Đề Xuất 12/2022 # Một Số Vấn Đề Cần Biết Về Mô Hình Trường Học Mới Vnen Tại Nước Ta / 2023 # Top 16 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Một Số Vấn Đề Cần Biết Về Mô Hình Trường Học Mới Vnen Tại Nước Ta / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Vấn Đề Cần Biết Về Mô Hình Trường Học Mới Vnen Tại Nước Ta / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dự án mô hình giáo dục mới VNEN tại Việt Nam là mô hình giáo dục nhằm xây dựng và mở rộng kiểu trường học tiên tiến, hiện đại phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục. Mô hình trường học mới này được khởi xướng bởi Clara Victoria Colbert, bắt nguồn từ Colombia để áp dụng vào các chương trình giáo dục cho những lớp học ghép tại khu vực miền núi khó khăn, lấy học sinh làm trung tâm chính là nguyên tắc chính của mô hình giáo dục mới này. Mô hình giáo dục mới này được kế thừa những mặt tích cực của môi trường học truyền thống kết hợp với việc đổi mới căn bản về nội dung chương trình, mục tiêu đào tạo, phương pháp giảng dạy, tài liệu học tập, cách đánh giá, cách quản lý, các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất,…

Mô hình giáo dục mới VNEN có rất nhiều đặc điểm nổi bật: lấy hoạt động học tập của sinh viên làm trung tâm, giáo viên chỉ đảm nhiệm vai trò là người hướng dẫn. Thường xuyên đánh giá năng lực học sinh trong quá trình học tập và hướng dẫn phương pháp học tập mới nhằm đánh giá phương pháp giáo dục mới có đạt hiệu quả. Các cơ quan quản lý giáo dục phối hợp với nhà trường, giáo viên trong trường cùng nhau xây dựng môi trường học tập cởi mở, thân thiện, hiệu quả. Sách giáo khoa cho mô hình giáo dục mới này là tài liệu hướng dẫn được thiết kế cho học sinh thực hiện các hoạt động, tự học, học nhóm, sách biên soạn cho 3 trong 1, nghĩa là sách dùng chung cho cả giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh. Hoạt động học tập của học sinh sẽ không còn phải đóng khung trong 4 bức tường nữa, giáo viên sẽ giúp học sinh “vận dụng” và “tìm tòi, mở rộng” ra bên ngoài. Đây là một trong những hoạt động cần giao cho học sinh thực hiện ngoài giờ lên lớp, giáo viên không nên tổ chức dạy học hoàn toàn trên lớp.

Trong nội dung các hoạt động này, giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao trình độ tác nghiệp để có đủ điều kiện đáp ứng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức học tập và giáo dục, đánh giá năng lực học sinh, phối hợp với các bậc phụ huynh và cộng đồng. Còn các tài liệu học tập chỉ là những hướng dẫn, gợi ý về những phương pháp thực hiện,… từ đó học sinh có thể tự lựa chọn tình huống thực tiễn, áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đó.

Trên thực tế cho thấy có 5 triệu trẻ em trên toàn cầu đang theo học mô hình giáo dục này. Đối tượng cụ thể là: trẻ em nông thôn, miền núi, ghép độ tuổi, trình độ học vấn khác nhau, sỹ số lớp học không quá đông. Tại Việt Nam dự án giáo dục mới này được triển khai từ năm 2012 – 2013, được áp dụng ở cả khu vực thành phố và nông thôn cụ thể là: 54 tỉnh (thành phố), 2,365 trường tiểu học, 1000 Trường Trung học cơ sở. Mục đích của phương pháp giáo dục mới này là: học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức, chú trọng tự học, làm việc nhóm, nâng cao kiến thức đời sống và kĩ năng mềm, có giáo viên biết chủ động và linh hoạt,…

Tuy nhiên, mô hình giáo dục mới VNEN này lại có khá nhiều bất cập, nhược điểm:

– Mô hình giáo dục mới này chỉ áp dụng cho lớp học có số lượng học sinh vừa phải, số lượng học sinh thích hợp cho một lớp học đó từ 25 – 30 học sinh thế nhưng nhiều trường học hiện nay số lượng lên tới 40 học sinh. Chính vì vậy, không thể áp dụng mô hình học này vì không có không gian.

– Với mô hình giáo dục mới đòi hỏi phải có sự đầu tư về vật chất, phụ huynh sẽ phải gánh thêm nhiều khoản kinh phí, thế nhưng ở những khu vực nghèo khó như miền núi, phụ huynh không có khả năng đáp ứng được vấn đề này.

– Áp dụng mô hình giáo dục mới VNEN này vào cho học sinh tiểu học khó có thể đạt hiệu quả vì học sinh tiểu học còn quá nhỏ để có thể tự quản cách học nhóm (nhận xét, đánh giá, báo cáo,…). Những phương pháp này khi áp dụng cho học sinh cơ sở còn khó thực hiện thì học sinh tiểu học không thực hiện được là điều đương nhiên.

– Để có thể đáp ứng được mô hình học mới VNEN thì học sinh cần phải chuẩn bị bài ở nhà, tức là ngoài việc học 7 tiếng trên lớp, về nhà học sinh phải dành ra 2 – 3 tiếng để tự học và tự chuẩn bị bài. Điều này lại trái với quy định của Bộ giáo dục không giao bài về nhà cho học sinh.

– Khi cho học sinh làm các hoạt động nhóm, sẽ có những học sinh yếu kém, lại có những học sinh thông minh tiếp thu kiến thức học tập khá nhanh, chính vì thế mà việc hoạt động nhóm không hoàn toàn đồng bộ. Bên cạnh đó, giáo viên phải mất thêm nhiều thời gian để kiểm tra các hoạt động nhóm của học sinh. Với mô hình học mới này thì chỉ có vài em học sinh trong lớp học tập tốt, còn lại thụ động, nhút nhát, khó nắm bắt bài vở.

– Với hình thức hoạt động nhóm, giáo viên hướng dẫn rất khó có thể kiểm soát được học sinh trong lớp, học sinh sẽ tự do chạy đi chạy lại trong lớp học, khiến cho lớp học ồn ào, khó kiểm soát và ảnh hưởng đến những bạn học xung quanh, chính vì vậy giáo viên khó có thể nắm bắt được học sinh có đang làm đúng nhiệm vụ hay không.

– Với mô hình giáo dục mới VNEN này, học sinh cần phải có bộ tài liệu “3 trong 1” thì mới có thể học tập. Sẽ không thể áp dụng mô hình giáo dục mới VNEN nếu như học sinh và giáo viên không có bộ tài liệu này.

2. Mô hình trường học mới VNEN ở nước ta

2.1. Mô hình giáo dục mới VNEN ồ ạt rồi bất ngờ dừng lại

Mô hình giáo dục mới VNEN đã trở thành nỗi ám ảnh cho giáo viên, phụ huynh và học sinh. Thế nên có rất nhiều phụ huynh đã cố gắng chọn cho con mình một trường học không áp dụng mô hình giáo dục mới, nhiều phụ huynh đang có con học bậc Trung học cơ sở cũng phản ứng và quyết định xin cho con ra khỏi chương trình học này.

2.2. Mô hình giáo dục mới VNEN ở nước ta

Theo kết quả rà soát tại Hà Tĩnh cho thấy, phần lớn các bậc phụ huynh đều không chấp nhận cho con mình học theo mô hình giáo dục mới VNEN. Trường tiểu học Cẩm Quang (Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh) được lựa chọn là trường thí điểm mô hình VNEN. Nhưng phần lớn các bậc phụ huynh học sinh của trường học này đều phản đối. Không phải ngẫu nhiên phần lớn phụ huynh lại phải đối mô hình học mới này. Hội đồng của tỉnh thẳng thắn chia sẻ: “phụ huynh đã được trực tiếp quan sát mô hình học mới này, quan sát giáo viên áp dụng vào giảng dạy như thế nào? Nhìn chung các tiết dạy đều tổ chức theo một mô típ, khiến cho tiết học trở nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt, không thu hút được học sinh, nó giống như một cỗ máy được lập trình sẵn”.

Mặt khác, theo thống kê cho thấy: năm học 2016 – 2017, cả nước có 4.393 trường tiểu học (29,2%) với 1.542.863 học sinh tiểu học (19,8%) theo mô hình VNEN. Tổng số tiền chi trả cho bộ tài liệu theo mô hình học mới này lên tới 400 tỉ đồng. Vấn đề cần đặt ra đó là, ngoài việc giá sách cao gấp 3 so với sách hiện thành, trong khi đó sách chỉ bản có độc quyền thông qua Giáo dục. Có thể kết luận việc theo mô hình giáo dục mới VNEN còn quá nhiều bất cập, đấy chính là nguyên nhân vì sao mô hình học này đang sụp đổ dần dần tại Việt Nam.

3. Nguyên nhân dẫn đến thất bại của chương trình VNEN

Cho đến thời điểm này có thể khẳng định việc theo mô hình giáo dục mới VNEN đã thất bại, đi vào ngõ cụt và không có phương pháp cứu vớt. Theo sát quá trình thực hiện và áp dụng chương trình VNEN kể từ ngày triển khai cho đến nay, bản thân chúng tôi nhận thấy việc thất bại của chương trình học mới này xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

– Thứ nhất: Dự án mô hình giáo dục mới VNEN được giao cho những người thầy chuẩn bị về hưu nên tinh thần làm việc của học chỉ là “đóng góp” cho quá trình còn đang công tác, họ không có trách nhiệm lâu dài cho việc này nên thái độ làm việc, áp dụng mô hình học mới này rất hời hợt, thiếu trách nhiệm. Những người thực hiện kế hoạch này còn thiếu tính kiên định, mục tiêu làm được đề ra theo kiểu “đẽo cày giữa đường” khiến cho việc thực hiện bị thất bại.

– Thứ hai: làm việc không tới nơi là một trong những tác phong làm việc thiếu trách nhiệm của nước ta. Vì thực hiện theo dự án nên khi hết thời gian và kinh phí của dự án nên người ta cũng buông bỏ giữa chừng. Cụ thể là, các trường học ban đầu hào hứng với mô hình học mới thì có chi phí hỗ trợ, đầu tư. Hết dự án, Bộ đưa ra những hướng dẫn nửa vời nên các trường, địa phương họ cũng không còn thiết tha với mô hình học mới VNEN này nữa.

– Thứ ba: công tác tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên đứng lớp chưa chu đáo, tỉ mỉ, tường tận nên khi áp dụng vào giảng dạy luôn ở trạng thái nửa vời, hướng về chương trình giảng dạy cũ, hững hờ với mô hình học mới VNEN.

– Thứ tư: Tài liệu “3 trong 1” giảng dạy theo mô hình VNEN quá đắt, đắt hơn so với bộ sách giáo khoa hiện hành. Bên cạnh đó, nội dung học tập năm nào cũng chỉnh sửa, bổ sung, thành ra tài liệu học theo mô hình mới chỉ học được trong 1 năm rồi bỏ. Chính điều này đã khiến cho các bậc phụ huynh chán ngán, tẩy chay vì phải bỏ một khoản lớn ra để đầu tư cho con học tập mà thu lại kết quả học tập không hiệu quả.

– Thứ năm: Bộ giáo dục không chịu lắng nghe những đóng góp ý kiến của xã hội để điều chỉnh sao cho phù hợp phát triển mô hình học mới.

Chuyên Đề: Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Theo Mô Hình Trường Học Mới Vnen / 2023

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI “VNEN”.Năm học: 2012 – 2013PHẦN I: GIỚI THIỆU MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI “VNEN”Từ đầu năm học 2011-2012, Dự án mô hình Trường học mới Việt Nam (viết tắt là Dự án GPE-VNEN) được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thực hiện thí điểm tại 24 trường tiểu học; Năm học 2012 – 2013 triển khai tại 1.447 trường ở 63 tỉnh, thành phố của cả nước. Nội dung cơ bản của Dự án là chuyển đổi sư phạm từ cách dạy học truyền thống sang cách dạy học hiện đại, lấy học sinh làm trung tâm, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục các nhà trường tiểu học ở Việt Nam. Dự án được thực hiện bằng nguồn kinh phí viện trợ không hoàn lại của Quỹ Giáo dục toàn cầu. Tài liệu hướng dẫn học tập cho học sinh được biên tập lại từ chuẩn chương trình và sách giáo khoa hiện hành để quá trình dạy học chuyển từ truyền thụ kiến thức sang tổ chức quá trình tự học. Dự án này được thực hiện trong 3 năm (2012-2015), thí điểm ở 1.447 trường tiểu học tại 63 tỉnh, thành.* Năm học 2012 – 2013 T.Điểm Lớp 2, lớp 3* Năm học 2013 – 2014 Lớp 2,lớp 3,lớp 4* Năm học 2014 – 2015 Lớp 2,3, lớp 4, lớp 5* I, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DỰ ÁN:1. Chuyển đổi mô hình nhà trường truyền thống sang mô hình nhà trường kiểu mới tại Việt Nam– Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo là đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn tới. Mô hình trường học kiểu mới phải đảm bảo: + Đổi mới căn bản Hoạt động giáo dục “Tự giáo dục”. + Đổi mới căn bản cách dạy và học: “”. + Đổi mới đánh giá: “Tự đánh giá” và “Đánh giá năng lực“+ Giáo viên thực sự trở thành người tổ chức, hướng dẫn các HĐGD và HDDH cho HS. + Gia đình, cộng đồng là một thành tố của HĐGD trong nhà trường: tự nguyện, chủ động2. Mô hình “VNEN” phải đảm bảo: – Nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển năng lực (sáng tạo, chia sẻ, khả năng tự học, tự lập…) cho HS.– Đổi mới PPDH theo hướng hiện đại (có vai trò quyết định tới chất lượng giáo dục). + Mô hình Trường học mới là mô hình áp dụng phương pháp giảng dạy mới, thay thế phương pháp dạy truyền thống. Ở mô hình này học sinh giữ vai trò trung tâm, coi trọng cách học của học sinh, giáo viên là người hướng dẫn và đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu kiến thức. Đây là mô hình hiện đại, rèn luyện tính độc lập, sự tự tin, đồng thời kích thích sự sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, để mô hình thành công cần sự đồng hành của cộng đồng xã hội, của phụ huynh và sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Ngành Giáo dục tỉnh nhà. Các trường Tiểu học được chọn thí điểm tập trung đổi mới hoạt động sư phạm, chuyển đổi từ dạy học truyền thụ của giáo viên sang tổ chức hoạt động tự học của học sinh. Để học sinh được thụ hưởng tốt nhất lượng kiến thức của bài học thì quá trình tự học, tự giáo dục của học sinh là trung tâm của hoạt động trong bài giảng. Bên cạnh đó, đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh, chú trọng tự đánh giá, đánh giá vì sự tiến bộ trong quá trình học tập của học sinh cũng là nội dung chính của mô hình này. II.MỤC TIÊU CỤ THỂ CỦA DỰ ÁN:Hỗ trợ 1.447 trường Tiểu học (63 tỉnh, TP) đổi mới Sư phạm theo cách tiếp cận của mô hình VNEN.– Quá trình dạy học lấy quá trình học của HS làm trung tâm. Rèn luyện cách học, cách tư duy cho HS.– Nội dung và cách thức giáo dục được điều chỉnh phù hợp với mô hình.– GV, CBQL được tập huấn bồi dưỡng trở thành người có vai trò mới trong nhà trường.III.ĐẶC TRƯNG ĐIỂN HÌNH CỦA MÔ HÌNH “VNEN”:1. Đặc điểm tài liệu Hướng dẫn học:a, Các môn học: Các môn học 1. Tiếng Việt 2. Toán 3. Khoa học, 4. Lịch sử và Địa lí * Các HĐGD 1. GD Đạo đức 2. GD Mĩ thuật 3. GD Âm nhạc 4. GD Thể chất 5. GD Kĩ năng sống Trong Mô hình VNEN các môn học Đạo đức, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thủ công, Thể dục hiện nay được coi là các hoạt động giáo dục, đã được thiết kế các bài dạy theo hướng tổ chức các hoạt động giáo dục góp phần tích cực đào tạo con người toàn diện.* Không nặng về Kiến thức, hướng vào phát triển các kĩ năng cần thiết, phát triển năng lực cho HS.* Tích hợp các nội dung vào môn TV, Toán, TNXH.* Đạo đức, Âm nhạc tích hợp vào TV để Giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, con người.* Mĩ thuật, Thủ công tích hợp để làm ra các sản phẩm giáo dục, làm các ĐDDH các môn học.* Thể dục tổ chức các sân chơi, trò chơi vận động, phát triển thể chất, tinh thần; ý thức tổ chức, kỉ luật cho HS. Mục đích nhẹ nhàng về kiến thức, tích hợp các nội dung, phong phú về tổ chức, nhằm mục tiêu chung phát triển con người.b, Đặc điểm tài liệu:* Dùng cho học cả ngày; Tự học, học nhóm; Chung (3 trong 1).* Cung cấp kiến thức kết hợp hướng dẫn cách học và tư duy;* Nội dung: giữ nguyên chuẩn KTKN, KT được lồng ghép với quy trình học.* Thiết kế các hoạt động học theo các mô đun theo quá trình học.Mô hình trường học mới tập trung đổi mới hoạt động sư phạm, chuyển đổi từ dạy học truyền thụ sang tổ chức hoạt động tự học. Trước đây, học sinh (HS) học theo lớp là chủ yếu, nay sẽ chuyển sang học theo nhóm, cặp, cá nhân. Tài liệu hướng dẫn học đã được thiết kế lại trên cơ sở SGK hiện hành để HS có thể tự học, tự đánh giá. Thay vì lối dạy “đọc, chép”, giáo viên giờ chỉ là người tổ chức, theo dõi, hướng dẫn giúp đỡ và chuẩn bị đồ dùng học tập cho HS. c, Bài học thiết kế theo mô hình VNEN Tên bài I. Mục tiêu II. Các hoạt động A. Hoạt động Cơ bản– Giúp HS trải nghiệm, tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức, thông qua hoạt động. HS hoạt động theo nhóm, cặp, cá nhân. (có sự hướng dẫn của GV nếu cần thiết)B. Hoạt động Thực hành– Giúp HS áp dụng trực tiếp kiến thức đã học, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng.C. Hoạt động Ứng dụng– Giúp HS vận dụng kiến thức vào thực tế, cùng với sự giúp đỡ của cha mẹ, người lớn.

* Thiết kế các hoạt động học tập theo các môđun.* Cung cấp kiến thức kết hợp hướng dẫn phương pháp học và phương pháp tư duy.* Nội dung học lồng ghép quy trình học.* Dùng chung (3 trong 1) và sử dụng nhiều năm.2. Tổ chức lớp học* Học theo nhóm là chủ yếu; học trong lớp và học ở ngoài lớp học.* Tổ chức Hội đồng tự quản HS.* Xây dựng góc học tập và thư viện lớp học.* Xây dựng bản đồ Cộng đồng và Góc cộng đồng.2.1. Hội đồng tự quản HS Thành lập vì HS, cho HS, bởi HS; HS tự bầu, tự tổ chức, tự quản. Tự XD kế hoạch, chương trình hoạt động. Tự điều hành HĐ.

Vào tuần thứ nhất của năm học giáo viên chủ nhiệm đã tổ chức cho học sinh tự ứng cử, tranh cử, bầu cử vào hội đồng tự quản học sinh. Hội động tự quản học sinh tự bầu, tự phân và nhận các chức danh như CTHĐTQ, PCTHĐTQ và từ đó HĐTQ tự mời các thành viên tham gia vào các ban do hội đồng tự quản điều hành. Sau khi đã thành lập được HĐTQ chúng tôi đã tổ chức lớp tập huấn cho Hội đồng tự quản học sinh về nhiệm vụ cụ thể của từng ban và cách thức làm việc: Ví dụ : CTHĐTQ cần phải làm những việc như: Vào đầu và cuối mỗi tiết học hoặc khi có khách tới CTHĐTQ biết mời các bạn đứng lên chào. Vào mỗi tiết học bước ra khỏi chỗ ngồi đứng trước lớp mời Ban văn nghệ lên sinh hoạt văn nghệ, sau đó mời Ban học tập lên phát tài liệu và đồ dùng học tập. Về lại chỗ ngồi học tập.* Ban văn nghệ tổ chức cho các bạn hát, chơi trò chơi vào đầu tiết học và cuối tiết học. Có thể lồng ghép chơi trò chơi để ôn lại kiến thức cũ Ví dụ: Sau khi học xong Bài 8 ( tài liệu Tiếng việt 2A): Thầy cô là người mẹ hiền ở trường của em ban văn nghệ có thể tổ chức cho các bạn chơi trò chơi Tìm từ nhanh để tìm từ chỉ hoạt động hoặc chơi các trò chơi khác do các em sáng tạo hay nhờ sự tư vấn của phụ huynh.* Ban học tập có nhiệm vụ phát đồ dùng và mời các nhóm trường lên nhận tài liệu và đồ dùng học tập. Kiểm tra bài cũ và bài tập ứng dụng của các bạn, báo cáo với cô giáo vào đầu giờ. Trong tiết học ngoài nhiệm vụ học tập của mình phải quan sát bao quát lớp để cuối mỗi tiết học nhận xét đánh giá tình hình học tập của lớp.* Ban lao động: Có nhiệm vụ theo dõi vệ sinh chung của cả lớp. Đầu mỗi buổi học phải phân công vệ sinh lần lượt cho các nhóm và kiểm tra nhóm nào chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt. Cuối mỗi buổi học phải kiểm tra xem nhóm nào thực hiện vệ sinh chưa tốt kịp thời nhắc nhở các bạn thực hiện tốt.* Ban thể dục: Có nhiệm vụ theo dõi phần tập thể dục giữa giờ và các tiết học thể dục xem bạn nào thực hiện tốt, bạn nào thực hiện chưa tốt.* Ban sức khỏe: Theo dõi về sức khỏe nếu trong lớp có bạn nào có vấn đề về sức khỏe thì đưa bạn lên phòng ý tế của trường hoặc chạy đi báo với cô y tế.* Ban thư viện: Ra chơi cho các bạn mượn truyện đọc, thu truyện và sắp xếp thư viện gọn gàng ngăn nắp.* Ban ngoại giao: Có nhiệm vụ nếu lớp có khách đến thăm thì ra mời khách vào và biết giới thiệu về trường, lớp các góc học tập, cô giáo, các bạn… – Sau mỗi buổi học HĐTQ ở lại về sau các bạn 5 phút để gặp giáo viên báo cáo những việc đã làm được những việc chưa làm được còn gặp khó khăn để giáo viên kịp thời tư vấn giúp đỡ và giao nhiệm vụ ngay mai cho các ban.Với cách làm trên mới chỉ hơn hai tháng thực nghiệm chúng tôi đã có một Hội đồng tự quản học sinh làm việc rất tốt, các em đã biết cách điều hành, ý thức được trách nhiệm của mình và từ nay chúng tôi không cần phải cho HĐTQ ở lại để tư vấn nữa.*Đối với các nhóm trưởng:Tiết học theo mô hình “VNEN” thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào các nhóm trưởng bởi vậy trong mỗi tiết học theo mô hình mới để học sinh làm việc nhanh và có hiệu quả vai trò của nhóm trưởng rất quan trọng và ngay từ đầu cần giúp cho học sinh làm nhóm trưởng hiểu được vai trò của mình trong làm việc nhóm. Xác định mục tiêu của hoạt động nhóm. Phân công nhiệm vụ cho công bằng giữa các các thành viên trong nhóm.Tuy nhiên một điều quan trọng cần lưu ý khi thiết kế quy mô nhóm là nhóm phải huy động được sự tham gia của mọi thành viên vào giải quyết nhiệm vụ nhóm và phải tạo ra những tương tác đa chiều giữa các thành viên trong nhóm.Hướng dẫn các em biết cách tìm kiếm hỗ trợ và giải quyết được một số khó khăn gặp phải. Biết quản lí và sử dụng thời gian hiệu quả, biết sử dụng và bảo quản tài liệu học tập. Biết tổ chức và quản lí công việc. Biết giơ thẻ khi đã hoàn thành công việc và biết giơ thẻ cứu trợ khi không tự giải quyết được công việc.Vậy làm thế nào để có các nhóm trưởng làm được điều này. Qua trải nghiệm với nhiều hình thức chúng tôi thấy để có nhóm trưởng làm việc tốt thì cuối hoặc đầu mỗi buổi học giáo viên cần mời các nhóm trưởng xuống tạo thành một nhóm và hướng dẫn các em cụ thể:VD: Sau khi đã ghi xong đề bài nhóm trường điều khiển các bạn đọc mục tiêu: Nhóm trưởng nói to đủ cho cả nhóm nghe ( Mời các bạn đọc mục tiêu. Bạn nào đọc xong thì giơ tay lên).– Nhóm trưởng nói: Mình mời bạn A đọc mục tiêu thứ nhất– Mời bạn B đọc mục tiêu thứ hai….( Sau khi các bạn trong nhóm mình đọc xong thì giơ thẻ hoàn thành lên để GV biết đến kiểm tra).Ví dụ: Bài 8C: Em yêu trường em. Sau khi GV nói các em thực hiện hoạt động 1 theo lô gô.

2.3. Nhà trường – Gia đình – Cộng đồng* Bản đồ cộng đồng, phối hợp GĐ, NT, CĐ

– Xây dựng bản đồ cộng đồng giúp cho giáo viên:+ Biết được khoảng cách mà mỗi học sinh phải đi học từ nhà đến trường.+Xác định được những thuận lợi, khó khăn khi học sinh đi học.+ Biết được những địa điểm mà học sinh có thể gặp nguy hiểm để hướng dẫn các em phòng tránh rủi ro.+Biết được những địa điểm cần thiết để chỉ dẫn cho học sinh đến khi cần sự trợ giúp hoặc vui chơi.+Biết được địa điểm và cách đi thăm gia đình học sinh.+Là nguồn thông tin giới thiệu về cộng đồng với những người đến thăm và làm việc tại cộng đồng.2. ĐỔI MỚI ĐÁNH GIÁ: * Đánh giá theo “VNEN”: Theo công văn số 6444 BDGĐT – GDTH Ngày 28 tháng 9 năm 2012.* Đánh giá cả Quá trình học tập, không chỉ đánh giá KQHT; Đánh giá Năng lực.* GV đánh giá thường xuyên qua theo dõi, hướng dẫn trong quá trình; kiểm tra kết quả ; ĐG quá trình, ĐG năng lực, sự phát triển. + Mỗi HS tự đánh giá, đánh giá trong nhóm, trong nhóm đôi quá trình học tập của mình. + Đánh giá thông qua sự tham gia vào hoạt động học, thời gian hoàn thành, thứ tự hoàn thành công việc trong nhóm, kết quả học tập. + Đánh giá sự tiến bộ về Kiến thức, Kĩ năng, Khả năng tự học, Khả năng giao tiếp, hợp tác, Khả năng độc lập, sáng tạo. Đánh giá thường xuyên, toàn diện, cụ thể là quan trọng nhất.Tóm lại:– Lớp học VNEN vẫn đánh giá định kì theo Thông tư 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27/ 10/ 2009 và Tài liệu hướng dẫn các môn học (Phiếu đánh giá hay đánh giá qua bài em đã học được những gì trong tài liệu).– Tăng cường tự đánh giá của học sinh. Đánh giá cả quá trình học tập sự tiến bộ của học sinh.– Đánh giá trong lớp ( học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của cá nhân học sinh, giáo viên đánh giá học sinh). – Đánh giá ngoài lớp ( Cha mẹ học sinh và cộng đồng đánh giá kết quả giáo dục của học sinh). – Chú trọng đánh giá năng lực.– Học sinh tự đánh giá tiến bộ của mình sau mỗi bài, mỗi tuần trong nhóm.– Tăng cường đánh giá thường xuyên của giáo viên trên cơ sở theo dõi quá trình học tập của học sinh, nhằm đánh giá đầy đủ, toàn diện về việc nắm vững kiến thức, kĩ năng, tinh thần, thái độ, tính hợp tác cũng như năng lực của mỗi học sinh.– Giáo viên có quyền đánh giá toàn diện quá trình, kết quả học tập của học sinh, động viên kịp thời những học sinh có nhiều cố gắng.* Đổi mới: Tổ chức lớp học và PPDH (Tích hợp) Kế hoạch dạy học (Điều chỉnh hợp lí) Thời lượng dạy học (2 buổi/ngày) Không quá mới đối với GV, nội dung giữ nguyên chỉ đổi mới PPDH.Năm học 2012-2013, tỉnh Lâm Đồng có 12 trường tiểu học triển khai mô hình trường học mới cho khối lớp 2 và khối lớp 3, trong đó huyện Đơn Dương có 01 trường được chọn thí điểm cho mô hình này là Trường Tiểu học Quảng Lập.PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LÓP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI “VNEN”.I, ĐẶT VẤN ĐỀ: Năm học 2012 – 2013, Trường Tiểu học Quảng Lập là trường đầu tiên của huyện tham gia dạy thí điểm chương trình trường tiểu học mới “VNEN” đối với khối 2, 3. Không những đổi mới về tổ chức lớp học mà trang trí lớp cũng sự thay đổi. Quá trình dạy học cũng được đổi mới từ dạy học cả lớp sang dạy học nhóm.Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Lấy học sinh làm trung tâm trong các hoạt động dạy học giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức và tạo mọi điều kiện tốt nhất để mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập.Mô hình “VNEN” giúp học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo, chủ động chiếm lĩnh kiến thức trong quá trình học, đây là một trong những điều quan trọng. Bao giờ cũng vậy lần đầu tiên tiếp cận với cái mới thường gặp rất nhiều khó khăn và không tránh khỏi lúng túng. Với GV khi chuyển sang dạy phương pháp này, chúng tôi thấy vừa mừng, vừa lo. Mừng vì được HS hào hứng đón nhận, hăng hái học, phát biểu xây dựng bài. Nhưng lo vì GV còn bỡ ngỡ, chưa có kinh nghiệm. Chính vì những băn khoan trăn trở trên mà hôm nay chúng tôi mạnh dạn báo cáo chuyên đề về:PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI “VNEN”. Với mong muốn được chia sẽ và học hỏi thêm kinh nghiệm để chúng tôi thực hiện chương trình theo dự án “VNEN” đem đến thành công hơn.II. THỰC TRẠNG : 1. Thuận lợi – Mô hình VNEN khi được áp dụng tại trường được rất nhiều sự quan tâm, hỗ trợ của ngành và của chính quyền địa phương.– Được nhà trường quan tâm và giúp đỡ, tạo mọi điều kiện có thể để chúng tôi hoàn thành tốt công việc của mình đúng theo tinh thần VNEN.– Đa số học sinh ngoan, chăm học nên trong quá trình học các em đều rất nhiệt tình.– Phụ huynh quan tâm mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho học sinh, quan tâm phối hợp với giáo viên rất nhiều trong công tác giảng dạy đặc biệt là hỗ trợ trang trí lớp.– Tài liệu học tập của học sinh được phát về, sách được in màu và tranh ảnh rất đẹp nên thu hút được học sinh học tập. – Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có tay nghề vững vàng, 4/6 giáo viên đã được tập huấn về phương pháp, nội dung dạy học theo Mô hình VNEN tại Đắk Lắk và tất cả giáo viên được tập huấn nội dụng dạy học theo mô hình VNEN tại trường. 2. Khó khăn : * Về phía giáo viên: Đây là mô hình trường học kiểu mới, cho nên giáo viên cũng chưa quen, còn bỡ ngỡ với phương pháp giảng dạy mới.– Giáo viên vừa trải nghiệm, vừa rút kinh nghiệm nên nhiều lúc còn lúng túng, tâm lí luôn sợ học sinh không hiểu bài.– Khó có thể đánh giá học sinh công bằng.– Một tiết học với thời gian giảng dạy là 40 phút là một trở ngại rất lớn cho dạy học nhóm thành công. *Về phía học sinh: – Đây là năm đầu tiên học sinh được tiếp cận với phương pháp học mới nên các em vẫn còn lúng túng, chưa biết cách học mới như thế nào.– Tài liệu hướng dẫn học không đủ cho mỗi học sinh một cuốn cho nên học sinh gặp khó khăn khi làm việc với tài liệu.– Các em chưa quen với hình thức và phương pháp học theo nhóm, phương pháp học mà dưới sự điều hành của nhóm trưởng học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới.– Hội đồng tự quản học sinh chưa biết cách điều hành chung cả lớp.– Nhóm trưởng chưa quen với việc điều hành nhóm hoạt động.– Học sinh hiếu động, chưa biết hợp tác trong học nhóm. Một số em thụ động nhút nhát và ngại làm việc, làm việc chậm.– Từ những thực trạng trên, chúng tôi đã đưa ra một số biện pháp sau nhằm khắc phục những tồn tại như sau :III. BIỆN PHÁP VÀ CÁCH THỰC HIỆN:Một là: Đối với giáo viên:a) Phân loại đối tượng học sinh:Qua trải nghiệm nhận thấy được những khó khăn và sau kết quả khảo sát chất lượng đầu năm, chúng tôi đã phân loại các đối tượng học sinh trong lớp từ đó sắp xềp chỗ ngồi hợp lí và đề ra kế hoạch giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.Trong quá trình dạy VNEN, việc kiểm tra kết quả học tập của các nhóm phải thường xuyên và rất cần thiết, giáo viên kiểm tra từng đối tượng học sinh trong đó đặc biệt quan tâm hơn hẳn là học sinh đạt chuẩn, phải luôn động viên, khuyến khích học sinh ngay trong nhóm. Giáo viên nên sắp xếp học sinh đạt chuẩn ngồi lại một nhóm hoặc ngồi cạnh nhóm trưởng để kịp thời nắm được học sinh không hiểu phần nào trong các bài tập để kịp thời trợ giúp cho học sinh.b)Chuẩn bị tốt bài dạy trước khi lên lớp:– Giáo viên phải thuộc 10 bước học tập và 5 bước lên lớp.

Một Số Vấn Đề Cần Biết Về Mụn Ở Nam Giới / 2023

Mụn thường xảy ra ở độ tuổi vị thành niên hoặc kéo dài sau đó. Thậm chí người đàn ông trưởng thành có thể bị mụn. Nhưng đều có phương pháp điều trị, thậm chí bị mụn hàng chục năm sau khi ra trường vẫn trị được.

Nguyên nhân

Tất cả nguyên nhân gây ra mụn đều là do sự thay đổi hóoc môn trong cơ thể. Những hóoc môn  này sẽ  bài tiết ra các loại dầu làm tắc lỗ chân lông nên tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Đây là hai nguyên nhân chính gây ra mụn Nam giới lập gia đình và lên chức bố cũng sẽ có nhiều khả năng nổi mụn trứng cá. (do thay đổi hoccmon) Một số thành phần có trong thuốc lithium, corticosteroid và prednisone cũng có thể gây ra mụn trứng cá

Các cảnh báo dành cho nam giới

Nam giới thường bị mụn trứng cá trên mặt và lưng.

Khi bị đổ mổ hôi thì sẽ bị mụn nhiều hơn. Mụn trên lưng thường nổi khi thời tiết nóng hoặc sau khi tập thể dục. Mụn trên lưng khó kiểm soát hơn mụn trên mặt, tuy nhiên nếu bị mụn trên lưng thì ít người nhìn thấy hơn. Đối với một số người thì khi cạo râu sẽ lộ lỗ chân lông nên sẽ giống như mụn , có thể là do sợi râu mọc ngược hoặc do cạo râu sai cách.

Bạn nên làm gì?

Giữ cho làn da sạch sẽ. Rữa mặt bằng sữa rữa mặt, nên tránh các sản phẩm rữa mặt có hạt vì có thể gây kích ứng da. Rửa mặt hai lần một ngày.

Mặt của bạn

Dùng khăn sạch lau nhẹ nhàng trên da.

Khi bạn cạo, nên dùng dao sử dụng 1 lần. Bạn có thể sử dụng sản phẩm phủ trên bề mặt (kem cạo râu…) trước khi cạo như benzoyl peroxide, retinol, hoặc axit salicylic. Bác sĩ sẽ kê toa một loại bọt thuốc kháng sinh mà bạn có thể trộn với kem cạo râu để giúp ngăn ngừa mụn.

Nếu chân râu khiến bạn gặp rắc rối, hãy thử dao cạo điện tử và đừng cạo quá sát bề mặt da.

Lưng

Khi bạn tắm, sử dụng một bàn chải làm sạch với một phần mở rộng để cọ rửa vùng khó khăn trên lưng mà tay không chạm đến. Một sự lựa chọn khác là dùng một đầu bàn chảy có thể thay đổi giúp chà đến nhiều vùng trên lưng không với tới

Benzoyl peroxide hoặc sản phẩm axit salicylic có thể giúp ngăn ngừa mụn trứng cá trên lưng mà không cần dùng thuốc kê toa. Mụn sẽ nhanh khỏi vì chúng đã được làm khô bề mặt.

Nên dùng bông gòn hoặc bông cotton khi làm sạch da.

Mụn cứng đầu (lâu năm)

Nếu đã thử điều trị tại nhà trong 4-8 tuần và mụn không giảm đi thì bạn nên gặp bác sĩ da liễu.

Bác sĩ da liễu sẽ khám và có phương pháp điều trị thích hợp. Có thể Bác sĩ sẽ cho thuốc kháng sinh, kem bôi trực tiếp benzoyl peroxide, axit salicylic, hoặc một loại thuốc gọi là retinoids. Bác sĩ Doanh Lu chuyên điều trị mụn cứng đầu

Nghiêm trọng hơn, bác sĩ có thể sẽ kê cho bạn một loại thuốc gọi là isotretinoin. Phụ nữ dự định có thai phải tránh thuốc này, bởi vì nó có thể gây dị tật bẩm sinh nhưng nam giới thì không cần vì cũng sẽ không ảnh hưởng đến bạn tình.

Ngoài ra, còn có một số phương pháp điều trị mụn bằng công nghệ. Một trong số đó là một điều trị da bằng laser, và khác là liệu pháp ánh sáng kết hợp với liệu pháp hút chân không. Các phương pháp này rất đắt tiền nên bảo hiểm của bạn sẽ không chi trả. Tuy nhiên, hiệu quả mang lại rất cao và an toàn tuyệt đối. Hãy chọn cho mình một nơi uy tín để được thăm khám và hướng dẫn các phương pháp điều trị thích hợp. Bạn lưu ý: nếu mụn đều trị không đúng cách lâu ngày sẽ gây ra sẹo rỗ. Một loại sẹo gây mất thẫm mỹ và điều trị rất tốn kém.

Stamford Skin Centre – Nơi tin cậy cho làn da bạn Địa chỉ: 99 Sương Nguyệt Ánh, Phường Bến Thành, Quận 1, HCM Điện thoại: 08 3925 1990 Di động: 0919 736 990

Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Mô Hình Trường Học Mới (Vnen) Vào Phân Môn Tập Đọc. / 2023

PHẦN LÝ THUYẾTỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) VÀO PHÂN MÔN TẬP ĐỌC.1/ Cấu trúc bài học tập đọc ứng dụng phương pháp dạy học theo mô hình VNEN.– Về nội dung :Giữ nguyên mục đích, yêu cầu theo chuẩn kiến thức kĩ năng tiểu học hiện hành ; Giữ nguyên qui trình và thời gian dạy học của phân môn tập đọc hiện hành ; Sử dụng phân phối chương trình và sách giáo khoa hiện hành để giảng dạy ; Về đánh giá, chấm điểm học sinh vẫn theo thông tư 32 của Bộ giáo dục.– Về phương pháp :Chuyển hoạt động dạy học phân môn tập đọc truyền thốnghiện nay thầy chủ động hướng dẫn học sinh tìm ra tri thức sang học sinh học tập hợp tác và thông qua sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm học tập, học sinh hoàn toàn chủ động để khám phá và tìm ra tri thức. Học sinh tự đánh giá bản thân mình, và được bạn bè đánh giá thông qua hoạt động nhóm.– Về hình thức :Phối hợp qui trình của tiết dạy phân môn tập đọc hiện nay với Tiến trình 10 bước học tập và qui trình 5 bước lên lớp của mô hình VNEN. Tức là theo qui trình của tiết dạy phân môn tập đọc hiện nay giáo viên lồng ghép, thay đổi một số một số hình thức lên lớp mà trong đó giáo viên vẫn mang tính chủ đạo sang các hoạt động học sinh chủ động học tập.Cụ thể lồng ghép theo qui trình như sau :

Qui trình dạy môn tập đọc hiện nayQui trình dạy môn tập đọc có ứng dụng phương pháp VNEN

1. Kiểm tra bài cũ -Giáo viên kiểm tra 2, 3 học sinh đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng bài đoạn – bài của bài tập đọc trước đó. giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh trả lời về nội dung đoạn đọc.

1. Kiểm tra bài cũ-Giáo viên chia lớp thành 3-4 nhóm, yêu cầu nhóm trưởng kiểm tra 2, 3 học sinh đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng đoạn – bài của bài tập đọc trước đó. Nhóm trưởng đặt câu hỏi theo sánh giáo khoa ứng với nội dung đoạn các bạn đọc.-Nhóm nhận xét.-Các nhóm trưởng báo cáo kết quả hoạt động bài cũ cho giáo viên.-Giáo viên nhận xét chung.

2. – Giáo viên giới thiệu bài. Giáo viên ghi tựa

2. – Giáo viên giới thiệu bài. Giáo viên ghi tựa-Học sinh ghi tựa bài.-Giáo viên đưa ra yêu cầu cần đạt của bài học, học sinh đọc.

a. Hoạt động 1: Luyện đọc đúng + Giáo viên hoặc học sinh khá, giỏi đọc toàn bài. – Lớp đọc thầm và chia đoạn (nếu nội dung bài có phân đoạn rành mạch) đối với lớp 4, 5. + Giáo viên chia đoạn cho học sinh đọc.

a. Hoạt động 1: Luyện đọc đúng + Học sinh khá, giỏi đọc toàn bài

– Lớp đọc thầm và chia đoạn (nếu nội dung bài có phân đoạn rành mạch) đối với lơp 4, 5.

+ Học sinh tự chia doạn, giáo viên nhận xét.

* Đọc vòng 1: Luyện phát âm đúng. (Lớp 2, 3 đọc câu, lớp 4, 5 đọc đoạn.) – Giáo viên chỉ định học sinh đọc nối tiếp nhau từng đoạn của bài.

-Giáo viên ghi lại những từ học sinh phát âm sai phổ biến lên bảng ở phần luyện đọc đúng, luyện cho học sinh cách phát âm, đọc đúng.

* Đọc vòng 1: Luyện phát âm đúng (Lớp 2, 3 đọc câu, lớp 4, 5 đọc đoạn.)-Từng nhóm học sinh đọc nối tiếp từng đoạn của bài dưới sự điều hành của nhóm trưởng.-Học sinh phát hiện từ khó đọc trong bài và giúp đỡ bạn đọc cho đúng.-Học sinh báo cáo cho giáo viên những từ khó đọc mà các em chưa đọc đúng.-Qua cáo cáo của các em g iáo viênghi lại những từ học sinh phát âm sai phổ biến lên bảng ở phần luyện đọc đúng, gạch dưới điểm sai trong các từ ngữ đó và hướng dẫn cho lớp cách đọc.

*Đọc vòng 2 : Luyện ngắt nghỉ đúng câu dài kết hợp giải nghĩa từ (Lớp 2, 3 đọc câu, lớp 4, 5 đọc đoạn.) -Luyện ngắt nghỉ đúng: + Giáo viên chỉ định học sinh đọc nối tiếp từng đoạn của bài, giáo viên lắng nghe phát hiện những điểm sai của học sinh.

-Học sinh đọc từ chú giải, Giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa từ.

* Đọc vòng 3: Đối với lớp 2, 3 giáo viên chia đoạn. Học sinh đọc nối tiếp đoạn. -Học sinh đọc theo cặp. sau đó có thể gọi 1-2 nhóm đọc với mục đích kiểm tra kết quả đọc nhóm. Yêu cầu học sinh nhận xét bài đọc của bạn.

* Đọc vòng 3: Đối với lớp 2, 3 học sinh chia đoạn. Học sinh đọc nối tiếp đoạn. -Học sinh đọc theo nhóm đôi. sau đó có thể gọi 1-2 nhóm đọc với mục đích kiểm tra kết quả đọc nhóm. Yêu cầu học sinh nhận xét bài đọc của bạn.

b. Hoạt động 2 : Tìm hiểu bài -Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài thông qua đó luyện đọc hiểu : (đọc thầm, đọc lướt) và trả lời câu hỏi trong sánh giáo khoa theo các hình thức thích hợp (cá nhân, nhóm nhỏ). -Ghi bảng những từ ngữ hình ảnh chi tiết nổi bật cẩn nhớ của đọan văn, của khổ thơ. -Gợi ý để học sinh nêu nội dung chính của bài (2-3 em nêu) – giáo viên kết luận ghi bảng, 1; 2 học sinh nhắc lại.

c. Hoạt động 3: Luyện đọc diễn cảm(đối với văn bản nghệ thuật), hoặc luyện đọc lại (đối với văn bản phi nghệ thuật) *Giáo viên hướng dẫn chung toàn bài về giọng đọc, cách nhấn giọng, cao độ, trường độ…

c. Hoạt động 3: Luyện đọc diễn cảm(đối với văn bản nghệ thuật), hoặc luyện đọc lại (đối với văn bản phi nghệ thuật)

* Thông qua tìm hiểu nội dung học sinh tìm ra giọng đọc chung toàn bài (Hào hứng, sôi nỗi, nhẹ nhàng…. Những từ ngữ cần nhấn giọng (cao độ, trường độ…)

* Luyện đọc diễn cảm đoạn : Lớp 2, 3 luyện đọc đúng. Lớp 4, 5 luyện đọc diễn cảm. +Giáo viên giới thiệu đoạn cần luyện đọc, đưa lên bảng. +Giáo viên đưa ra những từ cần nhấn giọng, gạch chân từ trên bảng. +Giáo viên đọc mẫu đoạn – 2,3 học sinh đọc lại.

-Luyện đọc nhóm. -Thi đọc diễn cảm. HD học sinh nhận xét, giáo viên chấm điểm khuyến khích -Đối với bài tập đọc có yêu cầu học thuộc lòng, sau khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, giáo viên dành thời gian thích hợp cho học sinh tự học (thuộc một đoạn hoặc cả bài). Gọi học sinh đọc đạt mức yêu cầu tối thiểu, sau đó gọi học sinh khá giỏi đọc ở mức cao hơn.

* Luyện đọc diễn cảm đoạn : Lớp 2, 3 luyện đọc đúng. Lớp 4, 5 luyện đọc diễn cảm.

+Giáo viên giới thiệu đoạn cần luyện đọc, đưa lên bảng. + Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe và nêu giọng đọc của đoạn, những từ cần nhấn giọng, giáo viên gạch chân từ trên bảng. + 2, 3 học sinh đọc lại. -Luyện đọc nhóm. -Thi đọc diễn cảm. HD học sinh nhận xét, giáo viên chấm điểm khuyến khích

– Đối với bài tập đọc có yêu cầu học thuộc lòng, sau khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, giáo viên dành thời gian thích hợp cho học sinh tự học (thuộc một đoạn hoặc cả bài). Gọi học sinh đọc đạt mức yêu cầu tối thiểu, sau đó gọi học sinh khá giỏi đọc ở mức cao hơn.

3.Củng cố dặn dò – Giáo viên đặt câu hỏi về nội dung bài tập đọc học sinh trả lời. (1,2 câu) -Giáo viên nhận xét tiết học -Dặn dò về yêu cầu luyện tập và chuẩn bị bài sau.

3.Củng cố dặn dò – Giáo viên đặt câu hỏi về nội dung bài tập đọc học sinh trả lời. (1,2 câu)-Học sinh nhận xét tiết học, giáo viên bổ sung. -Dặn dò về yêu cầu luyện tập và chuẩn bị bài sau.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Vấn Đề Cần Biết Về Mô Hình Trường Học Mới Vnen Tại Nước Ta / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!