Đề Xuất 12/2022 # Những Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử / 2023 # Top 14 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Những Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

tác giả:Nguyễn Lệ Nhung

Nguồn:http://hkhls.dongthap.gov.vn

Như chúng ta đã biết, những phương pháp để nghiên cứu lịch sử là:

1.Những phương pháp chung cho tất cả các khoa học xã hội thích ứng với đặc thù và nhiệm vụ của khoa học lịch sử;

    Những phương pháp riêng của nhận thức lịch sử;

    Những phương pháp lấy từ các khoa học khác, các khoa học phụ cận và đã trở thành phương pháp chung của các khoa học, chung của các ngành của một khoa học.

    Những phương pháp chung cho tất cả các khoa học xã hội thích ứng với đặc thù và nhiệm vụ của khoa học lịch sử

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích là hai phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu lịch sử nói chung và nghiên cứu lịch sử đảng nói riêng. Kết quả và chất lượng mỗi công trình nghiên cứu lịch sử phụ thuộc rất nhiều vào việc kết hợp chặt chẽ và vận dụng nhuần nhuyễn hai phương pháp này.

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích là sự vận dụng các phạm trù “lịch sử” và “lôgích” vào công tác nghiên cứu, coi đó là phương tiện để đạt mục đích nghiên cứu và đây là những phương pháp quan trọng của ngành sử học. Trước khi đi sâu vào việc vận dụng kết hợp hai phương pháp trên, chúng ta cần nắm được đặc trưng và tính độc lập tương đối của từng phương pháp.

    1.1.Phương pháp lịch sử

    Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch sử theo một trình tự liên tục và nhiều mặt, có lớp lang sau trước, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự vật xung quanh.

    Khi nghiên cứu bất cứ một hiện tượng xã hội nào như chế độ chính trị, chiến tranh, nghệ thuật lãnh đạo chỉ đạo cách mạng,… phương pháp lịch sử xem xét rất kỹ các điều kiện xuất hiện và hình thành ra chúng, làm rõ quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến hoàn thiện của các hiện tượng xã hội này. Đồng thời đặt quá trình phát triển của hiện tượng trong mối quan hệ nhiều hiện tượng tác động qua lại, thúc đẩy hoặc hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình vận động của chúng. Bằng phương pháp lịch sử, có thể cho phép chúng ta dựng lại bức tranh khoa học của các hiện tượng, các sự kiện lịch sử đã xảy ra. Vì thế, có thể nói rằng phương pháp lịch sử đã trở thành một mặt không thể tách rời của phương pháp biện chứng duy vật.

    Đặc trưng của phương pháp lịch sử là:

    1/ Tuân thủ nguyên tắc niên biểu, nghĩa là trình bày quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự vốn có của nó. Phương pháp lịch sử trình bày một sự vật, hiện tượng có đầu đuôi, có thời gian xuất hiện, hình thành và các bước vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng đó. Chỉ trên cơ sở tuân thủ theo nguyên tắc niên biểu mới thấy được tính liên tục trong vận động, phát triển của một hiện tượng cần nghiên cứu, và từ đó mới có thể rút ra được tính chất, đặc điểm, xu hướng và quy luật vận động của chúng.

    2/ Làm rõ sự phong phú, muôn hình muôn vẻ của sự vận động, phát triển của lịch sử – nghiên cứu lịch sử phải tỉ mỉ, công phu, phải xem xét các mặt biểu hiện của nó, không được đơn giản, càng không được cắt xén làm cho lịch sử trở nên đơn điệu, tẻ nhạt. Đúng như Lênin đã viết: “Lịch sử bao giờ cũng phong phú về nội dung, cũng đa dạng về nhiều mặt, cũng sinh động hơn điều mà chúng ta hình dung được” . Thí dụ như: Quy luật phổ biến của cách mạng Việt Nam là toàn dân vũ trang, cả nước đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Những biểu hiện của quyluật này trong thực tiễn lịch sử của hai cuộc kháng chiến lại rất phong phú đa dạng và hết sức sinh động, không giống nhau cả về hình thức và nội dung. Tính rộng khắp và sâu sắc của toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) đã có bước phát triển mới, cao hơn với hình thức phong phú, sáng tạo hơn thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Nếu không đầu tư công sức nghiên cứu tài liệu thực tiễn sẽ không làm sáng tỏ được bước phát triển mới của quy luật này.

    Tuy vậy, khi chúng ta trình bày các sự vật, hiện tượng lịch sử phải tránh sa vào liệt kê hiện tượng, sự kiện, dồn đống tư liệu mà không chú ý đến sự vận động “lôgích” của các sự kiện, hiện tượng để chỉ ra xu hướng vận động có tính quy luật của chúng. Cho nên, phản ánh sự phong phú, đa dạng của nội dung lịch sử không đồng nghĩa với tập hợp thật nhiều sự kiện vụn vặt, lắp ghép theo trình tự thời gian. Làm như vậy, không bao giờ có thể tạo ra được một bức tranh khoa học, phản ánh đúng lịch sử và quy luật vận động của nó.

    3/ Một đặc trưng nữa là phải bám sát và phản ánh đúng các bước phát triển quanh co, thậm chí thụt lùi tạm thời của lịch sử, bởi lẽ trong sự phát triển phong phú, muôn màu, muôn vẻ của xã hội loài người, không phải lịch sử tiến lên theo con đường bằng phẳng, mà các bước phát triển của lịch sử diễn ra có lúc nhanh, lúc chậm, lúc thuận, lúc nghịch, có khi quanh co hoặc thụt lùi. Tái hiện lịch sử phải trung thực, phản ánh đúng tiến trình vận động của nó, không được tùy tiện lược bỏ những khuyết điểm, hạn chế và những bước thụt lùi. Chỉ có được như vậy, việc nghiên cứu lịch sử mới thực sự rút ra được những bài học bổ ích.

    Phương pháp lịch sử giúp chúng ta có thể đi sâu tái dựng được cả không khí lịch sử, cả tâm lý và tình cảm của con người trong những sự vật, hiện tượng tiêu biểu. Như chúng ta đã biết, lịch sử diễn biến, phát triển thông qua các sự vật, hiện tượng lịch sử. Phương pháp lịch sử không phải chỉ là trình bày nhiều sự vật, hiện tượng mà phải biết lựa chọn, trình bày các sự vật, hiện tượng tiêu biểu, điển hình. Những sự vật, hiện tượng đó là những biểu hiện tập trung nhất phản ánh quy luật vận động của lịch sử. Thí dụ, trong vô vàn cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam thời kỳ 1958-1960 thì khởi nghĩa Trà Bồng (8/1959, đồng khởi Bến Tre 1/1960, Tua Hai-Tây Ninh 1/1960,… là những sự kiện tiêu biểu, điển hình hơn cả của phong trào cách mạng giai đoạn đó. Khi nghiên cứu các sự kiện quan trọng này, không những phải làm sáng tỏ điều kiện hình thành và diễn biến của sự kiện mà còn phải đi sâu tìm hiểu để làm rõ sắc thái riêng của từng sự kiện, mô tả được tâm lý, tình cảm của quần chúng nhân dân và cả không khí sôi động, hào hùng của cuộc đấu tranh cách mạng lúc bấy giờ. Một thí dụ nữa, trong cuộc đồng khởi Bến Tre, việc dựng lại không khí đấu tranh hừng hực vùng lên của quần chúng nhân dân,… là rất cần thiết, làm cho lịch sử sống lại, mang sức truyền cảm lớn lao. Xây dựng lại sự kiện sơ sài, giản đơn, thiếu con người và tình cảm của họ sẽ sa vào những phản ánh chung chung, làm giảm đi tính sinh động của bản thân lịch sử.

    4/ Vận dụng phương pháp lịch sử trong nghiên cứu cần chú ý nêu rõ địa điểm, thời gian xẩy ra sự vật, hiện tượng, con người đã tham gia vào sự kiện, hiện tượng đó, bởi vì các yếu tố này là những dấu ấn quan trọng của lịch sử. Nó đảm bảo tính khách quan và xác thực trong tái hiện lịch sử, nhất là khi trình bày các sự kiện tiêu biểu của các cuộc đồng khởi nêu trên, các hoạt động đánh dấu bước ngoặt của lịch sử hoặc cuộc tổng tiến công chiến lược làm chuyển biến cục diện cách mạng chẳng hạn. Đối tượng nghiên cứu của lịch sử rất phong phú đòi hỏi giới sử học phải nắm chắc phương pháp lịch sử để khai thác nó một cách triệt để và sâu sắc. Dĩ nhiên, phương pháp lịch sử, như trên đã trình bày, không chỉ là đơn thuần trình bày tiến trình phát triển của lịch sử bằng cách sưu tầm và liệt kê nhiều sự kiện, hiện tượng. Quan trọng hơn là phải đầu tư tìm hiểu, vạch ra được cái “lôgích” phát triển của các sự kiện, có nghĩa là tìm quy luật phát triển của lịch sử.

    Phương pháp lịch sử có ưu thế trong việc nghiên cứu lịch sử nhưng chỉ riêng phương pháp lịch sử thì chưa thể tạo nên một công trình nghiên cứu lịch sử có tính lý luận và khoa học. Bởi vậy, cần vận dụng có hiệu quả phương pháp lôgích và các phương pháp khác trong nghiên cứu lịch sử.

    1.2. Phương pháp lôgích

    Phương pháp lôgích là phương pháp xem xét, nghiên cứu các sự kiện lịch sử dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử. Khác với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgích không đi vào toàn bộ diễn biến, những bước quanh co, thụt lùi của lịch sử; nó bỏ qua những cái ngẫu nhiên có thể xảy ra trong lịch sử mà nắm lấy bước phát triển tất yếu, nắm lấy cái cốt lõi của sự phát triển, nghĩa là nắm lấy quy luật lịch sử. Như vậy, phương pháp lôgích cũng phản ánh quá trình lịch sử nhưng phản ánh dưới hình thức trìu tượng và khái quát bằng lý luận. Có nghĩa là, phương pháp lôgích trình bày các sự kiện một cách khái quát trong mối quan hệ đúng quy luật, loại bỏ các chi tiết không cơ bản. Đó là hình thức đặc biệt phản ánh quá trình lịch sử.

    Phương pháp lôgích theo Ăngghen, không phải là cái gì khác là phương pháp lịch sử, chỉ có điều là nó thoát khỏi những hình thức lịch sử và những ngẫu nhiên pha trộn. Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó. Và sự vận động tiếp tục thêm nữa của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trìu tượng và nhất quán về mặt lý luận. Nó là phản ánh đã được uốn nắn lại, nhưng uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử thực tế đã cung cấp, hơn nữa mỗi một nhân tố đều có thể xem xét ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình thái cổ điển của nó .

    Phương pháp lôgích sử dụng các luận điểm khoa học trong tư duy nhằm lý giải, khái quát, đánh giá và rút ra những kết luận từ các sự kiện lịch sử. Vận dụng phương pháp lôgích trong nghiên cứu lịch sử cần tuân thủ những yêu cầu sau:

    1/ Tránh máy móc và định kiến

    Cần chú ý trong nghiên cứu lịch sử, khi sử dụng các luận điểm khoa học phải coi đó chỉlà các phương tiện, công cụ của tư duy lôgích, chứ không phải cái có sẵn để định hình hco lịch sử theo ý muốn chủ quan của người nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu phải dùng các luận điểm đểphát hiện ra “lôgích” phát triển của lịch sử chứ không được đưa ra một cái khung lôgích phát triển rồi gán cho lịch sử. Trong các quy luật vận động của lịch sử có quy luật phổ biến và quy luật đặc thù (riêng). Chung ta nắm chắc quy luật phổ biến để xem xét các sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhưng lại phải đi sâu vào các sự kiện, hiện tượng lịch sử nhằm tìm ra quy luật đặc thù của chúng. Thí dụ: Nói đến chiến tranh nhân dân thì quy luật phổ biến của nó là đấu tranh toàn diện và đông đảo quân fhcúng tham gia. Nhưng chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vận động và phát triển trong điều kiện lịch sử của đất nước và con ngươì Việt Nam nên nó có những biểu hiện riêng, phát triển với những nét đặc thù riêng không giống như chiến tranh nhân dân ở các quốc gia, dân tộc khác.

    Nếu nghiên cứu lịch sử mà không làm rõ được những nét riêng đó thì khái quát lôgích chỉ dừng lại ở những biểu hiện của quy luật chung, không rút ra được điều gì bổ ích của chiến tranh nhân dân vô cùng phong phú, sáng tạo của dân tộc ta. Xét cho cùng thì làm rõ được tính phổ biến, cũng như tính đặc thù của lịch sử, có nghĩa là các nhà nghiên cứu đã khái quát đúng đắn được quy luật của lịch sử cụ thể, tránh được sự chủ quan và định kiến trong nghiên cứu.

    2/ Trên cơ sở những diễn biến của lịch sử thì khái quát lôgích mới có căn cứ. Tách rời diễn biến lịch sử, chỉ dùng khái quát lôgích thay thế cho phương pháp lịch sử thì thường dẫn đến những suy luận trìu tượng, nhận xét chung chung, thậm chí kết luận sai lệch nữa. Do vậy, người nghiên cứu cần chú ý tránh sự hời hợt trong nghiên cứu, phân tích các sự kiện, hiện tượng lịch sử rồi vội vã rút ra các kết luận nông cạn, thậm chí sai lệch, đồng thời cũng cần phải tránh sự khái quát thiếu hẳn các sự kiện, hiện tượng lịch sử làm cơ sở cho những điểm kết luận.

    Như vậy, có nghĩa là phương pháp lôgích là sự phân tích khoa học biện chứng của sự phát triển thực tế của sự vật, hiện tượng chứ không phải rút một khái niệm này từ một khái niệm khác một cách tư biện . Sự phù hợp giữa lôgích và lịch sử là một nguyên tắc phương pháp luận của lôgích biện chứng mácxít. Bởi lẽ muốn hiểu được bản chất, quy luật của sự vật thì phải hiểu sự phát sinh, phát triển của nó. Ngược lại, chỉ có nắm được bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng thì mới nhận thức được lịch sử của nó một cách đúng đắn.

    Dựng lại cái lôgích khách quan của sự phát triển của sự vật, hiện tượng là nhiệm vụ của phương pháp lôgích. Muốn vậy, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải bắt đầu từ hình thức phát triển tương đối hoàn thiện và chín muồi nhất của nó chứ không thể tùy tiện. Nếu lịch sử chính là bản thân cuộc sống thì lôgích là bản chất của cuộc sống do nghiên cứu lý luận chỉ ra.

    Không có sự khác nhau về nguyên tắc giữa lịch sử và lôgích. Vấn đề là ở chỗ sự kết hợp giữa chúng một cách nhuần nhuyễn trong nghiên cứu sao cho đối tượng được dựng nên với một diện mạo lịch sử trung thực, đúng như bản thân nó vốn có và trong đó nổi bật lôgích về sự vận động, sinh thành, phát triển của nó. Giải thích tính thống nhất giữa hai phương pháp, khi bàn về phương pháp lôgích, Ph. Ăngghen đã viết: “Về bản chất, phương pháp lôgích không phải là cái gì khác mà chính là phương pháp lịch sử đã được giải thoát khỏi hình thức lịch sử, không bị phụ thuộc vào cái hoàn cảnh ngẫu nhiên, pha trộn…” và phương pháp lôgích “hoàn toàn không nhất định đóng khung trong phạm vi trìu tượng thuần túy. Trái lại, nó đòi hỏi phải có sự minh họa lịch sử. Như vậy, có thể hiểu rằng, phương pháp lịch sử đã chứa đựng tính “lôgích” của sự phát triển lịch sử; còn phương pháp lôgích đã bao hàm phương pháp lịch sử. Hai phương pháp này kết hợp chặt chẽ với nhau, và trong bản thân phương pháp này đã có sự thâm nhập của phương pháp kia, không thể vận dụng từng phương pháp tách rời nhau.

    Tóm lại, xem xét từng phương pháp, ta thấy được các yêu cầu và tính độc lập tương đối của mỗi phương pháp nhưng cả hai phương pháp lịch sử và lôgích đều thống nhất ở mục tiêu là làm sáng tỏ quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử. Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử phải vận dụng được tính thống nhất trong sự khác biệt của chúng. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử có một ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Nó tránh cho ta mắc phải cách xem xét một chiều khi nghiên cứu lịch sử, ngăn ngừa chủ quan, máy móc. Nó cũng giúp ta tránh tình trạng ôm đồm, chỉ liệt kê tài liệu và ngăn ngừa cả kiểu lý luận suông không cần thiết.

      Những phương pháp riêng của nhận thức lịch sử

      2.1. Phương pháp phân tích so sánh

      Phương pháp này là sự hỗ trợ cần thiết làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgích. Đó là sự so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định chi phối chúng, cho phép nhìn rõ nét tương đồng và sự khác biệt, nhận rõ những cái riêng có cùng một cái chung bản chất hoặc những dấu hiệu phân biệt cái riêng này với cái riêng khác.

      Phương pháp phân tích so sánh cũng có thể dựa trên những cái mốc của sự kiện và thời gian của cùng một cái trục vận động lịch sử để tìm ra sự phát triển khác nhau của cùng một đối tượng, chỉnh thể trong những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau.

      2.2. Phương pháp lịch đại

      Trong số các phương pháp riêng để nhận thức lịch sử có phương pháp lịch đại. Phương pháp này cho phép nghiên cứu quá khứ lần theocác giai đoạn phát triển trước kia của nó. Dựa vào quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về sự thống nhất giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, dựa vào quan niệm biện chứng cho rằng trong một quá trình phát triển mỗi giai đoạn tiếp sau đều mang trong mình nó những đặc điểm và những yếu tố của giai đoạn trước. Quan niệm rằng, đối với mỗi hiện tượng cũng như đối với mỗi hệ thống đều chứa đựng những yếu tố của các giai đoạn trước và các giai đoạn tiếp sau, đã mở ra con đường, nhằm vạch ra khuynh hướng phát triển, cũng như hiểu rõ được những việc đã qua của nó. Một trong những cách hiểu quá khứ là dựa vào những mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng. Giới sử học có khả năng đánh giá hiện tượng quá khứ theo các kết quả và hậu quả mà nguyên nhân của chúng là hiện tượng đó, có nghĩa là nghiên cứu nó, theo cách nói của Lênin, “trong mối liên hệ với những kinh nghiệm lịch sử cụ thể” . Tuy nhiên, tác dụng của phương pháp lịch đại bị hạn chế khi nghiên cứu các hiện tượng xảy ra gần với ta và có ưu thế khi nghiên cứu các hiện tượng xa xôi.

      2.3. Phương pháp đồng đại

      Sự kết hợp lịch đại và đồng đại trong nghiên cứu sự phát triển của một đối tượng, của những đối tượng khác trở nên cần thiết một cách khách quan. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nghiên cứu quá trình hình thành tư tưởng, chuyển đổi thế giới quan của một nhân vật lịch sử, hoặc những cống hiến khác nhau của những nhân vật lịch sử khác nhau trong cùng một thời đại cũng như trong những thời đại lịch sử khác nhau.

      2.4. Phương pháp phân kỳ

      Phương pháp này cho phép giới sử học nghiên cứu sâu sắc các quá trình lịch sử, làm sáng tỏ nội dung và đặc điểm của các giai đoạn phát triển của chúng, ghi lại các thời kỳ biến đổi về chất của chúng, mà tính chất của sự biến đổi đó thể hiện trong các khuynh hướng và các quy luậtls chủ yếu của chúng. Cho nên, phương pháp phân kỳ phải được coi làmột trong các phương pháp chủ yếu, riêng biệt của việc nhận thức lịch sử.Không được lẫn lộn phương pháp này với phương pháp nhận thức lịch sử có tính chất khoa học phổ cập, là phương pháp nghiên cứu quá trình phát triển theo thời gian. Vấn đề là ở chỗ, phương pháp phân kỳ là phương pháp riêng của khoa học lịch sử, là phương tiện nghiên cứu sâu sắc các sự kiện lịch sử, và là phương pháp vạch rõ được nội dung khách quan của chúgn, nhưng không phải chỉ theo thời gian của các sự kiện, hiện tượng, mà còn căn cứ vào cả cái điển hình của các sự kiện, khi áp dụng phương pháp lịch sử trong các khoa học khác.

        Những phương pháp lấy từ các khoa học khác, các khoa học phụ cận và đã trở thành phương pháp chung của các khoa học, chung của các ngành của một khoa học

        Khoa học lịch sử nói chung, khoa học lịch sử đảng nói riêng, sử dụng các phương pháp có tính chất chung của các môn khoa học phụ cận. Việc vay mượn các phương pháp (và để có thể vay mượn được là vì có sự đồng nhất về cơ sở triết học – phương pháp luận của các môn khoa học) là một hiện tượng phổ biến và rất có kết quả trong trong trình độ phát triển của khoa học hiện nay. Mặt khác, không phải chỉ có khoa học lịch sử sử dụng những phương pháp của khoa học khác, mà những khoa học khác cũng sử dụng những phương pháp đặc thù của khoa học lịch sử khi nó phải giải quyết những nhiệm vụ về nhận thức lịch sử.

        3.1. Phương pháp thống kê

        Trong các phương pháp của các môn phụ cận, trước hết ta phải chú ý nhiều đến phương pháp thống kê. Phương pháp này cho phép thông qua tất cả các bản thống kê về số lượng, (được nghiên cứu nhờ sự giúp đỡ của các thủ thuật và các hệ phương pháp riêng) vạch ra tính quy định thuộc về tính chất của các hiện tượng và quá trình lịch sử. Không phải ai khác, mà chính Lênin đã chỉ ra là có thể áp dụng rộng rãi phương pháp này, một phương pháp ra đời trong ngành thống kê – kinh tế để nghiên cứu các hiện tượng xã hội.

        3.2. Phương pháp nghiên cứu xã hội cụ thể

        Cùng với phương pháp thống kê, ta phải kể đến phương pháp nghiên cứu xã hội cụ thể. Phương pháp này buộc nhà sử học phải theo dõi trực tiếp các hiện tượng và quá trình của đời sống xã hội nhờ các phương pháp riêng. Phương pháp này được sử dụng trước hết trong xã hội học, theo bản chất của nó, hoàn toàn có thể áp dụng vào việc nghiên cứu lịch sử, bởi lẽ nó cho phép nghiên cứu sự tác động của các quy luật chung trong hình thức lịch sử cụ thể mà chúng xuất hiện. Trong công tác nghiên cứu lịch sử đảng, phương pháp này không phải chỉ là phương tiện có hiệu lực làm cho việc nghiên cứu trở nên hợp thời, mà nó còn cho phép bổ sung về cơ bản những chỗ thiếu hổng trong tư liệu, đặc biệt khi viết về hoạt động của Đảng trong điều kiện hiện nay.

        Thay lời kết luận

        Tuy nhiên, trong nghiên cứu lịch sử đảng, một số phương pháp được coi trọng, còn một số đóng vai trò thứ yếu, hoặc chỉ có một vài khía cạnh nào đó của phương pháp nghiên cứu riêng biệt là có ý nghĩa. Nhà sử học có thể chọn cho mình những phương pháp thích hợp trong nghiên cứu nhưng dù phương pháp nào thì việc ứng dụng nó cũng phải được hỗ trợ bởi các nguồn sử liệu. Phương pháp nghiên cứu luôn tìm được chỗ dựa trong các nguồn này. Đến lượt mình, tính chất của các nguồn sử liệu lại làm sáng tỏ con đường và nhiệm vụ nghiên cứu. Việc lựa chọn sử liệu điển hình và xem xét quan hệ giữa các loại tài liệu với nhau và với sự kiện, hiện tượng lịch sử được nghiên cứu là điều tuyệt đối cần thiết để đảm bảo cho việc nghiên cứu không bị sa vào những chi tiết không cần thiết nhưng cũng không quên đi những khía cạnh sâu sắc, có tính bản chất của vấn đề. Nói cách khác, điều này sẽ giúp cho nhận thức lịch sử có được khả năng trở nên toàn diện và chính xác.

        Tài liệu tham khảo

        Bàn về mấy vấn đề phương pháp luận của khoa học lịch sử đảng. In trong T/c Những vấn đề lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô, số 7/1976. (Bản dịch của UBKHXHVN)

        Những vấn đề phương pháp luận của khoa học lịch sử đảng. In trong T/c Những vấn đề lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô, số 4/1976. (Bản dịch của UBKHXHVN)

        Văn Tạo – Phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Viện Sử học Việt Nam xuất bản, 1995.

        Hà Văn Tấn: Mấy suy nghĩ về phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 1967, số 96.

        Về phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. H., 1999.

        Phương Pháp Đồng Đại Và Phương Pháp Lịch Đại Trong Nghiên Cứu, Biên Soạn Lịch Sử Đảng / 2023

        (TGAG)- Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng không chỉ dựng lại những quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng; phong trào cách mạng của quần chúng nhằm thực hiện quan điểm, đường lối đó mà còn phải tìm ra mối liên hệ giữa các sự kiện, giữa các phong trào cách mạng để từ đó lý giải tìm ra quy luật, bản chất và sự vận động, phát triển của các sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử. Để đạt được yêu cầu đó, trong quá trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đòi hỏi người viết phải vận dụng phương pháp đồng đại và phương pháp lịch đại.

        Phương pháp đồng đại (còn gọi là phương pháp so sánh lịch sử theo không gian hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường ngang”) là phương pháp nghiên cứu, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra trong cùng một giai đoạn nhưng ở những không gian khác nhau, từ đó cho thấy sự giống, khác nhau, làm rõ mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng. Qua đó, người nghiên cứu nắm bắt được cái riêng, cái chung, thấy được tính đặc thù, phổ biến, hệ thống của sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử cụ thể.

        Vận dụng phương pháp đồng đại trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, người viết phải bao quát bối cảnh lịch sử về tình hình thế giới, trong nước, trong tỉnh, địa phương. Đồng thời, trong nghiên cứu, biên soạn phải so sánh quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng bộ, phong trào cách mạng của quần chúng với các Đảng bộ, địa phương lân cận và Đảng bộ cấp trên, giúp người viết thấy được sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của các Đảng bộ khi thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.

        Phương pháp lịch đại (còn gọi là phương pháp so sánh lịch sử theo thời gian hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường thẳng”). Phương pháp này xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự phát triển (là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển). Phương pháp lịch đại đòi hỏi người viết khi nghiên cứu, biên soạn các sự kiện, hiện tượng lịch sử cần phải xem xét, so sánh với các giai đoạn phát triển trước kia của nó, đồng thời có thể dự báo khuynh hướng phát triển của các sự vật, hiện tượng. Bởi vì mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử trong giai đoạn sau luôn mang trong mình nó những đặc điểm và yếu tố của giai đoạn trước và ngược lại giai đoạn trước sẽ tạo tiền đề, định hướng cho sự phát triển của giai đoạn sau. Phương pháp lịch đại giúp cho chúng ta thấy được sự vận động, phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.

        Để tiến hành xem xét, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử ở thời gian hoặc giai đoạn lịch sử khác nhau, yêu cầu người nghiên cứu, biên soạn phải nghiên cứu riêng sự tiến triển và đặc điểm của mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử, sau đó mới so sánh để rút ra bản chất, quy luật chi phối và những bài học kinh nghiệm.

        Phương pháp đồng đại và phương pháp lịch đại được gọi chung là phương pháp so sánh lịch sử. Cả hai phương pháp đều có ưu điểm riêng. Vận dụng phương pháp đồng đại giúp chúng ta bao quát toàn vẹn các mặt hoạt động của Đảng bộ trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Vận dụng phương pháp lịch đại, giúp chúng ta nắm được quá trình vận động, phát triển của Đảng bộ. Vì vậy, việc kết hợp hai phương pháp này trong quá trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng nhằm hỗ trợ, bổ sung cho nhau góp phần tái hiện bức tranh sinh động về không gian và thời gian của lịch sử Đảng bộ.

        Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Tiểu Sử / 2023

        Nằm kế cận và có phần nào cùng loại với các phương pháp xã hội học sáng tác là phương pháp tìm hiểu và nghiên cứu tiểu sử nhà văn để hiểu và lý giải tác phẩm văn học, được gọi ngắn gọn là phương pháp tiểu sử. Tuy nhiên, trong khi các phương pháp xã hội học sáng tác nghiên cứu nhà văn chủ yếu từ góc độ xã hội và trên bình diện xã hội, chẳng hạn như chúng tập trung chú ý đến thành phần xã hội, nghề nghiệp, nơi sinh, môi trường sinh sống và làm việc,… của nhà văn, thì phương pháp tiểu sử lại quan tâm cả cuộc sống và những mối quan hệ riêng tư của nhà văn.

        Đến năm 1753, nhà tự nhiên học người Pháp là bá tước Buffon [Georges Louis Leclerc] đã có một câu nói nổi tiếng: “Phong cách chính là con người” [Le style c’est I’homme même]. Câu nói này đã trở thành ngạn ngữ và không loại trừ khả năng là nó đã trở thành một động cơ kích thích việc tìm hiểu con người tác giả thông qua tác phẩm văn học của anh ta và ngược lại.

        Đến năm 1791, cuốn sách Cuộc đời của Samuel Johnson (Nhà văn Anh thế kỉ XVIII) của James Boswell, được coi là tác phẩm đưa Boswell trở thành người viết tiểu sử văn học hiện đại lớn nhất, mở đầu cho thời hoàng kim của thể tài tiểu sử văn học. Chính nhà văn S.Johnson cũng đã phát biểu một câu nói nổi tiếng để cổ vũ cho thể tài này: “Thể văn tiểu sử trong văn học là cái mà tôi yêu thích nhất”.

        Sang thế kỉ XIX, nhiều công trình tiểu sử văn học đã xuất hiện với dung lượng lớn. Đặc biệt chúng ta phải kể đến công trình Biographia Literaria (Biographical Sketches of My Literary Life and Opinions) [Tiểu sử văn học, những phác hoạ tiểu sử về cuộc đời và quan niệm văn học của tôi] của nhà thơ lãng mạn Anh Samuel Taylor Coleridge (2 tập, 1817). Trong cuốn sách này, nhà thơ đã kể về quan hệ bạn bè của mình với các nhà thơ cũng thời khác; về sự ảnh hưởng của các nhà triết học Đức đến sáng tác của ông; về quan niệm của ông đối với quá trình sáng tạo của một nhà thơ đối với những nguồn gốc lịch sử của các thành tố trong thơ. Biographia Literaria được coi là công trình phê bình văn học quan trọng nhất của giai đoạn văn học lãng mạn Anh, nó kết hợp triết học với phê bình văn học theo một cách mới và đã có ảnh hưởng lâu dài đến lịch sử văn học Anh và văn học thế giới. Và đây cũng có thể được coi là một trong những tác phẩm tiêu biểu đầu tiên về phương pháp phê bình tiểu sử (tất nhiên ở đây còn có cả bóng dáng của phương pháp khác nữa, trong đó có phương pháp xã hội học). Ngoài công trình này ra, chúng ta phải kể tới những công trình tiểu sử có dung lượng đồ sộ như công trình Cuộc đời của Huân tước Walter Scott (7 tập, 1837-1838) của John Gibson Lockhart. Trong khi đó ở Pháp có một nhà phê bình cũng quan tâm đặc biệt đến cuộc đời của nhà văn trong bối cảnh lịch sử – xã hội khi ông phê bình tác phẩm của họ, đó là Sainte Beuve (Charles Augustin, 1804-1869). Từ năm 1832 đến 1839, ông đã cho xuất bản tập tiểu luận phê bình mang tên Phê bình và chân dung văn học, trong đó, giống như nhà thơ Anh Samuel Taylor Coleridge, ông cũng khẳng định phương pháp tiểu sử – xã hội học của mình. Những công trình như vậy đã góp phần khẳng định thể tài tiểu sử văn học và phê bình tiểu sử, làm cho nó trở thành một thể tài được coi là “một ngành nghệ thuật tinh tế nhất và nhân văn nhất trong số các ngành nghệ thuật ngôn từ”, như lời của nhà văn viết tiểu sử văn học nổi tiếng người anh đầu tiên thế kỷ XX Lytton Strachey đã phát biểu.

        Đến thế kỷ XX, nhà tâm phân học Sigmund Freud cùng nhiều nhà khoa học khác lại chủ trương nghiên cứu tác phẩm văn học để tìm hiểu tiểu sử tác giả. Và chính trong thời kỳ này đã bắt đầu xuất hiện sự đa dạng hoá các loại tiểu sử văn học; và phương pháp nghiên cứu – phê bình văn học bằng tiểu sử bắt đầu được triển khai mạnh. Nguyên tắc của phương pháp tiểu sử là dùng các yếu tố tiểu sử của nhà văn để lý giải tác phẩm văn học của nhà văn đó. Trong tinh thần ấy, các tác phẩm thuộc thể tài tiểu sử văn học như trên sẽ là một nguồn tư liệu phong phú giúp cho nhà nghiên cứu thực hiện thành công phương pháp này. Chính vì vậy mà thể tài tiểu sử văn học và phương pháp tiểu sử trong nghiên cứu văn học vẫn có chỗ đứng xứng đáng của chúng trong đời sống văn học hiện nay. Và phần viết về tiểu sử nhà văn trong văn học sử là rất cần thiết và bổ ích cho phương pháp tiểu sử. Chỉ có điều, phần viết này phải tuân theo các nguyên tắc tuyệt đối khách quan, trung thực, không gò ép và không được xuất phát từ định kiến.

        Về mặt nguyên tắc, các yếu tối tiểu sử của nhà văn hoàn toàn có thể có mối liên hệ với tác phẩm của anh ta. Những mối liên hệ này có thể mang tính trực tiếp hoặc gián tiếp. Những mối liên hệ trực tiếp thường có các dấu tích thực chứng dễ phát hiện, nhưng còn các mối liên hệ gián tiếp thì chúng diễn ra ở mức trừu tượng hơn và phức tạp hơn. Nếu chúng ta không có óc phân tích logic thì khó có thể phát hiện được chúng và rất dễ đi đến chỗ áp đặt suy luận một cách khiên cưỡng, đi đến chỗ gán ghép sai một kết quả này cho một nguyên nhân khác.

        Theo tôi, điều quan trọng trước hết trong phương pháp tiểu sử là ta phải xác định được các mối quan hệ về loại hình hoặc quan hệ về hệ thống giữa các yếu tố tiểu sử của nhà văn với các yếu tố của tác phẩm. Tức là phải xếp loại quan hệ cho các yếu tố tương ứng của hai thực thể này. Những yếu tố nào của tiểu sử được đem ra để lý giải cho những yếu tố của tác phẩm thì chúng phải có quan hệ loại hình hoặc quan hệ nhân quả với các yếu tố đó; một yếu tố của tác phẩm không thể được lý giải bằng bất cứ yếu tố nào của tiểu sử. Ví dụ ta không thể dùng tư cách công dân của một nhà văn để lý giải cho sự thành công của tác phẩm của anh ta; cũng như không thể gán ghép một cách võ đoán, thì với cùng một yếu tố tiểu sử, người ta hoàn toàn có thể gán cho nó cả sự thành công lẫn thất bại của một con người. Vấn đề là phải chứng minh được giữa hai yếu tố đó còn có các điều kiện trung gian nào khác nữa. Đấy mới chính là cách làm hợp logic của phương pháp tiểu sử.

        Thứ hai, các yếu tố của tác phẩm không nhất thiết phải có đầy đủ các yếu tố đối ứng của chúng trong tiểu sử nhà văn. Do đó, không phải tất cả các yếu tố của tác phẩm đều có thể lý giải được bằng tiểu sử nhà văn. Ví dụ, một tác phẩm giãi bày tình cảm nội tâm sẽ dễ có khả năng có mối quan hệ trực tiếp với tiểu sử tác giả hơn so với một tác phẩm tả thực. Mặt khác, đối với những mối quan hệ gián tiếp giữa hai thực thể đó, thì việc xác định dấu ấn của tiểu sử trong tác phẩm sẽ chỉ là một việc phỏng đoán và cần phải được kiểm nghiệm thêm bằng các phương pháp khác.

        Tóm lại, phương pháp tiểu sử hoàn toàn có thể có ích cho nghiên cứu văn học trong một số trường hợp và với một mức độ nhất định. Và trên thực tế hiện nay phương pháp này đang được nhiều người sử dụng, đặc biệt là trong nghiên cứu văn học sử, hay trong các tập tiểu luận phê bình thuộc loại hình “chân dung văn học”.

        Ở nước ta, trước đây cũng đã có nhiều người áp dụng phần nào phương pháp tiểu sử. Ngay từ năm 1928, trong công trình Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ (xuất bản tại Hà Nội), ông Lê Thước đã sử dụng các sự kiện lịch sử có pha nhiều giai thoại về tiểu sử của Nguyễn Công Trứ để giải thích nghiệp chính trị, nghiệp võ và nghiệp văn của vị danh nhân này. Ví dụ ông Lê Thước kể:

        “Một hôm cụ đi học đường xa, bà thân mẫu cấp cho một quan tiền để làm lộ phí. Lúc đi qua một cánh đồng, thấy lũ trẻ đang đánh dồi, cụ thấy vui cũng ghé vào đánh, chẳng mấy chốc đã thua sạch cả tiền; bèn đứng dậy ra đi, nhân vịnh bài thơ có câu rằng:

        Tưởng làm đôi chữ cho vui vậy Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa?

        Câu thơ ấy tuy tả cái cảnh đánh chơi mà thua thực, nhưng cái sự nghiệp khanh tướng về sau này đã phát lộ ra nơi cái khẩu khí của cậu học sinh du học”.

        Sở dĩ phương pháp tiểu sử được các nhà nghiên cứu Việt Nam nói riêng và các nhà nghiên cứu phương Đông nói chung ưa dùng đầu tiên là vì ban đầu, người ta nhìn nhận và đánh giá sự nghiệp của con người bằng chính bản thân con người chứ ít khi tách bạch con người với thành quả của anh ta. Theo quan niệm Nho giáo về “thu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, thì mọi chuyện đều có thể giải thích bằng cái gốc “tu thân”. Chính vì vậy mà việc phương pháp tiểu sử là một phương pháp được sử dụng đầu tiên cũng là điều dễ hiểu.

        Tiếp đó có khá nhiều tác giả sử dụng phương pháp tiểu sử để khảo cứu và phê bình về một nhà văn, nhà thơ riêng biệt. Ví dụ như Hoa Bằng khi nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương, Trần Thanh Mại khi nghiên cứu Tú Xương và Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bách Khoa khi nghiên cứu về Nguyễn Du, thì họ đều quan tâm đến tiểu sử tác giả, đến thời đại và hoàn cảnh xã hội trong đó tác giả sinh sống. Trong số những người này, Trần Thanh Mại có thể là một trong số những người đầu tiên áp dụng phương pháp tiểu sử một cách rất triệt để và tự giác.

        Chẳng hạn khi nghiên cứu về Hàn Mặc Tử trong công trình Hà Mặc Tử, thân thế và thi văn (Nxb, Huế – Võ Doãn Mại, 1941), Trần Thanh Mại (1911-1965) đã tuyên bố về cái phương pháp mà ông cho là “mới” của mình ở lời Tựa như sau:

        “Với những phương pháp mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam, tôi đã phân tích ra từng cử chỉ, từng tính tình của nhà thi sĩ, từng gia đoạn trong đời người. Những cái ấy, mà bề ngoài tưởng như vô bổ ích, và chỉ để kéo cho dài dòng, tựu trung đều ăn nhịp với nhau như những vòng của một sợi dây chuyền để mà ảnh hưởng đến cái đích của người viết sách muốn đi tới: cắt nghĩa thi phẩm của nhà thơ [tôi nhấn mạnh – Nguyễn Văn Dân].

        Không rõ thấu hết những cái vặt vãnh thắc mắc trong đời sống nhà thi sĩ thì không sao hiểu hết được thơ của người ấy […].

        Khảo cứu về đời thi sĩ Hàn Mặc Tử, tôi phải xét rõ các thời đại chàng đã sống qua. Tôi phải viếng các xứ chàng đã ở, và sau cùng, tôi phải hỏi tất cả các người có liên lạc đến đời chàng. Và tôi nhận ra rằng học giả Tây phương tựu trung cũng không hành động ra ngoài phương pháp ấy”.

        Như vậy là Trần Thanh Mại rất có ý thức về phương pháp tiểu sử mà ông sử dụng, mặc dù ông không gọi đích danh đó là phương pháp tiểu sử.

        Trong công trình khảo cứu trên, Trần Thanh Mại đã phân tích ba yếu tố bệnh tật, người tình và tôn giáo và coi đó là bộ ba yếu tố cơ bản chi phối cuộc đời và thơ văn của Hàn Mặc Tử. Trần Thanh Mại nói rất kỹ đến cuộc đời bệnh tật của nhà thơ. Ông dành cả một mục để bàn về vấn đề này và đặt tên đích danh cho mục này là: Ảnh hưởng của bệnh trong thi văn Hàn Mặc Tử. Ông viết:

        “Có nhiều tai nạn bất ngờ nó định đoạt được cả chí hướng, công cuộc và sự nghiệp của một đời người. Nếu một buổi mai tốt trời kia, đi qua một chiếc cầu sông cái, Blaise Pascal không suýt bị chiếc ôtô cán lên người, thì Cơ đốc giáo sẽ mất một người phụng sự đắc lực, và nguồn văn minh tư tưởng của thế giới sẽ thiệt thòi nhiều lắm. Lord Byron mà không có cái chân què thì nền thi ca nước Anh sẽ thiếu biết bao là nguồn cảm hứng thuần tuý cao siêu?[…].

        Ấy là mới nói về ảnh hưởng của những sự tình cờ nho nhỏ đối với một đời người. Y học Âu Tây còn đề xướng lên một lý thuyết quan trọng hơn nữa. Theo thuyết lý thì phần đông trong số vĩ nhân hoàn cầu, sở dĩ làm nên sự nghiệp, vì do ảnh hưởng của những chứng bệnh của họ […].

        Nhưng mà cái tỉ dụ rõ rệt nhất hẳn là bệnh suyễn kinh niên của nhà văn cận đại Marcel Proust. Nhờ ở cái bệnh nó đóng đinh nhà văn suốt đời trên giường, Proust mới phát kiến ra lý thuyết “thời gian” nó là một trong những toà tư tưởng lộng lẫy cao siêu của nhân loại.

        Lấy riêng về cái trường hợp của thi sĩ Hàn Mặc Tử, thì ta phải nhận rằng thuyết ấy là đúng.

        Hàn Mặc Tử có mắc phải bệnh hoạn thì văn chương Việt Nam mới thấy mở ra những cõi trời lạ lùng mới mẻ”.

        Về yếu tố người tình, Trần Thanh Mại đã sử dụng tiểu sử của tác giả để dẫn ra những cái tên như Mộng Cầm, Mai Đình nữ sĩ, Thương Thương và coi họ là những nguồn cảm hứng cho thi ca của chàng thi sĩ họ Hàn.

        Còn về yếu tố tôn giáo, Trần Thanh Mại Tử không chỉ đến với đạo Cơ Đốc, mà ông còn lấy cảm hứng sáng tác ở cả đạo Phật, mặc dù ông là tín đồ đạo Cơ Đốc. Trần Thanh Mại đã dẫn lời nhà thơ để chứng minh: “Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để mà làm thơ thôi. Tôi dung hoà cả hai thể văn chương tôn giáo: Thiên chúa và nhà Phật. Đó chỉ là muốn làm giàu cho nền văn chương chung”.

        Quả thực, đọc công trình trên của Trần Thanh Mại, chúng ta thấy nó đúng là một cuốn khảo cứu tiểu sử văn học. Mọi sự kiện thi ca của nhà thơ đều được tác giả gắn rất chặt với các sự kiện tiểu sử của nhà thơ, và điều quan trọng là tác giả đã dùng sự kiện tiểu sử nhà thơ để “cắt nghĩa thi phẩn” của nhà thơ. Và trên hết là tác giả viết với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ và thương tiếc đối với nhà thơ xấu số. Tuy nhiên trong số những ý kiến của Trần Thanh Mại cũng có ý kiến có phần chủ quan. Chẳng hạn như ông khẳng định rằng ở họ Hàn có sự ảnh hưởng của bệnh tật đến tài năng thi ca; rằng có sự ảnh hưởng “chắc chắn” của trăng đến bệnh tật của nhà thơ, mặc dù ông vẫn ông nhận rằng về điều này “khoa học chưa nói được cái chữ cuối cùng”.

        Hơn nữa, việc sử dụng các tư liệu tiểu sử không phải là một việc dễ dàng. Nó đòi hỏi phải có một sự chính xác và cẩn trọng cao độ. Trần Thanh Mại đã bỏ nhiều công sức để sưu tầm tiểu sử Hàn Mặc Tử, vậy mà Nguyễn Bá Tín, em ruột Hàn Mặc Tử, trong cuốn sách Hàn Mặc Tử anh tôi (1991), lại có một số ý kiến phản bác. Ví dụ ông Tín cho rằng Trần Thanh Mại đã bịa ra chi tiết mẹ Hàn Mặc Tử vì uống rượu say do cha Tử làm công chức sở Tây đem rượu lậu bắt được về nhà mà sinh ra Tử thiếu tháng. Ông cũng phản bác ý kiến Trần Thanh Mại cho rằng Hàn Mặc Tử có thể bị bệnh tâm thần. Về điểm này ông Tín viết:

        “Theo tôi thì anh Trí (tên thật của Hàn Mặc Tử) là một người bình thường như mọi người […].

        Thế nhưng cái gì đã xảy đến, biến đổi anh trở thành khó hiểu như vậy […].

        Tôi đã ghi nhận biến cải đó từ sau lần anh suýt chết đuối ở bờ biển Quy Nhơn.

        Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn còn sợ hãi, không quên được cảnh tượng tôi trông thấy Anh không còn giống anh nữa. Anh khác lạ hẳn đi với đôi mắt lạc thần.

        Cảnh tượng đó ám ảnh tôi mãi mà tôi tin anh đã được ơn cứu trợ lạ lùng của Đức Mẹ.

        Cho đến nay đức tin đó, tôi xem là đáp số vững chắc để cắt nghĩa những gì nghi ngại về Anh.

        Trong khi Trần Thanh Mại lý giải sự ám ảnh của trăng đối với Hàn Mặc Tử bằng nguyên nhân bệnh hủi, thì ông Tín nói thi sĩ họ Hàn đã bị ám ảnh bởi vầng trăng kỳ lạ ở động cát Sa Kỳ (Quảng Ngãi) kể từ năm 1924, khi gia đình ông chuyển về đây sinh sống (trong khi đó mãi đến hơn 10 năm sau, năm 1935, nhà thơ mới có triệu chứng mắc phải căn bệnh hiểm nghèo). Từ năm 1924, trước cả khi nhà thơ mắc bệnh hủi rất lâu, “Trăng [đã] trở thành một ám ảnh, một thói quen trong thơ Hàn Mặc Tử, không thể thiếu được cho thơ Anh”. “Và tiếc thay – ông Tín viết – ông Mại đã để mất đi cái vòng xích của sợi dây chuyền vặt vãnh, như ông đã nói, nên ông không thể hiểu biết cội rễ con trăng đã ảnh hưởng đến văn thơ Hàn Mặc Tử như thế nào”.

        Về cuốn sách của Trần Thanh Mại, nhà thơ Quách Tấn bạn thân của Hàn Mặc Tử, cũng đã phản đối kịch liệt, đặc biệt là về chi tiết mẹ Hàn Mặc Tử vì uống rượu bắt lậu say mà sinh ra Tử thiếu tháng, và chi tiết nữ sĩ Mai Đình nuôi Hàn Mặc Tử; về hai chi tiết này, ông Quách Tấn đã kết tội Trần Thanh Mại là bịa đặt.

        Sự việc trên cho thấy phương pháp tiểu sử không phải là một phương pháp đơn giản, bởi vì nó đụng đến người thật việc thật, trong đó có những chi tiết rất tế nhị mà người ta khó có thể biết được đúng sai khi có những ý kiến trái ngược về chúng.

        Dù sao ông Nguyễn Bá Tín cũng vẫn khẳng định rằng, nhờ có cuốn Hàn Mặc Tử của Trần Thanh Mại mà “thơ anh Trí” được người đời rộng rãi biết đến. Và giới phê bình cũng coi đó là cuốn sách thành công nhất của Trần Thanh Mại trước Cách mạng. Nhà phê bình Thanh Lãng sau này còn nói rõ hơn: “… nếu ta đã nói Trông dòng sông Vị (1935) là một thí nghiệm thất bại, thì Hàn Mặc Tử (1941) là một nỗ lực đã đi đến thành công. Về phần ông Nguyễn Bá Tín, ta có thể nói cuốn sách của ông cũng là một cuốn sách thuộc thể tài phê bình tiểu sử văn học, mặc dù chỉ coi đây là một cuốn hồi ký.

        Như vậy luôn luôn có hai vấn đề đặt ra đối với phương pháp tiểu sử:

        1. Đối với những tác gia đã qua đời, những chi tiết tiểu sử cần phải được khảo cứu một cách khách quan, chính xác, phải được xem xét từ nhiều nguồn để đảm bảo tính xác tín của chúng; thậm chí nếu cần có thể còn phải sử dụng đến cả các phương pháp và biện pháp khoa học chính xác để kiểm chứng.

        2. Việc áp dụng phương pháp tiểu sử cần tránh lệ thuộc vào nó, tránh những định kiến, tránh những gò ép áp đặt một cách máy móc, thô thiển. Nếu áp dụng nó một cách máy móc thì rất dễ dẫn đến những nhận định thiếu chính xác.

        Về điều nói trên, chính là nghiên cứu Trần Thanh Mại cũng đã tự rút ra được một bài học cho bản thân khi nghiên cứu Tú Xương. Năm 1935, Trần Thanh Mại đã viết công trình Trông dòng sông Vị (phê bình văn chương và thân thế Trần Tế Xương), khảo cứu về nhà thơ Trần Tú Xương. Đến năm 1961, khi viết lại cùng với Trần Tuấn Lộ một công trình khảo cứu mới về Tú Xương mang tên: Tú Xương, con người và nhà thơ, ông đã vạch ra một số nguyên nhân dẫn đến những cách hiểu lệch lạc đối với Tú Xương. Trong những cách hiểu lệch lạc có hai quan niệm sai lầm chính là:

        1. Cho rằng Tú Xương chỉ vì hỏng thi mà bất mãn, làm thơ để chửi đổng cho hả mối căm tức.

        2. Cho rằng nhà thơ chỉ là một thứ triết gia hành lạc, một kẻ ăn chơi liều lĩnh, sinh sống bên tha, chẳng có tâm tư gì thanh cao, chẳng có tư tưởng gì đáng trọng.

        Trong số các nguyên nhân dẫn đến những quan niệm sai lầm nói trên, Trần Thanh Mại đã chỉ ra một nguyên nhân khách quan là “nhiều người chưa hiểu rõ con người thật của Tú Xương, chưa có dịp đi sâu nghiên cứu đời sống của nhà thơ, rồi vô tình để cho một vài cảm tưởng đầu tiên đối với một số thơ văn ông đưa đến nhiều nhận định không chính xác”. Rồi Trần Thanh Mại đã “tự kiểm điểm bản thân” như sau: “Xin thú nhận rằng cách đây hai mươi lăm năm, chúng tôi cũng đã mắc phải sai lầm này khi viết cuốn Trông dòng sông Vị”. (Chính vì thế mà nhà phê bình Thanh Lãng đã kết luận cuốn sách này là một thí nghiệm thất bại). Trong lời nói đầu của cuốn Tú Xương…, Trần Thanh Mại đã nói rõ về cái sai lầm của ông trước đây là: “… tôi – Trần Thanh Mại – […] đã bị rơi vào cái quan điểm lệch lạc chung cho rằng Tú Xương là một người ăn chơi truỵ lạc”. Và ông nói rõ thêm: “Về sau, thứ nhất là từ thời kỳ kháng chiến trở về đây, nhờ được học tập thêm và học tập đúng đường lối khoa học, tôi bắt đầu thấy, và càng ngày càng rõ hơn, những cái sai đúng lúc trước của mình”. Tức là về sau Trần Thanh Mại đã biết kết hợp phương pháp tiểu sử với phương pháp xã hội học để nghiên cứu đối tượng. Xem thế thì đủ thấy phương pháp tiểu sử đòi hỏi một sự thận trọng như thế nào.

        Ở Việt Nam hiện nay, ngoài những công trình văn học sử có đề cập đến tiểu sử của nhà văn, thì những công trình được gọi là phê bình tiểu sử văn học thường là xoay quanh việc phác hoạ chân dung văn học của nhà văn, thậm chí có công trình còn được gọi đích danh là “chân dung văn học”; và có nhà phê bình còn dành cả đời mình cho thể tài “chân dung” này. Đó là công việc nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của các nhà văn. Tuy nhiên, khi làm cái việc được nhiều người gọi là “vẽ chân dung văn học” ấy, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã rất có ý thức sử dụng phương pháp tiểu sử một cách khoa học, có kết hợp nó một cách biện chứng với phương pháp nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử – xã hội nhằm tránh dẫn đến những kết luận phiến diện, chủ quan. Chính vì thế mà chúng tôi muốn lưu ý một điều quan trọng cuối cùng là: phương pháp tiểu sử chỉ là một phương pháp bổ sung, dứt khoát nó phải được kết hợp với các phương pháp phân tích văn bản cận cảnh và với các phương pháp tổng quan thì ta mới có thể thu được kết quả như mong muốn. Bởi vì, tác phẩm văn học không phải chỉ được hình thành bởi các sự kiện tiểu sử của nhà văn, mà còn là kết quả của cảm xúc và trí tưởng tượng của nhà văn, cũng như là kết quả tác động của hoàn cảnh lịch sử, của hoàn cảnh xã hội, và của hoàn cảnh văn hoá – văn học của thời đại.

        Phương Pháp Nghiên Cứu Marketing / 2023

        Kết quả

        Phương pháp nghiên cứu Marketing:

        Những số liệu sơ cấp có thể thu thập theo bốn cách: Quan sát, nhóm tập trung, điều tra và thực nghiệm.

        – Nghiên cứu quan sát: Những số liệu mới có thể thu thập bằng cách quan sát các nhân vật và khung cảnh tương ứng. Những người nghiên cứu của American Airlines đi lang thang khắp các sân bay, văn phòng hãng hàng không và công ty du lịch để nghe ngóng khách hàng du lịch nói chuyện với nhau về các hãng hàng không khác nhau. Những người nghiên cứu có thể đi các máy bay của hãng American Airlines và các đối thủ cạnh tranh để quan sát chất lượng dịch vụ trên chuyến bay . Những nghiên cứu thăm dò này có thể gợi ý một số giả thiết bổ ích về khách du lịch lựa chọn các hãng hàng không.

        – Nghiên cứu nhóm tập trung: Nhóm tập trung là một cuộc họp mặt của từ sáu đến mười người được mời đến trong một vài giờ để cùng với một người chủ trì khôn khéo trao đổi với nhau về sản phẩm, dịch vụ, tổ chức hay một thực tế Marketing khác. Người chủ trì cần có thái độ khách quan, hiểu biết vấn đề và hiểu biết những động thái của nhóm và hành vi của người tiêu dùng.

        Ví dụ tại American Airlines người chủ trì cuộc họp có thể mở đầu bằng một câu hỏi chung chẳng hạn như “Bạn cảm thấy như thế nào về chuyện đi du lịch bằng máy bay?” Sau đó các câu hỏi sẽ chuyển dần sang những vấn đề mọi người nhìn nhận như thế nào về các hãng hàng không khác nhau, các dịch vụ khác nhau và dịch vụ điện thoại trong khi bay.

        – Nghiên cứu điều tra. Nghiên cứu điều tra nằm giữa một bên là nghiên cứu quan sát và nhóm tập trung và một bên là nghiên cứu thực nghiệm. Quan sát và nhóm tập trung thích hợp nhất với nghiên cứu thăm dò, còn nghiên cứu điều tra lại thích hợp nhất với nghiên cứu mô tả, và thực nghiệm thì thích hợp nhất với nghiên cứu nguyên nhân. Các công ty tiến hành điều tra để nắm được trình độ hiểu biết, niềm tin, sở thích, mức độ thỏa mãn v…v của công chúng và lượng định các đại lượng này trong nhân dân. Vì vậy những người nghiên cứu của American Airlines có thể muốn điều tra xem có bao nhiêu người biết về hãng, ưa thích hãng, v…v. Ta sẽ nói nhiều hơn về nghiên cứu điều tra khi trình bày các công cụ nghiên cứu, kế hoạch lấy mẫu và các phương pháp tiếp xúc.

        – Nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu có giá trị khoa học cao nhất là nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu thực nghiệm đòi hỏi phải tuyển chọn các nhóm đối tượng tương xứng, xử lý các nhóm đó theo những cách khác nhau, khống chế các biến ngoại lai, và kiểm tra xem những sai lệch trong các kết quả quan sát được có ý nghĩa thống kê không. Trong trường hợp các yếu tố ngoại lai bị loại trừ hay khống chế, thì khi xử lý theo những cách khác nhau đều có thể thu được cùng những kết quả quan sát. Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm là nắm được quan hệ nhân quả bằng cách loại trừ những cách giải thích khác nhau về các kết quả quan sát được.

        Ví dụ, American Airlines có thể tổ chức dịch vụ điện thoại trong khi bay trên một trong những chuyến bay thường xuyên từ New York đến Los Angeles với giá 25 USD một lần gọi. Ngày hôm sau trên chuyến bay đó hãng thông báo có dịch vụ này, nhưng với giá 15 USD một lần gọi. Nếu máy bay đó chuyên chở số lượng và loại hành khách như nhau trên mỗi chuyến bay, và các ngày trong tuần không có gì khác nhau, thì mọi chênh lệch lớn về số lần gọi có thể xem là do giá cả. Thí nghiệm có thể phát triển tiếp bằng cách áp dụng thử những giá khác nữa, lặp lại cùng một giá trên một số chuyến bay, bổ sung thêm những tuyến khác vào thí nghiệm.

        Nguồn: Th.s: Nguyễn Ngọc Long – Sưu tầm & hiệu chỉnh (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

        Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!