Đề Xuất 12/2022 # Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Trong Các Khoa Học Xã Hội Và Các Nguyên Tắc Phương Pháp Luận Của Chúng – Phần I / 2023 # Top 17 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Trong Các Khoa Học Xã Hội Và Các Nguyên Tắc Phương Pháp Luận Của Chúng – Phần I / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Trong Các Khoa Học Xã Hội Và Các Nguyên Tắc Phương Pháp Luận Của Chúng – Phần I / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khoa học xã hội ngày nay có rất nhiều lý thuyết khác nhau. Có thể phân nhóm những lý luận đó theo các quan niệm khác nhau, hoặc về các phương diện khác nhau.

Thí dụ, theo quan niệm tập trung vào cá nhân hay cá thể; những lý luận xuất phát từ xã hội, hay tập trung vào xã hội, thiên về xã hội; tiếp theo là những quan niệm trung gian, nằm giữa các lý luận nói trên…

Trước hết, xin trình bày 4 ý tưởng có tính chất lưu ý về sự phát triển của các khoa học xã hội.

Theo ý nghĩa thứ nhất, tất cả các ngành đó được tập hợp lại, gọi chung là các khoa học xã hội.

Theo ý nghĩa thứ hai, xã hội học là trung tâm; các khoa học khác là những phân ngành. Có thể nói, các khoa học xã hội là một dàn nhạc mà xã hội học là người chỉ huy, nhạc trưởng.

Theo ý nghĩa thứ ba, người ta sử dụng khái niệm khoa học xã hội theo số nhiều và đồng nhất với xã hội học; tức các khoa học xã hội = xã hội học.

Như vậy, nếu gặp khái niệm cuối cùng (xã hội học) trong sách hiện nay thì trước hết phải xem xét bài viết đó sử dụng ý nghĩa nào trong ba ý nghĩa nói trên. Hầu hết mọi người đều dùng theo nghĩa thứ nhất.

Nhưng thường thường, các nhà xã hội học là “những tên đế quốc”. Họ muốn thâu tóm các khoa học khác về phía mình. Do đó, đã diễn ra các cuộc tranh luận vào những năm đầu thế kỷ này (thế kỷ 20). Chính những người sáng lập xã hội học đã đưa ra quan niệm này: xã hội học là một siêu khoa học.

Trái lại, K. Marx hầu như không sử dụng khái niệm xã hội học. Ông sử dụng khái niệm các nhà khoa học xã hội. Và như vậy, ông đã sử dụng khái niệm theo ý nghĩa thứ nhất.

2/ Ý tưởng thứ hai. Cuối thế kỷ XIX, khoa học xã hội mới ra đời, là khoa học non trẻ nếu so sánh với các khoa học có truyền thống lâu đời. Từ xã hội học được đề xuất bởi nhà triết học Pháp Comte vào khoảng 1830. Ông là người đầu tiên sử dụng khái niệm “xã hội học” và “khoa học xã hội”. Từ này được hợp thành bởi một tiếng Latin và một tiếng Hy Lạp “socio-logy”. Hồi đó cũng đã có sự phê phán, cho rằng đó chẳng qua chỉ là sự pha trộn ngôn ngữ mà thôi. Đó là sự pha trộn từ hai ngôn ngữ: Latin và Hy Lạp. Vì thế, người ta cho là không hay. Nhưng bây giờ từ đó đã được sử dụng phổ biến.

Ông chỉ nêu vấn đề cần phát triển khoa học xã hội, còn bản thân ông lại không làm điều đó. Ông chỉ tìm ra từ đó mà thôi. Khoa học xã hội ra đời vào cuối thế kỷ XIX. Người sáng lập ra nó là người Pháp – Comte. Năm 1896, ông công bố cuốn Quy tắc của các phương pháp xã hội học. Có thể coi cuốn sách này là tác phẩm tuyên bố sự ra đời của khoa học xã hội. Đây là cuốn sách được mọi người biết đến, phổ biến, được dịch ra nhiều thứ tiếng, như là kinh thánh của các nhà khoa học xã hội.

Các khoa học xã hội bắt đầu từ cuốn sách này, có thể nói như vậy. Nó ra đời với tư cách một ngành khoa học độc lập.

Cũng vào khoảng thời gian đó, Max Weber ở Đức đã công bố những công trình nghiên cứu xã hội học cơ bản. Có thể coi ông là người cha thứ hai có công thành lập khoa học này, là người đã sử dụng thuật ngữ “khoa học xã hội”. Ông sống đến năm 1920. Công trình quan trọng của ông xuất hiện năm 1908.

Ngoài hai ông đó, trước hết phải nói đến K. Marx. Ông sống trước Max Weber, nhưng chưa bao giờ ông xem mình là nhà khoa học, hay được gọi là nhà xã hội học. Ông muốn phát triển một thứ lý luận xã hội tích cực tham gia vào những diễn biến của xã hội và làm biến đổi thế giới.

Có một câu châm ngôn nổi tiếng của K. Marx: Các nhà khoa học cũng như các nhà triết học chỉ tìm cách giải thích thế giới, nhưng vấn đề là phải cải biến thế giới. Vì thế, Marx, trong con mắt của các nhà khoa học phương Tây, không phải là nhà khoa học, mà là một nhà cách mạng, một chính khách. Đối với nước Đức, phải nói rằng, sự đánh giá đó về K. Marx, cho đến giữa thế kỷ XX, vẫn không thay đổi. Mãi đến những năm 60 của thế kỷ này, ở Tây Đức, người ta mới công nhận Marx là một nhà khoa học. Đồng thời, người ta tiếp nhận tư tưởng của ông là, các khoa học xã hội phải tham gia tích cực vào nhữn sự kiện xảy ra trong xã hội. Rất tiếc là hôm nay, do sự phát triển của chính trị trên thế giới, ở Đức, học thuyết của K. Marx lại không được người ta chú ý rộng rãi đến nữa. Tôi cho như thế là sai lầm. Bởi ý nghĩa của các tác phẩm khoa học của Marx, ý nghĩa của sự phân tích xã hội của ông, ý nghĩa của những yêu cầu thực tiễn của ông chắc chắn trước sau vẫn tồn tại.

Tóm lại, đối với những người viết về lịch sử về các khoa học, như người ta thường nói, các khoa học xã hội xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Nhưng cũng có một khoa học xã hội xuất hiện muộn hơn. Đó là khoa học chính trị. Khoa học chính trị là đứa con của Đại chiến II, xuất hiện ở Hoa Kỳ dưới áp lực của chiến tranh, chịu ảnh hưởng của tư tưởng là phải dân chủ hóa châu Âu, do sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa dân tộc.

Vấn đề đặt ra là, cái gì đã xảy ra sau chiến tranh, khi mà thuyết cực quyền, chế độ cực quyền ở châu Âu chiến thắng. Muốn chiến thắng nó thì châu Âu phải được dân chủ hóa. Mới đầu người ta nghĩ, phải dân chủ hóa theo khuôn mẫu Hoa Kỳ, kể cả tư tưởng và các công cụ của các nhà khoa học xã hội. Phải chuyển tất cả những cái đó sang cho châu Âu vận dụng. Khoa học xã hội là một khoa học non trẻ, nên ngay từ đầu đã vấp phải vấn đề là phải tự thể hiện như một khoa học so với các khoa học khác. Khoa học xã hội phải luôn luôn đấu tranh để được thừa nhận. Do truyền thống cũ của khoa học, kinh tế học, triết học, luật học và các khoa học khác là những khoa học đã tồn tại lâu rồi. Vì vậy, người ta đòi hỏi khoa học xã hội phải có các thành tựu có thể đứng vững trong mối quan hệ với các khoa học đã được hình thành và củng cố.

Một thí dụ hay về vấn đề này là Max Weber. Ông vốn là nhà luật học, nhà kinh tế học. Hướng về khoa học xã hội, ông đã phân vân và nhiều lần bắt gặp các cuộc tranh luận từ phía kinh tế học. Ông có nhiều kẻ thù. Bấy giờ người ta gọi ông là nhà xã hội học. Các gọi đó có thể coi là sự miệt thị. Các công trình nghiên cứu khoa học của ông chứng minh rằng ông là một nhà kinh tế học giỏi. Nhưng vì ông quan tâm, có hứng thú đối với các nhà khoa học xã hội nên ông bị người ta xem như nhà kinh tế học nửa vời. Vấn đề này tồn tại cho đến hôm nay. Có một cuộc tranh cãi xoay quanh vấn đề này: Liệu người ta có thể là khoa học xã hội mà không đồng thời là nhà khoa học kinh tế và nhà luật học?

Ở CHDC Đức trước đây, người ta chỉ có thể giảng dạy xã hội học như một phân môn tiếp tục sau bậc đại học. Trước hết, học kinh tế học, luật học, sử học, sau đó mới có thể học môn xã hội học. Có thể nói, đó là một mô hình tốt, mô hình hay, trong khi ở Tây Đức lại coi xã hội học là một phân môn độc lập. Kết quả là các nhà xã hội học không hiểu gì về kinh tế học và luật học.

Như vậy, các khoa học xã hội đã từng gặp những khó khăn hết sức to lớn để tồn tại và được củng cố trong sự phân công lao động của các khoa học xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn: Bài giảng của Giáo sư Joachim Matthes – Trường Đại học Erlangen – Nurnberg CHLB Đức – HN 1994.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Nghị Luận Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Trường Trong Xã Hội Hiện Đại / 2023

Xã hội ngày càng hiện đại, phát triển đất nước ở các lĩnh vực là cần thiết để đưa đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, nhưng bên cạnh đó, cũng có nhiều vấn đề cấp bách, những yếu tố ảnh hưởng làm thụt lùi sự đi lên của đất nước. Và môi trường là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm, và đặc biệt vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đang trong tình trạng báo động đem lại nhiều hậu quả xấu nếu không có giải pháp và chính sách kịp thời. Ô nhiễm môi trường đang diễn ra hàng giờ và càng trở nên phức tạp hơn rất nhiều và thế hệ trẻ cần có ý thức cao trong việc hiểu được nguy hiểm mà ô nhiễm môi trường mang lại mà trau dồi bản thân tốt hơn. Và chúng tôi sẽ cho mọi người hiểu rõ vấn đề hơn qua bài nghị luận về vấn đề môi trường tại mục “cẩm nang học tập” – một tính năng với những thông tin hữu ích mà trang web mang lại.

1. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

2. Nghị luận về vấn đề môi trường

2.1. Biểu hiện của ô nhiễm môi trường

Thực trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra rất nghiêm trọng, cụ thể nhiều biểu hiện về ô nhiễm môi trường đưa ra là minh chứng cho sự suy giảm sinh thái đất nước cũng như làm ảnh hưởng đến môi trường xanh sạch đẹp. Biểu hiện cụ thể là ô nhiễm không khí, nước, đất :

+ Ô nhiễm không khí : Hiện tượng các nhà máy, các ống thoát khí của các xí nghiệp đã và đang thải ra môi trường không khí một nguồn cacbonic khổng lồ, các loại axit độc hại, các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, khói bụi xe hơi, xe cơ động phân phối lớn. Môi trường không khí ngày càng bị ô nhiễm hết sức nặng nề, đặc biệt là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh đã vượt qua ngưỡng mức cho phép về ô nhiễm môi trường, những năm gần đây nồng độ chì đã tăng lên ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và hậu quả của ô nhiễm không khí mang lại rất nặng nề.

+ Ô nhiễm môi trường nước :Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang ngày càng báo động trong cuộc sống hiện đại, biểu hiện một số khu công nghiệp đã xả nước thải không qua xử lý ra môi trường hay nước sinh hoạt ở các hộ gia đình thải trực tiếp ra dòng nước, hiện tượng xả rác ra ao, hồ sông suối ở các vùng miền đang xảy ra trầm trọng, việc sử dụng nước sạch không chiếm tỉ lệ cao. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng tác động tiêu cực tới môi trường sinh vật và con người, kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể con người. Nước bị ô nhiễm còn do sinh vật, vi sinh vật, sinh vật có trong nước với nhiều dạng khác nhau, đáng chú ý là các vi khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh làm cho nguồn nước không còn đảm bảo chất lượng, biến đổi màu sắc của dòng nước khi sự xuất hiện của xác sinh vật để lâu dưới nước, hậu quả đem lại nghiêm trọng lớn.

+ Ô nhiễm môi trường đất : Đất là môi trường sinh sống chủ yếu của nhiều loài sinh vật, đất ô nhiễm bị gây ra bởi sự có mặt của hóa chất xenobiotic, gây ra bởi các hoạt động công nghiệp, các hóa chất nông nghiệp hoặc do ý thức vứt rác thải không đúng quy định. Ngày nay tình trạng ô nhiễm môi trường đất càng bị thoái hóa và nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nhiều vấn đề xã hội cũng như đến sức khỏe của người dân. Ô nhiễm môi trường đất thường xuất hiện ở các vùng nông thôn chủ yếu làm nghề nông mà công việc chủ yếu là trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc. Những hành động tiêu cực trong công việc cũng là phần nguyên nhân gián tiếp làm đất xung quanh nơi sinh sống bị ô nhiễm nặng.

Ô nhiễm môi trường là vấn đề khó thể tính toán trước, hậu quả cũng như những tác hại tiêu cực thường để lại trong thời gian dài. Thấy được những biểu hiện về ô nhiễm môi trường mà có kế hoạch cũng như phương án tốt nhất để bảo vệ môi trường sống xung quanh chúng ta.

2.2. Hậu quả mang lại ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là mối quan tâm lớn không chỉ các quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở Việt Nam, khi xã hội hiện đại, tình trạng ô nhiễm môi trường càng là câu chuyện được bàn nhiều nhất đối với cấp quản lý và người dân sinh sống. Hậu quả ô nhiễm môi trường mang lại rất nghiệm trọng, sự nghiêm trọng nhất kể đến là sức khỏe của người dân.

2.2.1. Hậu quả ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người

+ Đối với ô nhiễm môi trường nước : Thực tế, cho thấy hậu quả mà ô nhiễm môi trường nước tác động tới cho sức khỏe con người thông qua ăn uống phải nguồn nước ô nhiễm hoặc sử dụng động thực vật được nuôi trồng trong môi trường nước ô nhiễm. Đó là những hoạt động sinh hoạt ở chính cuộc sống xung quanh chúng ta, các căn bệnh sẽ ngày càng xuất hiện khi người dân sử dụng dòng nước ô nhiễm như tiêu chảy, dịch tả, viêm gan, thiếu máu. Đó là những căn bệnh thường thấy ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi phải đối diện với môi trường nước ô nhiễm.

2.2.2. Hậu quả ô nhiễm môi trường gây ra với hệ sinh thái

2.2.3. Hậu quả ô nhiễm môi trường đối với môi trường kinh tế – xã hội

Ô nhiễm môi trường gây ra những hậu quả tổn thất rất lớn đối kinh tế của đất nước:

+ Ô nhiễm môi trường gây thiệt hại về kinh tế do nhiều bệnh tật : Khi con người mắc những căn bệnh do ô nhiễm môi trường đem lại, quá trình điều trị cần rất nhiều thời gian và tiền bạc, có những trường hợp, tiền bạc không thể chữa khỏi căn bệnh do bệnh quá nặng không có hướng giải quyết trong thời gian sớm, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và ngân sách nhà nước cũng suy giảm khi phải đưa ra những chính sách giải quyết cũng như hỗ trợ những vùng bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường mang lại.

+ Ô nhiễm môi trường gây ra thiệt hại về kinh tế do ảnh hưởng đến nông, thủy sản: Quá trình sản xuất là cả công đoạn tốn nhiều sự đầu tư cũng như đầu tư trong mối quan hệ ngoại giao lớn, khi ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến chất lượng, thời gian dự định của kế hoạch đưa ra thì số lượng, uy tín trong sản xuất nông thủy sản suy giảm, chưa kể đến những trường hợp bồi thường do không làm đúng hợp đồng đã ký.

+ Ô nhiễm môi trường gây thiệt hại lớn về kinh tế trong hoạt động du lịch: Du lịch đang là ngành phát triển lớn mạnh của nhiều quốc gia, không chỉ riêng Việt Nam, ngoại giao quốc tế hay việc quảng bá thương hiệu của một đất nước, truyền thống dân tộc, ngành mang lại nền kinh tế lớn mà khi ô nhiễm môi trường tác động vào du lịch sinh thái, cụ thể là môi trường nước và không khí sẽ không còn làm thu hút sự chú ý của khách du lịch đến thăm, tốc độ đô thị hóa giảm, kinh tế suy yếu, khó đi lên phát triển nếu không có phương án đưa ra kịp thời.

+ Ô nhiễm môi trường lớn xảy ra, xã hội còn mất một khoảng kinh tế lớn để cải thiện lại môi trường. Số vốn phải bỏ ra rất lớn khi phải thay đổi cũng như những chính sách đưa ra khi ô nhiễm môi trường nặng nề, tốn chi phí tốn thời gian mà kết quả không thể tính trước được do nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng.

2.3. Nguyên nhân của ô nhiễm môi trường

Nhận thấy được những hậu quả to lớn mà ô nhiễm môi trường mang lại, thì kèm theo đó mỗi người dân phải biết được nguyên nhân cụ thể gây ra ô nhiễm môi trường. Có rất nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường :

+ Do ý thức của con người : Một nguyên nhân quan trọng trong việc gây ô nhiễm môi trường là ý thức con người, con người khi không có ý thức trong hành động của bản thân, sự ích kỷ, lười biếng trong hành động một phần gây hại cho chính bản thân mình, những hành động nhỏ của con người gián tiếp vào việc gây ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe của họ và cũng một phần làm mất đi sự trong sạch đẹp của môi trường sống xung quanh chúng ta. Ý thức của con người là nguyên nhân nhận được nhiều sự quan tâm của chính phủ cũng như các cấp cơ quan quản lý môi trường, và có những đề xuất nghiêm khắc trong việc điều chỉnh ý thức bảo vệ môi trường.

+ Do chất thải từ nhà máy, khu công nghiệp : Những nhà máy, xí nghiệp thải ra môi trường những chất thải chưa qua khâu xử lý, nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi nước trầm trọng, ngoài ra việc nhà máy sử dụng các hóa thạch là chất đốt tạo ra các khí thải độc, gây ra hiệu ứng nhà kính, nguyên nhân dẫn đến sự nóng lên của trái đất.

+ Do chất thải độc hại, hóa chất bảo vệ thực vật : Đó là các loại thuốc trừ sâu, phân bón hóa học trong quá trình phân hủy, do ý thức sử dụng của người dân không tốt, khi không sử dụng hết vứt bừa bãi, chất độc hại đó, ngấm dần vào nguồn nước ngầm dưới lòng đất, ao, hồ, là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường đất, nước, sự thoát hơi nước không đảm bảo gây ra các hiện tượng không tốt như thủy triều tăng, lũ lụt, vỡ đê khi thiên nhiên tác động tiêu cực vào.

+ Do khói bụi : là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí xung quanh cuộc sống chúng ta, tình trạng này thường xuất hiện ở các thành phố lớn, giao thông đông đúc, việc sử dụng các động cơ không an toàn và quy định góp phần vào ô nhiễm môi trường.

+ Do sự quản lý của cơ quan nhà nước còn có sự thiếu sót : Việc tình trạng môi trường ô nhiễm thì không thể thiếu trách nhiệm từ phía cơ quan chức năng ở mỗi địa phương, khu vực. Khi những chính sách đề ra chưa có sự triệt để, sự đầu tư không đúng đắn, quan tâm đến đời sống nhân dân chưa được nâng cao, những vấn đề không tốt về nội bộ thường xuyên xảy ra trong quá trình thi hành chính sách, khiến chất lượng và hiệu quả không được nâng cao, và tình trạng ô nhiễm môi trường không có dấu hiệu cải thiện theo chiều hướng tích cực.

2.4. Giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường

Từ những nguyên nhân được nêu ở trên về việc gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, vấn đề được nhiều sự quan tâm của đảng và nhà nước, và là nỗi lo lắng của nhiều người dân khi đang đối diện với cuộc sống ngày càng bị đe dọa tới tính mạng. Giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường là công việc cần thiết ngay từ bây giờ, giải pháp đưa ra càng sớm thì việc hạn chế ô nhiễm môi trường càng cao nhưnggiải pháp phải đem lại chất lượng tốt mới là giải pháp có hiệu quả.

2.4.1. Giải pháp về phía cơ quan nhà nước

+ Hạn chế sử dụng chất tẩy rửa để ngừa tắc cống thoát nước, đề ra phương án sử dụng tốt nhất để sự thoát nước được tốt, có thể sử dụng tẩy rửa bằng chất vi sinh.

+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường và chống ô nhiễm môi trường một cách nghiêm túc và chính xác, xử phạt rõ ràng, nghiêm minh, cũng như công tư phải minh bạch trong cách giải quyết những trường hợp vi phạm ô nhiễm môi trường.

+ Cơ quan nhà nước cần xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế để chất lượng mang lại hiệu quả.cao, tiêu chuẩn phải được kiểm chứng kỹ càng và chất lượng đảm bảo.

+ Thường xuyên kiểm tra, giám sát và đánh giá tình trạng môi trường trong từng khu vực, thời kỳ khác nhau để có thể điều chỉnh cũng như hạn chế sự ô nhiễm môi trường kịp thời.

+ Nâng cao ý thức, thái độ cũng như chuyên môn nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ có trách nghiệm công tác trong vấn đề môi trường.

+ Biết sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, đầu tư có hiệu quả các năng lượng thân thiện với môi trường như gió, mặt trời, hạn chế ô nhiễm môi trường cho đất nước

+ Đưa ra các phong trào hoạt động phòng chống tích cực để bảo vệ ô nhiễm môi trường.

2.4.2 Giải pháp về ý thức con người

Giải phải cần được sự quan tâm nhất là ý thức của con người trong việc bảo vệ môi trường. Giáo dục ý thức phải được giáo dục từ khi các bạn còn nhỏ đến khi lớn lên. Ý thức đầu tiên vẫn phải nhắc đến ý thức của người lớn qua hoạt động sinh hoạt hàng ngày, từ những hoạt động đơn giản như vứt rác đúng nơi quy định, sử dụng các dụng cụ vệ sinh, đó là những cử chỉ nhận được sự để ý của các bạn nhỏ, khi cha mẹ làm gì, sự học hỏi của các bạn ở độ tuổi nhỏ là rất quan trọng. Rèn luyện các bạn trẻ, những thế hệ tương lai của đất nước, có ý thức cũng như có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Nhưng trước hết cần cho trẻ ý thức cao trong học tập với việc bồi dưỡng tâm hồn cũng như đạo đức tốt đẹp, khi các bạn có đầy đủ những kỹ năng và tính cách tốt đẹp rồi thì sẽ trở thành một người công dân tốt giúp ích cho xã hội rất nhiều. Và chúng tôi đồng hành với bố mẹ trong việc tìm gia sư có nghiệp vụ sư phạm chuyên nghiệp, không chỉ giỏi củng cố kiến thức cho các bạn trẻ mà còn bồi dưỡng các kỹ năng mềm cho trẻ, chuẩn bị tốt nhất để các bạn có hành trang kỹ càng trên chặng đường đi đến thành công.

Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Triết Học Trong Nghiên Cứu Khoa Học :: Suy Ngẫm &Amp; Tự Vấn :: Chúngta.com / 2023

– Những nguyên lý thế giới quan: Đây là bộ phận hết sức quan trọng. Tuy nhiên, không phải mọi nguyên lý thế giới quan đều được đưa đồng đều vào phương pháp luận của các khoa học mà chỉ sử dụng những nguyên lý thích hợp để có thể thực hiện được nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở tuỳ theo tính chất của từng khoa học hoặc từng nhóm khoa học.

– Lý luận về một hệ thống các phương pháp: Điều này có nghĩa là nói đến lý luận về một hay nhiều phương pháp có thể dùng chung cho nhiều khoa học. Vấn đề ở đây là phải làm rõ nội dung của phương pháp đó là gì? quan hệ giữa các phương pháp? phạm vi, khả năng và nguyên tắc ứng dụng của các phương pháp?

– Lý luận về một phương pháp cụ thể nào đó sẽ được sử dụng ở bộ môn này hay bộ môn khác. Nói cách khác thì đó chính là phương pháp nghiên cứu đặc thù của một môn khoa học (những nguyên lý và lý thuyết của bản thân khoa học đó hay của các khoa học khác có vai trò gợi mở, hướng dẫn, chỉ đạo mà khoa học này cần sử dụng hoặc có thể sử dụng).

Với một cơ cấu như vậy, phương pháp luận của các khoa học cụ thể sẽ bao gồm được cả cái chung và cả cái riêng, bao gồm được các nguyên lý và phương pháp phổ biến cũng như các nguyên lý và phương pháp của từng ngành khoa học hay của một nhóm khoa học; sẽ tránh được xu hướng tuyệt đối hoá một mặt nào đấy; sẽ tránh được quan điểm thực chứng muốn loại trừ triết học ra khỏi phương pháp luận của khoa học cụ thể.

Có thể nói, trong chỉnh thể phương pháp luận, phần chung nhất chúng ta thấy được là những nguyên lý thế giới quan. Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao nguyên lý thế giới quan lại quan trọng như thế? Tại sao thế giới quan lại đóng được vai trò phương pháp luận? Trên thực tế, chúng ta cần khẳng định rằng: Trong những nguyên lý thế giới quan đã tổng kết, đúc kết sự hiểu biết chính xác, khoa học và đầy đủ về một đối tượng, về một sự vật, về một quá trình trong phạm vi cho đến thời điểm đó.

Sự hiểu biết của con người không phải là sự bất động, bất biến và chúng ta phải thừa nhận rằng các nguyên lý thế giới quan phản ánh những gì bản chất nhất, là những cái không thể thiếu được nhưng tất nhiên nó chưa phải là đầy đủ nhất. Và đây cũng chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng với các quan điểm tuyệt đối hoá một tri thức nào đó. Thực tế là nhận thức của chúng ta không bao giờ có giới hạn, không đi tới cái giới hạn cuối cùng mà chỉ là dần tới cái giới hạn, cái tuyệt đối mà thôi.

Tiểu Luận Một Số Phương Pháp Phân Tích Định Lượng Trong Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội / 2023

Một số phương pháp phân tích định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội CÂU HỎI: Những phương pháp đã học giúp ích gì cho việc nghiên cứu khoa học và làm luận văn sắp tới. Lấy ví dụ và xử lí các số liệu theo phương pháp thống kê mô tả. Lấy ví dụ có thể áp dụng phương pháp tính Spirmen có tính toán. 1. Vai trò của phương pháp phân tích định hướng đối với việc nghiên cứu của bản thân, cụ thể là luận văn cao học sắp tới. Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong giải quyết công việc nói chung, “Phương pháp là yếu tố vô cùng quan trọng. Xác định đúng phương pháp là con đường dẫn tới thành công và cũng là cơ sở, là chuẩn mực để đánh giá một công trình nghiên cứu. Phương pháp, trong đó bao gồm phương pháp luận, hệ phương pháp nghiên cứu, phương pháp tiếp cận, lý thuyết nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu, có thể nói là chìa kháo để mở lối cho công trình khoa học, đồng thời cũng là cơ sở đảm bảo tính chất khoa học của kết quả nghiên cứu. Có lẽ chính vì vai trò quan trọng của phương pháp như vậy nên trong quá trình học cao học, “tập làm nhà nghiên cứu”, chúng tôi đã được tiếp cận chuyên đề “Một số phương pháp phân tích định hướng trong nghiên cứu khoa học xã hội”. Thiết nghĩ chuyên đề này sẽ đem lại cho tôi những gợi mở bổ ích cho quá trình nghiên cứu khoa học sau này, mà trước mắt là luận văn cao học: Theo tôi, trong thời đại ngày nay, khi mà chúng ta có thể tiếp cận thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Từ sách vở, báo chí, từ mạng Internet, thì việc thu thập và xử lí tư liệu như thế nào sẽ có vai trò rất quan trọng. Được trang bị phương pháp phân tích định lượng rồi tôi sẽ không còn lúng túng, căng thẳng khi đứng trước một “mớ hỗn độn” những tài liệu và tài liệu, sẽ biết thế nào để từ tập hợp tài liệu đó làm nổi bật lên bản chất của vấn đề. Một công trình nghiên cứu khoa học sẽ có sức thuyết phục hơn khi được dẫn chứng bằng những con số, số lượng cụ thể. Sự vật, hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất của nó qua tính chất và số lượng. Trong đó, số lượng giúp cho nhận thức được chính xác, cụ thể và hạn chế đặc tính chủ quan của người nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề là người nghiên cứu phải biết xử lí những tư liệu, những con số thu thập được như thế nào cho chính xác và khoa học. Đối mặt với vấn đề này, phương pháp phân tích định lượng tỏ ra có nhiều ưu điểm. Với những phương pháp phân tích định lượng ưchúng ta có thể xử lí các tư liệu đám đông; có thể khắc phục tình trạng thiếu hụt tư liệu, kiểm chứng các nhận định và có khả năng đáp ứng được yêu cầu sử dụng các công cụ, thiết bị tin học hiện đại và nhu cầu nhận thức của thời đại thông tin. Bản thân một tập hợp số liệu thô, hỗn độn sẽ không nói lên được điều gì nếu nhà nghiên cứu không biết sử dụng đúng cách để làm nổi bật ý đồ của mình. Khi đã được tiếp cận với phương pháp phân tích định lượng, nó sẽ giúp nhà nghiên cứu cách xử lí các con số qua việc chọn dùng các phương pháp như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tìm mối liên hệ, phương pháp chuyên gia… Đặc điểm chung nổi bật của các phương pháp này là đưa những số liệu cụ thể, các con số vào công trình nghiên cứu hay đối với những thông tin dưới dạng định tính thì tiến hành lượng hoá thông bằng cách thống kê tần số, cho điểm hay bằng đánh giá của chuyên gia. Cụ thể như: Đối với những mục đích nhận thức trực quan như phát hiện qui luật phân bố đám đông hoặc phát hiện khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng ta có thể tìm đến phương pháp thống kê mô tả với lập bảng cô gọn số liệu (compact) hay sử dụng những chỉ số thống kê như chỉ số trung bình, chỉ số trung vị. Đối với hai tập hợp số liệu và đứng trước nhiệm vụ tìm ra bản chất của đối tượng nghiên cứu trên cơ sở tìm mối liên hệ giữa hai đối tượng mà số liệu phản ánh thì việc sử dụng một số phương pháp như tìm mối liên hệ qua tương quan hạng (ranking), tìm mối liên hệ bằng ma trận (matrix)… tỏ ra rất thuận tiện. Còn trong trường hợp không có số liệu trực tiếp hoặc những trường hợp khó đưa ra quyết định thì ta nên tìm đến phương pháp chuyên gia. Sau khi xác định được vấn đề cấn lấy ý kiến tham gia, trên cơ sở xây dựng bảng hỏi và thang điểm chúng ta sẽ tiến hành thu thập, xử lí kết quả. Đây chỉ là những nhận thức ban đầu về phương pháp phân tích định lượng trong nghiên cứu khoa học xã hội. Hy vọng rằng khi áp dụng vào thực tế, phương pháp này sẽ hỗ trợ nhiều cho các công trình nghiên cứu của tôi sau này. Trước mắt, luận văn của tôi là một đề tài nghiêng về tổng thuật (“tổng thuật tình hình tranh luận về phương diện tôn giáo của Nho giáo ở Trung Quốc 20 năm cuối thế kỷ XX) chắc chắn sẽ có những số liệu dẫn chứng, và như thế tôi sẽ có cơ hội áp dụng phương pháp phân tích định lượng nào đó, mong rằng sẽ thành công. 2. Bài tập về thống kê mô tả. Nhận xét về độ tuổi kết hôn của cư dân chuyện X tỉnh Ninh Bình trên cơ sở thống kê sau: STT Tuổi kết hôn Tần số (xi) (ni) 1 16 5 2 17 10 3 19 100 4 20 60 5 22 35 6 24 20 7 25 14 8 27 8 k å 252 Trên cơ sở bảng thống kê đã cho, ta thấy độ tuổi kết hôn trung bình của cư dân huyện x tỉnh Ninh Bình là: Theo công thức: Vậy tuổi kết hôn trung bình của cư dân huyện X tỉnh Ninh Bình là 20,5 tuổi. -Những độ tuổi quá xa chỉ số trung bình (16//27) là hiện tượng đặc biệt. -Theo quy luật phân phối chuẩn thì những độ tuổi gần, chỉ số trung bình (19, 20, 22) sẽ có số lượng đông đảo. *Cũng với bảng thống kê trên, ta tính xem độ liên kết của tập hợp trên có chặt chẽ không. Độ chặt chẽ này phụ thuộc vào chỉ số trung vị (Me, là chỉ số xác định giá trị nằm giữa dãy biến số). Chỉ số trung vị càng gần chỉ số trung bình thì sự liên kết của tập hợp càng chặt. Ta thấy tập hợp trên là một dãy biến thiên rời rạc chẵn nên công thức tính Me là Thay giá trị tương đương vào ta có: Do 21 rất gần với 20,5 (chỉ số trung bình) nên liên kết của tập hợp trên là rất chặt chẽ. 3. Bài tập về phương pháp tính Spirmen. Ta có bài toán: có hay không mối liên hệ giữa giá gạo với số lượng gạo được bán ra tại cửa hàng bán lẻ trên cơ sở số liệu sau: Các loại gạo tẻ Số lượng bán ra (kg) Giá bán: nghìn VNĐ Bắc Hương 900 8 Điện Biên 600 7 203 250 5 Inđônêxia 400 9 Q5 550 6 Si 800 6,5 Tám thơm 300 15 Thái Lan 500 12 Từ bảng thống kê ta lập bảng xếp hạng: Các loại gạo tẻ Số lượng gạo bán ra Giá bán di (d1-d2) di2 kg d1 Nghìn VNĐ d2 203 250 1 5 1 0 0 Tám thơm 300 2 15 8 -6 36 Inđônêxia 400 3 9 6 -3 9 Thái Lan 500 4 12 7 -3 9 Q5 550 5 6 2 3 9 Điện Biên 600 6 7 4 2 4 Si 800 7 6,5 3 4 16 Bắc Hương 900 8 8 5 3 9 92 Ta có công thức Spirmen Thay giá trị vào ta có: Ta có p = -0,09 < 0,5, như vậy giá cả hâu như không có liên hệ gì với số lượng gạo bán ra.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Trong Các Khoa Học Xã Hội Và Các Nguyên Tắc Phương Pháp Luận Của Chúng – Phần I / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!