Đề Xuất 12/2022 # Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Văn Bản Nhật Dụng Môn Ngữ Văn 8 / 2023 # Top 12 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Văn Bản Nhật Dụng Môn Ngữ Văn 8 / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Văn Bản Nhật Dụng Môn Ngữ Văn 8 / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG MÔN NGỮ VĂN 8 I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hoặc chỉ kiểu văn bản, nói đến văn bản nhật dụng là nói đến tính chất của nội dung văn bản đề cập đến. Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em… Chương trình Sgk Ngữ văn THCS, các văn bản được lựa chọn theo một tiêu chí kiểu văn bản và tương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm. Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng phù hợp với tâm lý lứa tuổi THCS còn có nội dung là tính cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại những vấn đề quen thuộc, gần gũi, bức thiết hàng ngày, vừa có tính lâu dài mà mọi người đều quan tâm đến. Thông thường dạy văn bản giáo viên thường dạy theo đặc trưng thể loại. Nhưng khi tiếp cận với kiểu văn bản nhật dụng giáo viên còn lúng túng không biết ”sẽ”dạy theo phương pháp nào là tối ưu: Bám sát đặc trưng thể loại hay nội dung văn bản. Nếu dạy theo đặc trưng thể loại thì không thấy được cách riêng của văn bản nhật dụng. Nếu triển khai theo nội dung văn bản thì có nhiều tiết văn bản sẽ sa vào dạy giáo huấn đạo đức, pháp luật … như môn GDCD. Để góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản nhật dụng, giúp giáo viên và học sinh cảm thấy hứng thú và ”nhẹ nhàng” trong một tiết văn bản gần gũi, bức thiết với cuộc sống, tiết dạy đỡ khô cứng, không mất nhiều thời gian, khơi dậy niềm yêu thích môn văn ở học sinh. Tổ Văn – Sử – Địa – GDCD đã chọn thực hiện chuyên đề “Nâng cao hiệu quả trong giảng dạy văn bản nhật dụng môn Ngữ văn 8” để bạn bè, đồng nghiệp tham khảo. II. THỰC TRẠNG 1.Thuận lợi: Được sự quan tâm của huyện và phòng Giáo Dục Đam Rông nên trường THCS Đạ Long đến nay đã có đủ cơ sở vật chất cơ bản để dạy và học. Đặc biệt là hệ thống máy tính, máy chiếu phục vụ cho việc dạy học bằng CNTT khá ổn định. a. Giáo viên: Đội ngũ trẻ, trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có tâm huyết với nghề, ham học hỏi. Gv thường xuyên được đi tập huấn chuyên môn. b. Học sinh: Đa số các em đều ngoan, lễ phép với thầy cô giáo. Được hỗ trợ chi phí học tập, được dự án phát triển giáo dục trường học quan tâm. 2. Khó khăn: a. Về phía Giáo viên: Trong quá trình giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy một số thực trạng khi giáo viên giảng dạy văn bản nhật dụng như sau: Việc dạy văn bản nhật dụng đối với giáo viên còn mới mẻ, kinh nghiệm chưa nhiều, sự trao đổi với giáo viên cùng chuyên môn chưa nhiều, chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như các biện pháp tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho HS. Giáo viên còn hạn chế trong việc khai thác các kênh hình, phim … sử dụng máy chiếu nên việc mở rộng kiến thức trực quan cho học sinh. Chưa xác định đúng mục tiêu trọng tâm của bài văn bản nhật dụng nên mất nhiều thời gian và bài dạy thường sa đà về kiến thức, chưa chú trọng đến vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản. Giờ dạy tẻ nhạt, mất nhiều thời gian và không thực sự thu hút sự chú ý của học sinh. b. Về phía HS: Tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế : Khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, trình độ tư duy chậm. HS không đọc văn bản ở nhà. Hầu như việc chuẩn bị bài ở nhà chỉ mang tính chất đối phó, soạn bài sơ sài, ít có tính sáng tạo. HS chưa có tinh thần và ý thức tự học, không dành nhiều thời gian vào việc học Học sinh của nhà trường nói riêng và học sinh vùng sâu vùng xa nói chung chưa nắm bắt được các kênh thông tin về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục….kịp thời nên khó khăn cho giáo viên trong việc truyền đạt kiến thức đặc biệt là văn bản nhật dụng. Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại, cũng như các kiểu văn bản, do đó học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, khai thác mỗi văn bản nhật dụng khác nhau. KẾT QUẢ KHẢO SÁT : Từ thực trạng trên nên kết quả của việc học văn bản nhật dụng qua bài kiểm tra được thống kê như sau: * Khảo sát trước vận dụng chuyên đề Lớp Sĩ số ĐIỂM 8-10 ĐIỂM TRÊN 5 ĐIỂM DƯỚI 5 SL TL SL TL SL TL 8A1 31 0 0 20 64.5 11 35.5 8A2 29 0 0 15 51.7 14 48.3 * Khảo sát sau khi vận dụng chuyên đề Lớp Sĩ số ĐIỂM 8-10 ĐIỂM TRÊN 5 ĐIỂM DƯỚI 5 SL TL SL TL SL TL 8A1 31 1 3.2 24 77.4 7 22.5 8A2 29 1 3.4 20 70 9 30 III. GIẢI PHÁP: 1. Giáo viên cần có cái nhìn tổng thể về Văn bản nhật dụng: Để giảng dạy có hiệu quả các Văn bản nhật dụng 8 nói riêng và văn bản nhật dụng trong chương trình THCS nói chung, GV phải có kiến thức bao quát về văn bản nhật dụng. a. Hiểu về văn bản nhật dụng Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hay kiểu văn bản. Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản. Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản. Hệ thống văn bản nhật dụng trong Sgk gồm nhiều kiểu văn bản khác nhau. Đó có thể là: *Văn thuyết minh (Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử, Ca Huế trên sông Hương, Động Phong Nha). *Văn bản biểu cảm (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổng trường mở ra). *Văn bản nghị luận (Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em). * Một bài báo thuyết minh khoa học (Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, Ôn dịch, thuốc lá, Bài toán dân số). * Một văn bản văn học thuộc loại tự sự (Cuộc chia tay của những con búp bê) Từ các hình thức đó, những vấn đề thời sự cập nhaät của cá nhân và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, sẽ đánh thức và làm giàu tình cảm và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi người học giúp các em dễ hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội mà chúng ta đang sống. b. Hệ thống văn bản nhật dụng trong Sgk Ngữ văn THCS và đề tài nhật dụng Sgk Tên văn bản Đề tài nhật dụng Ngữ văn 6 – Cầu Long Biên, chứng nhân lịch sử – Di tích lịch sử – Bức thư của thủ lĩnh da đỏ – Quan hệ giữa thiên nhiên và con người – Động Phong Nha – Danh lam thắng cảnh Ngữ văn 7 – Cổng trường mở ra – Nhà trường, giáo dục – Mẹ tôi – Tình cảm mẹ con, gia đình – Cuộc chia tay của những con búp bê – Quyền trẻ em – Ca Huế trên sông Hương – Văn hoá dân tộc Ngữ văn 8 – Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 – Môi trường – Ôn dịch, thuốc lá – Tệ nạn xã hội – Bài toán dân số – Dân số Ngữ văn 9 – Đấu tranh cho một thế giới vì hoà bình – Bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh – Phong cách Hồ Chí Minh – Hoà nhập với thế giới và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc – Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em – Quyền sống của con người Các văn bản nhật dụng trên được phân bố đều khắp các khối lớp. Cùng với sự phát triển về tâm lý và nhận thức của học sinh, các vấn đề được cập nhật trong các văn bản nhật dụng ngày một phức tạp hơn. Phù hợp với nhận thức của các em từ thấp đến cao, từ lớp 6 đến lớp 9. c. Đặc điểm Đề tài: Phong phú (thiên nhiên, môi trường, dân số ) Chức năng: Bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá Những vấn đề hiện tượng của đời sống xã hội. Tính cập nhật: Kịp thời, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày. 2. Giáo viên cần có sự đầu tư trong phần chuẩn bị bài dạy. a.Về kiến thức: VD: Khi dạy bài: “Ôn dịch, thuốc lá”, giáo viên cần chuẩn bị thêm tấm áp phích, tranh ảnh về tác hại của thuốc lá, vỏ gói thuốc lá ghi dòng chữ “Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ”. b.Về phương tiện dạy học: Các phương tiện dạy học truyền thống như: SGK, bảng đen, phấn trắng chưa thể đáp ứng đựơc hết yêu cầu dạy học văn bản nhật dụng. GV có thể chuẩn bị thêm các tư liệu khác như: đĩa nhạc CD, phim ảnh sẽ khiến các em hào hứng hơn trong giờ học. VD: Khi thiết kế bài “Bài toán dân số”, giáo viên cài đặt thêm các hình ảnh hoặc các đoạn phim ghi hình về sự gia tăng dân số thế giới hoặc ở Việt Nam thì sẽ thu hút học sinh hơn. Vậy: Có thể nói khi dạy học văn bản nhật dụng, GV có nhiều cơ hội hơn cho đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, nhờ đó mà các bài học văn bản nhật dụng sẽ khắc phục được tính thông tin tẻ nhạt đơn điệu. Từ đó, hiệu quả dạy học văn bản nhật dụng sẽ tăng lên. 2.1 Xác định mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng Giáo viên cần nhấn mạnh vào hai khía cạnh chính: Trang bị kiến thức và trau dồi tư tưởng, tình cảm thái độ cho học sinh. Nghĩa là qua văn bản, cung cấp và mở rộng hiểu biết cho học sinh về những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn ra trong đời sống xã hội hiện đại, từ đó tăng cường ý thức công dân đối với cộng đồng. VD: Văn bản “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”: Thấy được ý nghĩa to lớn của việc bảo vệ môi trường. Từ đó có những suy nghĩ và hành động tích cực về vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt. – Mối nguy hại đến môi trường sống và sức khỏe con người của thói quen dùng túi ni lông. Tính khả thi trong những đề xuất được tác giả trình bày. Văn bản: “Ôn dịch thuốc lá”: Có thái độ quyết tâm phòng chống thuốc lá. Thấy được sức thuyết phục bởi sự kết hợp chặt chẽ phương thức lập luận và thuyết minh trong văn bản. – Mối nguy hại ghê gớm toàn diện của tệ nghiện thuốc lá đối với sức khỏe con người và đạo đức xã hội Văn bản: “Bài toán dân số”: Hiểu được việc hạn chế sự bùng nổ và gia tăng dân số là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển loài người. Cách trình bày một vấn đề của đời sống có tính chất toàn cầu trong văn bản. – Sự hạn chế gia tăng dân số là con đường “tồn tại hay không tồn tại” của loài người. Sự chặt chẽ, khả năng thuyết phục của cách luận bắt đầu bằng một câu chuyện nhẹ nhàng mà hấp dẫn. 2.2. Phương pháp dạy học : Dạy học phải phù hợp với phương thức biểu đạt của mỗi văn bản Tro … sinh. VD : Khi dạy bài “Ôn dịch, thuốc lá”, giáo viên có thể nêu các câu hỏi sau: + Những người thân, bạn bè của em có hút thuốc lá không? + Theo em các bạn học sinh hút thuốc lá là vì lí do gì? + Vậy em nghĩ như thế nào về những người công chức đi làm việc vẫn hút thuốc lá? (họ đang bỏ từ từ, giảm dần để không hút, không thể bỏ ngay được). VD: Khi dạy bài “Bài toán dân số” sau tiết học có thể cho học sinh vẽ tranh tuyên truyền hạn chế sự gia tăng dân số. Ngoài ra, Gv có thể sử dụng đoạn phim nói về vấn đề dân số để vào bài tạo tâm thế cho học sinh. Trong quá trình phân tích văn bản, giáo viên có thể tích hợp kiến thức tập làm văn về văn bản thuyết minh, liên hệ vấn đề thực tế ở địa phương, sử dụng các hình ảnh nhấn mạnh hậu quả của việc gia tăng dân số hoặc sử dụng hệ thống bảng biểu… Qua các tiết học như thế rõ ràng học sinh có hứng thú và dành thời gian tìm tòi, liên hệ thực tế địa phương và giờ học trở nên sinh động hơn. 3. Khi phân tích văn bản nhật dụng cần chú ý các điểm sau: Không nên quan niệm đây là sáng tác tiêu biểu, một tác phẩm văn học của một thời kỳ hay một tác giả nào đó… để có những đòi hỏi quá cao về nghệ thuật của văn bản. Mặc dù người biên soạn đã cố gắng tìm những văn bản nhật dụng có cách viết trong sáng, chuẩn mực nhưng chủ yếu vẫn là nội dung chính đặt ra trong tác phẩm ấy. Vì vậy khi phân tích giáo viên nên tập trung khai thác những vấn đề nội dung tư tưởng ở mỗi văn bản. Từ đó mà liên hệ, giáo dục tư tưởng tình cảm và ý thức cho học sinh trước các vấn đề mà xã hội quan tâm. Khi phân tích giáo viên nên nắm chắc đặc điểm và ý nghĩa của các nội dung đặt ra trong văn bản để hướng dẫn học sinh tự liên hệ rút ra bài học cho bản thân . Ví dụ: Văn bản: “Thông tin về ngày trái đất năm 2000″ Giáo viên phân tích để học sinh thấy được tác hại của bao bì ni-lông thông qua trình chiếu tranh ảnh hoặc đoạn phim. Từ đó có ý thức hạn chế, không sử dụng loại sản phẩm này để góp phần bảo vệ môi trường. Văn bản “Ôn dịch thuốc lá” Giúp các em hiểu tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua một số tranh ảnh, đoạn phim. Từ đó có quyết tâm cao để tránh thuốc lá, chống thuốc lá như chống ôn dịch. Văn bản “Bài toán dân số “ Thông qua các ví dụ: + Bài toán cổ của nhà thông thái “Câu chuyện kén rể”. + Câu chuyện kinh thánh về chàng Ađam và nàng Êva + Thông tin về tỷ lệ sinh sản của phụ nữ ở hội nghị Cai – rô (Ai Cập). Giáo viên phân tích để học sinh hiểu được rằng việc tăng dân số trên trái đất cần phải được kiểm soát, dân số tăng nhanh, tài nguyên cạn kiệt là nguy cơ của loài người. Bởi vậy mỗi người phải có ý thức về vấn đề dân số kế hoạch hóa gia đình. IV. GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM: Tuần : 13 Ngày soạn: 21/11/2012 Tiết PPCT: 49 Ngày dạy: 23/11/2012 Văn bản: BÀI TOÁN DÂN SỐ (Theo Thái An) A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT – Biết đọc – hiểu một văn bản nhật dụng. Hiểu được việc hạn chế sự bùng nổ và gia tăng dân số là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển loài người – Thấy được sự kết hợp với phương thức tự sự với lập luận tạo nên sức thuyết phục của bài viết. – Thấy được cách trình bày một vấn đề của đời sống có tính chất toàn cầu trong văn bản. B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, THÁI ĐỘ 1. Kiến thức: – Sự hạn chế gia tăng dân số là con đường “tồn tại hay không tồn tại” của loài người. – Sự chặt chẽ, khả năng thuyết phục của cách lluận bắt đầu bằng một câu chuyện nhẹ nhàng mà hấp dẫn 2. Kĩ năng: Tích hợp với phần Tập làm văn, vận dụng kiến thức đã học ở bài Phương pháp thuyết minh để đọc – hiểu, nắm chắt được vấn đề có ý nghĩa thời sự trong văn bản. Vận dụng vào việc viết bài văn thuyết minh. 3. Thái độ: Nhận biết, tuyên truyền hạn chế cho những người thân hiểu hết vấn đề bùng nổ dân số hiện nay. D. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 1. Ổn định: Kiểm diện HS 8A1: Sĩ số Vắng: (P:..; KP:..) 8A2: Sĩ số Vắng: (P:..; KP:..) 2. Kiểm tra bài cũ: – Nêu những tác hại của việc hút thuốc lá đối với sức khỏe của nhân loại? – Theo em, giải pháp nào là tối ưu để chống ôn dịch, thuốc lá? 3. Bài mới : GV chiếu đoạn phim thời sự về sự gia tăng dân số, sau đó vào bài HOẠT ĐỘNG CỦA GV & HS NỘI DUNG BÀI DẠY GIỚI THIỆU CHUNG Xuất xứ của văn bản? Bài toán dân số có phải là văn bản nhật dụng không? Vì sao? HS: trả lời GV chốt ý và chuyển ý vào mục II ĐỌC HIỂU VĂN BẢN Gv hướng dẫn HS cách đọc: to, rõ ràng, chú ý câu cảm những con số, những từ phiên âm Giáo viên giải thích thêm các từ A-đam và E-va ; Câu nói “tồn tại hay không tồn tại” Văn bản có thể chia làm mấy phần? Nội dung từng phần? HS suy nghĩ và trả lời, Gv hướng dẫn Theo em, tác giả đã sử dụng phương thức biểu đạt gì? Gv hướng dẫn HS tìm hiểu sơ nét đoạn 1 để dẫn vào mục c1 GV: Bài toán hạt thóc được đặt ra từ câu chuyện kén rể của nhà thông thái. Vậy, bản chất của câu chuyện ấy là gì? Em có nhận xét gì về bài toán trên ? HS suy nghĩ và trả lời GV: Đầu tiên các chàng trai cứ tưởng là bình thường nhưng kết cục không chàng trai nào có đủ thóc lấp vào ô bàn cờ để lấy được cô gái. Như vậy, với câu chuyện cổ như vậy, tác giả đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào? Tác giả đưa ra bài toán nhằm mục đích gì ? HS: Làm tiền đề dẫn đến mục c2 GV: Nếu bây giờ ta tạm công nhận theo Kinh Thánh khi khai thiên lập địa chỉ có 2 người: A-đam và Ê-va tương ứng với ô thứ nhất, ô thứ hai của bàn cờ. Vậy, đến năm 1995 dân số thế giới là bao nhiêu? Em có nhận xét gì? Việc đưa ra những con số về tỉ lệ sinh con của phụ nữ ở một số nước Châu Phi và Châu Á nhằm mục đích gì ? Tại sao tác giả không đưa ra những số liệu về phụ nữ sinh con ở Châu Âu và Châu Mĩ? Hs suy nghĩ và trả lời Nhận xét của em về phương pháp thuyết minh của tác giả cho vấn đề trên? Qua đó em có thể rút ra được những nhận xét gì về mối quan hệ giữa dân số và sự phát triển của xã hội GV: Thống kê dân số Việt Nam qua một số mốc thời gian bằng một số bảng biểu HS nhận xét về tốc độ gia tăng dân số? Nêu những hậu quả của sự gia tăng dân số? Ở nước ta đã có những biện pháp gì để hạn chế sự gia tăng dân số? HS suy nghĩ và trả lời GV: chốt và chuyển ý Em hiểu gì về phần kết của văn bản ? Vậy, tác giả đã đưa ra giải pháp như thế nào để hạn chế sự gia tăng dân số? Theo em, tại sao tác giả lại cho rằng “Đó là con đường “tồn tại hay không tồn tại” của chính loài người”? HS suy nghĩ và trả lời. GV chốt ý Trong văn bản này, tác giả đã bộc lộ quan điểm và thái độ của mình như thế nào về vấn đề dân số kế hoạch hóa gia đình ? HS trả lời độc lập GV liên hệ: Em hiểu gì về sự gia tăng dân số ở địa phương em và tác hại của nó đối với đời sống kinh tế, xã hội ? Hs nêu ngắn gọn nghệ thuật và nội dung chính của văn bản. Từ đó, rút ra ý nghĩa văn bản. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – Nắm chắc kiến thức về văn bản. Viết bài cảm nhận về vấn đề gia tăng dân số – Lập bảng danh sách các nhà văn, nhà thơ địa phương (tỉnh Lâm Đồng). – Sưu tầm và chép lại những bài thơ, bài văn, đoạn văn hay viết về địa phương Lâm Đồng I. GIỚI THIỆU CHUNG: 1. Tác giả: Thái An 2. Tác phẩm: a. Xuất xứ: trích báo Giáo dục và Thời đại Chủ nhật, số 28,1995 b. Kiểu loại văn bản: Văn bản nhật dụng II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN: 1. Đọc – Tìm hiểu chú thích: 2. Tìm hiểu văn bản: a. Bố cục: 3 phần Phần 1 : Từ đầu nhường nào (Câu chuyện cổ về hạt thóc ) Phần 2 : Bây giờ…31 của bàn cờ (Thực trạng tình hình dân số thế giới và Việt Nam ) Phần 3 : Còn lại (Giải pháp) b. Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp với nghị luận (chứng minh và giải thích) c. Phân tích: c1.Câu chuyện về bài toán cổ: – Bàn cờ có 64 ô, đặt 1 hạt thóc vào ô số 1, các ô tiếp theo nhân đôi – Tổng số thóc thu được có thể phủ khắp bề mặt trái đất c2. Thực trạng tình hình dân số thế giới và Việt Nam: – Năm 1995: dân số thế giới là 5.63 tỉ người – Tỉ lệ sinh con của phụ nữ ở các nước Châu Phi và Châu Á là rất cao . c3. Giải pháp hạn chế sự gia tăng dân số: – Tự giác hạn chế sinh đẻ để làm giảm sự bùng nổ và sự gia tăng dân số. 3. Tổng kết: a.Nghệ thuật: – Sử dụng kết hợp các phương pháp so sánh, dùng số liệu, phân tích. – Lập luận chặt chẽ. – Ngôn ngữ khoa học, giàu sức thuyết phục. b. Nội dung: *Ý nghĩa văn bản: Văn bản nêu lên vấn đề thời sự của đời sống hiện đại: Dân số và tương lai của dân tộc, nhân loại. III. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC * Bài cũ: Tìm hiểu nghiên cứu tình hình dân số của địa phương, từ đó đề xuất giải pháp cho vấn đề này. * Bài mới: Tiết sau soạn bài: Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm Soạn văn bản tiếp “Chương trình địa phương phần Văn” E. RÚT KINH NGHIỆM . V. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ: * KẾT LUẬN: Một giờ học văn bản nhật dụng không chỉ đơn thuần là một tiết học khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương mà còn là giờ học bồi dưỡng nhân cách, lối sống, rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử trước các vấn đề nóng bỏng của cuộc sống xã hội hiện đại. Với kiểu loại văn bản nhật dụng khi phân tích giáo viên nên tìm ra con đường ngắn nhất để giúp học sinh nắm được nội dung ý nghĩa của văn bản. Đưa ra các số liệu, các thông tin cụ thể và hướng dẫn học sinh phân tích các thông tin để từ đó rút ra bài học và ý nghĩa của bài học đối với cuộc sống. * KIẾN NGHỊ: Nhà trường cần bổ sung tranh ảnh, tư liệu băng đĩa phục vụ tốt cho quá trình giảng dạy các văn bản nhật dụng. Để cho giờ dạy sinh động và hiệu quả hơn, mỗi đơn vị trường học cần có phòng học bộ môn văn được trang bị riêng. Tổ chuyên môn cần thường xuyên trao đổi kinh nghiệm dạy học văn bản nhật dụng. Các cấp cần tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị, tạo cơ hội cho giáo viên toàn huyện có thể trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ, chia sẻ kinh nghiệm và học tập lẫn nhau. Phần phê duyệt của Nhà trường Thực hiện chuyên đề. Tổ: VĂN – SỬ – ĐỊA – GDCD

Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Ngữ Văn / 2023

Giờ học ngữ văn tại Trường THPT Trưng Vương. Ảnh: P.N.Q

Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) trong môn ngữ văn không có sự hạ thấp vai trò của giáo viên (GV) mà ngược lại GV chính là người tổ chức, thiết kế, điều hành giờ học. Đây là phương pháp hạn chế tối đa lối dạy lý thuyết một chiều, chuyển quá trình thuyết giảng của GV thành những cuộc trao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, giữa học sinh (HS) và HS giúp các em tự tìm hiểu và đánh giá được mức độ tìm hiểu bài học của mình. Dạy tích cực – Học tích cực

Trước hết GV phải biết thiết kế tổ chức HS thực hiện các hoạt động học tập ngữ văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nghe – nói – đọc – viết, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương. Thường xuyên điều chỉnh các hoạt động học tập của HS, động viên và luôn tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh văn bản. Song song đó, GV phải biết sử dụng và hướng dẫn HS sử dụng các thiết bị đồ dùng và ứng dụng CNTT để khai thác và vận dụng kiến thức ngữ văn có hiệu quả. Bằng mọi cách GV phải tạo điều kiện cho HS rèn luyện kỹ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong giảng dạy cần chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghe – nói – đọc – viết mà HS đã có.

Về phía HS đòi hỏi các em luôn tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện thái độ và tình cảm đúng đắn. Có thể mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân trước các vấn đề của bộ môn ngữ văn, tiếng Việt, tập làm văn. Đánh giá và tự đánh giá các quan điểm của bản thân, của nhóm. Tích cực sáng tạo trong vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn học tập bộ môn. HS biết chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập bộ môn ngữ văn phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của cá nhân. Biết sưu tầm và tìm hiểu các tài liệu văn, tiếng Việt, tập làm văn bằng các hình thức khác nhau. Có ý thức sử dụng đồ dùng học tập và các ứng dụng của CNTT để học tập bộ môn ngữ văn có hiệu quả.

Để đảm bảo tính khoa học cho các giờ học ngữ văn thì sự vận dụng các PPDH phải thực sự linh hoạt sáng tạo. Đổi mới cách dạy không có nghĩa là GV phải từ bỏ phương pháp giáo dục truyền thống để độc tôn cải tiến hoặc áp dụng một cách máy móc những PPDH từ các nước khác. Cũng không thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng một nửa còn một nửa HS tự làm lấy. Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã có đến cái HS cần có, từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống. So với cách dạy truyền thống, sự vận dụng PPDH trong giờ ngữ văn đã có sự thay đổi cơ bản về chất: từ thông báo, tái hiện sang tổ chức cho HS tiếp nhận, cảm thụ; từ dạy học tính chất tĩnh sang tính chất động…

Phương pháp dạy học đặc thù

Các văn bản trong chương trình ngữ văn THCS đều được chọn lọc rất kỹ và là những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc. Nó giúp HS nhận thức cuộc sống, đưa đến những bài học, những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, sâu lắng trong tâm hồn và tình cảm con người. Những điều này lại phụ thuộc vào bề dày vốn sống, tri thức kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Do vậy tiếp nhận văn bản là một hệ thống mở và kết quả tiếp nhận ở mỗi HS có thể khác nhau, thậm chí có nhiều mới lạ chưa hẳn trùng khớp với dự kiến của GV. Dạy văn thực chất là giúp cho HS biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của mình. Chính vì thế đổi mới PPDH còn có nghĩa là tôn trọng và đề cao những tìm tòi, khám phá, cảm thụ phân tích văn bản tích cực của HS. Đây cũng là một biểu hiện của tính cá thể hóa và sáng tạo trong tiếp nhận văn bản.

– Phương pháp đọc sáng tạo: Đây là phương pháp rất quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận văn bản bao gồm cả đọc, hiểu và cảm thụ. Hoạt động đọc sáng tạo không chỉ là đọc thuần túy mà bao gồm cả sự tổ chức hướng dẫn HS đọc có vận động kết hợp tư duy logic với tư duy hình tượng, giọng đọc và điệu bộ.

– Phương pháp dùng lời có nghệ thuật (còn gọi là phương pháp diễn giảng, bình giảng, truyền thụ): Là cách dạy học truyền thống theo mô hình truyền thông tin một chiều, được sử dụng trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương hay cung cấp kiến thức mới.

(GV Trường THCS Cầu Kiệu, Q. Phú Nhuận, TP.HCM)

Không thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng một nửa còn một nửa HS tự làm lấy. Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã có đến cái HS cần có; từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống.

Bài Giảng Ngắm Trăng Ngữ Văn 8 / 2023

BÀI GIẢNG MÔN NGỮ VĂN 8

KIỂM TRA BÀI CŨ Câu 1: Đọc thuộc lòng bài thơ “TỨC CẢNH PÁC BÓ”? Câu 2: Qua bài thơ, em thấy Bác Hồ là người như thế nào? Đáp án: Câu 1: Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng, Cuộc đời cách mạng thật là sang. Câu 2: Bác Hồ là người luôn tràn đầy niềm lạc quan, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng.

I/Đọc – tìm hiểu chung: 1. Đọc.

I/Đọc – tìm hiểu chung: 1. Đọc. 2. Chú thích: a)Tác giả: Hồ Chí Minh (1890-1969). b)Tác phẩm: – Xuất xứ: rút ra từ tập thơ “Nhật kí trong tù”. – Hoàn cảnh sáng tác: Bác Hồ viết tại Hãy cho biết xuất xứ của bài nhà tù ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), thơ? Tác giả của bài thơ này là ai? từ tháng 8 -1942 đến tháng 9 -1943. Tập thơ “Nhật kí trong tù” – Thể loại: thơ thất ngôn tứ tuyệt. được sáng tác trong hoàn cảnh nào? Hãy cho biết thể loại bài thơ?

I/Đoc – tìm hiểu chung: 1. Đọc. 2. Chú thích: a)Tác giả: b)Tác phẩm: Phiên âm: Ngục trung vô tửu diệc vô hoa, Đối thử lương tiêu nại nhược hà? Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Dịch nghĩa: Trong tù không rượu cũng không hoa, Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào? Người hướng ra trước song ngắm trăng sáng, Từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ.

Dịch thơ: Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

I/Đọc – tìm hiểu chung: II/Đọc – hiểu văn bản: 1. Hai câu đầu: 2. Hai câu cuối: Phiên âm: Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Dịch thơ: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Nghệ thuật nhân hoá, phép đối. Trăng và Người là đôi bạn tri kỉ, đã vượt qua song cửa nhà tù để đến với nhau. Bác là người yêu thiên nhiên, có tinh thần lạc quan, nghị lực phi thường.

Ở hai c â u th ơ cu ối, t á c gi ả s ử d ụ ng bi ện pháp nghệ thuật gì? Qua đó, em thấy người và trăng có mối quan hệ như thế nào? Qua đ ó , em th ấ y B ác l à ng ư ờ i nh ư th ế n ào v ớ i thi ê n nhi ê n? Tinh th ần củ a Bác nh ư th ế nào?

I/Đọc – tìm hiểu chung: II/Đọc – hiểu văn bản: III/Tổng kết: 1. Nội dung chính: Ngắm trăng là bài thơ giản dị mà hàm xúc, cho thấy tình yêu thiên nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ ngay cả trong cảnh ngục tù cực khổ tối tăm. 2. Ý nghĩa văn bản: Tác phẩm thể hiện sự tôn vinh cái đẹp của tự nhiên, của tâm hồn con người bất chấp hoàn cảnh ngục tù.

Hãy nêu nội dung chính của văn bản?

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét : “Thơ Bác đầy trăng”. Hãy chép lại những bài thơ Bác Hồ viết về trăng mà em biết (chú ý ghi rõ thời điểm sáng tác của mỗi bài). Cuộc “ngắm trăng” trong bài Vọng nguyệt và hình ảnh trăng được thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có gì đáng chú ý?

Hướng dẫn học sinh học ở nhà

+ Học thuộc lòng bài thơ (phần phiên âm và dịch thơ). + Nắm lại nội dung và nghệ thuật của văn bản. + Soạn bài tiếp theo: ĐI ĐƯỜNG.

Skkn Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng Lớp 8 / 2023

Xuất phát từ thực tế đó, là một giáo viên trực tiếp dạy Ngữ văn trong quá trình giảng dạy từ sự tìm tòi học hỏi của bản thân và sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi nhận thấy khi tổ chức hướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, giáo viên cần chú ý đến phương pháp giảng dạy mới như đảm bảo nguyên tắc tính tích hợp, sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tình huống tự bộc lộ . Vai trò của người thầy trong phương pháp mới này sẽ là sức hút kỳ diệu biến giờ học văn đơn điệu trước đây trở nên thi vị hứng thú, phong phú, sâu sắc hơn, khép lại cánh cửa chán học văn của học sinh ngày nay.

1. MỞ ĐẦU 1.1.Lí do chọn đề tài Xuất phát từ thực tế đó, là một giáo viên trực tiếp dạy Ngữ văn trong quá trình giảng dạy từ sự tìm tòi học hỏi của bản thân và sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi nhận thấy khi tổ chức hướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, giáo viên cần chú ý đến phương pháp giảng dạy mới như đảm bảo nguyên tắc tính tích hợp, sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tình huống tự bộc lộ ... Vai trò của người thầy trong phương pháp mới này sẽ là sức hút kỳ diệu biến giờ học văn đơn điệu trước đây trở nên thi vị hứng thú, phong phú, sâu sắc hơn, khép lại cánh cửa chán học văn của học sinh ngày nay. 1.2.Mục đích nghiên cứu Trong môn Ngữ văn phần văn bản luôn chiếm số tiết nhiều hơn cả (2 tiết một tuần). Phần văn bản thường là những tiết học đầu tiên của mỗi tuần nên thực sự có ý nghĩa. Nó không chỉ là cơ sở cung cấp ngôn ngữ mới cho phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn mà còn rèn cho học sinh năng lực tổng hợp: nghe, nói, đọc, viết. Từ năm 2002 - 2003 đến nay trong nội dung thay sách đã đưa vào loại văn bản mới có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong việc giáo dục học sinh đó là văn bản nhật dụng. Vậy có cần phương pháp dạy kiểu văn bản mới như thế nào (đặc biệt là phần văn bản nhật dụng lớp 8) để đạt hiệu quả cao là vấn đề nhiều giáo viên còn băn khoăn, trăn trở. Từ thực tế giảng dạy tôi chọn đề tài "Đổi mới Phương pháp dạy học văn bản Nhật Dụng lớp 8" làm vấn đề để các đồng nghiệp nghiên cứu trao đổi. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. - Đối tượng : Học sinh lớp 8C Trường THCS Điện Biên 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận Nghị quyết số 02/NQ-HNTW khoá VIII của Đảng đã nêu bật yêu cầu: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học". Luật giáo dục của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng nêu rõ: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tạo tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý thức vươn lên". Những năm gần đây định hướng đổi mới phương pháp đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên. Như thế một giáo án giờ văn bản kiểu mới không chỉ là bản đề cương nội dung chi tiết về cái hay, cái đẹp của áng văn thấy tâm đắc mà còn là bản thiết kế việc làm của học sinh. Để có sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trước hết phải nói đến cấu trúc nội dung văn bản của sách giáo khoa. Qua các văn bản các em không chỉ cảm thụ nội dung nghệ thuật của những hình ảnh cao đẹp, của con người, cuộc sống mà còn giúp các em đến với những vấn đề vừa hiển nhiên vừa bức thiết trong thực tiễn đời sống. Kiểu văn bản nhật dụng lần đầu tiên được đưa vào chương trình Ngữ văn 6, 7, 8 đã thực hiện được sứ mệnh của nó trong con đường tiếp nhận tri thức của học sinh. Không chỉ khoán vấn đề giáo dục môi trường cho môn sinh học, giáo dục truyền thống cho môn lịch sử, giáo dục pháp luật cho môn giáo dục công dân ... môn Ngữ văn không thể đứng ngoài cuộc. 2.2. Thực trạng của vấn đề Việc đưa văn bản nhật dụng vào chương trình Ngữ văn quả là một việc làm cấp thiết và hợp lý không chỉ riêng đối với nền giáo dục nước ta mà còn đối với nền giáo dục của các nước trên thế giới. Thực tế giảng dạy môn Ngữ văn, nhiều giáo viên chỉ khai thác các văn bản ở giá trị nội dung, nghệ thuật còn các giá trị về liên hệ thực tế cuộc sống thì hạn chế, hoặc bị bỏ qua. Một số còn vận dụng phương pháp giảng dạy mới một cách máy móc, hoặc chưa được thường xuyên, hoặc trở lại với thói quen dạy học cũ: thầy nói, trò nghe, ghi chép. Về phía học sinh: vẫn còn thói quen thụ động quen nghe chép ghi nhớ những gì giáo viên nói chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học. Đa số học sinh chưa chủ động v ận dụng kiến thức kỹ năng của văn học vào thực tế cuộc sống, ít biết liên hệ giữa thực tế cuộc sống với văn học. Từ đó dẫn đến việc học sinh ít nắm bắt, quan tâm hoặc thờ ơ với những vấn đề nóng hổi bức thiết của đời sống xã hội trong và ngoài nước. Từ thực tiễn trên có thể nói rằng việc tìm ra phương pháp tốt nhất để dạy phần văn bản nhật dụng lớp 8 nói riêng và kiểu văn bản khác nói chung là một việc làm cần thiết trong xu thế phát triển ở môn Ngữ văn và trong nền giáo dục Việt Nam. 2.3.Các giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện * Cách giải quyết vấn đề -Thống kê, phân loại. Với phương pháp này tôi chia phần văn bản Ngữ văn lớp 8 thành các kiểu bài như:Tự sự, biểu cảm nghị luận, nhật dụng từ đó có cái nhìn toàn diện về kiến thức phần văn lớp 8 và xác định được vị trí nhiệm vụ kiểu văn bản nhật dụng căn cứ vào đó nghiên cứu vấn đề cụ thể của đề tài. - Miêu tả và phân tích. Dùng phương pháp này để chỉ rõ những phương pháp cơ bản, cấu trúc tiến hành dạy kiểu văn bản nhật dụng lớp 8. Trên cơ sở miêu tả nội dung của một bài văn bản nhật dụng lớp 8, đề xuất những nhiệm vụ, yêu cầu cùng với biện pháp thực hiện cho phù hợp .Trong đề tài này, tôi dựa trên phương pháp dạy văn bản nói chung để nghiên cứu phương pháp dạy kiểu văn bản nhật dụng lớp 8. Minh hoạ cụ thể qua bài 10; tiết 39 "thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000". * Nội dung đề tài. A. Cấu trúc chương trình VB Nhật dụng Ngữ văn lớp 8: Gồm: 3 bài * Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000. * Ôn dịch, thuốc lá * Bài toán dân số Hệ thống văn bản Ngữ văn lớp 8 rất phong phú, nhiều thể loại, nhiều bài với nội dung sâu sắc rất có ý nghĩa cho việc giảng dạy hiện nay. Từ sự kế thừa và phát triển nâng cao hơn so với hệ thống văn bản nhật dụng lớp 6, lớp 7 phần văn bản nhật dụng lớp 8 đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa rộng hơn, thiết thực hơn trong cuộc sống. Mặc dù chỉ có 3 tiết, không nhiều so với các kiểu văn bản biểu cảm, tự sự, nghị luận song nó lại có vị trí quan trọng thiết yếu trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh. * Sách giáo khoa và sách giáo viên. - Sách giáo viên: Giáo viên dạy phải hiểu rằng, sách giáo viên không thể áp dụng máy móc cho bất kỳ đối tượng nào. Giáo viên sử dụng như một tài liệu tham khảo, hướng dẫn, cần cân nhắc, chọn lọc kiến thức cho phù hợp với học sinh của lớp mình dạy. * Phương pháp dạy phần văn bản nhật dụng lớp 8. + Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của việc dạy và học văn bản nhật dụng. - Trước hết phải hiểu được thế nào là văn bản nhật dụng; Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại. Nói đến văn bản nhật dụng trước hết nói đến tính chất của nội dung văn bản. Đó là những bài viết có nội dung gần gũi bức thiết đối với đời sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như thiên nhiên, môi trường, dân số v.v... - Mục đích dạy văn bản này là tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giúp học sinh hoà nhập với xã hội, quan tâm đến những vấn đề xã hội có ý nghĩa lâu dài, đưa học sinh trở lại với những vấn đề vừa quen thuộc, vừa gần gũi hàng ngày, gắn kết với đời sống thực tế (vấn đề môi trường, dân số, tệ nạn xã hội). Mỗi văn bản nhật dụng là một cánh cửa mở ra giúp các em có thêm hiểu biết về thế giới xung quanh, từ đó nâng cao làm phong phú thêm tâm hồn, tình cảm và nhận thức của các em. Ví dụ: ở văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000". Từ việc giúp các em nhận rõ tác hại của bao bì nilông đến có hành động và ý thức bảo vệ môi trường, có suy nghĩ tích cực về các việc tương tự trong vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường. -Văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" từ việc giúp các em nhận thức được tác hại to lớn, nhiều mặt của thuốc lá đối với đời sống cá nhân, cộng đồng đến việc tạo ra cho các em có ý thức quyết tâm phòng chống thuốc lá ở mọi nơi, mọi lúc. + Mục giới thiệu bài. Khi dạy bài "Ôn dịch, thuốc lá" giáo viên có thể trích dẫn câu "Thuốc lá còn đe doạ tính mạng, sức khoẻ con người còn mạnh hơn cả AIDS" để có thông tin đó chúng ta sẽ đi tìm hiểu tác hại của việc hút thuốc lá trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá". + Mục đọc hiểu văn bản. Trong dạy - học văn, đọc là một khâu rất quan trọng trong hoạt động tiếp nhận văn bản, bao gồm nhiều cách đọc khác nhau: đọc đúng, đọc thần, đọc thành tiếng, cơ bản là đọc diễn cảm. Trong chương trình Ngữ văn mới đọc là một trong bốn kỹ năng mà học sinh phải tương đối thành thạo, cần hướng dẫn cho học sinh đọc có vận dụng của tư duy, tình cảm, góp phần tái hiện nội dung văn bản. Điều cốt tử với mọi giờ học văn là từ đọc văn bản giúp học sinh hiểu - cảm thụ đúng văn bản thấm thía mối liên hệ khăng khít giữa văn bản với cuộc sống. Từ khâu đọc cũng có thể hình thành cho học sinh các kỹ năng phân tích, bình giá, cảm thụ và nghe tốt, nói tốt, viết tốt. Với văn bản nhật dụng khi đọc không cần nhiều ngữ điệu như các văn bản tự sự, biểu cảm, yêu cầu đọc rõ ràng mạch lạc chính xác chú ý đến các thuật ngữ chuyên môn cần phát âm chuẩn xác. Nhấn mạnh, dừng lại lâu hơn ở những cấu tạo hình thức đặc biệt ví dụ như là dòng chữ in đậm trong "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000": Một ngày không sử dụng bao bì ni lông hay ở bài "Ôn dịch, thuốc lá" "nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu" những câu cảm có dấu chấm than cần đọc với giọng phù hợp. Có thể nêu các câu hỏi để học sinh tự tìm ra yêu cầu của mỗi văn bản. Ví dụ: Theo em văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" chúng ta cần phải đọc với giọng như thế nào ? Hãy nêu yêu cầu đọc của văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" ? - phần chú thích, bên cạnh việc giải nghĩa, ở đây còn có những thông tin khác về lịch sử, xã hội, chính trị ... cần lưu ý học sinh đọc kỹ cả những phần chú thích đó mới hiểu một cách đầy đủ sâu sắc, ý nghĩa của văn bản. Ngoài các từ trong phần chú thích sách giáo khoa giáo viên cần giảng thêm các từ ngữ khó khác. - Ví dụ trong văn bản "Bài toán dân số": giải thích "chàng Ađam và nàng Eva" theo kinh thánh của đạo Thiên chúa, đó là cặp vợ chồng đầu tiên trên trái đất được chúa tạo ra và sai xuống trần gian để hình thành và phát triển loài người. - Tồn tại hay không tồn tại: là câu nói nổi tiếng của nhà văn HămLet trong vở kịch "HămLet" của U.Sêcxpia (Anh). Trong VB "Ôn dịch, thuốc lá" giải thích: - Vi trùng: vi khuẩn gây bệnh - Ký sinh trùng: động vật bậc thấp sống bám vào, nhờ vào một sinh vật chủ nào đó. + Mục phân tích. Theo tôi ở phần này cần chú ý những điểm chính sau: a. Đảm bảo nguyên tắc tích hợp. Ngay từ khâu viết sách các nhà biên soạn đã có sự tích hợp, đó là việc thiết kế bài và hệ thống tiết dạy theo hướng đồng quy. - lớp 6 nội dung chính của các văn bản nhật dụng viết về các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh và thiên nhiên môi trường. - lớp 7 nội dung chính là những vấn đề về quyền trẻ em, nhà trường, phụ nữ, văn hoá, giáo dục. - lớp 8 tập trung vào các nội dung cơ bản như vấn đề dân số, môi truờng tệ nạn xã hội. Nguyên tắc tích hợp thể hiện cụ thể ở nội dung từng bài. Ví dụ: Văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" thực chất là một văn bản thuyết minh về một vấn đề khoa học hiểu được nó một cách cặn kẽ lại không phải đơn giản muốn dạy đạt kết quả cần tích hợp với những kiến thức đang và sẽ học về văn bản thuyết minh ở phần tập làm văn, tích hợp với một số kiến thức khoa học tự nhiên đang và sẽ học như: hoá học, sinh học, địa lý, giáo dục công dân. Ví dụ: Nhận xét về cách trình bày bố cục của văn bản ?(Bố cục theo 3 phần: nêu vấn đề, phân tích trình bày cho vấn đề sáng tỏ, kêu gọi mọi người hành động theo vấn đề đã nêu Þ cách trình bày rõ ràng chặt chẽ hợp lý, logíc khoa học: tích hợp với bố cục đặc điểm của kiểu văn bản thuyết minh. - Em hiểu gì về đặc điểm tính chất của plastic ? (là chất dẻo nhựa, vật liệu gồm phân tử pôlime, không tự phân huỷ được). - Các chất NH2, CH4 (mêtan), H2S (sunphurơ) là những chất như thế nào? Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá", "Dân số thế giới", tích hợp với môn lịch sử, địa lý, giáo dục công dân, phương pháp cách làm của văn bản thuyết minh nghị luận, tích hợp với phân môn tiếng Việt ở các yếu tố nghệ thuật. Ví dụ: - Khi nêu tác hại của thuốc lá đối với con người tác giả sử dụng những phương pháp thuyết minh nào ? (liệt kê, phân tích, giải thích). - Ngoài ra còn sử dụng phương thức biểu đạt nào khác ? - Tác dụng của các phương thức biểu đạt đó ? - Trong văn bản "Bài toán dân số" có mấy luận điểm chính ? - Vấn đề nghị luận được đặt ra trong văn bản này là gì ? - Em rút ra kinh nghiệm gì về cách viết văn thuyết minh sau khi học VB này ? Ví dụ: Trong văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000". - Để trình bày tác hại của việc sử dụng bao bì nilông tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào ? (liệt kê) - Dùng biện pháp liệt kê đó có tác dụng gì ? (nêu được tác hại về mọi mặt của việc sử dụng bao bì nilông). - Nhận xét về cách sử dụng từ ngữ của văn bản trên ? (ngắn gọn, rõ ràng, khoa học, chính xác, dễ nhớ dễ hiểu) Þ Đặc điểm từ ngữ của kiểu văn bản thuyết minh. - Các trình bày câu, trừ ở đoạn cuối của văn bản có gì đặc biệt ? (chữ in to, sử dụng câu cầu khiến, điệp ngữ). - Có tác dụng gì ? (nhằm khuyên bảo, yêu cầu đề nghị mọi người hạn chế sử dụng bao bì nilông giữ gìn sự trong sạch của môi trường trái đất). Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá"- Cách trình bày ở tiêu đề văn bản có gì đặc biệt ? (Dấu phẩy được dùng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm - thái độ của tác giả: rất căm ghét thuốc lá, gây được sự chú ý với người đọc thấy được nghiện thuốc lá là một bệnh nguy hiểm). - Nhận xét về cách trình bày và nghệ thuật của câu: "Ôn dịch, thuốc lá đe doạ tính mạng, sức khoẻ con người còn mạnh hơn cả AIDS ?" (dòng chữ in nghiêng, biện pháp nghệ thuật so sánh). b- Sử dụng câu hỏi phát huy tính tích cực của học sinh. Muốn phát triển trí sáng tạo của học sinh phải chú ý đặc biệt đến phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Tốt nhất là tổ chức những tình huống có vấn đề, đòi hỏi dự đoán, nêu giả thiết, tranh luận giữa những ý kiến trái ngược nhau, đưa học sinh vào tình huống tự bộc lộ. Ví dụ trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" có thể sử dụng một số câu hỏi như: - Trước thông tin: "Ôn dịch, thuốc lá còn nặng hơn cả AIDS" em có thái độ như thế nào ? (Ngạc nhiên, bất ngờ hay không ngạc nhiên? ) - Trong số những thông tin về chiến dịch chống thuốc lá, em chú ý nhất thông tin nào ? Vì sao ? (Học sinh tự bộc lộ theo nhận thức của từng cá nhân). - Em dự định sẽ làm gì trong chiến dịch chống thuốc lá rộng khắp hiện nay? - Thế giới lấy ngày 31/5 hằng năm làm ngày không hút thuốc lá. Để phát huy tính tích cực của học sinh theo tôi giáo viên nên sử dụng cả những câu trắc nghiệm trong giờ học. Ngoài những câu hỏi quen thuộc như phát hiện, gợi tìm, suy luận ... việc đưa những câu hỏi trắc nghiệm trong khi giảng dạy là cần thiết (không nhất thiết cứ phải giờ kiểm tra, đánh giá mới sử dụng). Câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng theo các dạng câu hỏi lựa chọn đúng sai, câu hỏi nhiều lựa chọn (thường là 4 lựa chọn) câu hỏi điền khuyết, câu hỏi đối chiếu, cặp đôi ... Những câu hỏi này sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, năng lực đọc hiểu văn bản, nắm vững và sử dụng các kiến thức kỹ năng từ ngữ ngữ pháp cho học sinh; hạn chế được thói quen học tư học lệch của học sinh, học sinh phải bỏ nhiều thời gian đọc và suy nghĩ trước khi trả lời. Ví dụ: ở bài "Bài toán dân số" - Theo em nguyên nhân chính của sự gia tăng dân số là gì ? A. Do

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Văn Bản Nhật Dụng Môn Ngữ Văn 8 / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!