Đề Xuất 2/2023 # Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Giải Thể Và Phá Sản Doanh Nghiệp # Top 3 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Giải Thể Và Phá Sản Doanh Nghiệp # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Giải Thể Và Phá Sản Doanh Nghiệp mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giải thể và phá sản là hai khái niệm rất dễ khiến mọi người nhầm lẫn. Trên thực tế đây đều là phương thức chấm dứt sự tồn tại của một doanh nghiệp cả về mặt pháp lý lẫn thực tiễn, tuy nhiên xét về bản chất thì đây là hai thủ tục hoàn toàn khác nhau. Để làm rõ vấn đề này tôi xin đưa ra một số quan điểm như sau:

Trước hết, tôi xin đề cập đến khái niệm giải thể là việc một doanh nghiệp chấm dứt sự hoạt động và bị xóa tên trên hệ thống đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp sẽ bị đóng mã số thuế và không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh. Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ mà không có quyết định gia han.

Khác với giải thể doanh nghiệp, phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.Doanh nghiệp chỉ phá sản khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đến kỳ hạn trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến thời hạn thanh toán.

Xét về bản chất và hậu quả pháp lý thì giải thể và phá sản lại có cơ sở khác nhau:

STT Tiêu chí Giải thể Phá sản

1

Cơ sở pháp lý

Luật doanh nghiệp 2014

Luật phá sản 2014

2

Bản chất

Là thủ tục hành chính thực hiện tại cơ quan đăng lý kinh doanh do chủ sở hữu doanh nghiệp tiến hành, thời hạn giải quyết thủ tục ngắn và đơn giản hơn

Là một thủ tục tư pháp ( hay còn gọi là thủ tục đòi nợ đặc biệt) do Tòa án có thẩm quyền tiến hành thực hiện thủ tục theo quy định của luật phá sản, quyết định sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thời hạn giải quyết phá sản lâu và phức tạp hơn.

3

Nguyên nhân

– Do kết thúc thời gian hoạt động mà không được gia hạn;

– Công ty không có đủ số lượng thành viên tối thiểu trong thời hạn 6 tháng liên tục;

–  Bị thu hồi giấy phép kinh doanh ( Điều 201 Luật Doanh nghiệp)

– Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân; của tất cả các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiện hữu hạn; của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần.

– Do doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu

4

Thứ tự thanh toán tài sản

-Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động

– Nợ thuế;

– Các khoản nợ khác

-Chi phí phá sản;

– Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội,

– Bảo hiểm y tế, quyền lợi khác của người lao động

– Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

– Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước;

– Khoản nợ phải trả cho chủ nợ.

5

Người có quyền yêu cầu

– Chủ doanh nghiệp tư nhân;

– Hội đồng thành viên;

– Chủ sở hữu công ty;

– Đại hội đồng cổ đông;

– Tất cả các thành viên hợp danh.

– Chủ doanh nghiệp, chủ tịch hội đồng quản trị/ Hội đồng thành viên;

– Cổ đông/ nhóm cổ đông (từ 20% vốn liên tục trong 06 tháng);

– Công đoàn, người lao động;

– Chủ nợ;

– Người đại diện theo pháp luật;

– Thành viên hợp danh.

6

Trách nhiệm của chủ sở hữu

Chủ doanh nghiệp hay người quản lý sau đó không bị hạn chế quyền

Chủ doanh nghiệp hay người quản lý bị hạn chế quyền tự do kinh doanh, cấm kinh doanh trong thời hạn nhất định

7

Trình tự thực hiện

– Chủ doanh nghiệp nộp hồ sơ giải thể lên cơ quan đăng ký kinh doanh

– Kiểm kê tài sản

– Thanh lý tài sản

– Cơ quan đăng lý kinh doanh xóa thông tin đăng ký doanh nghiệp trên hệ thống

– Chủ thể có quyền gửi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tới Tòa án có thẩm quyền;

–  Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản;

– Kiểm kê tài sản;

–  Thanh lý tài sản;

– Tuyên bố phá sản/Thực hiện phương án phục hồi kinh doanh 

8

Hậu quả pháp lý

Bị xóa tên trên hệ thống đăng ký kinh doanh và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp tuyên bố phá sản vẫn có thể tiếp tục hoạt động nếu có người khác mua lại doanh nghiệp

Tư vấn viên : Phạm Kiều

6 Điểm Khác Nhau Giữa Giải Thể Và Phá Sản Doanh Nghiệp

Giải thể đối với mỗi loại doanh nghiệp là không đồng nhất và rộng hơn nhiều so với lý do phá sản doanh nghiệp; cụ thể: Theo quy định của pháp luật hiện hành, có rất nhiều lý do để giải thể một doanh nghiệp, như doanh nghiệp kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn; doanh nghiệp giải thể theo quyết định của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp,…

Trong khi đó, phá sản doanh nghiệp chỉ có một lý do duy nhất đó là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Hai là, tính chất của thủ tục giải thể và thủ tục phá sản doanh nghiệp:

Thủ tục giải thể doanh nghiệp là một thủ tục hành chính và được thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 còn thủ tục phá sản doanh nghiệp là một thủ tục tư pháp và được thực hiện thep quy định Luật Phá sản 2014.

Ba là, chủ thể quyết định việc giải thể và phá sản doanh nghiệp:

Đối với giải thể doanh nghiệp có thể chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định đối với trường hợp giải thể tự nguyện hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập doanh nghiệp quyết định đối với trường hợp giải thể bắt buộc.

Phá sản doanh nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đó là Tòa án.

Bốn là, điều kiện giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp:

Đối với giải thể doanh nghiệp thì điều kiện để doanh nghiệp được phép giải thể đó là khi doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp; các chủ nợ sẽ được thanh toán đầy đủ các khoản nợ theo thứ tự pháp luật quy định.

Đối với phá sản doanh nghiệp thì bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp không phải là điều kiện bắt buộc. Theo quy định của Luật Phá sản 2014, các chủ nợ sẽ được thanh toán các khoản nợ theo thứ tự luật định trên cơ sở số tài sản còn lại của doanh nghiệp, trừ trường hợp đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh. Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ; phần nợ còn thiếu thì các chủ nợ phải chịu rủi ro. Như vậy, doanh nghiệp bị phá sản có thể thanh toán hết hoặc không thanh toán hết các khoản nợ cho các chủ nợ.

Năm là, hậu quả pháp lý của việc giải thể và phá sản doanh nghiệp:

Giải thể doanh nghiệp dẫn đến chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp và doanh nghiệp bị xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp.

Phá sản doanh nghiệp không phải bao giờ cũng là chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, không phải trường hợp mở thủ tục phá sản nào cũng dẫn đến việc doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, phải chấm dứt hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp còn có thể có cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không nhất thiết sẽ dẫn tới việc mở thủ tục phá sản; ngay cả khi yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp còn tới thời gian 3 tháng có thể thương lượng với chủ nợ. Khi doanh nghiệp được tiếp tục hoạt động kinh doanh thì được coi là không còn lâm vào tình trạng phá sản nếu thủ tục phục hồi doanh nghiệp được thực hiện thành công.

Sáu là, thái độ của Nhà nước đối với người quản lý, điều hành doanh nghiệp:

Pháp luật hiện hành cho thấy đối với giải thể không đặt ra chế tài hạn chế quyền tự do kinh doanh của người quản lý, điều hành.

Nhưng đối với phá sản thì nhà nước có thể hạn chế quyền tự do kinh doanh đối với chủ sở hữu hay người quản lý điều hành, như: Điều 130 Luật Phá sản năm 2014 quy định trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản với lý do bất khả kháng, còn lại các trường hợp khác sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản; người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn Nhà nước…

Bạn có thể tham khảo các bài viết của chúng tôi về các trường hợp giải thể công ty: giải thể công ty cổ phần, giải thể công ty TNHH 2 thành viên trở lên, giải thể công ty TNHH 1 thành viên.

Giải Thể Và Phá Sản Có Gì Giống Và Khác Nhau???

Giải thể và phá sản là hai khái niệm dễ nhầm lẫn với nhau. Mặc dù đều là phương thức làm chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp nhưng giải thể và phá sản có tính chất rất khác nhau. Trên thực tế những người không chuyên hoặc không hiểu về luật thường sủ dụng hai khái niệm này một cách tùy tiện, bởi theo suy nghĩ thông thường thì chúng đều làm doanh nghiệp ngừng hoạt động, hay đơn giản là giải tán hết. Suy nghĩ như vậy mới chỉ đánh giá được một phần nhỏ của các hiện tượng này, việc ngừng hoạt động có thể cho ta thấy bằng mắt thường nhưng bao nhiêu vấn đề bên trong, đằng sau việc ngừng hoạt động của các doanh nghiệp đó thì không phải ai cũng hiểu hết. Đấy mới là vấn đề cần bàn đến. Muốn hiểu về một vấn đề, một hiện tượng chúng ta cần phải nắm được cả nội dung và hình thức chứ không chỉ dừng lại ở mặt hình thức bên ngoài. Vậy thì ngoài việc chấm dứt hoạt động ra thì giải thể và phá sản còn có những nội dung gì? Có điểm gì giống, điểm gì khác? Làm sao để phân biệt được? Vậy nên bài viết này sẽ đề cập đến những vấn đề xoay quanh sự giống và khác nhau giữa giải thể và phá sản, giúp chúng ta dễ dàng phân biệt được giải thể và phá sản.

Vấn đề 1: Sự giống nhau giữa giải thể và phá sản?

: Giải thể và phá sản về cơ bản đều là hai phương thức làm chấm dứt sự hoạt động của doanh nghiệp cả về mặt pháp lý lẫn thực tiễn.

Điều này hầu hết mọi người đều biết, khi doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản thì việc ngừng hoạt động là điều bắt buộc (trừ trường hợp sau khi tuyên bố phá sản có người mua doanh nghiệp). Nhưng cần lưu ý là phá sản khác với việc “lâm vào tình trạng phá sản”, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì chưa buộc phải dừng hoạt động bởi vì sau đó còn có một thủ tục gọi là “thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh”.

: Đều bị thu hồi con dấu và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.

Khi thành lập bất kì một doanh nghiệp nào, việc đầu tiên là đăng kí kinh doanh và làm dấu, đây có thể gọi như là thủ tục khai sinh. Nên khi doanh nghiệp giải thể, phá sản (tức là chấm dứt sự tồn tại) thì sẽ bị thu hồi lại con dấu và giấy đăng kí kinh doanh. Doanh nghiệp cũng như là một con người, việc xuất hiện và rút lui khỏi xã hội cũng đều phải có sự quản lý của nhà nước để đảm bảo một trật tự nhất định, tránh mất đi tính liên kết trong xã hội.

: Đều phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản (nhưng thực hiện đến đâu thì lại khác nhau)

Thứ hai: Về lý do phá sản hoặc giải thể.

Theo “Điều 3. Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” Luật phá sản 2004 thì lý do phá sản là do doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu

Theo “Điều 157. Các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp” luật doanh nghiệp hiện hành thì lý do giải thể rộng hơn phá sản, có 4 lý do dẫn đến giải thể doanh nghiệp là: do kết thúc thời gian hoạt động mà không được gia hạn; đối với công ty không có đủ số lượng thành viên tối thiểu trong thời hạn 6 tháng liên tục; do bị thu hồi giấy phép kinh doanh; theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân; của tất cả các thành viên hợp danh đối với; công ty hợp danh; của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiện hữu hạn; của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;

Thứ ba: Về thủ tục giải quyết

Như vậy, nhìn vào thủ tục giải quyết giải thể và phá sản phần nào giúp ta thấy được tính chất, mức độ khác nhau của hai hiện tượng này. Một bên là thủ tục hành chính (giải thể), một bên là thủ tục tư pháp (phá sản). Thủ tục tư pháp luôn phức tạp và có tính nghiêm trọng hơn so với thủ tục hành chính.

Giải thể có tính dứt khoát hơn so với phá sản, ít để lại hệ quả sau này.

Thứ năm: Về xử lý quan hệ tài sản:

Khi giải thể, chủ doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp trực tiếp thanh toán tài sản, giải quyết mối quan hệ nợ nần với các chủ nợ

Khi phá sản, việc thanh toán tài sản, phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp được thực hiên thông qua một cơ quan trung gian là tổ thanh toán tài sản khi có quyết định sau khi có quyết định tuyên bố phá sản.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì giải thể thì chắc chắn mọi chủ nợ đều được thanh toán đầy đủ nhưng phá sản thì không, việc phân chia tài sản còn lại rất phức tạp nếu như không có tổ thanh toán vì ai cũng muốn đòi được hết tiền, tài sản của mình mà tài sản của doanh nghiệp còn lại thì không thể đáp ứng được. Vì vậy quyền lợi của mỗi chủ nợ dễ bị xâm phạm và dễ gây ra tình trang không công bằng, gây mất trật tự, có thể dẫn đến vi phạm pháp luật. Vậy đối với phá sản cần có tổ thanh toán tài sản.

Thứ sáu: Về thái độ của nhà nước đối với chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc người quản lý doanh nghiệp:

Nhìn chung, giải thể và phá sản có nhiều điểm giống dễ nhìn thấy được. Nhưng về mặt bản chất thì hai khái niệm này khác nhau hoàn toàn. Muốn phân biệt được chúng cần dựa vào những mặt khác nhau như đã phân tích ở trên. Việc phá sản sẽ hạn chế quyền của các chủ sở hữu hay người quản lý doanh nghiệp trong thời gian 3 năm. Vì vậy các doanh nghiệp nên hiểu rõ về vấn đề này bởi nó còn có ảnh hưởng nhiều đến con đường kinh doanh tiếp theo. Khi kết thúc một con đường, việc chọn con đường khác là điều đương nhiên nhưng hãy kết thúc sao cho gọn nhẹ, hợp lý để nó không trở thành rào cản sau này. Trong kinh doanh tiếng tăm và chữ tín không thể mua được bằng tiền nhưng chúng lại làm ra rất nhiều tiền. Vậy các nhà kinh doanh hãy chọn cho mình con đường tốt nhất, có tầm nhìn xa chứ không nên dừng lại ở lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt.

Phân Biệt Giải Thể Doanh Nghiệp Và Phá Sản Doanh Nghiệp

Phân biệt giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp. Về lý do giải thể, thẩm quyền quyết định, thủ tục tiến hành và vấn đề khác.

Phân biệt giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp. Về lý do giải thể, thẩm quyền quyết định, thủ tục tiến hành và vấn đề khác.

Tuy cùng một hậu quả cuối cùng là đều dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, tuy nhiên đây là hai thủ tục pháp lí hoàn toàn khác nhau. Cụ thể là:

Thứ nhất, về lý do giải thể và phá sản doanh nghiệp

Lí do của giải thể rộng hơn rất nhiều của phá sản. Có nhiều lí do để giải thể một doanh nghiệp như doanh nghiệp đã hoàn thành mục đích thành lập, đã từng bị thua lỗ và không muốn kinh doanh nữa hoặc bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh…Trong khi với phá sản thì chỉ có một lí do duy nhất đó là doanh nghiệp, Hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn.

Giải thể là do chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu tự quyết định theo ý chí của mình hoặc do cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập quyêt định, Trong khi đó, với phá sản thì doanh nghiệp, Hợp tác xã bị Tòa án có thẩm quyền tuyên bố phá sản theo thủ tục luật định khi mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

Thứ ba, Thủ tục tiến hành: Giải thể là theo thủ tục hành chính còn thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp.

Giải thể đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động và bị xóa tên trong sổ đăng kí doanh nghiệp nhưng với phá sản thì không phải bao giờ cũng dẫn đến hậu quả như vậy. Doanh nghiệp tuyên bố phá sản còn co thể phục hồi hoạt động kinh doanh nếu thủ tục phục hồi doanh nghiệp được thực hiện thành công, như là nếu người nào đó mua lại toàn bộ doanh nghiệp, tiêp tục duy trì hoạt động kinh doanh. Như vậy là chỉ thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp chứ không chấm dứt hoạt động của nó.

Thứ năm, Về quyền của chủ doanh nghiệp sau khi bị giải thể hoặc phá sản

Chủ doanh nghiệp bị phá sản thì không được phép thành lập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định kể từ ngày tuyên bố phá sản. Trừ trường hợp phá sản do những trường hợp bất khả kháng, ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp; ví dụ: hỏa hoạn, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, bạo loạn, đình công, khủng hoảng kinh tế, chính sách pháp luật của nhà nước thay đổi hoặc nhà nước nơi doanh nghiệp hợp tác kinh doanh thay đổi chính sách của họ,… dẫn đến doanh nghiệp bị tổn thất nặng nề, không thể tiếp tục duy trì hoạt động và buộc tiến hành làm thủ tục phá sản. Còn trong trường hợp bị giải thể thì chủ doanh nghiệp vẫn có quyền thành lập và quản lí, điều hành doanh nghiệp khác. Như vậy, Nhà nước không đặt ra chế tài hạn chế quyền tự do kinh doanh của chủ doanh nghiệp bị giải thể

Thứ sáu, Nếu phá sản, chủ doanh nghiệp sẽ phải giao lại toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho tổ thanh toán tài sản để thanh toán theo căn cứ phân chia do Tòa án quyết định. Còn đối với giải thể doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Giải Thể Và Phá Sản Doanh Nghiệp trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!