các tài liệu có số liệu thống kê có giá trị cao hơn các tài liệu nặng về lý luận. Tuy vậy, do đặc thù nghiên cứu ngành luật thiên về định tính hơn định lượng, số liệu thực tế của ngành luật thường là những vụ việc hơn là những số liệu thống kê. Các tài liệu này có thể thu thập tại toà án, tại các sở ban ngành, hay trong quá trình khảo sát, phỏng vấn các đối tượng quan tâm. Nếu được phân tích kỹ lưỡng và có phương pháp, các tài liệu như vậy thường được đáng giá cao hơn là các trích dẫn của các tác giả lý luận trong và ngoài nước. Nhược điểm của các số liệu này là thường vụn vặt, xử lý rất khó khăn. Vì thế, người làm NCKH muốn tìm các tài liệu dạng này cần học qua một lớp về lập, phân tích và đánh giá khảo sát. Như vậy, trước khi tìm tài liệu, nên đánh giá đúng khả năng của mình, sở thích của mình để chọn cách tìm tài liệu thích hợp nhất.

Về phương pháp nghiên cứu, có ba phương pháp thông dụng nhất: phân tích (còn gọi là diễn dịch), tổng hợp (còn gọi là qui nạp) và so sánh. Các phương pháp này có thể kết hợp, tuy nhiên để có câu trả lời tập trung và có quan điểm dứt khoát, nên chọn một phương pháp chủ đạo, và giải thích tại sao lại chọn phương pháp này mà không phải là phương pháp khác. Nhìn chung, phương pháp NCKH phụ thuộc vào mục tiêu NCKH và nguyên nhân các vướng mắc.

Thời gian nghiên cứu phụ thuộc vào khả năng người viết NCKH. Karl Marx có thể viết bộ “Tư bản” toàn tâm toàn ý trong hơn 30 năm, nhưng một đề tài cấp bộ chỉ tối đa 2 năm, cấp trường là 6 tháng. Vì thế, nếu thời gian nghiên cứu không cho phép, nên thu hẹp phạm vi đề tài. Bắt đầu nghiên cứu bằng các nguồn của luật (văn bản pháp luật, điều ước quốc tế), các quyết định của toà án, các số liệu thống kê, sau đó mới đọc các bài báo hay quan điểm của các học giả. Điều này cho phép người đọc có cái nhìn khách quan về vấn đề, không bị ảnh hưởng bởi trường phái chủ đạo nào. Kết thúc nghiên cứu khi nhận thấy các tài liệu nghiên cứu mình đọc bắt đầu có nội dung như nhau, có thể dự đoán được. Đó là lúc bắt đầu viết NCKH. Điều cần tránh trong NCKH là thu thập tài liệu thiếu chiều sâu (quá ít tài liệu từ một nguồn) hay thiếu chiều rộng (sử dụng quá ít nguồn tài liệu). Không ai phê phán một người sử dụng “quá nhiều” tài liệu tham khảo.

Thông thường, đề cương NCKH có thể bắt đầu bằng “cơ sở lý luận”, chương tiếp theo là “thực trạng”, chương cuối cùng là “giải pháp”. Cách trình bày như vậy giúp người đọc nắm vấn đề một cách có hệ thống. Tuy nhiên, điểm yếu của cách trình bày này là phần “cơ sở lý luận” dễ trở nên quá dài và quá mỏng (nói quá ít thì thiếu hệ thống, nói quá nhiều thì xa mục tiêu). Chương 1 của đề tài NCKH giống giáo trình hay bách khoa toàn thư hơn là công trình chuyên khảo. Trong chương 2, phần thực trạng chỉ nêu được 1 vài vương mắc trong số các lý luận đã trình bày ở chương 1 (như vậy một số cơ sở lý luận đã nêu trở nên thừa). Vì thời gian và số chữ trong đề tài NCKH bị giới hạn, chương 3 (giải pháp) được trình bày sơ sài, không đủ chỗ để chứng minh tại sao giải pháp nêu ra lại giải quyết được vấn đề.

Vì thế, gần đây ở các nước như Anh, Mỹ đã xuất hiện phương pháp soạn đề cương mới – đó là nêu thực trạng trước, lý luận sau. Do mục tiêu của báo cáo NCKH không phải là để trình bày kiến thức, mà để giải quyết một vấn đề đang tranh cãi, điều đầu tiên người đọc quan tâm sẽ là “cho tôi biết vấn đề ở đâu?”

Sau khi nhìn thấy vấn đề (thực trạng, chương 1), thì chương 2 mới bắt đầu phân tích các qui định của pháp luật về vấn đề đang tranh cãi. Quá trình phân tích không thể chỉ mô tả luật, mà phải giải thích nguồn gốc, nguyên nhân của các điều luật, ưu điểm và khuyết điểm của các điều luật đó. Sau đó, tìm nguyên nhân tại sao các qui định hiện hành không giải quyết được vấn đề đang tranh cãi.

Chương 3 đề ra giải pháp để khắc phục, giải thích tại sao chọn giải pháp này mà không phải giải pháp khác, phân tích điểm mạnh, điểm yếu của giải pháp này, thu hẹp phạm vi áp dụng của giải pháp và đề ra mục tiêu nghiên cứu trong những đề tài NCKH tiếp theo. Cách trình bày này khiến người đọc đi ngay vào vấn đề và lôi cuốn ngay từ đầu. Nó cũng tiết kiệm thời gian cho người làm đề tài.

Viết đề cương theo trình tự như thế nào cũng đều chấp nhận được, miễn là trả lời được câu hỏi chính của đề tài. Tuy nhiên người viết nên lưu ý đến ưu điểm và khuyết điểm của mỗi cách viết. Điều cần tránh là đi lòng vòng quá lâu trước khi đi thẳng vào vấn đề chính; và việc đưa ra kết luận mà không phân tích một cách khách quan, toàn diện.

Thông thường, viết mở đầu sẽ là phần khó nhất, vì thế không nên bắt đầu viết bằng phần mở đầu (chờ làm xong đề tài mới quay lại viết phần mở đầu). Khi viết đề tài NCKH nên đọc đề cương xem phần nào mình thấy dễ viết thì viết trước. Nếu cảm thấy khó viết quá thì hãy trao đổi với đồng nghiệp, sinh viên, diễn đạt ý tưởng của mình, sau đó viết lại thành đoạn văn. Việc trao đổi ý kiến và tham gia hội thảo cũng giúp cho người viết tìm ý tưởng dễ hơn. Việc khó viết trong NCKH là do tư tưởng bị bế tắc. Trao đổi sẽ giúp khai thông tư tưởng và viết trôi chảy hơn.

Sau khi viết bản thảo đầu tiên, người viết có thể sẽ không hài lòng với bố cục; đừng ngần ngại sắp xếp lại, cho dù đề cương mới có khác với đề cương đề ra. Đề cương là để giải quyết mục tiêu của đề tài, chứ không phải đề tài phải viết cho đúng với đề cương ghi trong bản đăng ký NCKH.

VIẾT

Có rất nhiều cách viết báo cáo NCKH, vì thế người làm NCKH không nên ép buộc vào một cách viết “tốt nhất” (thí dụ: cơ sở lý luận – thực trạng – giải pháp). Ơ đây chỉ xin đề cập đến hai yêu cầu: (i) tập trung; và (ii) thuyết phục.

Cách viết tập trung yêu cầu người viết NCKH phải nêu câu hỏi chính và đề xuất được hướng giải quyết ngay trong phần mở đầu, sau đó mới phân tích tại sao hướng giải quyết như vậy là cần thiết. Cần tránh trường hợp đọc đến trang 20 mà vẫn chưa hiểu người viết muốn gì. Sau khi làm người đọc tập trung vào vấn đề, từng chương cần nêu các vấn đề nhỏ. Các vấn đề nhỏ nhằm mục đích giải quyết vấn đề chính, và nên có liên hệ với nhau một cách chặt chẽ. Giải quyết dứt điểm từng vấn đề, tránh tình trạng nhắc đi nhắc lại một vấn đề đã nói từ trước. Đưa ra giải pháp cho những trường hợp đơn giản trước, sau đó phát triển để đưa ra giải pháp cho trường hợp phức tạp.

Cách viết thuyết phục yêu cầu người viết phải (i) giới hạn điểm tranh luận, và (ii) sử dụng phép biện chứng. Để giới hạn điểm tranh luận, nên tìm nguyên nhân sâu xa của vấn đề và đề ra giải pháp, chứ không thể chỉ dừng ở nguyên nhân trực tiếp. Để sử dụng phép biện chứng, cần đặt nghi vấn cho giải pháp mình đưa ra, tự mình phản biện mình, sau đó tự mình bảo vệ giải pháp của mình chống lại những ý kiến phản biện. Vì bảo vệ một giải pháp không hề đơn giản, nên không nên nêu quá ba giải pháp cho một đề tài NCKH (các giải pháp khác nên dành cho người khác phân tích). Người đọc khó nhớ nổi nhiều hơn ba vấn đề trong một đề tài.

Cách hành văn cần dùng ngôn ngữ viết trong luật, tránh dùng từ quá nặng như “lừa đảo, kẻ, tên, bọn …” cho dù đó là ngôn ngữ dùng trên báo chí. Hạn chế sử dụng những ngôn từ quá trang trọng hay nặng về tình cảm hơn lý trí như “nâng cao hiểu biết”, “đẩy mạnh công tác”, “quán triệt”, “cực kỳ quan trọng”. Cách viết như vậy làm người đọc cảm thấy bài NCKH không thuyết phục bằng lập luận mà bằng cảm tính. Làm NCKH khác với hô khẩu hiệu. Tránh dùng những từ không rõ ràng như “có ý kiến cho rằng …” (phải nói ý kiến của ai v.v.), hay thiếu tự tin: “có lẽ”, “có khả năng là” (trừ trường hợp thích hợp). Khi trích dẫn phải đầy đủ theo thứ tự: tên, năm xuất bản, tên bài báo, số phát hành, số trang. Việc chú thích tuỳ tiện dễ làm người đọc có cảm giác người viết NCKH không nghiêm túc với đề tài.

Câu văn nên càng đơn giản, ngắn gọn càng tốt. Vì người đọc là hội đồng phản biện, họ không cần phải chứng minh lại các quan điểm phổ biến. Tuy nhiên, các vấn đề khó hiểu cần có dẫn chứng và phân tích.

Hướng Dẫn Thực Hiện: Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Môi Trường / 2023

Rate this post

Chuột đen – Loài động vật đang xâm lấn toàn cầu

Sự hủy diệt của các rạn san hô thế giới

Kiểm tra sự đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu

Việc sử dụng đèn LED có thể tạo ra sự khác biệt cho môi trường

Làm thế nào để sử dụng sức gió, năng lượng mặt trời và các nguồn năng lượng thay thế khác?

Lỗ Ozone cuối cùng cũng được chữa lành

Chất thải và thuốc trừ sâu đang làm ô nhiễm đất

Làm thế nào để ngăn chặn sự phá hủy san hô

Radon là một loại khí phóng xạ xuất hiện tự nhiên có thể gây ung thư phổi

Chăn thả gia súc: Lan truyền vi-rút và vi khuẩn chết người xâm nhập vào sông, suối và hồ của đất nước

Điều gì giết chết thiên nhiên: Ảnh hưởng của mưa axit đối với cá và động vật hoang dã

Ý nghĩa sinh thái của quá trình trao đổi giữa sông và nước ngầm

Trump có thể làm gì để bảo vệ môi trường

Bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng của vùng đất ngập nước Gabon

Hoasjoe: Chị gái bí ẩn của hang động pha lê ở Bermuda

Tầm nhìn của các loài có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới

Tính toàn vẹn sinh thái của hệ thống nước ngầm và dịch cúm Os thường bị đe dọa bởi các hoạt động của con người

Theo dõi sự phục hồi của các loài và vai trò của nó trong phục hồi rạn san hô

Sức mạnh của chúng ta là gì: Sự chuyển đổi sang phương tiện và nhiên liệu sạch hơn

Tác hại hàng ngày: Tại sao việc sử dụng chai nhựa có hại cho bạn

Nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề môi trường

Có rất nhiều trang web trên Internet nơi bạn có thể lấy nhiều dữ liệu và thông tin về môi trường. Nhận thức về cách đánh giá các nguồn trực tuyến? Nhìn vào bức tranh với các câu hỏi để trả lời khi bạn nhìn thấy một nguồn không xác định. Nhưng trước khi bạn bắt đầu trả lời chúng, hãy chú ý đến địa chỉ của trang web. Tên miền chính xác có thể giúp bạn quyết định xem thông tin có được công bố bởi một nguồn đáng tin cậy hay không. Hãy sử dụng các trang web có URL có đuôi .edu, .gov vì đó là tổ chức giáo dục và chính phủ. Đuôi .org chỉ đề cập đến các tổ chức phi lợi nhuận cũng thực hiện khảo sát và cung cấp kết quả nghiên cứu

Phác thảo ra các ý tưởng chính trong nghiên cứu môi trường của bạn

Một bản phác thảo được xây dựng tốt sẽ hỗ trợ rất đắc lực cho một bài nghiên cứu thành công. Điều cần thiết là phác thảo tất cả các ý tưởng của bạn trước để bạn có thể nghĩ ra những gì phù hợp hoặc những gì có thể loại bỏ trong quá trình viết. Xây dựng một cấu trúc bài nghiên cứu của bạn và phải tuân thủ theo nó. Nếu trong hướng dẫn thực hiện đề tài không chỉ định cấu trúc, bạn nên áp dụng cấu trúc cơ bản trong đó có các phần như phần giới thiệu với tuyên bố luận án, phần thân với 3 đoạn chính và kết luận bạn cũng có thể đưa ra một số khuyến nghị.

Thực hiện viết đề tài theo bản phác thảo

Chỉnh sửa bài nghiên cứu

Một bước nữa để thực hiện khi kết thúc quá trình viết là chỉnh sửa. Mỗi bài viết học thuật phải trải qua quá trình chỉnh sửa để nó không có bất kỳ khiếm khuyết nào trong cách viết và định dạng.

Tuy nhiên việc lao vào chỉnh sửa ngay sau khi bạn viết xong là một ý tưởng tồi. Khi đó, bạn sẽ không nhận thấy bất kỳ lỗi chính tả nào hoặc sẽ mắc nhiều lỗi hơn trong việc định dạng tài liệu tham khảo hoặc các trích dẫn ở trong văn bản.

Một cách tốt là bạn hãy tìm ai đó để đọc bài nghiên cứu của mình và đưa cho bạn những lời khuyên về việc chỉnh sửa.

Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực / 2023

Bước 2 : Tổ chức hoạt động học tập theo gócGiới thiệu bài học và các góc học tậpHS được lựa chọn góc theo sở thíchHS được học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (VD 10 – 15′ tại mỗi góc) để đảm bảo học sâu– Tổ chức trao đổi/chia sẻ (thực hiện linh hoạt)141. Tính phù hợpNhiệm vụ và cách tổ chức hoạt động học tập thực sự là phương tiện để đạt mục tiêu, tạo ra giá trị mới chứ không chỉ là hình thức.Nhiệm vụ giàu ý nghĩa, thiết thực, mang tính kích thích, thúc đẩy đối với HS.Tiêu chí học theo góc152. Sự tham giaNhiệm vụ và cách tổ chức dạy học mang lại hoạt động trí tuệ ở mức độ cao. HS tham gia vào hoạt động một cách chủ động, tích cực.Biết áp dụng kiến thức vào thực tế.Tiêu chí học theo góc163. Tương tác và sự đa dạngTương tác giữa GV và HS, HS với HS được thúc đẩy đúng mức.Tạo cơ hội cho HS áp dụng những kinh nghiệm đã có.Tiêu chí học theo góc17M?t s? luu ýChọn nội dung bài học phù hợp với đặc trưng của Học theo gócCó thể tổ chức 2 góc, 3 hoặc 4 góc tùy theo điều kiện và nội dung của bài họcChuẩn bị đầy đủ các thiết bị, tư liệu phù hợp với nhiệm vụ học tập của mỗi gócHS được chọn góc xuất phát và thực hiện nhiệm vụ luân phiên qua các góc đảm bảo học sâu và học thoải mái.18Học theo góc (tiếp theo)Môi trường học tập với cấu trúc được xác định cụ thể.Kích thích HS tích cực học thông qua hoạt động.Đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động.Mục đích là để học sinh được thực hành, khám phá và trải nghiệm qua mỗi hoạt động.19Ví dụ: 4 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo các phong cách khác nhau và sử dụng các phương tiện/đồ dùng học tập khác nhau. 20

2.3. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:– Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp– Kích thích sự tham gia tích cực của HS: Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).212.2. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”Vòng 1Vòng 211111122222233333322Ví dụ Chủ đề: Câu tiếng Việt* Vòng 1: Nhiệm vụ 1: Thế nào là câu đơn? Nêu và phân tích VD minh họa Nhiệm vụ 2: Thế nào là câu ghép? Nêu và phân tích VD minh họa Nhiệm vụ 3: Thế nào là câu phức? Nêu và phân tích VD minh họa

* Vòng 2: Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích VD minh hoạ23

VÒNG 1Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, …

Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, …)

Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao

Mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhómVÒNG 2Hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1 người từ nhóm 3 …)

Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau

Sau khi chia sẻ thông tin vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết

Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép”24Thiết kế nhiệm vụ “Các Mảnh ghép” Lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp Xác định một nhiệm vụ phức hợp để giải quyết ở vòng 2 dựa trên kết quả các nhiệm vụ khác nhau đã được thực hiện ở vòng 1Xác định những yếu tố cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp (kiến thức, kĩ năng, thông tin, chiến lược)Xác định các nhiệm vụ mang tính chuẩn bị (thực hiện ở vòng 1). Xác định các yếu tố hỗ trợ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 225Thành viên & nhiệm vụ các thành viên trong nhóm262.4. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm:– Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực– Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS– Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS272.3. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”124328

– Sáng tạo hơn Tiết kiệm thời gian Ghi nhớ tốt hơn Nhìn thấy bức tranh tổng thể Tổ chức và phân loại– … 38Cách tiến hành

Thiết kế trích đoạn kế hoạch DH áp dụng một số kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác và trình bày kết quả

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Hs Nghiên Cứu Khoa Học Kĩ Thuật / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!