Đề Xuất 12/2022 # Nghiên Cứu Trong Ngành Ngân Hàng: Người Làm Khoa Học Được Quyền Tự Do Sáng Tạo / 2023 # Top 18 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Nghiên Cứu Trong Ngành Ngân Hàng: Người Làm Khoa Học Được Quyền Tự Do Sáng Tạo / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghiên Cứu Trong Ngành Ngân Hàng: Người Làm Khoa Học Được Quyền Tự Do Sáng Tạo / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ông Võ Trí Thành

Ngành Ngân hàng đã có những đề tài NCKH sát thực tiễn và có tầm nhìn dài hạn, bám sát hơn đòi hỏi phát triển của NH cũng như xu thế vận động của thế giới. Muốn tốt hơn nữa, cần tăng tính kết nối; tính mở phải tốt hơn…

Qua nhiều năm làm công tác phân tích và tư vấn chính sách, theo ông NCKH có vai trò gì trong quản lý Nhà nước?

Có may mắn là tôi làm ở Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, may mắn được tham gia nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế trên thế giới và khu vực, tham gia không ít đề án nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước và qua đó tôi có điều kiện học tập, nghiên cứu và trải nghiệm thực tế các think tank trong nước, khu vực, và thế giới.

NCKH thực sự quan trọng cho quá trình hoạch định chính sách và thậm chí cả thực thi chính sách. Tại sao nó quan trọng, cần thiết? Thứ nhất, hoạch định chính sách của các nhà quản lý cần có những chính sách được kiểm định hỗ trợ bằng lý luận và thực tiễn, được kiểm chứng như vậy công tác hoạch định của họ mới để đạt mục tiêu về phát triển hay ổn định kinh tế vĩ mô; hay xử lý các vấn đề xã hội, phát triển bền vững… thì lòng tin của họ cao hơn để đạt được nhờ đó họ có khả năng giải trình với thị trường, xã hội tốt hơn.

Thứ hai, các mục tiêu phát triển hiện nay khá phức hợp như tăng trưởng bền vững phải gắn với bảo vệ môi trường, đảm bảo công bằng xã hội… và cả những va đập khu vực và thế giới trong nền kinh tế do đó càng cần lý giải tốt để tạo lòng tin cho nền tảng. Chính sách mới, ý tưởng mới, dự báo, đánh giá rủi ro… đều gắn với vai trò của các think tank.

Với Việt Nam – đang là nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập… thì NCKH càng có ý nghĩa cho quá trình hoạch định chính sách. Vì chúng ta đang đi từ cái chưa biết sang biết; từ biết ít sang biết nhiều; chưa làm sang phải làm. Những thông điệp, kết quả nghiên cứu của các think tank Việt Nam bắt đầu được tôn trọng, nhìn nhận và đóng vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng, cải cách kinh tế đất nước.

Tuy nhiên, trong tương tác giữa làm khoa học của think tank với quá trình hoạch định và thực thi chính sách vẫn có 3 rủi ro. Thứ nhất, là nguy cơ làm “cây cảnh”:  việc NCKH chỉ để tô thêm, làm đẹp… hơn là lắng nghe, thấu hiểu. Thứ hai, bản thân họ không đủ năng lực dù muốn làm việc tốt cho sự phát triển của đơn vị nhưng không đủ kiến thức nhất định, nên không hiểu, không đánh giá hết giá trị việc NCKH để mà hỗ trợ công tác nghiên cứu, hỗ trợ các think tank. Do đó dẫn đến rủi ro.

Ông đánh giá thế nào về NCKH ứng dụng cho tài chính, ngân hàng?

Hệ thống tài chính – ngân hàng nói chung vẫn có đặc điểm chung và riêng đặc thù: TCTT là lĩnh vực không chỉ quan trọng trong nền kinh tế là mạch máu, trái tim phức tạp mà tính sáng tạo rất cao. Nó vừa gắn với kinh doanh vi mô và có tính lan tỏa và cả rủi ro về vĩ mô. Ví dụ CSTT,  giám sát sự phát triển lành mạnh của hệ thống NH vì thế ngoài đặc thù chung NCKH đòi hỏi kỹ thuật, kỹ trị cao nên cần có sự học hỏi không ngừng để think tank có những kiến nghị khoa học khả thi. Ngược lại, người lãnh đạo của đơn vị cũng phải có trình độ cao trong việc nhìn nhận con người, tạo động lực cho NCKH, nhìn nhận về vĩ mô của thị trường cao hơn, sâu hơn ở cả cấp quản lý và những người làm khoa học.

Cơ quan đặt hàng và cả think tank đều mong muốn công trình NCKH có tính ứng dụng cao. Song thực tế vẫn có công trình bị cất ngăn kéo?

Như trên tôi đã nói, có những rủi ro nhất định, thách thức đối với công tác NCKH. Thứ nhất: Động lực của người làm CNKH bên cạnh mục tiêu cao cả chung cho quốc gia, cho người dân. Vì sự phát triển chung cho quốc gia cho nền kinh tế vẫn có cả cái lợi ích riêng. Nếu không quản lý khéo, không có quyết định chính sách đúng thì kể cả khi tâm họ tốt (chưa kể tâm họ không tốt) sẽ có chính sách phục phụ lợi ích riêng. Về những người làm NCKH ngoài giúp hoạch định sách sách tốt hơn họ cũng có lợi ích riêng. Ví dụ họ muốn có thành quả được ghi nhận về mặt khoa học: giải thưởng khoa học, sự thừa nhận khi công bố trên các tạp chí khoa học chính thức… đó là niềm vui của think tank. Họ cảm thấy vui, hạnh phúc khi được sáng tạo, cống hiến.

Người làm khoa học được ba quyền: Quyền tự do nghi ngờ, quyền tự do sáng tạo và không phụ thuộc cấp trên hay cấp dưới. Nhưng họ cũng là con người nên cũng có “khoa học giả” để che đậy năng lực thật của mình. Do đó, cái quan trọng như tôi đã nói là nhận biết giá trị thật của từng con người, những hiểu biết các ấn phẩm, sáng tạo, đóng góp của think tank… Dù thực tế chúng ta vẫn phải thừa nhận là các công trình NCKH vẫn có copy, cái thật, cái giả…

Theo ông cần giải pháp nào để việc NCKH trong ngành Ngân hàng phát triển hơn?

Tôi được biết gần đây NHNN và một số NHTM đều có các viện, trung tâm nghiên cứu và có sự quan tâm đến NCKH cả về con người, vật chất, đào tạo… đều được tăng cường. Sự quan tâm này khá thiết thực với sự phát triển của ngành Ngân hàng. Ngành Ngân hàng đã có những đề tài NCKH sát thực tiễn và có tầm nhìn dài hạn, bám sát hơn đòi hỏi phát triển của NH cũng như xu thế vận động của thế giới. Đó là điều tốt. Muốn tốt hơn nữa, theo tôi nên tăng tính kết nối; tính mở phải tốt hơn, nhất là trong bối cảnh chúng ta cần tăng tính minh bạch, tính giải trình. Kết nối ở đây có thể là với chuyên gia bên ngoài ngành, chuyên gia thế giới. Thứ hai, vấn đề đào tạo, thu hút nhân tài. NCKH đòi hỏi chuyên sâu, có chất học thuật nên phải gắn với đào tạo, tạo điều kiện để những nhà khoa học cống hiến sáng tạo. Bên cạnh đó nên có những nhóm nghiên cứu cho những tình huống khác nhau, cho thời điểm, khía cạnh khác nhau… nhằm gắn kết các think tank, chuyên gia bên ngoài và hệ thống cơ sở nghiên cứu của cơ quan để xử lý những vấn đề mới nảy sinh. Cơ chế thành lập các nhóm nghiên này cứu phải đủ linh hoạt, không tốn kém về mặt biên chế…

Xin cảm ơn ông!

Các Bước Làm Bài Nghiên Cứu Khoa Học / 2023

Nghiên cứu Khoa học. Nhắc đến từ đấy bạn thường nghĩ đến điều gì? Một quá trình khô khan và rối rắm? Hay là một công việc thú vị, năng động và sáng tạo? Thực tế đã cho thấy vế thứ hai là một sự ngụy biện. Quả thật nghiên cứu khoa học nhìn chung đòi hỏi sự chính xác, kiên trì và tỉ mẩn, nên thường gây chán nản đối với các bạn sinh viên. Tuy nhiên, cũng giống như cơm trắng dù nhạt nhưng chứa nhiều tinh bột, nghiên cứu khoa học đem lại nhiều lợi ích cao cả cho người nghiên cứu. Nếu hiện tại bạn đang muốn tiếp thu kinh nghiệm quý báu từ nghiên cứu khoa học, bài viết này sẽ miêu tả sơ qua các bước cơ bản để bạn định hình được kết cấu quá trình nghiên cứu. Tùy từng người, từng nhóm nghiên cứu cụ thể mà các bước này có thể khác nhau đôi chút, nhưng về bản chất vẫn quy về 3 bước sau:

– Đề tài nghiên cứu phải có ý nghĩa khoa học: bổ sung nội dung lý thuyết của khoa học, hoặc làm rõ một số vấn đề lý thuyết đang tồn tại nhiều khúc mắc…

Kế hoạch nghiên cứu : Là văn bản tổng hợp các bước thực hiện và thời gian cụ thể cho từng bước, cũng như phân công công việc cho từng thành viên trong nhóm nghiên cứu.

Đề cương nghiên cứu : Là văn bản dự kiến các mục nội dung chi tiết của công trình nghiên cứu, là cơ sở để người nghiên cứu dựa vào khi tiến hành hoạt động trong giai đoạn triển khai.

– Giả thiết phải có khả năng giải thích được sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu.

III. Báo cáo kết quả nghiên cứu.

Viết báo cáo cần phải viết nhiều lần, có bản nháp để giáo viên hướng dẫn chỉnh sửa, góp ý cho phù hợp. Một báo cáo khoa học, về nội dung cần có hàm lượng vừa phải nhưng rõ ràng, đầy đủ các ý tương ứng với đề cương đã có; về hình thức cần trình bày sạch sẽ, phù hợp với yêu cầu của nghiên cứu.

Cộng đồng sinh viên kinh tế nghiên cứu khoa học, 22/11/2017. Quy trình thực hiện nghiên cứu khoa học . Available at: http://rces.info/sinh-vien-kinh-te-nckh/quy-trinh-thuc-hien-nghien-cuu-khoa-hoc/

Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật HCM, n.d. Các giai đoạn thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học . Available at: http://spkt.tnut.edu.vn/Article/Download/97

Các Nhóm Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Nghiên Cứu Khoa Học / 2023

Published on

Các nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học

1. NHÓM 5 I. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG. III. PHƯƠNG PHÁP HỎI Ý KIẾN CHUYÊN GIA.

3. -Trong thực tiễn, người ta thường dùng các loại thực nghiệm: 2. CÁC LOẠI THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM *Thực nghiệm thăm dò (phát hiện bản chất sự vật để xây dựng giả thuyết) *Thực nghiệm tác động *Thực nghiệm kiểm tra (kiểm chứng các giả thuyết khoa học) *Thực nghiệm ứng dụng *Thực nghiệm triển khai

4. Thực nghiệm thăm dò Xác định bản chất: không gian học tập, điều kiện học tập quyết định đến chất lượng dạy và học Dựa vào điều kiện thực tế để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

5. Kiểm tra lại tính xác thực của các giả thiết khoa học Thự c nghiệm kiểm tra Xác định, đánh giá tính hiệu quả của việc sự dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy

6. Thực nghiệm tác động Phương pháp dạy

7. Thực nghiệm ứng dụng-triển khai Thực hiện thí điểm Ứng dụng rộng rãi

8. -Từ mâu thuẫn giáo dục đề ra các giả thuyết khoa học và các biện pháp khắc phục. -Trên cơ sở giả thuyết, phân tích các biến số độc lập và chọn các nhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về phương diện và tiến hành thực nghiệm trong điều kiện giống nhau. -Tiến hành thực nghiệm đối với nhóm thực nghiệm và quan sát tỉ mỉ diễn biến kết quả của hai nhóm một cách khách quan. -Xử lí tài liệu thực nghiệm. -Kết quả xử lý tài liệu cho chúng ta những cơ sở khẳng định giả thuyết, rút ra những bài học cần thiết và đề xuất những ứng dụng vào thực tế. 3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

9. -Để đảm bảo tính phổ biến của kết quả thực nghiệm điều cần chú ý là phải chọn đối tượng tiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đối tượng khác nhau và cần thiết hơn nữa là tiến hành thực nghiệm lặp lại nhiều lần trên cùng một đối tượng ở các thời điểm. Kết quả thực nghiệm sư phạm là kết quả khách quan nhất trong các kết quả nghiên cứu khoa học bằng các phương pháp khác .

10. a. Ưu điểm. -Thực nghiệm sư phạm là chiếc kính hiển vi giúp ta đi sâu vào bản chất của hiện tượng giáo dục, tìm ra mối quan hệ nhân quả của nhiều sự kiện giáo dục. 4. ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

11. -Thực nghiệm sư phạm tìm ra những cái mới trong hoạt động giáo dục.

13. -Thực nghiệm sư phạm tuy là kính hiển vi, nhưng không phải lúc nào cũng đeo kính vào mắt để đi đường mà ngắm cảnh được. Mặt khác, do nhiều điều kiện khó khăn, nên thông thường số lượng đơn vị trong tập mẫu không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu. Trong những hoàn cảnh như vậy, phải thận trọng phát biểu kết luận sư phạm thực nghiệm sư phạm cho phổ biến và đại trà. VD: Trong quá trình thực nghiệm chọn một số nơi thực nghiệm thích hợp với thực nghiệm nhưng những nơi khác thì không chắc sẽ làm được như vậy.

14. – Một là, xây dựng giả thuyết thực nghiệm trên cơ sở phân tích kĩ các biến số độc lập. – Hai là, chọn hai nhóm thực nghiệm và đối chứng có số lượng, trình độ và mọi điều kiện tương đương nhau về mọi phương diện, nhằm khống chế những nhân tố không tham gia thực nghiệm và tách ra được những nhân tố tham gia thực nghiệm. -Ba là, tác động đến nhóm thực nghiệm đúng phương pháp, đo đầu vào và đầu ra sao cho khách quan. -Bốn là, xử lí kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về mặt định lượng lẫn mặt định tính, đối chiếu kết quả thực nghiệm với giả thuyết khoa học và rút ra kết luận. 5. YÊU CẦU

15. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM: -Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp mà nhà nghiên cứu sẽ thông qua các sản phẩm mà đối tượng được nghiên cứu (học sinh, giáo viên, cán bộ giáo dục, ..v.vv.) tạo ra như bài làm, bài chấm vở ghi, bài soạn, sổ sách, nhật ký, các sáng tạo văn học nghệ thuật, sản phẩm lao động, học tập, v.v.. để tìm hiểu tính chất, đặc điểm của con người và hoạt động tao ra các sản phẩm đó.

16. *Về nguyên tắc, thông qua những sản phẩm của con người tạo ra mà chúng ta có thể nhận ra tư tưởng tình cảm, ý chí cũng như năng lực của họ. Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng một sản phẩm hoạt động cũng có thể có hai cách sử dụng khó khăn. -Nếu sử dụng các sản phẩm hoạt động đó làm tài liệu để phân tích những đặc điểm tâm lý của những người được nghiên cứu, của hoạt động tạo ra những sản phẩm đó thì việc sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là đúng đắn. Nhưng nếu dùng những nhận xét vủa người khác làm cứ liệu về nhân cách của đối tượng được nghiên cứu qua sản phẩm qua hoạt động của mình, lúc này tính khách quan đã mất đi rất nhiều. Trong trường hợp này, đó là ý thức chủ quan của người ghi nhật kí chứ không còn là sự kiện khách quan nữa. Đó không phải là phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động mà chính là phương pháp trò chuyện gián tiếp (được viết ra).

17. a. Ưu điểm : -Giúp người nghiên cứu có thể khách quan hóa (trực quan hóa) nhưng đặc điểm tâm lí, sinh lí thông qua sản phẩm hoạt động của họ. -Sản phẩm hoạt động còn là một phương tiện thổ lộ tâm lí và tình cảm của người tạo ra nó. 2. ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM:

18. b. Nhược điểm: -Người nghiên cứu chỉ biết kết quả cuối cùng, chứ không biết quá trình tạo ra sản phẩm đó như thế nào. -Đôi khi qua sản phẩm chúng ta không xác định một cách chính xác chiều hướng phát triển của người tạo ra sản phẩm như thế nào.

19. + Đầu tiên tìm cách xây dựng lại đầy đủ quá trình hoạt động để tạo nên sản phẩm mà ta nghiên cứu. Ví dụ, đối với, bài làm, bài soạn, bài giảng, sáng tác… có thể sử dụng những bản nháp, dự thảo được sắp đặt theo thời gian. Bằng cách đó nhiều khi sẽ giúp phát hiện những điểm quan trọng và tinh tế mà chỉ tìm hiểu sản phẩm cuối cùng thì không thể nhận thấy được. + Dựng lại hoàn cảnh thực tế mà sản phẩm tạo ra, đặc biệt khi tình trạng hoạt động mới bắt đầu. Làm được điều đó giúp ta hiểu về con người và hoạt động tạo ra sản phẩm một cách đầy đủ, sâu sắc hơn nhiều, khác về chất. +Nên tìm hiểu đầy đủ về các mặt khác nhau của con người tạo ra sản phẩm. Làm được điều này sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về sản phẩm và quá trình tạo ra nó. 3. YÊU CẦU

20. *Để thực hiện các yêu cầu này cần sử dụng tài liệu thu được bằng những phương pháp khác nhau như trò chuyện, quan sát, điều tra, tự thuật, tiểu sử, tất nhiên cũng cần nắm vững lí luận tâm lí học về tâm lí học của con người.

21. Ví dụ: Khi tiến hành nghiên cứu khả năng đọc hiểu của học sinh trong môn tiếng Anh bằng cách cho học sinh làm một bài test hay tập hợp những bài tập trước để đánh giá mức độ của học sinh, nhưng nhận thấy kết quả không khả quan. Giáo viên nên điều chỉnh hay đưa ra phương án dạy học hiệu quả như khi đọc một đoạn văn, học sinh không nên dịch từng từ một, vì như vậy sẽ rất mất thì giờ, dẫn đến kết quả kém.

22. 2. PP LẤY Ý KIẾN CHUYÊN GIA 1. KHÁI NIỆM: – Là phương pháp thu thập thông tin khoa học , nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa họ, bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định.Ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau, cho ta một ý kiến tối ưu, khách quan về một vấn đề khoa học .

23. 2. MỤC ĐÍCH: Là phương pháp khai thác và vận dụng “chất xám” của các chuyên gia, nhằm mục đích : + Thu thập thông tin khoa học +Thu lượm những ý kiến đánh giá về tình hình giáo dục,về những sản phẩm giáo dục,về những sản phẩm khoa học ….. +Thu lượm những ý kiến về giải pháp giáo dục cho vấn đề muốn khai thác,không những vậy, mà còn có tính trung thực khoa học…

25. CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!!!

Đào Tạo Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục / 2023

Để cán bộ quản lý ở cơ sở có thể làm được điều đó, thì họ cần được trang bị công cụ. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục chính là công cụ để đưa ra chứng cứ làm cơ sở cho mọi quyết định chính sách. Hiện nay trên thế giới người ta phải dựa vào bằng chứng để làm chính sách, gọi là “evidence based policies”. Những bằng chứng thuyết phục thường xuất phát từ nghiên cứu khoa học. Trong y khoa hiện nay, giới nghiên cứu hiểu rất rõ thực hành y khoa cần phải dựa vào bằng chứng, và bằng chứng chỉ có thể tin cậy nếu rút ra từ nghiên cứu. Giáo dục cũng không khác, vì là một lĩnh vực có ảnh hưởng đến nhiều người và nhiều thế hệ, nên nhu cầu chứng cứ rất quan trọng. Y học thực chứng (evidence- based medicine) đã trở thành kim chỉ nam cho thực hành y khoa và chính sách y tế công cộng, nhưng trong lĩnh vực giáo dục, thì giáo dục thực chứng (evidence-based education) chưa được chú ý đúng mức. Bài viết này bàn về mục tiêu, nội dung và ý nghĩa việc đào tạo phương pháp khoa học giáo dục cho cán bộ quản lý giáo dục, nhằm đẩy mạnh những nỗ lực cải cách trong giáo dục.

Từ thực tế hiện nay

Có thể nêu lên vài hiện trạng để thấy bức tranh thực tế ở cấp chính sách: (i) Vấn đề biên soạn chương trình và sách giáo khoa hiện nay chủ yếu đang là công việc thuần túy lý thuyết của một nhóm chuyên gia, mà chưa có thực nghiệm nhằm khảo sát đánh giá tác động của nó trong thực tế đối với người học và dựa trên kết quả này để điều chỉnh nội dung, chương trình và sách giáo khoa cho phù hợp; (ii) Việc thiết kế đề thi năm nào cũng có vài trục trặc và sự cố, gây hoang mang cho không ít học sinh và phụ huynh. (iii) Nhiều câu hỏi đang đặt ra: Có nên tiếp tục duy trì kỳ thi tốt nghiệp phổ thông? Có nên tổ chức kỳ thi đại học “ba chung”? Lấy chỉ tiêu gì để đánh giá chất lượng giáo dục trong bối cảnh Việt Nam? Phân tầng đại học cần dựa trên tiêu chí gì và cơ sở khoa học của những tiêu chí ấy là gì? Những câu hỏi như vậy, không thể có câu trả lời khách quan mà không dựa trên bằng chứng khoa học, tức là dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học. Có lẽ một phần do thiếu chứng cứ khoa học, nên nhiều chính sách hay đề xuất được đưa ra phần nhiều chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân hay thậm chí cảm tính. Ở cấp nhà trường, thì việc ra quyết định dựa trên các dữ liệu nghiên cứu lại càng hiếm hoi.

Trong lúc đó, chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý trường phổ thông ở bậc sau đại học đều có bao gồm học phần về nghiên cứu khoa học giáo dục. Vì sao việc đào tạo chính quy về PPNCKHGD trong thực tế đã không giúp giải quyết được những bất cập nêu trên?

Học phần này có các nội dung chính như sau:

Khái niệm và cách phân loại 2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận 3. Phương pháp chuyên gia 4. Phương pháp quan sát 5. Phương pháp điều tra – khảo sát 6. Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động 7. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Tuy nhiên, nội dung giảng dạy bộ môn này chủ yếu tập trung vào những phương pháp nghiên cứu cụ thể và các kỹ năng để thực hiện hoạt động nghiên cứu mặc dù phần thực hành rất ít. Mục đích của học phần này trong thực tế là để giúp học viên thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp. Trong lúc đó, bộ môn này cần được xem như một môn công cụ, và cần được vận dụng thường xuyên trong thực tiễn làm việc sau này của người quản lý. Nhìn từ khía cạnh này sẽ thấy việc đào tạo PPNCKHGD hiện nay thiếu hẳn một phần rất quan trọng là phương pháp luận của NCKHGD.

Trước hết cần thay đổi quan niệm và nhận thức về ý nghĩa của bộ môn PPNCKHGD trong chương trình đào tạo cán bộ quản lý giáo dục. Chương trình này nhằm đào tạo ra không chỉ những người nghiên cứu chuyên nghiệp mà còn là những người thực thi nghề nghiệp quản lý giáo dục (practitioner). Do vậy, bộ môn PPNCKHGD không nên được xem là chỉ phục vụ cho những người chọn trở thành người nghiên cứu chuyên nghiệp, mà còn phục vụ cho công việc hàng ngày của người cán bộ quản lý giáo dục, như sẽ trình bày trong phần tiếp theo.

Xác định lại vai trò của NCKHGD trong thực tiễn quản lý giáo dục

Edward Vockell cho rằng nghiên cứu giáo dục là ứng dụng những phương pháp khoa học hay những hình thức khác của việc tìm tòi tri thức chuyên môn vào thực tiễn hoạt động giáo dục. Các nhà nghiên cứu giáo dục tìm kiếm mối quan hệ giữa những tham tố khác nhau trong giáo dục. Thông qua quan sát và kết luận về mối liên hệ giữa các tham tố đó, họ đề nghị những cách lựa chọn hiệu quả hơn cho các giáo viên, những người thiết kế chương trình, và những người quản lý lãnh đạo trong việc tác động vào thực tiễn giáo dục. Những công trình nghiên cứu có hiệu quả sẽ giúp nâng cao chất lượng của các quyết định về giáo dục.

Nghiên cứu giáo dục không chỉ là một khoa học trừu tượng. Nó là một công cụ hữu ích để giải quyết những vấn đề thực tế. Nó giúp các nhà giáo dục xác định những kết quả cần đạt, tạo ra các dự đoán, xây dựng những mối quan hệ nhân quả. Tất cả mọi quá trình ra quyết định trong giáo dục đều dựa trên các giả thiết nhân quả. Nhà quản lý ra quyết định thế này thay vì thế khác là vì có lý do để tin rằng quyết định như thế sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn. Nhiều khi những quyết định này dựa trên phong tục tập quán, dựa trên thẩm quyền, dựa trên định kiến hay một số nhân tố khác mà ít khi dựa trên khảo sát dữ liệu một cách có hệ thống. Những nhân tố như trực giác của người thầy và người thiết kế chương trình, những suy tư triết lý, và những giới hạn của luật pháp, tất cả đều có một vai trò chính đáng trong quá trình ra quyết định. Tuy vậy, nói một cách đơn giản, những quyết định dựa trên những kết luận và khái quát hóa sâu sắc thì nhiều khả năng là đúng đắn hơn so với những quyết định dựa trên các khái quát nhầm lẫn (Sđd).

Không chỉ các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp mới cần có kỹ năng nghiên cứu và thực thi việc nghiên cứu. Bằng cách vận dụng những chiến lược nghiên cứu giáo dục phù hợp, các thầy giáo và các nhà quản lý giáo dục có thể trở thành những người suy nghĩ sâu sắc hơn và được hưởng nhiều lợi ích hơn từ những kinh nghiệm cá nhân của họ. Luôn luôn xử sự trong công việc như một người quan sát có hệ thống và phần nào như một nhà nghiên cứu, tức luôn luôn tìm cách nắm bắt bản chất của vấn đề, mối liên hệ giữa các hiện tượng, tính xác đáng của các kết luận, là cách để chúng ta làm công việc của mình ngày càng có hiệu quả tốt hơn. Nói một cách vắn tắt, PPNCKHGD là công cụ giúp chúng ta tư duy tốt hơn về thực tiễn giáo dục.

Hơn thế nữa, sự hiểu biết về PPNCKHGD và sự quen thuộc với cách tư duy này sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá nhanh chóng và chính xác tầm quan trọng của các báo cáo kết quả nghiên cứu về giáo dục, cũng như có thể nắm bắt và diễn giải được ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu ấy, và tận dụng những lợi ích mà các bài viết, bản báo cáo ấy có thể mang lại.

Tất nhiên, kết quả có được từ nghiên cứu giáo dục không phải là căn cứ duy nhất để đưa ra quyết định, ở cấp nhà trường cũng như ở cấp chính sách. Có nhiều vấn đề cần được giải quyết bằng nhiều cách khác hơn là nghiên cứu. Ví dụ, có nên đưa chương trình giáo dục giới tính vào nhà trường hay không, là một quyết định phải được chủ yếu dựa trên triết lý giáo dục, khuôn khổ pháp lý hay những cân nhắc về mặt xã hội hơn là chỉ đơn thuần dựa trên những thông tin nghiên cứu. Tuy vậy, điều này không phủ nhận tầm quan trọng của NCKHGD trong thực tiễn giáo dục và quản lý giáo dục.

Đề xuất đổi mới việc đào tạo PPNCKHGD

Từ các phân tích trên chúng tôi cho rằng cần bổ sung vào chương trình hiện hành:

Phương pháp luận về NCKHGD

Hướng dẫn cách tìm kiếm tư liệu, giới thiệu các nguồn tư liệu trong nước và quốc tế và cách thức hệ thống hóa tư liệu

Kiến thức cơ bản về xử lý thống kê và một số phần mềm thông dụng (R hoặc SPSS)

Tăng cường thực hành

Xây dựng những nguồn tài nguyên trực tuyến về KHGD được sắp xếp một cách hệ thống.

Edward Vockell (2004) Educational Research. Nguồn:http://education.calumet.purdue.edu/vockell/research/

Phạm Thị Ly, Nguyễn Văn Tuấn (2012). Khoa học giáo dục Việt Nam qua phân tích ấn phẩm khoa học 1996-2010. Báo cáo tại Hội nghị Quốc tế Việt Nam học Lần thứ tư, 27- 11-2012.

D. Hien (2010). A comparative study of research capabilities of East Asian countries and implications for Vietnam. Higher Education. 2010;60:615-25.

The Impact of Educational Research: An Overview (2000). Higher Education Division Department of Education, Training and Youth Affairs, Australia. (Chương 1, trang 1-23: Biblio/Sciento/Infor-metrics:Terminological Issues and Early Historical Developments)

Ly Pham

What you see depends on where you stand (Albert Einstein).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghiên Cứu Trong Ngành Ngân Hàng: Người Làm Khoa Học Được Quyền Tự Do Sáng Tạo / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!