Đề Xuất 12/2022 # Người Tạo Sức Bật Trong Nghiên Cứu Thủy Sản Ở Đbscl / 2023 # Top 19 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Người Tạo Sức Bật Trong Nghiên Cứu Thủy Sản Ở Đbscl / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Người Tạo Sức Bật Trong Nghiên Cứu Thủy Sản Ở Đbscl / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PGS.TS Nguyễn Thanh Phương – Người tạo sức bật trong nghiên cứu thủy sản ở ĐBSCL

Đón đầu trong nghiên cứu khoa học

Mùa thu hoạch tôm càng xanh năm nay, sản lượng tôm liên tục tăng, 1 tấn/ha rồi 1,5 tấn/ha và lên đến đỉnh điểm khi Viện Lúa ĐBSCL thu hoạch được 2 tấn/ha. Những con số này khiến Phó Giáo sư Tiến sĩ (PGS TS) Nguyễn Thanh Phương, Trưởng Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ (KTS-ĐHCT) không khỏi nức lòng. Anh nhớ lại giai đoạn cùng các cộng sự của mình bắt tay vào nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh ứng dụng mô hình nước xanh cải tiến, anh chỉ dám kỳ vọng năng suất tôm đạt khoảng 700-800kg/ha. Thực tế, vấn đề sản xuất giống tôm càng xanh đã được nghiên cứu từ những năm 1976-1977 nhưng đến thập kỷ 90 vẫn chưa phát triển dù ở ĐBSCL, một số trại tôm giống đã đầu tư khá lớn.

Nhắc đến con tôm càng xanh, PGS TS Nguyễn Thanh Phương có thể nói say sưa, không mệt mỏi. Duyên cớ nào đã gắn anh với những nghiên cứu ấy? “Vào thời điểm những năm 1990, mọi vấn đề đối với thủy sản Việt Nam đều mới. Từ thực tế đời sống sản xuất của bà con, tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề cần ưu tiên giải quyết chứ không thể theo ý thích của mình”- anh nói. Điều này được minh chứng qua sự nghiệp nghiên cứu khoa học của anh. Năm 1992, khi học tại Viện Công nghệ châu Á (AIT) tại Thái Lan, anh Phương đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của nông dược lên tôm và cá” làm luận án thạc sĩ. Đó cũng là thời điểm tại Việt Nam, việc sử dụng thuốc trừ sâu trong mô hình nuôi trồng kết hợp, đang gây ảnh hưởng đến tôm, cá. Năm 1995-1998, anh thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài “Đánh giá hiện trạng nghề nuôi cá bè và nghiên cứu cải tiến thức ăn cho con cá ba-sa”. Giai đoạn này, nuoi cá bè là vấn đề thời sự, trong khi vấn đề dinh dưỡng chưa được nghiên cứu thấu đáo. Đề tài này đã khởi đầu cho sự phát triển lĩnh vực dinh dưỡng và thức ăn thủy sản, hiện nay là một trong những lĩnh vực mạnh của KTS-ĐHCT, đồng thời góp phần phát triển thức ăn viên công nghiệp, làm giảm giá thành và giảm ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản.

“Trong nghiên cứu khoa học, không phải chỉ biết “bắt” vào những vấn đề thời sự mà còn phải biết đón đầu. “Đón đầu”, nói thì dễ nhưng làm không phải dễ. Chúng tôi đang nghiên cứu về con ghẹ và cá biển, coi như “làm bỏ hộc bàn” chờ sẵn để khi con tôm không có “ăn” nữa thì mình có con khác thay ngay”- PGS TS Nguyễn Thanh Phương bộc bạch. Dẫn tôi vào Trại giống tôm của KTS, chỉ những bồn ươm tôm đang sục khí, anh Phương tâm đắc: “Đây là những bồn ươm giống tôm sú sạch bệnh. Tôi vừa làm việc với đoàn chuyên gia của Đức, họ có kỹ thuật lọc nước rất tốt, mình có kinh nghiệm ươm giống tôm, nếu kết hợp lại năng suất sẽ càng cao hơn. Lát nữa tôi sẽ dẫn các chuyên gia Đức vào trại tôm để họ có thể giúp mình giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nuôi tôm gây ra”. Anh Phương không khỏi lo lắng khi hiện nay, người dân nuôi tôm sử dụng quá nhiều thuốc. Anh cùng đồng nghiệp đề xuất các đề tài mới về lĩnh vực này như đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước hợp tác với Bỉ về các giải pháp cải thiện sự bền vững và an toàn trong nuôi tôm đã được lên kế hoạch và anh cùng các cộng sự sẽ bắt tay vào thực hiện trong năm 2005.

Đào tạo và tìm kiếm dự án

Năm 1986, kỹ sư Nguyễn Thanh Phương tốt nghiệp ngành Nuôi trồng Thủy sản tại Trường ĐHCT đạt loại giỏi và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại KTS. Sau gần 3 năm lăn lộn trên các đồng muối tại huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, tham gia vào nhóm nghiên cứu nuôi Artemia trên đồng muối. Ở Vĩnh Châu, ngoài giờ làm việc, anh Phương lao vào học ngoại ngữ. Những năm ấy, Vĩnh Châu chưa có điện, ở trạm nghiên cứu của anh có một quạt gió truyền điện xuống bình ắc-qui, tối nào, anh Phương cũng dành thời gian học và tranh thủ nói chuyện với chuyên gia để trau dồi thêm vốn liếng tiếng Anh ít ỏi của mình. Thế nhưng, năm 1991, khi sang AIT, Thái Lan, học thạc sĩ, ngoại ngữ vẫn là một trong những cản ngại lớn nhất của anh. Thêm vào đó, anh hoàn toàn “mù” tin học, không thể nào làm các bài tập trên máy vi tính như yêu cầu của giảng viên. “Tôi đến gặp giảng viên và thẳng thắn trình bày những khó khăn của mình. Lúc ấy, tôi quyết định phải dành thời gian cho phần học chuyên môn trước vì nếu không đạt điểm yêu cầu sẽ phải về nước. Tôi xin được làm bài bằng cách viết tay, và cố gắng viết chữ cho thật đẹp, thật dễ đọc”- anh Phương nhớ lại. Được chấp nhận, anh lao vào học chuyên môn. 3 tháng đầu, kết quả thi ổn, anh được nghỉ 1 tháng. “Dù được giảng viên chấp thuận cho “nợ” tin học, dù chữ viết của mình cũng khá dễ coi nhưng không thể chấp nhận mãi tình trạng “mù” tin học. Một tháng trời, trong khi mọi người đi chơi, đi tham quan, thì tôi chui vào phòng máy học miệt mài. Qua đợt ấy, trình độ tin học của tôi khá hơn, đã có thể tự làm bài tập trên máy vi tính và giúp các bạn mình nữa chứ!”- PGS TS Nguyễn Thanh Phương cười, kể. Chính ở AIT, anh được trang bị phương pháp luận nghiên cứu khoa học một cách căn cơ, bài bản để sau này có thể thích nghi ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu.

KTS-ĐHCT có 112 cán bộ nhưng trong biên chế Nhà nước trả lương chỉ khoảng trên 40 người, số còn lại KTS phải “nuôi” để phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu của khoa. Để chăm lo cho bộ máy như thế, với vai trò là Trưởng khoa, việc tìm kiếm các dự án, đề tài hợp tác đè nặng trên vai anh Phương. Trong đội ngũ cán bộ giảng viên của KTS, hiện có 10 tiến sĩ, 28 thạc sĩ. Trong 28 thạc sĩ, có 17 người đang và sắp học tiến sĩ. Anh Phương tự tin khẳng định: “Đến năm 2007, KTS sẽ có trên 20 tiến sĩ. Để có được một lực lượng như vậy, hiện nay, chúng tôi phải gồng gánh công việc lẫn nhau”. Đa số cán bộ của KTS là cán bộ trẻ và hầu hết có sự góp sức đào tạo, chăm bồi của anh. Từ năm 1989 đến nay, qua 15 khóa, số sinh viên do anh Phương hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp khoảng 40 người thuộc chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản và Nông học. Với bậc cao học ngành Nuôi trồng thủy sản, anh Phương đã hướng dẫn 6 học viên các khóa đầu tiên bảo vệ thành công luận án và đang tiếp tục hướng dẫn 3 học viên của các khóa tiếp theo. Anh cũng tham gia hướng dẫn phụ 3 nghiên cứu sinh đang theo học tại các trường đại học nước ngoài.

Dấu ấn của PGS TS Nguyễn Thanh Phương còn in đậm trong quá trình tham gia cải tiến chương trình đào tạo ngành nuôi trồng thủy sản từ 1996 đến nay. Và dấu ấn ấy còn thể hiện trong nhiều chương trình đào tạo mới của KTS, như chương trình đào tạo chuyên ngành Bệnh học thủy sản năm 2002, chương trình đào tạo chuyên ngành Quản lý nghề cá năm 2004.

***

Một ngày của PGS TS Nguyễn Thanh Phương: trực tiếp giảng dạy, đọc tài liệu, nghiên cứu, trao đổi email, thư từ, tiếp các đoàn khách quốc tế để tìm kiếm dự án, làm việc với các cộng sự để triển khai việc nghiên cứu các đề tài… và một khoảng riêng rất nhỏ: dành những phút giây rảnh rỗi hiếm hoi trong ngày để đưa đón con trai đi học, tâm sự với con, chăm sóc cho gia đình trong những ngày vợ anh đang làm luận án tiến sĩ tại Nhật.

Nguồn: chúng tôi 28/11/2004

Viện Nghiên Cứu Sức Khỏe Cộng Đồng / 2023

Viện nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng Institute for Community Health Research

Website: http://iccchr-hue.org.vn/

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

Viện nghiên cứu sức khỏe cộng đồng – Trường Đại học Y Dược Huế được thành lập trên cơ sở phát triển Trung tâm Nghiên cứu sức khỏe cộng đồng theo Quyết định số 56/QĐ-ĐHH 14-1-2014 của Giám đốc Đại học Huế.

Viện là kết quả của sự hợp tác giữa Trường Đại học Y Dược Huế, 5 Sở Y tế miền Trung-Tây nguyên, Việt Nam bao gồm TT. Huế; Đà Nẵng; Bình Định; Khánh Hoà; Đắk Lắk và Trường Đại học Công nghệ Queensland, Australia với sự hỗ trợ tài chính, nguồn lực và kỹ thuật từ Tổ chức Atlantic Philanthropies (Mỹ) và Đại học công nghệ Queensland (Australia).

Đến nay, Viện tự duy trì hoạt động và độc lập trong tự chủ tài chính dưới sự quản lý của Nhà trường.

II. TẦM NHÌN, SỨ MẠNG VÀ MỤC TIÊU 1. Tầm nhìn

Xây dựng Viện trở thành một trung tâm hàng đầu tại Việt Nam và các nước trong khu vực ở các lĩnh vực: nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng, hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật về nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh sự kết nối mạnh mẽ giữa trường đại học và cộng đồng.

2. Sứ mạng

Thực hiện các nghiên cứu hợp tác chất lượng cao, cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật và bằng chứng khoa học cho các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao sức khoẻ cộng đồng.

3. Mục tiêu

Thiết lập và phát triển mạng lưới hoạt động của Viện, lập kế hoạch dài hạn nhằm đảm bảo tính bền vững.

Nâng cao kỹ năng nghiên cứu và đánh giá cho cán bộ y tế trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cộng đồng ở các tỉnh can thiệp khu vực Miền Trung – Tây Nguyên.

Thực hiện các nghiên cứu hợp tác đa ngành và đẩy mạnh thực hành dựa vào bằng chứng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Mở rộng sự tiếp cận thông tin y tế.

Nâng cao chất lượng thủ tục xét duyệt đạo đức nghiên cứu.

III. CƠ CẤU TỔ CHỨC Cấu trúc Viện Ban Giám đốc Viện

– chúng tôi Võ Văn Thắng, Giám đốc

– GS. Michael Dunne, Đai học Công nghệ Queensland, đồng Giám đốc

– TS. Đoàn Vương Diễm Khánh, Phó Giám đốc

Nghiên cứu viên kiêm nhiệm

– chúng tôi Nguyễn Hoàng Lan, Giảng viên Khoa YTCC

– TS. Nguyễn Văn Hòa, Giảng viên Khoa YTCC

– TS. Nguyễn Văn Hùng, Giảng viên Khoa YTCC

– TS. Nguyễn Hoàng Thùy Linh, Giảng viên Khoa YTCC

– TS. Nguyễn Thanh Gia, Giảng viên Khoa YTCC

– TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Giảng viên Khoa YTCC

– ThS. Hoàng Thị Bạch Yến, Giảng viên Khoa YTCC

Trợ lý nghiên cứu và nhân viên hành chính

– ThS. Nguyễn Phúc Thành Nhân, Trợ lý nghiên cứu

– BS. Trương Quý Quốc Bảo, Trợ lý nghiên cứu

– BS. Trần Thảo Vi, Trợ lý nghiên cứu

– CN. Vũ Thị Cúc, Trợ lý nghiên cứu

– CN. Nguyễn Thị Thu Thủy, Thư ký

– CN. Nguyễn Thị Thảo, Kế toán

IV. HOẠT ĐỘNG

– Phát triển mạng lưới hợp tác hoạt động của Viện với các đối tác trong nước (đối tác chính bao gồm Sở Y tế các tỉnh/thành phố như Cần Thơ, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Đăk Lăk, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Bệnh viện Quận Thủ Đức) và các đối tác quốc tế như Trường Y, Đại học Công Nghệ Queensland, Úc; Viện Tôi phạm học, Đại học Cambridge, Vương Quốc Anh; Viện Y học Nhiệt đới Bernhard Nocht, CHLB Đức,…

– Tổ chức các hội thảo, khoá tập huấn kỹ thuật về lập kế hoạch chiến lược, thực hành dựa vào bằng chứng, phương pháp nghiên cứu khoa học, viết và xuất bản tạp chí quốc tế, đạo đức nghiên cứu,…

– Tổ chức hội thảo, tập huấn về “Ứng dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong xét duyệt /đánh giá đạo đức nghiên cứu” cho Hội đồng phản biện của Viện và đối tác tại các tỉnh.

– Công bố các kết quả nghiên cứu khoa học của Viện tại các hội nghị/tạp chí trong và ngoài nước.

– Tổ chức các diễn đàn sinh hoạt, Festival khoa học thường niên tại cộng đồng.

– Phát triển mạng lưới dịch vụ tư vấn và đánh giá các công trình/dự án nghiên cứu khoa học và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.

– Tư vấn kỹ thuật, đánh giá và hỗ trợ kinh phí cho các các dự án nghiên cứu trong và ngoài trường, dự án nghiên cứu tại 5 tỉnh can thiệp khu vực Miền Trung-Tây Nguyên.

– Tăng cường “Thực hành dựa vào bằng chứng” trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng (thông qua hỗ trợ cho các nghiên cứu về đánh giá các dịch vụ y tế…).

– Tham gia hỗ trợ công tác biên tập và phản biện nhằm nâng cao chất lượng tạp chí Y Dược học trường Đại học Y Dược Huế.

– Hỗ trợ mối liên kết giữa nghiên cứu viên tại các tỉnh với Trung tâm học liệu trường Đại học Y Dược Huế, bao gồm tập huấn kỹ thuật về kỹ năng tìm kiếm thông tin, tài liệu tham khảo…

– Xây dựng và thực hiện các dịch vụ đào tạo và tư vấn phân tích số liệu y học thông qua các hình thức hợp tác, ký kết hợp đồng với các đối tác trong và ngoài nước.

V. LIÊN HỆ Viện Nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng

Tầng 1 – Tòa nhà Khoa Y tế Công Cộng – Trường Đại học Y Dược Huế

Số 06 Ngô Quyền, Thành Phố Huế

Tel: (+84) 0234.3628.454

E-mail: ichr.hueump@gmail.com

Website: http://iccchr-hue.org.vn/

Tham dự hội nghị “Bằng Chứng Cho Cuộc Sống Tốt Đẹp Hơn” tại Cambridge, Vương Quốc Anh

Tổ chức Hội thảo triển khai hoạt động “Nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho sự phát triển của thế hệ tương lai” – Một nghiên cứu thuần tập tương lai tại thành phố Huế và 7 thành phố khác tại các nước có thu nhập trung bình để nâng cao hiểu biết về bạo lực đối với phụ nữ có thai và bạo lực đối với trẻ em

Viện Nghiên cứu Sức khỏe Cộng tổ chức Hội Nghị Khoa Học Trẻ Về Y Tế Công Cộng Lần Thứ 2 “Những Thách Thức Về Y Tế Công Cộng Trong Thế Kỷ 21”

Tham gia tư vấn đào tạo cho nghiên cứu sinh của dự án NSA tại Lào

Trao đổi sinh viên Đại học Công nghệ Queensland, Úc

Nghiên Cứu Hành Vi Người Tiêu Dùng Trong Marketing / 2023

+ Đề tài luận văn quản trị marketing

Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng trong marketing

1. Hành vi người tiêu dùng trong marketing là gì?

Mục đích quan trọng của nghiên cứu hành vi người tiêu dùng là hiểu rõ quá trình và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình quyết định mua của khách hàng.

Đó là các yếu tố sau:

Ai tham gia vào quá trình quyết định mua DV?

Quá trình quyết định mua chiếm bao nhiêu thời gian?

Những DV cạnh tranh nào mà khách hàng có thể chọn mua?

Tầm quan trọng tương đối do người quyết định mua gán cho mỗi yếu tố của DV được cung cấp?

Nguồn thông tin được dùng để đánh giá các DV cạnh tranh?

Khi khách hàng nhận biết nhu cầu (do các yếu tố bên trong và cả bên ngoài kích thích) và sự thôi thúc của nhu cầu đủ lớn, họ sẽ tìm kiếm thông tin về DV có thể đáp ứng nhu cầu đó. Tiếp đó là việc đánh giá các phương án thay thế khác nhau có thể đáp ứng nhu cầu. Quyết định mua là kết quả của sự tương tác giữa người quyết định cuối cũng và các yếu tố ảnh hưởng khác nhau.

Cuối cùng việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, sau khi mua và tiêu dùng, người tiêu dùng hình thành những cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá về DV đã mua. Điều này sẽ có ảnh hưởng đến các lần mua sau. Trong thực tế, quá trình quyết định mua DV có thể là một quá trình phức tạp lặp đi lặp lại, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và tiêu chuẩn quyết định khác nhau.

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ chỉnh sửa luận văn , Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

2. Nghiên cứu “nhóm ra quyết định”

Có rất ít các quyết định mua DV là do một người đơn độc thực hiện, đặc biệt là khách hàng tổ chức, doanh nghiệp. Thông thường, có những người khác trong công ty tham gia vào quá trình mua và có ảnh hưởng đến quyết định mua cuối cùng. Tất cả những người tham gia vào quyết định mua được gọi là “Nhóm ra quyết định”.

– Người ảnh hưởng: Là người hay nhóm người có ảnh hưởng đến quá trình quyết định mua. Có thể gọi đó là nhóm tham khảo khi quyết định mua. Đó là gia đình, bạn thân, hàng xóm, đồng nghiệp. Thứ hai là các tổ chức tôn giáo, hiệp hội, câu lạc bộ…).

– Người gác cổng: Là người chọn lọc các thông tin chào hàng đến với người quyết định mua. Đó là cô thư ký chặn các cuộc gọi của các đại diện bán hàng đến giám đốc. Trong nhiều tổ chức thật khó xác định ai là người gác cổng. Trong các tổ chức lớn, nhất là các tổ chức trong lĩnh vực công cộng việc mua hàng hoá DV phải theo thủ tục đấu thầu. Do vậy, nếu nhà cung cấp DV bị loại ra khỏi danh sách đấu thầu thì hết cơ hội bán.

– Người sử dụng một DV có thể không phải là người quyết định mua. Tuy nhiên, cũng cần biết ảnh hưởng của họ đến quyết định mua.

– Người ra quyết định mua là người (nhóm người) quyết định cuối cùng để mua (họ có thể không phải là người trực tiếp thực hiện việc mua mà giao phó cho người khác mua). Đối với nhiều DV cho hộ gia đình khó mà xác định ai trong gia đình là người ra quyết định. Điểu nay xem ra phụ thuộc vào nền văn hoá, vào vai trò kinh tế của các thành viên trong gia đình. Đối với các tổ chức cũng vậy, việc xác định ai là người quyết định mua hay có ảnh hưởng chính tới quyết định mua cũng là một vấn đề nan giải.

3. Nghiên cứu tập lựa chọn của khách hàng

Hầu hết các người mua DV không hành động hoàn toàn hợp lý. Muốn quyết định hợp lý họ phải xác định tất cả các nguồn cung cấp có thể và áp dụng tiêu chuẩn đánh giá lô gíc đối với mỗi lựa chọn có thể. Mặc dầu người mua là doanh nghiệp có thể hành động hợp lý hơn người mua cá nhân, tính hợp lý cũng không hoàn toàn được thực hiện.

Một công ty có thể ưa thích quan điểm đơn giản và không mạo hiểm để giữ nguyên nhà cung cấp DV quen thuộc, hơn là tìm kiếm xem xét tất cả các lựa chọn có thể một cách thường xuyên. Trên thực tế, lựa chọn được tiến hành trên một tập hợp có chọn lọc các khả năng. Tập hợp các lựa chọn này có thể được phân loại như sau theo tính lựa chọn của chúng:

Tập hợp gồm tất cả các DV có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Tập hợp bao gồm tất cả các DV mà người tiêu dùng biết được

Tập hợp các DV mà khách hàng xem xét mua trong tập hợp các DV quen biết

Tập hợp gồm một nhóm các DV mà từ đó có thể lựa chọn cuối cùng

Tập loại gồm các DV không chấp nhận được, không phù hợp…

Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng cũng cần tìm kiếm để xác định tập các DV mà khách hàng so sánh với khi cân nhắc quyết định. Trên cơ sở đó nhà cung cấp DV đưa ra các chính sách Marketing có tính cạnh tranh.

Khi doanh nghiệp dự định đưa ra thị trường DV mới, cần nghiên cứu để xác định các tiêu chuẩn mà khách hàng dùng để đưa một DV vào tập chọn của mình.

4. Mô hình hành vi người tiêu dùng trong marketing

Mô hình rất cơ bản về hành vi của người mua được mô tả trên Hình 2.4. cho ta một điểm xuất phát hữu ích và phạm vi khái niệm để phân tích quá trình mua. Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm cách xây dựng các mô hình giải thích các quyết định được thực hiện như thế nào trong các tình huống đặc biệt, từ đó dự đoán các hệ quả tương tự của các thay đổi chiến lược Marketing.

Ta xét mô hình được mô tả Hành vi người tiêu dùng. Đây là mô hình được sử dụng rộng rãi để phân tích quá trình quyết định mua của người tiêu dùng DV.

Đầu vào: Đây là những thông tin về các DV cạnh tranh có thể thoả mãn nhu cầu khách hàng.

Các yếu tố xác định hành vi: Các cá nhân thường có thiên hướng quyết định theo những cách riêng. Điều này chịu ảnh hưởng bởi nền văn hoá họ sống, gia đình và các yếu tố cá nhân.

Phản ứng chấp nhận: Thông tin đầu vào được chấp nhận và được giải thích khác nhau bởi các cá nhân khác nhau dựa trên các yếu tố cá nhân và kinh nghiệm các lần mua trước.

Các yếu tố quyết định quá trình: Phần này của mô hình tập trung vào cách thức mà một quyết định được thực hiện. Các yếu tố quyết định quan trọng bao gồm các động cơ thúc đẩy các cá nhân thoả mãn một nhu cầu riêng; kinh nghiệm quá khứ của cá nhân về DV đã sử dụng; và trọng số được gán cho mỗi yếu tố được dùng để đánh giá.

Các yếu tố cản trở: Một số các yếu tố có thể cản trở một cá nhân đi đến quyết định mua. Chẳng hạn như sự tiện lợi, giá cả, điều kiện cung cấp DV…

Đầu ra của quá trình quyết định: Đó là quyết định mua hay không mua, hay hoãn mua.

Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng trong marketing

5. Hành vi mua của cá nhân và của tổ chức

Đối với việc mua của một tổ chức, hai tập hợp nhu cầu cần được thoả mãn. Đó là các nhu cầu chính thức của tổ chức và các nhu cầu của các cá nhân tạo nên tổ chức đó. Các nhu cầu thứ nhất có thể xem như là hợp lý, trong khi các nhu cầu thứ hai lại phụ thuộc vào cá nhân và môi truờng (tương tự như nhu cầu của người mua cho tiêu dùng cá nhân).

Nhiều người tham gia vào quá trình mua của một tổ chức. Đặc biệt, đối với các DV có giá trị cao thì quyết định mua cần phải đánh giá và chấp thuận ở nhiều cấp quản lý trong tổ chức. Nghiên cứu cụ thể đối với một tổ chức nào đó hay một loại tổ chức nào đó sẽ cho biết đâu là cấp quyết định mua cuối cùng.

Quá trình mua của các tổ chức thường được thực hiện theo các thủ tục hình thức. Trong trường hợp đơn giản nhất, một người nào đó trong công ty được giao nhiệm vụ mua thường xuyên một DV. Trường hợp phức tạp nhất – đối với các DV có giá trị cao, việc mua được thực hiện qua đấu thầu công khai.

Một số lớn người tham gia vào quá trình mua của tổ chức làm cho quá trình mua mất nhiều thời gian, công sức hơn. Nghiên cứu khả thi chiếm nhiều thời gian hơn cũng do mong muốn giảm tối đa rủi ro, nâng cao tính khách quan trong quyết định mua.

Các yếu tố của DV mà khách hàng cho là quan trọng khi đánh giá DV thì sẽ khác nhau đối với các DV khác nhau. Đối với nhiều DV, các khách hàng cá nhân cho là giá cả rất quan trọng khi họ cân nhắc quyết định mua, nhưng những người mua là các khách hàng tổ chức lại chú trọng đến các yếu tố là độ tin cậy, và các yếu tố chất lượng khác.

Các tổ chức, doanh nghiệp thường có nhu cầu giảm tối đa sự rủi ro trong kinh doanh, trong công việc giao dịch của họ, muốn hợp tác với nhà cung cấp để giải quyết các vấn đề riêng. Do đó, họ chú trọng đến xây dựng mối quan hệ hợp tác tích cực với nhà cung cấp. Đây chính là điều thuận lợi cho nhà cung cấp DV để họ có các chính sách xây dựng mối quan.

Hệ tin tưởng, gắn bó lâu dài với khách hàng là các tổ chức (công ty, cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội…)

Chọn Mẫu Trong Nghiên Cứu / 2023

Quá trình tổ chức điều tra của một nghiên cứu khoa học thông thường được bao gồm 6 bước như sau:

Một là, xác định tổng thể chung (người nghiên cứu cần phải xác định rõ tổng thể chung vì nghiên cứu sẽ tiến hành chọn mẫu từ đó)

Hai là, xác định khung chọn mẫu (danh sách mẫu): Thông thường các khung chọn mẫu có sẵn và thường được sử dụng là: danh bạ hay niên giám điện thoại xếp theo tên cá nhân, doanh nghiệp hoặc cơ quan; danh bạ hay niên giám điện thoại xếp theo tên đường, quận huyện, thành phố; các danh sách liên lạc thư tín : bao gồm hội viên của câu lạc bộ, hiệp hội, độc giả mua báo của các toà soạn báo…; các khách mời đến dự các cuộc hội thảo hay giới thiệu sản phẩm mới.

Ba là, xác định phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu dựa vào mục đích hay tầm quan trọng của công trình nghiên cứu, thời gian tiến hành, kinh phí, kỹ năng của người nghiên cứu,… nhằm quyết định lựa chọn phương pháp chọn mẫu xác suất hay phi xác suất; sau đó tiếp tục chọn ra hình thức cụ thể của phương pháp này.

Bốn là, xác định quy mô mẫu: quá trình này thường dựa vào yêu cầu về độ chính xác, khung chọn mẫu đã có sẵn hay chưa, phương pháp thu thập dữ liệu, kinh phí cho phép của cuộc điều tra. Với mẫu xác suất thì sẽ có công thức riêng để tính cỡ mẫu cho phù hợp; đối với mẫu phi xác suất thì thường dựa vào kinh nghiệm và sự am hiểu về vấn đề nghiên cứu của người nghiên cứu để chọn cỡ mẫu cho phù hợp.

Năm là, xác định các chỉ thị để nhận diện được đơn vị mẫu trong thực tế: Đối với mẫu xác suất người viết phải xác định rõ cách thức chọn từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu nhằm đảm bảo mọi đơn vị đều có khả năng được chọn như nhau.

Sáu là, kiểm tra và đánh giá quá trình chọn mẫu: đây là khâu cuối cùng của quá trình điều tra, trong khâu này người viết thường kiểm tra dựa trên các mặt sau: Kiểm tra và đánh giá các đơn vị trong mẫu có đúng đối tượng nghiên cứu đã đề ra từ đầu hay là không? (vì thường các nghiên cứu hay mắc sai lầm ở khâu chọn đối tượng do thu thập thông tin ở nơi không thích hợp, ở những đối tượng không thích hợp, hay bỏ qua những thông tin của những người lẽ ra phải được phỏng vấn). Kiểm tra và đánh giá sự thành thật của người được phỏng vấn (quá trình hỏi càng lâu thì sự từ chối trả lời càng lớn). Kiểm tra và đánh giá tỷ lệ hoàn tất của đối tượng phỏng vấn (xem đã thu thập đủ số đơn vị cần thiết trên mẫu chưa) : khi phỏng vấn bằng thư đôi lúc thư bị trả lại do không có người nhận, khi phỏng vấn bằng điện thoại đôi khi không thể tiếp xúc được với đối tượng khảo sát vì không có mặt hay không có điện thoại.

Nếu có bất cứ thắc mắc gì, các bạn hãy liên hệ với chúng tôi qua:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Người Tạo Sức Bật Trong Nghiên Cứu Thủy Sản Ở Đbscl / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!