Đề Xuất 12/2022 # Nghiên Cứu So Sánh – Massei.org / 2023 # Top 20 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Nghiên Cứu So Sánh – Massei.org / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghiên Cứu So Sánh – Massei.org / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nghiên cứu so sánh

Nghiên cứu so sánh là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu xã hội nhờ khả năng khái quát hóa ở mức độ cao, giúp phát hiện các mối quan hệ nhân quả và sự tiến hóa của các tiến trình xã hội trong dài hạn. Phương pháp này có thể được áp dụng để phân tích các trường hợp cụ thể cho tới kiểm nghiệm các lý thuyết xã hội tổng quát và là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu các vấn đề vĩ mô như thể chế kinh tế, thể chế chính trị, tiến bộ xã hội, so sánh giữa các quốc gia, khu vực.

Trong lĩnh vực cải cách thể chế vĩ mô, đội ngũ chuyên gia của MASSEI đã có hơn 20 năm kinh nghiệm tư vấn cho các cơ quan nhà nước như Ủy ban kinh tế Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, Bộ Công Thương, và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, các tổ chức của Liên Hiệp Quốc, UKAID, USAID… Nhờ vậy, mỗi nghiên cứu so sánh do MASSEI thực hiện đều dựa trên sự thấu hiểu các mẫu hình phát triển trong lịch sử của các quốc gia, đồng thời bám sát với bối cảnh thực tiễn trong nước và quốc tế để từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách thiết thực, phù hợp với quy luật phát triển.

Trong năm 2014 và 2016, MASSEI đã kết hợp với bốn viện nghiên cứu hàng đầu tại Việt Nam hiện nay gồm Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Viện Kinh tế Việt Nam (VIE), Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), và Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) để thực hiện hai dự án nghiên cứu lớn tập trung vào cải cách thể chế nhà nước và thể chế kinh tế theo hướng thân thiện với thị trường. Mỗi nghiên cứu đều có sự so sánh, tham khảo mô hình phát triển của nhiều quốc gia đi trước để chỉ ra các thách thức, cơ hội, và hàm ý chính sách đối với mô hình phát triển của Việt Nam.

Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp So Sánh / 2023

Phương pháp so sánh là một phương pháp đã xuất hiện từ lâu trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong nghiên cứu văn học nói riêng, bởi lẽ nó xuất phát từ một thực tế là so sánh là một yêu cầu rất tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày của con người. Từ cuộc sống, nó được đưa vào trong nghiên cứu khoa học và dần dần trở thành một phương pháp rất hữu hiệu. Có thể nói ngắn gọn là nhìn chung, so sánh là để xác định sự vật bề mặt định tính, định lượng hoặc ngôi thứ trong mối tương quan với các sự vật khác.

Tuy nhiên, trong nghiên cứu văn học, phương pháp so sánh có thể được áp dụng chung cho tất cả các bộ môn, nhưng mỗi một bộ môn, việc áp dụng phương pháp so sánh lại phải tuân thủ những quy định khác nhau. Trong bộ môn văn học sử dân tộc, phương pháp so sánh sẽ được tiến hành khác với trong bộ môn văn học sử thế giới, lại càng khác với trong bộ môn văn học sử so sánh, đó là vì tính chất và mục đích của mỗi bộ môn có khác nhau.

Ở đây chúng ta cần lưu ý một điều: không nên nhầm lẫn giữa hai khái niệm so sánh văn học và văn học so sánh. So sánh văn học là một phương pháp phổ biến có thể được áp dụng cho nhiều bộ môn; còn văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nằm giữa văn học sử dân tộc và văn học sử thế giới. Về điều này, nhiều người còn có sự nhầm lẫn. Nhiều người khi nói đến “văn học so sánh” là chỉ nghĩ ngay đến “so sánh văn học”, vì họ tưởng rằng [hay cho rằng] văn học so sánh chỉ sử dụng phương pháp so sánh. Ví dụ như nhà nghiên cứu người Liên Xô cũ Mikhail B.Khrapchenko đã viết: “Nghiên cứu văn học theo phương pháp so sánh thường được hiểu như việc khảo sát những mối liên hệ giữa các nền văn học khác nhau, như việc khám phá ra những ảnh hưởng và những mối quan hệ qua lại. Chính theo chiều hướng này, ngành nghiên cứu văn học so sánh hiện đang được nhiều nhà khoa học nước ngoài phát triển.” Thực chất “việc khảo sát những mối liên hệ giữa các nền văn học khác nhau” chính là chức năng – nhiệm vụ của bộ môn văn học so sánh, còn nhiệm vụ của phương pháp so sánh chỉ đơn thuần là so sánh các hiện tượng văn học với nhau, bất kể chúng thuộc các nền văn học khác nhau hay thuộc cùng một nền văn học. Rõ ràng nhiều người còn chưa hiểu thế nào là văn học so sánh, chưa hiểu rằng so sánh chỉ là một trong những phương pháp của văn học so sánh. Trong mục này tôi sẽ giới thiệu phương pháp so sánh nói chung chứ không trình bày bộ môn văn học so sánh, vì các bộ môn nghiên cứu văn học không thuộc đối tượng khảo sát của công trình này. Nhất là về bộ môn “văn học so sánh”, bản thân tôi đã có riêng một công trình chuyên luận nhan để Lý luận văn học so sánh (Nxb. KHXH xuất bản năm 1998; Nxb. ĐHQGHN tái bản năm 2000, 2003; Nxb. KHXH in lần thứ 5 có sửa chữa và bổ sung năm 2011; [tên cũ: Những vấn đề lý luận của văn học so sánh, Nxb. KHXH, 1995]), trong đó tôi đã giới thiệu lịch sử hình thành của bộ môn văn học so cánh trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời phân tích và rút ra những nguyên tắc phương pháp luận của nó.

Có thể nói, cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác, bản thân tôi cũng đã đóng góp một phần nhỏ cho việc phát triển bộ môn văn học so sánh ở nước ta, làm sáng rõ về mặt lý luận và phương pháp luận thế nào là so sánh văn học và văn học so sánh, qua đó phát triển phương pháp so sánh cho nghiên cứu văn học nói chung. Đồng thời tôi cũng áp dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu một số đề tài thuộc văn học thế giới, một việc có thể được coi là “văn học so sánh ứng dụng”.

Và một điều đáng mừng là kể từ năm 1996, lần đầu tiên lĩnh vực lý luận văn học so sánh đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại Khoa Văn học của Trường Đại học KHXH và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, với tư cách là một chuyên đề sau đại học do tôi đảm nhiệm. Từ đó đến nay, nhiều trường đại học khác trên toàn quốc đã triển khai giảng dạy chuyên đề này. Tôi nói “đáng mừng” là vì trước đó, văn học so sánh ở nước ta chưa được quan tâm thoả đáng, thậm chí có nhiều người vẫn chưa công nhận vai trò và ý nghĩa của nó. Nhưng ở đây, khi đề cập đến phương pháp so sánh văn học nói chung tôi sẽ nói đến nó với tư cách là một phương pháp không biên giới, tức là một phương pháp áp dụng cho tất cả các bộ môn nghiên cứu văn học chứ không phải chỉ dành riêng cho bộ môn văn học so sánh.

Như chúng ta biết, một sự vật không bao giờ tồn tại một cách biệt lập. Cho nên muốn tìm hiểu nó, chúng ta không thể chỉ mổ xẻ, phân tích nó một cách biệt lập, mà còn phải tìm hiểu các mối quan hệ đa dạng và đa chiều của nó. Để làm được điều đó, chúng ta có thể áp dụng một phương pháp rất thông dụng là so sánh. Như vậy, ích lợi lớn nhất của phương pháp so sánh là nó giúp cho chúng ta hiểu rõ bản chất và vị trí của một hiện tượng văn học trong các mối tương quan đa chiều của nó. Tinh thần cơ bản của phương pháp so sánh là hiểu một sự vật thông qua các sự vật khác. Đây chính là một trong những phương châm phổ biến của nhận thức luận từ xưa đến nay. Một ví dụ điển hình cho phương châm này là câu ngạn ngữ phổ biến của nhiều dân tộc: “Hãy nói cho tôi biết các mối quan hệ của anh, tôi sẽ nói anh là ai”. Tất nhiên, chữ “quan hệ” phải được hiểu theo nghĩa đa chiều: có thể là quan hệ tương đồng, thân thiện, nhưng cũng có thể là quan hệ mâu thuẫn, đối lập, vv…

Trong nghiên cứu văn học, ta có thể so sánh một hiện tượng văn học với các hiện tượng cùng loại, nhưng cũng có thể so sánh với cả các hiện tượng đối lập để làm nổi bật bản chất của cái hiện tượng được đem ra so sánh. Việc so sánh như thế sẽ giúp ta thấy rõ bản chất của hiện tượng, từ đó xác định được vị trí của nó trong một hệ thống và đánh giá được ý nghĩa của nó trong hệ thống đó. Đây cũng chính là mục đích của các bộ môn văn học sử nói chung.

Tiếc thay, rất nhiều người khi nghiên cứu so sánh Truyện Kiều thường hay xuất phát từ một định kiến về sự hơn thua. Họ đã có sẵn trong đầu cái định kiến không cần chứng minh về sự hơn hẳn của Truyện Kiều của Nguyễn Du so với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ví dụ trong cuốn sách Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, ở cuối sách tác giả tuyên bố rất rõ ràng rằng: “Điều khó nhất là thái độ chân thành, triệt để khách quan, nỗ lực phân tích đến cùng cái mỹ cảm của mình, chỉ tin vào cái gì được quy ra thành quan hệ rõ ràng và tách bạch, không để cho một định kiến nào chi phối, dù định kiến ấy có được cả giới ngôn ngữ học thừa nhận”, nhưng ngay từ đầu cho đến khi kết thúc cuốn sách thì ông lại để cho mình bị chi phối bởi cái định kiến rất to lớn về sự hơn thua, đến nỗi ông không hề nhìn thấy những sự giống nhau hiển nhiên giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà lại cố công đi tìm những chỗ được ông gọi là sự “đối lập” giữa hai tác giả, đến mức ông đã không cẩn trọng để đi đến chỗ tạo ra một “hiện trường sai lệch”: đó là việc ông lấy nhầm lời bình được coi là của Kim Thánh Thán ở đầu hồi I của Kim Vân Kiều truyện, cho nó là chính văn của Thanh Tâm Tài Nhân, để đi đến kết luận là tư tưởng trong Kim Vân Kiều truyện là “mâu thuẫn giữa tình và khổ” chứ không phải là “tài mệnh tương đố”, và rằng tư tưởng “tài mệnh tương đố” là của riêng Nguyễn Du chứ không phải của Thanh Tâm Tài Nhân! Chẳng cần phải tìm đâu xa, chẳng cần phải mất công đem cả nền văn hoá Trung Hoa ra để chứng minh cho luận điểm là trong văn hoá Trung Hoa không có thuyết “tài mệnh tương đố”(!) như Phan Ngọc đã cất công tiến hành, mà chỉ cần kiên nhẫn đọc hết Kim Vân Kiều truyện cũng thấy ngay rằng từ đầu đến cuối truyện, Thanh Tâm Tài Nhân đã thấm nhuần tư tưởng “tài mệnh tương đố” như thế nào. Chuyện nhầm lẫn này đã xảy ra từ lần xuất bản đầu vào năm 1985, đáng ra cũng chẳng cần phải nhắc lại, nhưng đến lần tái bản năm 2001, tức là sau 16 năm, Phan Ngọc vẫn để nguyên không sửa (tr. 42), mặc dù từ đó đến nay bản thân tôi đã có nhiều lần nói rõ vấn đề này trên sách báo. Cuốn sách của Phan Ngọc là một cuốn sách có giá trị khoa học nhất định trong việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Du. Đây là kết quả của việc ông đã dành nhiều tâm huyết cho phần nghiên cứu hình thức Truyện Kiều. Giá như phần nghiên cứu nội dung cũng được ông chú tâm như thế thì chắc là sẽ không xảy ra sự nhầm lẫn đáng tiếc nói trên.

Cùng thời với cuốn sách Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan cũng đã sử dụng phương pháp so sánh một cách tự giác trong công trình Nhà văn hiện đại (xuất bản tại Hà Nội năm 1942 – 1943). Trong công trình này, Vũ Ngọc Phan không chỉ so sánh các nhà văn Việt Nam với nhau, mà ông còn so sánh họ với các nhà văn của nước ngoài. Như thế, công trình của ông vừa mang tính chất của văn học sử dân tộc vừa mang tính chất của văn học so sánh.

Gần đây, cố GS Phan Cự Đệ đã có một công trình nghiên cứu công phu về cả Thơ Mới lẫn văn xuôi lãng mạn Việt Nam, trong đó ông áp dụng phương pháp so sánh một cách khá kỹ lưỡng để làm rõ những đặc điểm của dòng văn học này. Đó là công trình Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2002), [ in gộp hai chuyên luận đã xuất bản nhiều lần trước đó là Phong trào “Thơ mới” (xuất bản lần đầu năm 1966, Nxb. Khoa học) và Tự Lực văn đoàn – con người và văn chương (xuất bản lần đầu năm 1990, Nxb. Văn học)].

Trong công trình nói trên, GS Phan Cự Đệ đã dành một phần lớn cho việc khảo cứu Thơ Mới, trong đó ông đặc biệt dành riêng một mục viết về “Một bước tổng hợp mới những ảnh hưởng của văn học nước ngoài trên cơ sở truyền thống cũ của dân tộc”. Trong mục này, GS Phan Cự Đệ đã tuyên bố là ông “áp dụng phương pháp văn học so sánh” (mà đúng ra phải nói là áp dụng lý thuyết của văn học so sánh) để phân tích sự ảnh hưởng của văn học phương Tây và của thơ Đường đối với Thơ Mới, và cho thấy các nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới đã tiếp thu những sự ảnh hưởng đó trên cơ sở bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam như thế nào. Có thể nói, GS Phan Cự Đệ đã áp dụng một cách rất tự giác phương pháp so sánh để làm rõ ý nghĩa cách tân và những hạn chế của Thơ Mới. Ông khẳng định: “Thơ ca Pháp đã có ảnh hưởng rõ rệt vào “thơ mới” trong cách gieo vần, lối ngắt nhịp, lối bắc cầu, cách làm cho ngôn ngữ giàu nhạc điệu, lối diễn tả bằng những cảm giác tinh tế,… Nhưng dầu sao những hình ảnh đó vẫn nằm trong phạm vi hình thức nghệ thuật. Điểm chính vẫn là những ảnh hưởng về nội dung. Khá nhiều bài thơ Pháp có tác dụng gợi ý cho những bài thơ Việt”. Và cuối cùng Phan Cự Đệ kết luận về phần thơ mới: “Nói chung thì, ở cả hai lĩnh vực nội dung và hình thức, “Thơ mới” đã có những đóng góp mang ý nghĩa cách tân, do đó đã đẩy nhanh thơ ca Việt Nam trên con đường hiện đại hoá. Nhưng mặt khác, đứng về phương diện thế giới quan thẩm mỹ, “Thơ mới” lãng mạn cũng có nhiều hạn chế cần phải khắc phục”.

Đến nay, phương pháp so sánh và văn học so sánh không còn là điều mới lạ đối với phần lớn các nhà nghiên cứu văn học của nước ta. Thậm chí trong một số trường hợp, nếu không sử dụng phương pháp so sánh thì ta khó có thể nắm bắt được bản chất của sự việc.

Ví dụ như đối với một số hiện tượng văn học mới nhất của chúng ta hiện nay như Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà, nếu chúng ta chỉ phê bình tác phẩm của họ bằng cách mổ xẻ tác phẩm của họ một cách biệt lập, thì chúng ta không thể đánh giá được chính xác bản chất của hiện tượng. Phê bình như thế, chúng ta dễ bị gán cho căn bệnh chủ quan, áp đặt. Đối với hai hiện tượng đó, chúng ta phải so sánh chúng với các hiện tượng văn học cùng loại của phương Tây thì mới xác định được đúng tên gọi của chúng, từ đó mới đánh giá được ưu điểm và nhược điểm của chúng. Việc này chúng tôi đã tiến hành trong công trình chuyên luận văn học phi lý. Qua việc so sánh Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà với văn học phi lý phương Tây, chúng tôi muốn nói rằng hai nhà văn này đã có ý muốn đổi mới mô hình tiểu thuyết, họ đã tiếp thu cái tư tưởng của văn học phi lý để phê phán sự tha hoá và lối sống bầy đàn, nhưng sự phê phán của họ thiếu chiều sâu của chủ nghĩa nhân đạo và của tình yêu đồng loại.

Tuy nhiên, so sánh là một công việc tương đối nhạy cảm, bởi lẽ nó đụng chạm đến nhiều đối tác. Khi so sánh, ta không chỉ phải đánh giá cái hiện tượng được đem ra so sánh, mà còn phải đánh giá cả các đối tác so sánh của nó. Chính vì vậy, khi so sánh chúng ta phải quán triệt thái độ thận trọng. Để làm được điều này, tôi cho rằng chúng ta cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau đây:

1. Nguyên tắc khách quan, phi định kiến. Theo nguyên tắc này, khi so sánh ta phải dựa vào thực tế khách quan chứ không được xuất phát từ một định kiến nào đó để đi chứng minh cho cái định kiến đó. Điều này thường hay xảy ra khi các nhà nghiên cứu phải so sánh hai hiện tượng văn học thuộc hai nền văn học khác nhau. Chẳng hạn khi so sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, ta không nên xuất phát từ định kiến cho rằng vì Truyện Kiều là một tuyệt tác rồi nên Kim Vân Kiều truyện chỉ có thể là một tác phẩm “tầm thường”. Ở đây, nhiều khi người ta dễ bị cám dỗ bởi lòng tự tôn dân tộc thái quá mà quên đi nguyên tắc khách quan trong nghiên cứu.

2. Nguyên tắc so sánh cùng loại khi phân hạng thứ bậc. Một trong những chức năng của so sánh là phân hạng thứ bậc, nhưng khi phân hạng thứ bậc thì các vế so sánh phải thuộc cùng một loại. Cũng giống như trong thể thao, mỗi môn thi đấu đều phải được phân loại theo giới tính, độ tuổi,… Theo nguyên tắc này, trong nghiên cứu so sánh văn học và văn học so sánh, việc phân hạng chỉ được diễn ra trong cùng một hệ thống. Trong một lĩnh vực văn hoá tinh thần tế nhị như thế này, người ta không chấp nhận có sự phân hạng thứ bậc giữa các nền văn học dân tộc. Kiểu đánh giá phân hạng như vậy sẽ dẫn đến chủ nghĩa sôvanh, kỳ thị chủng tộc.

3. Nguyên tắc so sánh liên ngành. Một sự việc có thể có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá. Nhìn từ một góc độ, ta có thể tưởng nó là hoàn hảo, nhưng nhìn từ một góc độ khác ta lại thấy nó có khiếm khuyết. Nhìn từ nhiều góc độ sẽ giúp ta tiếp cận đa diện đối với vấn đề. Đây chính là tinh thần của nguyên tắc so sánh liên ngành. So sánh đa diện hay liên ngành sẽ giúp ta đánh giá chính xác và toàn diện sự việc.

4. Nguyên tắc so sánh tổng hợp. Đặt sự việc trong nhiều cấp độ, nhiều hệ thống, chúng ta sẽ thấy hết được mọi ý nghĩa tiềm ẩn của nó và đánh giá đúng các tương quan giá trị khác nhau của nó. Chẳng hạn, nếu chúng ta cứ cố công chứng minh cho sự hơn hẳn của Truyện Kiều so với Kim Vân Kiều truyện để khẳng định sự vĩ đại của Nguyễn Du, thì sẽ không đạt được kết quả thuyết phục bằng việc so sánh vai trò của Truyện Kiều trong văn học Việt Nam với vai trò của Thần khúc của Dante trong văn học Italia.

Tóm lại, phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học là một phương pháp phổ biến, dễ thao tác nhưng cũng dễ mắc phải căn bệnh chủ quan, áp đặt thiên kiến. Việc nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cách tốt nhất giúp chúng ta đạt được những kết quả khách quan và khoa học.

Nguyễn Văn Dân Phương pháp luận nghiên cứu Văn học

Nghiên Cứu Định Tính Và Nghiên Cứu Định Lượng / 2023

Khi tìm hiểu về nghiên cứu thị trường (Marketing Research), chắc rằng các bạn đã nghe nhiều đến từ khoá “nghiên cứu định tính” và “nghiên cứu định lượng”, vậy công dụng của hai phương pháp này là gì? Chúng khác nhau như thế nào? Ưu điểm và nhược điểm của chúng ra sao? Để trả lời cho câu hỏi đó, mời các bạn theo dõi bài phân tích bên dưới!

Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính là gì?

Phương pháp nghiên cứu định tính là một dạng nghiên cứu thường sử dụng để thăm dò, tìm hiểu ý kiến, quan điểm nhằm tìm ra insight các vấn đề. Ngoài ra, phương pháp này còn có thể được sử dụng để phát hiện các xu hướng của khách hàng trong tương lai.

Nghiên cứu định tính thường tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách tự nhiên nhất, nhằm đảm bảo những hành vi, ý kiến, quan điểm mà đối tượng nghiên cứu đưa ra sẽ khách quan và chính xác nhất.

Nghiên cứu định tính thường trả lời câu hỏi “như thế nào” và “tại sao” về một hiện tượng, hành vi,… Ví dụ điển hình như phương pháp phỏng vấn cá nhân, người phỏng vấn sẽ đặt những câu hỏi mở để người trả lời có thể thoải mái đưa ra những quan điểm của mình, qua đó có thể thu thập được những thông tin đa dạng, thậm chí chưa bao giờ nghĩ tới.

Kỹ thuật phân tích dữ liệu định tính

Nghiên cứu định tính đòi hỏi sự sáng tạo và linh hoạt. Những nhà nghiên cứu không thể chỉ dựa vào những dữ liệu thô thu được từ cuộc khảo sát để viết báo cáo, hoặc đưa ra kết luận. Rất nhiều phương pháp và kỹ thuật phân tích cần được sử dụng để giải mã những dữ liệu này, như:

Lý thuyết nội dung (Content theory – CT)

Dùng để giải thích tại sao nhu cầu của con người thay đổi theo thời gian? Đâu là những yếu tố thúc đẩy hành vi con người? Động lực để con người thực hiện một hành động là gì? (Thuyết về tháp nhu cầu Maslow, thuyết X thuyết Y,…)

Lý thuyết nền tảng (Grounded theory – GT)

Đây là một phương pháp quy nạp cung cấp một quy trình để thu thập, tổng hợp, phân tích và khái niệm hóa dữ liệu định tính cho mục đích xây dựng lý thuyết.

Phân tích biện luận (Discourse analysis – DA)

Phân tích biện luận bao gồm nói chuyện và tương tác trực tiếp hoặc thông qua hình ảnh, biểu tượng và tài liệu để giải thích cách thức và ý nghĩa của những hành vi thu thập được.

Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp nghiên cứu định tính

Vấn đề được nhìn nhận dưới góc nhìn của người trong cuộc: Việc người nghiên cứu đóng vai trò quan trọng sẽ giúp ta tìm hiểu rõ hơn những vấn đề mà nghiên cứu định lượng dễ bị bỏ qua. Nghiên cứu định tính giúp làm rõ được các yếu tố về hành vi, thái độ của đối tượng nghiên cứu.

Vì nghiên cứu định tính sử dụng các phương pháp nghiên cứu không cấu trúc nên tính linh hoạt rất cao.

Giúp phát hiện ra những thông tin hữu ích một cách nhanh chóng.

Thời gian tiến hành một dự án nghiên cứu định tính thường ngắn hơn và tốn ít chi phí hơn so với nghiên cứu định lượng.

Thời gian cần thiết để thu thập và phân tích dữ liệu cho một lần nghiên cứu định tính khá dài và khó khăn. Thời gian trung bình của một cuộc khảo sát định tính thường kéo dài khoảng 30′, điều này có thể khiến cho đáp viên cảm thấy không thoải mái và chán nản. Thường người nghiên cứu phải nắm rõ về lĩnh vực nghiên cứu cũng như các kỹ thuật đào sâu, phân tích để thu được những thông tin chính xác, có giá trị nhất và không làm cho người khảo sát cảm thấy khó chịu.

Vì mang tính chủ quan nên việc khái quát hóa kết quả nghiên cứu lên tổng thể bị hạn chế.Tình minh bạch của nghiên cứu định tính thấp hơn nghiên cứu định lượng ví dụ đối với một số vấn đề nhạy cảm, nhà nghiên cứu sẽ giữ kín danh tính của người trả lời.

Nghiên cứu thị trường là gì? Những kiến thức cần biết về nghiên cứu thị trường

Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng là việc thu thập, phân tích thông tin trên cơ sở các số liệu thu được từ thị trường. Mục đích của việc nghiên cứu định lượng là đưa ra các kết luận thị trường thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý dữ liệu và số liệu.

Phương pháp để thu thập dữ liệu định lượng thường có cấu trúc hơn so với thu thập dữ liệu định tính bao gồm nhiều hình thức khảo sát khác nhau như khảo sát trực tuyến, khảo sát trên giấy, khảo sát di động, khảo sát qua thư hoặc email,…

Nghiên cứu định lượng thường được gắn liền với việc dựa vào các lý thuyết, suy luận để lượng hóa, đo lường các yếu tố nghiên cứu, kiểm tra mối tương quan giữa các biến dưới dạng số đo và thống kê.

Kỹ thuật phân tích dữ liệu định lượng

Sử dụng kỹ thuật thống kê để tóm tắt dữ liệu, mô tả các mẫu, mối quan hệ và kết nối các biến số với nhau, từ đó hình thành báo cáo với các thông tin hữu ích, dễ xem giúp đưa ra quyết định chính xác hơn. Có hai loại gồm:

Thống kê mô tả (Descriptive statistics)

Thống kê suy luận (Inferential statistics)

Gồm các phương pháp ước lượng, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên cứu, dự đoán hoặc ra quyết định trên cơ sở thu thập thông tin từ kết quả quan sát mẫu.

Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp nghiên cứu định lượng

Tính khách quan khoa học: Dữ liệu định lượng có thể được giải thích bằng phân tích thống kê và vì thống kê dựa trên các nguyên tắc toán học, nên phương pháp định lượng được xem là phương pháp khoa học và hợp lý. Vì thế nghiên cứu định lượng hoàn toàn phù hợp để kiểm định các giả thiết được đặt ra.

Độ tin cậy cao của kết quả nghiên cứu, tính đại diện cao nên kết quả nghiên cứu định lượng có thể khái quát hóa lên cho tổng thể mẫu.

Phân tích nhanh chóng: Các phần mềm phân tích giúp việc xử lý lượng lớn dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác. Hạn chế đến mức thấp những lỗi kỹ thuật có thể phát sinh do yếu tố con người trong xử lý số liệu.

Nghiên cứu định lượng không làm rõ được hiện tượng về con người (nghiên cứu hành vi).

Yếu tố chủ quan của người khảo sát: Nhà nghiên cứu có thể bỏ lỡ các chi tiết giá trị của cuộc khảo sát nếu quá tập trung vào việc kiểm định các giả thiết đặt ra.

Sự khác nhau trong cách hiểu các câu hỏi: Xảy ra khi đối tượng phỏng vấn không hiểu câu hỏi đặt ra như ý định của nhà nghiên cứu mà lại hiểu khác đi và trả lời theo cách hiểu của họ. Đối với nghiên cứu định lượng, phần lớn các hình thức nghiên cứu người phỏng vấn không có khả năng can thiệp, giải thích hay làm rõ các câu hỏi cho người trả lời.

Những sai số do ngữ cảnh có thể ảnh hưởng đến nội dung cuộc khảo sát. Phương pháp nghiên cứu định lượng giả định rằng hành vi và thái độ của con người không thay đổi theo ngữ cảnh. Tuy nhiên, câu trả lời của đối tượng có thể thay đổi phụ thuộc vào những ngữ cảnh khác nhau.

Nghiên cứu định lượng sử dụng các phương pháp nghiên cứu phức tạp hơn định tính vì thế sẽ tốn nhiều thời gian hơn để thiết kế quy trình nghiên cứu.

Vì cần mẫu lớn để có thể khái quát hoá cho tổng thể nên chi phí để thực hiện một nghiên cứu định lượng thường rất lớn, lớn hơn nhiều so với nghiên cứu định tính.

Ưu nhược điểm các phương pháp nghiên cứu thị trường

Sự khác biệt trong dữ liệu nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Dữ liệu của nghiên cứu định tính thường không thể đếm được, nó là những chuỗi văn bản, video, hình ảnh,… Trong khi đó, dữ liệu của nghiên cứu định lượng lại có thể đo đếm được.

Một ví dụ đơn giản: Các các câu trả lời cho câu hỏi mở “Đâu là kiểu chào hỏi phổ biến nhất trong email?” là dữ liệu định tính với nhiều nội dung trả lời khác nhau, chúng ta có thể phân loại các dạng câu chào hỏi thành các nhóm và đo lường tần suất xuất hiện của các nhóm đó, vậy là bạn đã có thể biến dữ liệu định tính thành định lượng rồi.

Hãy xét một ví dụ khác: Nếu bạn đo lường hành vi của người dùng trên một trang web, bạn có thể biết rằng 25% số người đã nhấp vào nút A, sau đó là một nút B,… Điều đó rất cần thiết và ta có thể chạy thử nghiệm phân tách (A/B Testing) để thử các phiên bản khác nhau của trang web để xem liệu bạn có thể thay đổi hành vi của mọi người hay không.

Tuy nhiên, dữ liệu này không cho bạn biết lý do tại sao mọi người lại hành động như vậy?

Nghiên cứu định tính thường tập trung nhiều hơn vào góc độ con người – mọi người đang nghĩ gì và cảm thấy gì? Điều gì khiến họ làm thế? Thái độ của họ sẽ ra sao?… Và bạn có thể nhận được nhiều thông tin phong phú, sâu sắc hơn so với dữ liệu định lượng, bởi vì bạn thực sự có thể hiểu được những suy nghĩ đằng sau hành động đó và có thể điều chỉnh luồn hành vi một cách tự nhiên và chính xác.

Vì vậy, nếu muốn cải thiện trải nghiệm trên trang web của một người nào đó thì có lẽ bạn nên quan sát dữ liệu định lượng của mình để xem mọi người đang làm gì và sau đó bạn sẽ thực hiện một số nghiên cứu định tính để tìm hiểu lý do tại sao họ lại làm như thế.

Trong nghiên cứu thị trường, nên cân nhắc sử dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng để có được những kết quả có giá trị nhất. Để có được câu trả lời hoàn hảo nhất về hành vi, thái độ của khách hàng và lý do của những hành vi đó, từ đó kết quả nghiên cứu có thể góp phần tạo nên những quyết định quản trị có tính chính xác cao hơn.

Đồng thời nếu có nhu cầu nghiên cứu thị trường mà không biết bắt đầu từ đâu. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi theo Hotline bên dưới để được tư vấn tận tình nhất!

Khaosat.me – Lắng nghe để thành công

Sự Khác Biệt Giữa Nghiên Cứu Định Tính Và Nghiên Cứu Định Lượng / 2023

Nghiên cứu định tính (qualitative research) và định lượng (quantitative research) là các phương pháp mà doanh nghiệp hay marketer có thể kết hợp trong các nghiên cứu, tìm hiểu thị trường và khách hàng để có được kết quả rộng và sâu.

Nói một cách đơn giản, dữ liệu định lượng (quantitative data) giúp bạn có được những con số để chứng minh những điểm chung của nghiên cứu. Trong khi dữ liệu định tính (qualitative data) mang đến cho bạn các chi tiết và độ sâu để hiểu ý nghĩa đầy đủ của dữ liệu cũng như hiểu sâu về thị trường, khách hàng.

Để có kết quả tốt nhất từ các phương pháp này trong các khảo sát, nghiên cứu, điều quan trọng là bạn phải hiểu được sự khác biệt để kết hợp hoặc lựa chọn phương pháp phù hợp.

Khác biệt giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính là gì?

Nghiên cứu định tính – qualitative research là dạng nghiên cứu thực nghiệm trong đó dữ liệu (data) không ở dạng số (Punch, 1998, p. 4).

Nghiên cứu định tính là việc các nhà nghiên cứu định tính nghiên cứu mọi thứ trong môi trường truyền thống hoặc internet, cố gắng hiểu hoặc giải thích các hiện tượng theo nghĩa của con người mang đến cho họ.

Nghiên cứu theo cách tiếp cận định tính là thăm dò và tìm cách trả lời các câu hỏi ‘làm thế nào’ và ‘tại sao’ về một hiện tượng hoặc hành vi cụ thể một bối cảnh cụ thể của khách hàng phục vụ cho các marketer, doanh nghiệp.

Cách tiến hành nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định lượng là gì?

Nghiên cứu định lượng – quantitative research trong marketing là việc thu thập, phân tích thông tin trên cơ sở các số liệu thu được từ thị trường có thể thông qua thống kê như khảo sát.

Các nhà nghiên cứu định lượng nhằm mục đích thiết lập các định luật chung về hành vi và phenonomon trên các bối cảnh / bối cảnh khác nhau. Nghiên cứu được sử dụng để kiểm tra một lý thuyết và cuối cùng hỗ trợ hoặc từ chối nó.

Cách tiến hành nghiên cứu định lượng

Dữ liệu thu thập được sẽ được lượng hóa (dưới dạng các con số thống kê chẳng hạn) và từ đó, những người nghiên cứu có thể rút ra những vấn đề chung, đại diện cho các tập/khúc khách hàng.

Nhìn chung, phương pháp phổ biến mà các nhà nghiên cứu thường sử dụng để thu thập dữ liệu định lượng là điều tra hay khảo sát (survey). Theo đó, một hệ thống những câu hỏi cấu trúc, còn gọi là câu hỏi đóng với những phương án trả lời có sẵn thông qua một bảng câu hỏi (questionnaire) sẽ được đạt ra vố khách hàng để hỏi về cảm tưởng, suy nghĩ và hành động của họ (respondents) nhằm thu thập dữ liệu trên một mẫu lớn.

Có nhiều cách mà người làm marketing có thể thu thập dữ liệu định lượng thông qua khảo sát, đó là gặp trực tiếp khách hàng để hỏi/phỏng vấn họ thông qua bảng hỏi đã được thiết kế, gửi bảng hỏi đến cho khách hàng hay có thể khảo sát qua điện thoại. Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là Internet, các bảng câu hỏi có thể được số hóa với sự trợ giúp của các công cụ và phần mềm và gửi đến đối tượng trả lời một cách dễ dàng và thuận lợi hơn.

Phân tích dữ liệu

Phân tích dữ liệu (data analysis) là một quá trình làm việc với dữ liệu để tìm ra những thông tin hữu ích hỗ trợ việc ra quyết định kinh doanh. Quá trình này bao gồm việc làm sạch, chuyển đổi và mô hình hóa dữ liệu.

Việc phân tích dữ liệu có thể tiếp sức cho các chiến dịch Marketing dựa trên dữ liệu một cách hiệu quả.

Khi nào cần nghiên cứu thị trường

Xây dựng các giả thuyết

Nghiên cứu định lượng sẽ giúp bạn có được những con số mà bạn có thể áp dụng phân tích thống kê để xác thực các giả thuyết của mình. Đó có phải là vấn đề thực tế hay chỉ là một người nhận thức? Những sự thật phũ phàng thu được sẽ cho phép bạn đưa ra quyết định dựa trên những quan sát khách quan.

Tìm câu trả lời chung

Kết hợp yếu tố con người

Nghiên cứu định tính cũng có thể giúp đỡ trong giai đoạn cuối của dự án của bạn. Các trích dẫn bạn có được từ các câu hỏi mở có thể đưa tiếng nói của con người đến các con số và xu hướng khách quan trong kết quả của bạn. Nhiều lần giúp nghe khách hàng mô tả công ty của bạn bằng lời nói của họ để khám phá những điểm mù của bạn. Dữ liệu định tính sẽ giúp bạn có được điều đó.

3. Làm thế nào để có được dữ liệu định tính?

– Nghiên cứu case study: Bộ sưu tập các câu chuyện của khách hàng từ các cuộc phỏng vấn sâu.

– Ý kiến chuyên gia: Thông tin chất lượng cao từ các nguồn thông tin tốt.

– Câu hỏi khảo sát kết thúc mở: Một đoạn văn bản trong một cuộc khảo sát cho phép người trả lời bày tỏ suy nghĩ của họ về vấn đề này một cách tự do.

– Nghiên cứu quan sát: Ví dụ, quan sát mọi người trong quá trình thực hiện thói quen của họ để hiểu cách họ tương tác với một sản phẩm.

Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu kết thúc mở này không phải lúc nào cũng cho vay để mang lại cho bạn kết quả chính xác nhất cho những câu hỏi lớn. Và phân tích kết quả là khó vì mọi người sẽ sử dụng các từ và cụm từ khác nhau để mô tả quan điểm của họ, và thậm chí có thể không nói về những điều tương tự nếu họ tìm thấy không gian để chuyển vùng với câu trả lời của họ.

4. Ví dụ về cách sử dụng câu hỏi định tính và định lượng

Câu hỏi định tính

Bạn có bất kỳ ý kiến, câu hỏi, hoặc mối quan tâm nào khác?

Câu hỏi định lượng

Đã bao lâu bạn là khách hàng của Công ty chúng tôi?

Đây là lần mua đầu tiên của tôi

Chưa đầy sáu tháng

Sáu tháng đến một năm

1-2 năm

3 năm trở lên

Tôi chưa từng mua hàng

Nếu bạn thấy quá trình nghiên cứu thị trường này phức tạp và đội ngũ nhân sự không đủ chuyên môn, năng lực thì tại sao không thử tham khảo ý kiến tư vấn của các chuyên gia cố vấn có nhiều kinh nghiệm cũng như nhận những phân tích, đánh giá MIỄN PHÍ.

ngay để nhận PHÂN TÍCH, TƯ VẤN MIỄN PHÍ từ các chuyên gia của DTM Consulting.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghiên Cứu So Sánh – Massei.org / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!