Đề Xuất 11/2022 # Ngày Tết Lưu Ý Bệnh Đái Tháo Đường Ở Trẻ Em / 2023 # Top 17 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 11/2022 # Ngày Tết Lưu Ý Bệnh Đái Tháo Đường Ở Trẻ Em / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ngày Tết Lưu Ý Bệnh Đái Tháo Đường Ở Trẻ Em / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bệnh đái tháo đường là gì ?

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em còn gọi bệnh tiểu đường là một bệnh mạn tính do rối loạn quá trình sử dụng và tích trữ chất đường dẫn đến hậu quả là nồng độ đường trong máu (chính xác là glucose) vào buổi sáng chưa ăn, cao hơn mức bình thường từ 126mg% trở lên.

Nguyên nhân cơ bản của sự rối loạn này là thiếu chất insulin sản xuất bởi tuyến tụy (tiểu đường type 1) hoặc khiếm khuyết tác động của insulin (tiểu đường type 2). Insulin giúp cho cơ thể chuyển hóa, sử dụng chất glucose cung cấp bởi thức ăn giàu đường bột.

Lượng đường trong máu và trong nước tiểu như thế nào là bình thường ?

Nồng độ đường trong máu còn gọi là đường huyết, bình thường từ 80-120mg% (80-120mg/100ml máu), còn trong nước tiểu bình thường không có glucose.

Bệnh tiểu đường có lây không ?

Bệnh tiểu đường không lây cho người xung quanh nhưng có tính di truyền, ông bà nội ngoại hoặc cô, dì, chú, bác hoặc cha mẹ bị tiểu đường thì con cháu có thể bị tiểu đường

Có phải ăn ngọt, ăn nhiều đường thì dễ bị tiểu đường không ?

Khoa học chưa chứng minh được ăn nhiều đường gây ra bệnh tiểu đường, nhưng nó làm cho bữa ăn mất cân bằng, lượng đường “dư” trong máu buộc tụy tạng và các cơ quan khác phải làm việc nhiều để chuyển đường thành mỡ đưa đến mập phì và các rối loạn khác không có lợi cho sức khoẻ.

Làm thế nào để phát hiện tiểu đường

Triệu chứng đặc trưng là ăn nhiều, khát nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, thường gọi là triệu chứng “bốn nhiều”. Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng hiện nay, ít gặp trẻ tiểu đường biểu hiện cả triệu chứng “bốn nhiều” mà chỉ gặp các triệu chứng hai hoặc ba nhiều, hay là các biểu hiện ăn kém, sụt cân, mệt mỏi, suy kiệt, nôn ói, đau bụng, mất nước, rối loạn tri giác (lơ mơ, hôn mê) hoặc biểu hiện qua suy giảm sức đề kháng cơ thể như bị nhọt da, viêm ngứa bộ phận sinh dục, viêm quanh nướu răng hay biểu hiện thần kinh như tê rần như kiến bò ở chân, mạch máu võng mạc: giảm thị lực, hoa mắt. Trước đó trẻ có thể biểu hiện đơn thuần là nhiễm khuẩn đưởng hô hấp cấp hay đường tiêu hóa hay đường tiểu,…Khi có các triệu chứng gợi ý trên, hãy đưa trẻ đến cơ sở y tế để được khám tầm soát bệnh tiểu đường.

Các biến chứng của bệnh tiểu đường ở trẻ em ?

Biến chứng cấp thời có thể gây nguy hiểm đến tính mạng trẻ là hôn mê nhiễm toan ceton. Do không sử dụng được đường nên cơ thể lấy năng lượng cho hoạt động từ nguồn mỡ dự trữ đưa đến tạo nhiều thể ceton trong máu thông qua quá trình chuyển hoá acid béo, đưa đến nhiễm toan máu nặng. Trẻ biểu hiện rối loạn tri giác lơ mơ, hôn mê, thở nhanh sâu, mất nước có thể dẫn đến tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Biến chứng lâu dài như tổn thương mạch máu ở võng mạc: giảm thị lực, hoa mắt, có thể đưa đến mù lòa; ở thận: tiểu đạm, có thể suy thận; ở chân: chân lạnh, tím đỏ, loét; tổn thương thần kinh: tê rần, rát bỏng, đau nhức chân.

Điều trị và theo dõi bệnh tiểu đường ở trẻ em như thế nào ?

Điều trị bệnh tiểu đường nhằm đưa mức đường huyết về gần mức bình thường, đồng thời hạn chế biến chứng. Để điều trị tiểu đường hiệu quả, cần tuân thủ các bước sau đây:

– Theo dõi lượng đường huyết thường xuyên theo y lệnh của bác sĩ, thường thử đường huyết nhanh bằng que (dextrostix hoặc glucostix). Ngoài ra còn thử định kỳ Hemoglobine A 1c để biết đường huyết đã được kiểm soát tốt chưa – Dùng thuốc đúng liều, đúng cách theo y lệnh bác sĩ – Chế độ ăn, cách chăm sóc ngăn ngừa và phát hiện sớm biến chứng. – Sự hợp tác giữa bác sĩ điều trị, trẻ bệnh và phụ huynh trẻ rất cần thiết

Đái Tháo Đường Ở Người Cao Tuổi / 2023

Hiện nay tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới ngày càng tăng và tỉ lệ người cao tuổi ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển chung đó. Mặc dù vẫn chưa có mức ngưỡng tuổi chung để quy định người cao tuổi, tại các nước phương Tây từ 65 tuổi trở lên được xếp vào nhóm người cao tuổi, còn theo Liên Hợp Quốc từ 60 tuổi trở lên được xem là người cao tuổi .

Năm 1989 tỉ lệ người cao tuổi ở Việt Nam chiếm 7,2% dân số, năm 2007 là 9,5%. Theo dự báo của Ủy ban Quốc gia Người cao tuổi thì tỉ lệ này có thể đạt 16,8% vào năm 2029. Theo kết quả điều tra biến động dân số, Nguồn lao động và kế hoạch hoá gia đình 01/04/2008 của Tổng cục Thống kê, thì tỉ lệ người từ 60 tuổi trở lên của nước ta đạt 9,9%, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên là 7,5%. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 được Tổng cục Thống kê công bố, tính đến ngày 01/04/2009, dân số của Việt Nam là 85.846.997 người, tăng 9,14 triệu người so với năm 1999

Già hoá dân số là quá trình chuyển đổi về dân số học theo hướng tỉ lệ người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) tăng và chiếm từ 10% dân số trở lên hoặc tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ trên 7% dân số. Theo các dự báo trước đây, dân số nước ta sẽ già hoá dân số vào năm 2014, nhưng số liệu thực tế cho thấy dân số nước ta bước vào giai đoạn già hoá dân số vào năm 2010 . Do đó, nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ngày càng gia tăng.

Tại Việt Nam, mới đây một nghiên cứu lớn, mang tính điều tra dịch tễ học mô hình bệnh tật sức khoẻ ở người cao tuổi do Viện Lão khoa Quốc gia tiến hành trên 3 vùng Bắc – Trung – Nam cho thấy trung bình một người cao tuổi có khoảng gần 3 bệnh hoặc rối loạn bệnh lý, những bệnh lý rối loạn chiếm tỉ lệ cao là tăng huyết áp, thoái hóa khớp, bệnh lý tiêu hoá, giảm thị lực do đục thuỷ tinh thể. Những bệnh lý rối loạn có xu hướng tăng nhanh như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, trầm cảm, sa sút trí tuệ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Các nguyên nhân làm tăng tỉ lệ mắc ĐTĐ ở những người cao tuổi là những thay đổi về chuyển hóa glucose, do rối loạn tiết insulin và kháng insulin tăng lên theo tuổi, do người cao tuổi thường phải dùng nhiều loại thuốc có ảnh hưởng đến đường máu, do lối sống tĩnh tại ít hoạt động và do họ thường có béo phì hoặc thừa cân.

Với nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh, việc phát hiện bệnh ĐTĐ ở giai đoạn sớm chính là biện pháp phòng bệnh tốt nhất. Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời sẽ làm giảm mức độ hoặc ngăn chặn các biến chứng của bệnh. Những biến chứng thường là giảm thị lực, thậm chí mù lòa do bệnh ĐTĐ, cắt cụt chi dưới do bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh thần kinh và bệnh nhiễm trùng, bệnh thiếu máu cơ tim, tai biến mạch máu não và suy thận mạn… Tất cả đều làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh ĐTĐ cao tuổi.

Do những thay đổi đặc biệt về sinh lý và bệnh lý của người cao tuổi (trên 65 tuổi) nên người ta phải có những hiểu biết riêng về bệnh ÐTÐ ở lứa tuổi này. Khi người cao tuổi mắc bệnh ÐTÐ sẽ gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn trong điều trị.II. NỘI DUNG Đại cương: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh đái tháo đường typ 2 Chẩn đoán Lâm sàng: Cận lâm sàng Đáitháo đường là bệnh lý chuyển hóa, đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu mạn tính , kèm theo các rối loạn chuyển hóa glucid, lipid, và protid. Bệnh đái tháo đường không được kiểm soát tốt sẽ làm tăng nguy cơ bị các biến chứng cấp và mạn tính .

Đái tháo đường typ 2 là một rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose huyết do thiếu hụt insulin tuyệt đối hoặc tương đối xảy ra trên nền đề kháng insulin.

Bệnh chiếm tới 90-95% người bị đái tháo đường

Có 2 khía cạnh sinh lý bệnh liên hệ mật thiết với nhau là đề kháng insulin và rối loạn trong sự tiết insulin Insulin kiểm soát sự thăng bằng glucose huyết qua 3 cơ chế phối hợp , mỗi cơ chế rối loạn có thể là nguyên nhân của tình trạng đề kháng insulin : ức chế sản xuất glucose ở gan, kích thích sự thu nạp glucose ở mô ngoại vi , kích thích sự thu nạp glucose ở các cơ quan khác .Insulin phát huy tác dụng sinh học ở mô đích bằng cách phát gắn vào thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào . Sự đề kháng insulin ở tế bào là do khiếm khuyết tại thụ thể và sau thụ thể.

Ảnh hưởng của yếu tố di truyền trên đái tháo đường typ 2 rất mạnh như tỷ lệ anh em sinh đôi cùng trứng bị đái tháo đường typ 2 là 90- 100% , gia đình có người thân có quan hệ trực hệ cùng bị đái tháo đường , người thuộc củng tộc , sắc tộc có nguy cơ cao hoặc kiểu di truyền .

Béo phì và thiếu vận động là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ cao của bệnh đái tháo đường typ 2 ở thành thị và dân nhập cư vào các nước phát triển . Ăn nhiều mỡ nhất là mơc bão hòa của động vật cũng góp phần . Ảnh hưởng của sự rối loạn phát triển lúc bào thai và niên thiếu cũng sẽ có nguy cơ cao bị đai tháo đường typ 2.

Triệu chứng tăng glucose máu: ăn nhiều , uống nhiều , tiểu nhiều , sụt cân không rõ nguyên nhân.

Tùy theo typ đái tháo đường , ở từng người bệnh các triệu chứng nêu trên có thể xuất hiện đầy đủ hay chỉ có một vài biểu hiện với các mức độ khác nhau.

Triệu chứng khác: người bệnh có thể đến khám bệnh vì các biến chứng của đái tháo đường các biểu hiện như mệt mỏi, mắt mờ , ngứa vùng cơ quan sinh dục , nhiễm trùng tiểu tái đi tái lại, lao phổi, nhiễm trùng ngoài da… Hoặc vì các biến chứng cấp tính do tăng glucose huyết như hôn mê nhiễm ceton ccid, tăng áp lực thẩm thấu máu.

Các xét nghiệm dùng trong chẩn đoán

– Glucose máu khi đói ( Buổi sáng )

– Glucose máu bất kỳ.

– Nghiệm pháp dung nạp Glucose với 75 gam Glucose uống.

– HbA1C

Lưu ý: Để chẩn đoán đái tháo đường

– Đo glucose trong mẫu máu tĩnh mạch ( máu lấy vào buổi sáng, sau khi nhịn ăn 8 giờ)

– Nghiệm pháp dung nạp Glucose ( OGTT) với 75 gam glucose uống : Được thực hiện cho những trường hợp có kết quả glucose máu khi đói: 6,1 mmol/L < Go < 7 mmol/L. ( 100 mg/dl< Go< 126 mg/dl)

– HbA1c:

+ Thực hiện bằng phương pháp chuẩn

+ Bệnh nhân không bị thiếu máu nặng và bệnh lý Hemoglobin.

Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường ( Theo ADA 2013) Các tình trạng tăng nguy cơ đái tháo đường Điều trị Chẩn đoán là đái tháo đường khi:

+ Glucose máu khi đói ≥ 126 mg/dl ( 7 mmol/L) (*)

Hoặc

+ Nghiệm pháp dung nạp 75 gam Glucose . Glucose máu sau hai giờ ≥ 200 mg/dl ( 11,1 mmol/L ) (*)

Hoặc

+ Bệnh nhân có triệu chứng tăng đường huyết trên lâm sàng hoặc cơn tăng đường huyết , với glucose máu ngẫu nhiên ≥ 200mg/dl ( 11,1 mmol/L)

Hoặc

+ HbA1C ≥ 6,5 % (*)

Lưu ý: Nếu không có triệu chứng tăng đường huyết trên lâm sàng thì cần lặp lại các xét nghiệm (*) một lần nữa vào ngày khác.

– Rối loạn glucose máu khi đói : Glucose máu từ 100mg/dl – 125 mg/dl ( 5,6 – 6,9 mmol/L)

– Rối loạn dung nạp glucose : Glucose máu hai giờ sau khi uống 75 gam glucose từ 140 – 199 mg/dl ( 7,8- 11 mmol/L)

– HbA1C từ 5,7% -6,4%

4.1 Nguyên tắc điều trị đái tháo đường người cao tuổi

– Tránh nguy cơ hạ đường huyết

– Tránh nguy cơ tăng đường huyết ( Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu )

– Chấp nhận mục tiêu kiểm soát đường huyết tương đối .

– Chăm sóc các biến chứng đái tháo đường .

– Kiểm soát huyết áp, Lipid máu đạt mục tiêu.

– Tránh tình trạng mất nước, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng.

4.2 Điều trị theo từng cá thể

Ở người già mục tiêu chung trong điều trị đái tháo đường tương tự như ở người trung niên, cần kiểm soát cả tăng đường huyết và các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên ở những bệnh nhân già đái tháo đường dễ bị tổn thương cần chú ý tránh hạ đường huyết, tụt huyết áp và những tương tác thuốc do dùng nhiều loại thuốc. Ngoài ra cần chú ý điều trị các bệnh lý kèm theo.

4.3. Mục tiêu đường huyết

Bệnh nhân già bị tăng đường huyết dẫn tới tình trạng mất nước, giảm thị lực và rối loạn tri giác, do đó làm cho bệnh nhân suy yếu và tăng nguy cơ ngã. Ngoài ra hạ đường huyết do thuốc có thể gây hậu quả xấu như ngã gây chấn thương hoặc làm các bệnh lý đi kèm nặng hơn.

Do đó mục tiêu kiểm soát đường huyết cần tùy theo tình trạng sức khỏe chung, thời gian sống còn dự kiến. Mục tiêu sau đây cho bệnh nhân lớn tuổi đái tháo đường

4.4 Tránh hạ đường huyết

Người già khi hạ đường huyết thường ít các biểu hiện giao cảm như vã mồ hôi hay run, mà hay có biểu hiện giảm glucose ở thần kinh trung ương như yếu, chóng mặt, lú lẫn. Do đó có thể nhầm với tổn thương khác như cơn thoáng thiếu máu não. Hạ đường huyết làm tăng biến cố tim mạch, tăng khả năng sa sút trí tuệ, khả năng ngã dẫn tới gẫy xương. Do đó chú ý chọn lựa thuốc giảm thiểu nguy cơ hạ đường huyết. Cẩn thận khi dùng sulfonylurea, glinide và insulin.

4.5 Thay đổi lối sống

Tiết chế và vận động cũng rất có lợi trong kiểm soát đái tháo đường ở người già. Tuy nhiên cũng cần chú ý bệnh nhân già có thể có nguy cơ thiếu dinh dưỡng làm giảm cân quá nhiều dẫn tới tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong.

4.6 Thuốc điều trị đái tháo đường người cao tuổi. 4.6.1 Khuyến cáo điều trị ĐTĐ typ2 cho người cao tuổi theo IDF 2013

– Ức chế DPP4 hoặc SU được chọn đầu tay khi metformin không phù hợp, hoặc là dạng kết hợp thứ 2, thứ 3 cùng với metformin

– Linagliptin là thuốc ức chế DPP4 với ít nguy cơ hạ ĐH và an toàn trên thận do đó phù hợp sử dụng trên BN cao tuổi.

Nói chung tất cả các loại thuốc đái tháo đường đều có thể dùng ở người lớn tuổi, nhưng đều có những hạn chế. Do đó khi chọn cần phải tùy đặc điểm bệnh nhân và các bệnh lý đi kèm. Nguyên tắc chung khi dùng thuốc là khởi đầu liều thấp và tăng liều chậm.

Nếu không có chống chỉ định với metformin (suy thận, suy tim nặng) chọn lựa khởi trị vẫn là metformin. Thuốc metformin ít nguy cơ hạ đường huyết. Cần thận trọng vì bệnh nhân có nguy cơ nhiễm axit lactic. Ở người già, creatinin máu có thể bình thường nhưng độ thanh lọc creatinin giảm. Có nhiều bệnh lý đi kèm và thuốc uống có thể làm chức năng thận xấu đi.

Trong trường hợp không thể dùng metformin được, có thể dùng sulfonylurea tác dụng ngắn (như gliclazide, glipizide, repaglinide). Nếu bệnh nhân có bệnh thận mạn, có thể dùng repaglinide.

Sau khi đáp ứng tốt với thuốc uống khởi đầu, nhiều bệnh nhân khó duy trì được mục tiêu HbA1c. Nếu không đạt được mục tiêu HbA1c bằng 1 thuốc, cần tìm lý do như khó tuân thủ với thuốc, tác dụng phụ, chế độ ăn không hợp lý.

Sau khi thất bại với dùng 1 thuốc khởi đầu (metformin hoặc sulfonylurea), chọn lựa phối hợp thuốc thứ hai cũng tương tự như bệnh nhân đái tháo đường trung niên.

4.6.2 Các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường người cao tuổi 4.6.2.1 Metformin

– Tác dung:

+ Ức chế tân sinh Glucose ở gan;

+ Tăng thu nhận Glucose ở mô mỡ;

+ Hạ glucose máu đói và sau ăn

– Chỉ định: thuốc uống được chọn đầu tiên ( cả ở người có trọng lượng bình thường )

Ưu / nhược điểm

+ Không gây tai biến hạ glucose máu

+ Không làm tăng cân

+ Có thể phối hợp với nhiều thuốc uống ĐTĐ khác

+ Có lợi đối với biến chứng mạch máu lớn

Liều dùng: 500 mg x 1-2 lần/ngày; nếu dung nạp tốt : sau vài ngày tăng liều lên 1000 mg x2 lần/ ngày ( liều hiệu quả )

Tác dụng phụ: 10-15 % nôn, khó chịu dạ dày, chướng bụng, tiêu chảy ( 5% phải ngưng điều trị). Có thể giảm liều.

Chống chỉ định:

+ Thường gặp: mọi bệnh lý gây giảm o xy máu; suy thận, suy hô hấp hay suy tim tiến triển.

+ Ít gặp: Bệnh lý gan nặng, viêm tụy cấp, nghiện rượu.

Đối với người lớn tuổi:

+ Tuổi già không phải là chống chỉ định của Metformin;

+ Rất có giá trị trong hội chứng chuyển hóa: Giảm cân mà không gây tai biến hạ glucose máu

+ Cần ngưng thuốc trước khi phẫu thuật, dùng thuốc cản quang hoặc mắc bệnh lý nặng. Tăng dần liều để hạn chế TD phụ tiêu hóa.

4.6.2.2 Glitazone

– Tác dụng: Giảm đề kháng insulin ở mô mỡ, cơ và gan. Giảm Glucose máu đói và sau ăn.

– Chỉ đinh: Thuốc lựa chọn thư hai: phối hợp với Metformin, SU, Glinide; Đơn trị khi Metformin bị chống chỉ định hay không dung nạp, Pioglitazone kết hợp với insulin ( Giảm liều insulin 30%)

– Ưu/ nhược:

Không gây tai biến hạ glucose máu

Tác dụng có lợi: Giảm NMCT đối với Pioglitazone

– Liều dùng: Actos 15-30mg/ngày. Tăng 30-45mg/ngày sau 6-8 tuần. Dùng 1 lần/ngày

– Tác dụng phụ: Tăng cân ( 2-5 kg); phù. Suy tim mất bù ( gấp đôi so với không dùng Glitazone) . Ở phụ nữ mãn kinh: gãy xương đầu chi ( gấp đôi) ; Ít gặp: đau đầu, tăng men gan, khó chịu dạ dày – ruột

– CCĐ: Suy tim (NYHA I); Suy thận ( MLCT ≤ 30 ml/phút)

– Người lớn tuổi: Do tác dụng phụ nhiều , nhất là suy tim và gãy xương: không phải là thuốc lựa chọn.

Tác dụng hạ glucose máu tối đa: muộn, sau 2-4 tuần , không dùng khi MLCT ≤ 30ml/ph; Hạ glucose máu đói và sau ăn; Phối hợp lợi tiểu do nguy cơ gây suy tim mất bù.

4.6.2.3 Acarbo

– Tác dụng: Ức chế men AG ở ruột non. Hạ glucose máu sau ăn

– Chỉ định: Thuốc lựa chọn thứ hai ( sau Metformin); Có thể phối hợp với các thuốc uống khác; Đơn trị khi metformin bị CCĐ hay không dung nạp.

– Ưu/ nhược: Không gây tai biến hạ glucose máu; Không ảnh hưởng cân nặng; Có lợi đối với tiền ĐTĐ.

– Liều : Glucobay: 50 mg x 3 lần/ ngày

Để giảm tác dụng phụ dạ dày – ruột: 50mg x 1-2 lần/ngày

Chỉnh liều theo Glucose máu, có thể 100 mg x 3 lần/ngày

Thực tế lâm sàng: bắt đầu 25 mg x 1-2 lần/ ngày sau đó 2-3 tuần :tăng liều dần, đến liều tối đa 50 mg x 3 lần/ngày

– Tác dụng phụ: Thường gặp: chướng bụng, tiêu chảy, đau bụng. Ít gặp: tăng men gan có hồi phục

– Chống chỉ định: Có thai, cho con bú, Bệnh lý ruột mạn tính. Suy thận với MLCT < 25 ml/ph

– Người lớn tuổi: Không gây tai biến hạ glucose máu; Thuốc làm giảm HbA1C ít nhất ( 0,5%). Chỉnh liều chỉ sau 2-3 tuần do đó không phù hợp ở nhóm bệnh nhân „ Slow- Go” hay „ No-Go”; Tuân thủ điều trị kém do tác dụng dạ dày -ruột; Nếu có hạ glucose máu khi kết hợp với các thuốc kích thích tiết insulin, cần sử dụng glucose ( ăn, uống, tĩnh mạch )

4.6.2.4 Sulphonylurea (SU)

– Tác dụng: Kích thích tiết insulin

– Chỉ đinh: Thuốc lựa chọn thứ hai ( sau Metformin); Có thể phối hợp với tất cả các thuốc uống khác; Đơn trị khi metformin bị CCĐ hay không dung nạp.

– Ưu/ nhược: Tác dụng có lợi ngoài glucose máu: Glibenclamide, Gliclazid; Hạ glucose máu, nhất là khi có suy thận tiến triển; Có thể kéo dài đến 72 giờ; Tăng cân

– Liều dung:

– Tác dụng phụ: hạ glucose máu, tăng cân

– Chống chỉ định: Có thai, cho con bú, bệnh lý ruột mạn tính, suy thận; Không dung khi MLCT < 40 ml/ph do nguy cơ hạ glucose máu rất cao; ngoại trừ Gliquidon.

– Người lớn tuổi: Nguy cơ hạ glucose máu nhất là khi bỏ bữa ăn; Thích hợp cho những bệnh nhân ăn đều đặn; Tác động lên glucose máu sau ăn và glucose đói; Không phối hợp với Glinide; Không có lợi khi phối hợp với metformin ở bệnh nhân sau NMCT; Glimepiride gây tai biến hạ glucose máu ít hơn Glibenclamide,

Liều Glimepiride tối đa 2-4 mg/ngày, liều cao hơn không mang lại hiệu quả nhiều hơn

4.6.2.5 Glinide

– Tác dung: Kích thích tiết insulin. Thời gian bán hủy ngắn hơn nhiều hơn so với SU, cần uống 3 lần/ngày theo bữa ăn

– Chỉ đinh: Thuốc lựa chọn thứ hai ( sau metformin ); Đơn trị khi metformin bị CCĐ hay không dung nạp; Phối hợp với các thuốc uống khác; Có thể dùng với insulin

– Ưu/ nhược: Dễ điều chỉnh tai biến hạ glucose máu hơn SU do thời gian bán hủy ngắn; Chưa có dữ kiện về tác dụng có lợi ngoài glucose.

Khi có suy thận cần giảm liều

Không phối hợp Repaglinide với Gemfibrozil do làm tăng nguy cơ hạ glucose máu

– Tác dụng phụ: hạ glucose máu, rối loạn dạ dày – ruột

– Chống chỉ định: Có thai; Cho con bú; ĐTĐ typ 1

– Người lớn tuổi: Hạ chủ yếu glucose máu sau ăn; Repaglinide hạ glucose mạnh hơn Nateglinide, và có thể làm giảm Go 10-20 mg; Dùng nhiều hơn 2 mg x 3 lần/ngày không làm hạ glucose máu nhiều hơn nữa ; Tỷ lệ tai biến hạ glucose máu ít hơn SU do chỉ uống thuốc khi có ăn; phải dùng thuốc nhiều lần; Ư điểm lớn của Repaglinide là có thể dùng ở bệnh nhân suy thận tiến triển.

4.6.2.6 Chất ức chế DPP4

Sitagliptin ( Januvia)

Vildagliptin ( Galvus)

Saxagliptin ( Onglyza)

Linagliptin ( Tradjenta)

Alogliptin ( Nesina)

– Tác dụng: Ức chế Dipeptidyl Peptidase ( DDP – 4) . Enzym này có tác dụng giảng hóa hormone incretin là glucagons -like- peptide -1 ( GLP-1); GLP-1 kích thích tiết insulin chỉ khi có tăng glucose máu và ức chế tiết glucagons.

– Chỉ định : Thuốc lựa chọn thứ hai ( sau metformin); Phối hợp với các thuốc khác ( Met, SU, Pio) đã có viên phối hợp Sita-/Vilda+ Metf ( 850,1000 mg): Janumet, Velmetia, Eucreas, icandra; Sitagliptin: đơn trị khi metformin bị CCĐ hay không dung nạp; khi tiết thực và vận động không đủ làm giảm glucose máu; Sitagliptin phối hợp metformin và insulin.

– Ưu/ nhược: Không có tai biến hạ glucose; Không ảnh hưởng đến cân nặng; Dung nạp tốt.

– Liều:

– Tác dụng phụ: như giả dược, Hiếm gặp: Viêm mũi họng, đau đầu; Rất hiếm : Phản ứng quá mẫn, tăng men gan

– Chống chỉ định : Có thai, cho con bú, ĐTĐ typ 1

Sitagliptin hiện là thuốc duy nhất có chỉ định đơn trị ( do CCĐ hoặc không dung nạp metformin ) hoặc phối hợp với insulin.

4.6.2.7 Chất tương tự GLP-1

– Tác dụng: Kích thích tiết insulin chỉ khi có tăng glucose máu; Ức chế tiết glucagon; Làm chậm vơi dạ dày; Gây cảm giác no ( TKTW)

Chất tương tự GLP-1 có thời gian bán hủy dài hơn

– Ưu /nhược điểm: Không gây tác dụng hạ glucose máu; Giảm cân (25% không ảnh hưởng ); Hiệu quả tương đương với các thuốc khác ; Chưa có dữ liệu về tác dụng ngoài glucose.

– Liều:

-Tác dụng phụ: Rối loạn dạ dày -ruột: buồn nôn, nôn, tiêu chảy

– Chống chỉ định: Đái đường typ 1; Sau viêm tụy; Bệnh lý viêm ruột mãn; Suy gan; K biểu mô tuyến giáp tế bào C

– Người lớn tuổi: Bệnh nhân béo phì tiên phát: Với chống chỉ định là hạ glucose máu ; tránh tăng cân; hoặc bệnh nhân không muốn chích insulin

4.6.2.8 Insulin

Hội chứng lão hóa ảnh hưởng xấu đến chuyển hóa và ngược lại chuyển hóa làm nặng thêm lão hóa

Chuyển hóa kém gây sụt cân, yếu cơ làm ảnh hưởng vận động, giảm hoạt động thể lực và cả tinh thần

Insulin giúp cải thiện nhiều hoạt động thể lực và cả nhận thức do hạn chế mất nước mạn tính ( đa niệu) và do tác dụng dị hóa của các insulin.

Việc giáo dục bệnh nhân: Cần nhiều thời gian hơn; Việc thực hiện lặp lại nhiều lần; Thực hiện với từng nhóm nhỏ hoặc từng người một. Phải phù hợp với đặc điểm sống của người cao tuổi .

– Nguyên tắc chung:

+ Cá nhân hóa điều trị

+ Dễ thực hiện

+ Ít biến chứng

+ Có hiệu quả

+ Nhóm bệnh nhân ” GO- GO ” liệu pháp insulin tăng cường ; Nhóm bệnh nhân ” Slow- GO ” hoặc ” NO-GO ” dùng 2 mũi tiêm/ngày.

Liệu pháp Insulin lúc ngủ tối ( bedtime insulin Therapy) = Thêm insulin cơ bản vào thuốc uống. Liệu pháp Insulin bổ sung ( theo bữa ăn) : Supplement (prandial) insulin therapy Liệu pháp insulin tăng cường ( intensive insulin therapy: ICT) – Hướng dẫn chung:

+ Insulin tác dụng nhanh hoặc trung gian kết hợp với thuốc uống

+ Chỉ định Go cao

+ Mục tiêu tối ưu hóa glucose máu thông qua việc kiểm soát được glucose đói

+ Glucose tối ưu dưới 5,6 mmol/L ( Một số bệnh nhân già có thể đặt mục tiêu Go dưới 7,2 mmol/L )

+ Phù hợp với đa số bệnh nhân khi bắt đầu phối hợp insulin với thuốc uống.

+ Chất lượng của insulin tác dụng kéo dài :Insulin determir: tiêm vào bữa ăn tối; Insulin glargin: tiêm vào một thời điểm cố định trong ngày

+ Một số ưu điểm khác: ít nguy cơ hạ glucose máu

– Liều dùng liệu pháp insulin lúc ngủ tối

+ Go 100mg-150mg/dl ( 5,6-8,3 mmol/L) : Liều Insulin từ 6-10UI/L

+ Go từ 150 – 200 mg/dl ( 8,3-11,1 mmol/L) : Liều insulin từ 10-14UI

+ Chỉnh liều

Lưu ý:

+ Thêm một mũi Insulin tác dụng ngắn vào trước bữa ăn có glucose máu cao nhất trong ngày.

+ Tế bào beta mất dần chức năng sau một thời gian mắc đái tháo đường .

+ Ưu điểm so với insulin quy ước: là tính linh động về liều, , thời gian tiêm; có thể dùng chất tương tư insulin tác dụng ngắn; có thể chích sau ăn;

+ Liều bắt đầu insulin tác dụng ngắn: bằng 20% lượng insulin căn bản. tiêm trước bữa ăn có glucose máu sau ăn cao nhất ( thường sau ăn sáng ) . Chỉnh liều theo glucose máu sau ăn . Mục tiêu glucose sau ăn dưới 140 mg/dl ( 7,8 mmol/L)

+ Tiêm insulin tác dụng ngắn vào các bữa ăn

+ ít được sử dụng ở bệnh nhân lớn tuổi.

+ Rất hữu ích ở bệnh nhân gầy, với glucose tăng ít và glucose sau ăn tăng nhiều

+ Insulin hỗn hợp: tiêm 2 lần /ngày ( có thể 3 lần nhưng hiếm) trước bữa ăn sáng và trước ăn tối

+ Áp dụng cho những người sinh hoạt đều đặn và lượng thức ăn không thay đổi.tuy nhiên hạn chế là: cứng nhắc không linh động , nếu bệnh nhân có ăn thêm thì lượng đường tăng, cần thêm bữa ăn phụ

+ Glucose sau ăn sáng -trưa cao nhất : insulin 50-50; Glucose trước ăn trưa – sau ăn trưa cao nhất : insulin 25-75 hoặc 30-70.

+ Cách chia liều: 2/3 sáng và 1/3 tối hoặc chia theo tỷ lệ 60/40

+ Thay thế insulin sinh lý nhất

+ Insulin chia theo bữa ăn và insulin căn bản

+ Tối thiểu 4-5 lần tiêm/ngày

+ Tính ” linh động ” cao ( thời gian và liều lượng )

+ Chú ý: Cần giáo dục và hướng dẫn kỹ; Nhiều trường hợp dùng liều insulin cố định trước các bữa ăn; Một số trường hợp chỉnh liều ( thêm hoặc bớt) dựa vào glucose máu trước ăn

+ Chia liều: 60 % cho các bữa ăn , 40% căn bản hoặc chia liều 50-50%4.7 Theo dõi đường huyết

Tự theo dõi đường huyết tại nhà có lợi giúp kiểm soát đường huyết, đặc biệt ở bệnh nhân đang dùng thuốc có khả năng gây hạ đường huyết (vd: insulin, sulfonylurea).

Những bệnh nhân chỉ kiểm soát đường huyết bằng chế độ ăn hoặc thuốc không có nguy cơ hạ đường huyết có thể không cần dùng máy đo đường huyết cá nhân tại nhà.

Đo HbA1c mỗi 3 tháng khi đường huyết chưa ổn định. Nếu bệnh nhân đạt mục tiêu đường huyết ổn định có thể đo HbA1c mỗi 6 tháng.

Tất cả các bệnh nhân dùng thuốc uống hạ đường huyết (Sulfonylurea hoặc repaglinide) hoặc insulin đều phải hướng dẫn tự phát hiện và xử lý hạ đường huyết.

4.8 Tầm soát biến chứng mạch máu nhỏ

Biến chứng võng mạc: Cần gửi bác sĩ chuyên khoa mắt đánh giá lúc mới phát hiện đái tháo đường, sau đó khám hàng năm. Mục đích khám phát hiện sớm không nhữn biến chứng võng mạc mà những bệnh khác như đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp rất thường gặp ở người già.

Bệnh thận đái tháo đường: Cần tầm soát hàng năm đo albumin niệu vi lượng 24 giờ hoặc tỉ số albumin/creatinin niệu

Biến chứng bàn chân đái tháo đường: Nguy cơ loét chân đái tháo đường gia tăng ở người già bị đái tháo đường, bệnh lý mạch máu ngoại biên và thần kinh ngoại biên cũng hay gặp hơn so với người trẻ. Mỗi lần tái khám bệnh nhân cần được khám bàn chân phát hiện biến chứng. Giáo dục chăm sóc phòng ngừa loét rất quan trọng.

4.9 Đánh giá và điều trị các yếu tố nguy cơ của biến chứng mạch máu lớn

Ở người cao tuổi đái tháo đường bệnh mạch vành là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Do đó cần chú ý phát hiện và tầm soát các biến chứng mạch máu lớn và nguy cơ mạch vành. Điều trị tích cực tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, ngưng thuốc lá, dùng aspirin, thể dục.

Những hội chứng lão khoa thường gặp đi kèm đái tháo đường

– Giảm nhận thức: Đái tháo đường làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ. Tình trạng rối loạn nhận thức ở đái tháo đường làm người bệnh khó tự chăm sóc và khó tuân theo các chế độ điều trị phức tạp. Do đó cần chú ý đánh giá chức năng nhận thức ở người bệnh có biểu hiện: không tuân trị, hay bị hạ đường huyết, mất kiểm soát đường huyết không rõ lý do.

– Trầm cảm: Thường gặp ở người già bị đái tháo đường và không được chẩn đoán và điều trị sớm. Có liên hệ với tình trạng kiểm soát đường huyết kém và tăng nguy cơ bệnh mạch vành.

– Dùng nhiều thuốc: Người già nói chung có nhiều bệnh nên thường phải dùng nhiều thuốc khác nhau, nếu có bệnh đái tháo đường thì còn phải dùng nhiều thuốc hơn. Tác dụng phụ của thuốc có thể làm nặng thêm các bệnh lý kèm theo và làm hạn chế khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân. Do đó mỗi lần khám cần phải đánh giá lại về các loại thuốc.

– Nguy cơ ngã: Có nhiều lý do làm tăng nguy cơ ngã như: biến chứng thần kinh ngoại biên và tự chủ, giảm chức năng thận, yếu cơ, giảm thị lực, bệnh đi kèm (thoái khớp), hạ đường huyết. Kiểm soát đường huyết tích cực bằng insulin có thể làm tăng nguy cơ ngã. Do đó ở người già mục tiêu đường huyết có thể ít chặt chẽ hơn so với người trẻ.

– Tiểu không kiểm soát: đái tháo đường làm tăng nguy cơ tiểu không kiểm soát ở phụ nữ. Yếu tố nguy cơ gồm nhiễm trùng tiểu, viêm âm đạo, biến chứng bàng quan thần kinh, tiểu nhiều do tăng đường huyết.

5. Quản lý ĐTĐ typ2 cho người cao tuổi theo IDF(International Diabetes Federation) 2013. 5.1 Các đối tượng được khuyến cáo trong phác đồ IDF 2013

– Nhóm 1: Khuyến cáo cho người cao tuổi độc lập về chức năng (khỏe mạnh) – Nhóm 2: Khuyến cáo cho người cao tuổi cần được hỗ trợ do suy yếu ( nhóm A) hoặc sa sút trí nhớ ( nhóm B)

– Nhóm 3: Khuyến cáo cho người cao tuổi vào giai đoạn cuối đời

5.2 Tầm soát bệnh ĐTĐ ở người cao tuổi:

– Khuyến cáo chung:

+ Tất cả người cao tuổi vào viện nên được tầm soát ĐTĐ nếu chưa chẩn đoán theo tiêu chẩn của WHO

+ Người có XN bất thường không triệu chứng nên kiểm tra để xác định chẩn đoán.

+ XN bằng chỉ số HbA1c phải được thực hiện ở trung tâm có chất lượng tránh sai sót gây chẩn đoán nhầm.

+ BN được phát hiện ĐTĐ nên đựơc điều trị và chăm sóc sớm

– Khuyến cáo theo nhóm:

* Nhóm 1: Người cao tuổi độc lập về chức năng

+ Tầm soát ĐTĐ ít nhất 3 năm/lần

+ Tầm soát thường xuyên hơn nếu người cao tuổi có rối loạn dung nạp đường hoặc khi vào viện.

* Nhóm 2: Người cao tuổi cần được hỗ trợ

+ Nhóm A (suy yếu): XN tầm soát nên được thực hiện khi có biểu hiện lâm sàng

+ Nhóm B (sa sút trí nhớ): XN tầm soát nên được thực hiện khi có biểu hiện lâm sàng và kết hợp thuốc an thần

* Nhóm 3: Người cao tuổi vào giai đoạn cuối đời

+ XN chẩn đoán nên được thực hiện là đo đường huyết ngẫu nhiên khi có dấu hiệu lâm sàng và đặc biệt khi được điều trị băng corticoid

– Kiểm soát bệnh ĐTĐ.

* Khuyến cáo chung

– Kiểm soát ĐTĐ nên cá thể hóa theo tình trạng chức năng,bệnh đi kèm (đặc biệt bệnh tim mạch), tiền căn hạ đường huyết và biến chứng mạch máu

– Bắt đầu dùng thuốc uống trị ĐTĐ khi thay đổi lối sống không đạt được đường huyết mục tiêu. Duy trì thay đổi lối sống suốt thời gian dùng thuốc

– Trao đổi với BN và gia đình về loại thuốc, liều dùng trước khi chọn lựa thuốc sử dụng

– Dùng liều thấp, tăng liều chậm và theo dõi sát khi bắt đầu, tăng liều hoặc mỗi 3 tháng

– Xem xét ngưng những phương pháp không cần thiết hoặc không hiệu quả

– Xem xét chi phí điều trị và nguy cơ so với lợi ích khi chọn thuốc

* Khuyến cáo theo nhóm:

– Nhóm 1: Tầm soát ĐTĐ như trên

– Nhóm 2: Người cao tuổi cần được hỗ trợ

+ Chọn loại thuốc ít nguy cơ hạ đường huyết

+ Chọn loại Insulin sử dụng đơn giản và ít nguy cơ hạ đường huyết

+ Chọn phác đồ dùng thuốc đơn giản để tránh dùng nhầm thuốc

– Nhóm 3: Người cao tuổi vào giai đoạn cuối đời

+ Điều chỉnh đường huyết để tránh triệu chứng tăng đường huyết và giảm thiểu biến chứng hạ đường huyết .

+ Mức khuyến cáo tương tự người cần hỗ trợ

+ Xem xét ngưng điều trị phù hợp (gồm cả Insullin) trong giai đoạn cuối đời

III. KẾT LUẬN

Mục tiêu kiểm soát đường huyết của người lớn tuổi bị đái tháo đường tùy thuộc kỳ vọng sống, tình trạng bệnh lý đi kèm. Cần chú ý chất lượng sống, nguy cơ hạ đường huyết và các biến chứng bệnh nhân đã có khi đặt ra mục tiêu. Chọn lựa điều trị ưu tiên những thuốc ít nguy cơ hạ đường huyết. Thuốc sulfonylurea nên chọn loại tác dụng ngắn. Cần chú trọng phát hiện và điều trị những rối loạn thường hay gặp ở người già như rối loạn nhận thức, trầm cảm, nguy cơ ngã, tiểu không kiểm soát.

?⚕️??⚕️ Tại Sao Họ Bị Đái Tháo Đường: Nguyên Nhân Của Bệnh Ở Trẻ Em Và Người Lớn / 2023

Tiến triển từng năm tăng tỷ lệ mắc đái tháo đường dẫn đến việc tìm ra nguyên nhân của bệnh tiểu đường.

Không loại trừ vai trò của di truyền và yếu tố môi trường, lối sống và chế độ ăn xác định khả năng phát triển bệnh này. Giảm hoạt động của căng thẳng mãn tính và các sản phẩm tinh chế để giải thích tại sao mọi người có được bệnh tiểu đường thường xuyên hơn ở các nước phát triển về mặt kinh tế.

Tại đặc điểm giống nhau của các cam kết quốc gia để thực phẩm cá nhân giảm tỷ lệ mắc ở Đông Á và sự gia tăng ở châu Âu.

Nguyên nhân của sự phát triển của bệnh tiểu đường loại 1

yếu tố nguy cơ bệnh tiểu đường loại 1 bao gồm virus, hoặc các chất độc mà hành động tại các địa điểm nhiễm sắc thể chịu trách nhiệm cho các phản ứng miễn dịch. Sau đó, việc tự hủy hoại các vị trí tuyến tụy bắt đầu, tổng hợp insulin.

Các tế bào beta trở nên xa lạ với cơ thể, chúng được thay thế bởi một mô liên kết. Coxsackie virus, thủy đậu, quai bị và cytomegalovirus cũng có thể trực tiếp phá hủy tuyến tụy, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của các triệu chứng của bệnh tiểu đường.

Vì sự gia tăng tỷ lệ mắc các loại siêu vi này rất có thể xảy ra trong mùa thu-đông, tần suất phát hiện bệnh tiểu đường trong những tháng này cao hơn. Bệnh tiểu đường cũng bị ảnh hưởng khi siêu vi khuẩn này lây nhiễm rubella bẩm sinh và viêm gan do dịch bệnh.

Loại đầu tiên của bệnh tiểu đường trong sự phát triển của nó là 6 giai đoạn:

Khiếm khuyết trong các gen ở vị trí chịu trách nhiệm miễn dịch (khuynh hướng di truyền đối với bệnh tiểu đường).

Điểm khởi đầu – virus, thuốc, chất độc hại. Các tế bào beta bị hư hỏng và việc tạo ra các kháng thể được kích hoạt. Bệnh nhân đã có một lượng nhỏ kháng thể đối với tế bào đảo, nhưng việc sản xuất insulin không giảm.

Viêm mủ tự miễn dịch. Các hiệu giá của kháng thể tăng lên, các tế bào trong các đảo nhỏ của Langerhans trở nên ít hơn và ít hơn, việc sản xuất và giải phóng insulin giảm.

Để đáp ứng với việc uống glucose từ tiết thức ăn, insulin giảm. Trong trường hợp có phản ứng căng thẳng, xét nghiệm đường huyết lúc đói và dung nạp glucose được tăng lên trong máu của bệnh nhân.

Phòng khám bệnh tiểu đường, insulin trong cơ thể gần như ở đó.

Hoàn thành cái chết của các tế bào beta, ngừng tiết insulin.

Với sự hủy diệt tự miễn dịch của tuyến tụy, có một thời kỳ tiền lâm sàng, ẩn giấu trong đó quá trình tổn thương đang diễn ra, nhưng vẫn chưa có triệu chứng của bệnh tiểu đường.Tại thời điểm này, mức đường huyết và xét nghiệm dung nạp glucose là bình thường. Để chẩn đoán bệnh tiểu đường ở giai đoạn này, việc phát hiện kháng thể đối với tuyến tụy được sử dụng.

Chỉ sau cái chết của 80-97% các tế bào beta xảy ra bệnh tiểu đường biểu hiện. Tại thời điểm này, các triệu chứng của bệnh tiểu đường phát triển nhanh chóng, với chẩn đoán không đúng lúc trở thành biến chứng hôn mê, nếu bệnh nhân không tiêm insulin.

Đối với chẩn đoán, như bệnh tiểu đường loại 1, sự phát triển của insulin tự miễn là đặc trưng, ​​trong đó kháng thể với các thành phần của các tế bào beta và insulin được tạo ra. Trong trường hợp này, do những thay đổi trong cấu trúc của nhiễm sắc thể, khả năng phục hồi của các tế bào beta bị mất. Thông thường, sau khi hành động của virus hoặc các chất độc hại, tế bào tụy tái sinh trung bình trong 20 ngày.

Ngoài ra còn có mối liên hệ giữa việc cho ăn nhân tạo và bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin. Protein sữa bò trên cấu trúc kháng nguyên tương tự như protein beta-cell. Hệ thống miễn dịch phản ứng với nó bằng cách sản xuất các kháng thể, sau đó phá hủy tuyến tụy của chính họ.

Vì vậy, trẻ em có nguy cơ đái tháo đường, để không bị bệnh, những tháng đầu đời nên được cho con bú.

Tại sao bệnh tiểu đường loại 2 lại xảy ra?

Yếu tố di truyền đối với loại bệnh tiểu đường thứ hai cũng rất quan trọng, nhưng nó quyết định khuynh hướng gây bệnh mà có thể không phát triển. Ở những người có người thân ngay lập tức mắc bệnh tiểu đường, nguy cơ tăng 40%. Cũng có bằng chứng về sự phổ biến của loại bệnh này ở người dân tộc.

Nguyên nhân chính làm tăng lượng đường trong máu ở bệnh tiểu đường loại 2 là kháng insulin. Điều này là do insulin không có khả năng liên kết với các thụ thể tế bào. Về mặt di truyền, cả kháng insulin và béo phì đều có thể lây truyền, dẫn đến nó.

Ngoài ra còn có một hình thức đặc biệt của bệnh tiểu đường, di truyền – bệnh tiểu đường vị thành niên. Nó chiếm khoảng 15% bệnh tiểu đường loại 2. Đối với loài này được đặc trưng bởi các dấu hiệu như vậy:

Giảm hàm lượng beta-cell vừa phải.

Bắt đầu ở tuổi 25 năm.

Trọng lượng cơ thể bình thường hoặc giảm.

Phát triển hiếm gặp của nhiễm ceton acid

Thiếu sức đề kháng insulin.

Đối với sự phát triển của loại thứ hai ở người cao tuổi, các yếu tố chính là béo phì và xơ vữa động mạch. Trong trường hợp này, cơ chế chính xác định sự phát triển của các triệu chứng là kháng insulin. Nó được kết hợp với bệnh béo phì, tăng huyết áp động mạch, tăng cholesterol trong máu và xơ vữa động mạch trong hội chứng chuyển hóa phổ biến.

Do đó, sự hiện diện của một trong các triệu chứng có thể là dấu hiệu của nó. Bất cứ ai sau 40 tuổi nhất thiết phải trải qua một nghiên cứu về chuyển hóa carbohydrate và chất béo, đặc biệt là với một khuynh hướng bệnh tiểu đường.

Với sự đề kháng insulin, số lượng thụ thể insulin trong các mô bị giảm, mức tăng glucose trong máu làm cho sản xuất insulin càng lớn hơn. Hyperinsulinemia dẫn đến thực tế là các tế bào beta ngừng cảm nhận sự gia tăng glucose trong máu.

Việc sản xuất insulin không tăng lên trong lượng thức ăn – một sự thiếu hụt tương đối của insulin phát triển. Điều này dẫn đến sự phân hủy glycogen trong gan và tổng hợp glucose.Tất cả điều này làm tăng đường huyết.

Béo phì làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường năm lần ở lớp 1 và 10 lần – ở lần thứ ba. Sự phân bố chất béo cũng đóng một vai trò – loại bụng thường được kết hợp với tăng huyết áp, vi phạm chuyển hóa chất béo và sự phát triển không nhạy cảm với glucose trên nền của sự gia tăng insulin trong máu.

Ngoài ra còn có giả thuyết về một kiểu hình “khan hiếm”. Người ta cho rằng thiếu dinh dưỡng của người mẹ trong thai kỳ, nguy cơ mắc bệnh tiểu đường của trẻ trong độ tuổi trung niên tăng lên. Hiệu ứng tương tự có thể có thời gian từ 1 đến 3 tháng.

Theo chuyên gia hàng đầu về đái tháo đường RA. de fronzo type 2 bệnh tiểu đường xảy ra khi khả năng của cơ thể phản ứng với insulin. Cho đến khi tuyến tụy tăng sản xuất insulin để vượt qua sự đề kháng của các mô với homon này, mức glucose được duy trì trong giới hạn bình thường.

Nhưng theo thời gian, trữ lượng của nó cạn kiệt, và các dấu hiệu của bệnh tiểu đường phát triển. Những lý do cho hiện tượng này, cũng như thiếu phản ứng tuyến tụy với glucose, vẫn chưa được giải thích.

Nguyên nhân của bệnh tiểu đường ở phụ nữ mang thai

Khoảng từ 20 tuần mang thai các hormon sản xuất nhau thai vào cơ thể của người phụ nữ. Vai trò của các kích thích tố này là duy trì thai kỳ. Chúng bao gồm: estrogen, lactogen nhau thai, cortisol.

Đáp lại, tuyến tụy có xu hướng tạo ra nhiều insulin hơn. Sự gia tăng mức độ của nó dẫn đến lắng đọng quá mức chất béo và tăng đường huyết, tăng cholesterol máu. Huyết áp có thể tăng lên.

Béo phì.

Bệnh tiểu đường là với người thân.

Tuổi là hơn 25 năm.

Sinh trước đó xảy ra với sự ra đời của một bào thai lớn (hơn 4 kg).

Có một lịch sử sảy thai, sinh của một đứa trẻ bị dị tật phát triển, thai chết lưu hoặc polyhydramnios.

Ngăn ngừa sự phát triển của bệnh tiểu đường

Tất cả các yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của bệnh tiểu đường không đảm bảo 100% sự xuất hiện của nó. Do đó, để ngăn ngừa căn bệnh nan y này, tất cả những người có ít nhất một trong số họ phải tuân thủ các khuyến nghị làm giảm khả năng làm gián đoạn quá trình chuyển hóa carbohydrate.

Phương pháp phòng ngừa quan trọng nhất là loại bỏ đường và mọi thứ được nấu với nó. Trong trường hợp này cơ thể sẽ không bị ảnh hưởng bởi vì carbohydrates trong rau, trái cây và ngũ cốc là đủ. Điều tương tự cũng áp dụng cho các sản phẩm làm từ bột màu trắng có chất lượng cao nhất. Việc tiêu thụ các sản phẩm này làm tăng đáng kể lượng glucose trong máu và kích thích giải phóng insulin. Trong sự hiện diện của một xu hướng làm gián đoạn hoạt động của thiết bị hình ống, kích thích như vậy dẫn đến sự thay đổi trong tất cả các loại quá trình trao đổi chất.

Sản phẩm được khuyến khích để đun sôi hoặc hầm, nướng, nhưng không chiên.Với các bệnh đồng thời của túi mật hoặc tuyến tụy, tất cả các món ăn, hun khói và đóng hộp cấp tính, nước sốt và gia vị nên được loại bỏ.

Quy tắc dinh dưỡng cho nguy cơ đái tháo đường:

Tiêu thụ tối đa các sản phẩm tự nhiên

Từ chối từ khoai tây chiên, bánh quy giòn, thức ăn nhanh, đồ uống có ga ngọt, nước trái cây và nước sốt của sản xuất công nghiệp, bán thành phẩm.

Việc sử dụng bánh mì nguyên hạt, màu đen, với cám, ngũ cốc từ ngũ cốc nguyên hạt, thay vì bánh nấu ăn liền.

Các bữa ăn phân đoạn cùng một lúc trong các phần nhỏ, để tránh cảm thấy đói.

Để làm dịu cơn khát của bạn, hãy sử dụng nước sạch.

Xúc xích, xúc xích, thịt hun khói và các món ngon thịt với thuốc nhuộm và chất bảo quản nên được thay thế bằng thịt ít chất béo.

Các lựa chọn tốt nhất cho lượng protein là cá nạc, hải sản, sữa đông lên đến 9% chất béo, kefir, sữa chua hoặc sữa chua.

Trong thực đơn phải là rau tươi dưới dạng salad với rau xanh và dầu thực vật.

Cuối cùng, lý do tại sao mọi người bị bệnh tiểu đường không rõ ràng, nhưng người ta biết chắc rằng chế độ ăn uống, từ chối hút thuốc và đồ uống có cồn và hoạt động thể chất ngăn ngừa nhiều bệnh, bao gồm cả bệnh tiểu đường.Các video trong bài viết này sẽ chi tiết tại sao bệnh tiểu đường phát triển.

Xem video: Nguyên nhân gây tiểu đường

Nguyên Nhân Gây Nên Bệnh Tiểu Đường, Đái Tháo Đường / 2023

Bệnh tiểu đường là gì?

Tiểu đường hay còn gọi là đái tháo đường, là một căn bệnh trong đó cơ thể bị rối loạn chuyển hóa chất đường do không sản xuất đủ insulin hoặc không sử dụng được insulin. Thông thường, các loại chất đường, tinh bột và chất dinh dưỡng khác được phân tách ra thành glucose và được máu luân chuyển đến các tế bào. Sau đó, các tế bào sử dụng insulin để chuyển hóa glucose thành năng lượng. Nếu như tuyến tụy bị tổn thương, không đủ lượng insulin hoặc insulin không được sử dụng đúng cách, đường glucose sẽ tăng cao trong máu và khi quá ngưỡng hấp thụ của thận thì lượng đường trong máu sẽ bị đào thải qua nước tiểu gây ra bệnh đái đường.

Bệnh tiểu đường được chia làm 2 loại là tiểu đường tuýp 1 và tiểu đường tuýp 2

Người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 thường bị thiếu insulin do tuyến tụy không sản xuất insulin. Khi không có insulin những tế bào khác của cơ thể sẽ không thể sử dụng đường glucose, vì thế lượng đường glucose trong máu sẽ tăng cao. Tiểu đường típ 1 hiếm gặp, thường xảy ra ở trẻ nhỏ, người trẻ chiếm dưới 10% số người mắc bệnh.

Những người bị tiểu đường túyp 2 thì đề kháng với insulin, nghĩa là cơ thể vẫn có thể sản xuất được insulin nhưng không đủ để giữ đường (glucose) trong máu ở mức độ bình thuờng. Khoảng 90% đến 95% người bị tiểu đường trên thế giới là túyp 2.

Nguyên nhân gây bệnh đái đường

Nguyên nhân gây nên bệnh tiểu đường còn tùy thuộc vào từng loại bệnh là tuýp 1 hay tuýp 2.

Nguyên nhân đối với tiểu đường tuýp 1

Dạng bệnh này phụ thuộc vào insulin do cơ thể không thể tự sản xuất được do hệ thống miễn dịch cơ thể bởi tuyến tụy bị tấn công. Nguyên nhân của bệnh đái tháo đường tuýp 1 được xác định gồm:

Do di truyền: Yếu tố di truyền cũng là nguyên nhân gây nên bệnh đái tháo đường tuýp 1, được truyền từ bố mẹ sang con. Vì gen giúp thực hiện việc tạo ra các Protein cần thiết tới hoạt động của các tế bào. Tuy nhiên, lại có một vài biến thể gen hoặc một số nhóm gen tương tác với nhau tạo thành nguyên nhân chính của bệnh tiểu đường tuýp 1.

Do hệ miễn dịch: Nếu hệ miễn dịch cơ thể suy giảm sẽ khiến cho các tế bào bạch cầu tấn công tế bào beta. Từ đó làm cho tuyến tụy bị suy giảm và mất dần đi khả năng sản xuất insulin ổn định của cơ thể.

Do các yếu tố bên ngoài: các yếu tố như môi trường, thực phẩm, nhiễm khuẩn hoặc độc tố nhiễm vào trong cơ thể cũng là nguyên nhân chính gây nên tiểu đường tuýp 1.

Nguyên nhân bệnh tiểu đường tuýp 2

Khác với tiểu đường tuýp 1, bệnh tiểu đường tuýp 2 không phụ thuộc vào insulin. Căn bệnh này gây nhiều nguy hiểm cho người bệnh do chuyển biến tương đối phức tạp. Đối tượng mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 thường là ở độ tuổi trung niên. Tuy nhiên, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, sinh hoạt & cả tính mạng của người bệnh.

Nguyên nhân

Do béo phì và lười vận động: đây được xem là nguyên nhân chủ yếu gây ra tiểu đường tuýp 2. Do béo phì và lười vận đồng mà bên trong cơ thể có nhiều calo dư thừa, gây nên tình trạng kháng insulin.

Hơn nữa, khi người bệnh lười vận động sẽ tác động đến tuyến tụy và gây ra áp lực ép tuyến tụy phải sản xuất insulin. Việc này kéo dài trong một thời gian thì tuyến tụy sẽ suy yếu và mất dần khả năng sản xuất insulin, từ đó gây ra tiểu đường.

Nguyên nhân do di truyền: tương tự như bệnh tiểu đường tuýp 1, gen đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển của tiểu đường tuýp 2 làm giảm suy khả năng sản xuất ra insulin của tuyến tụy.

Tiểu đường thai kỳ là tình trạng tăng đường huyết chỉ xảy ra trong giai đoạn mang thai. Do sự thay đổi nồng độ hormone trong quá trình mang thai đã làm giảm sự nhạy cảm của insulin đối với tế bào, từ đó gây tăng đường huyết. Tiểu đường thai kỳ có thể được kiểm soát với chế độ ăn và luyện tập khoa học. Thông thường tiểu đường thai kỳ sẽ tự hết sau khi sinh, nhưng cũng có nhiều trường hợp tiến triển thành ĐTĐ typ2.

Một số nguyên nhân khác gây bệnh tiểu đường

Ngoài những nguyên nhân phổ biến đã nêu trên, còn nhiều yếu tố khác có thể gây bệnh tiểu đường, bao gồm:

Các bệnh nội tiết như: hội chứng cushing, tăng tiết GH, Basedow,… có thể làm rối loạn chuyển hóa, gây tăng đường huyết và dẫn đến bệnh đái tháo đường.

Sử dụng một số loại thuốc điều trị kéo dài như: thuốc hormon tuyến giáp,thuốc lợi tiểu thải kali, thuốc tránh thai, … cũng khiến lượng đường trong máu tăng cao.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ngày Tết Lưu Ý Bệnh Đái Tháo Đường Ở Trẻ Em / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!