Đề Xuất 1/2023 # Phân Biệt Heap Memory Và Stack Memory Trong Java # Top 6 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 1/2023 # Phân Biệt Heap Memory Và Stack Memory Trong Java # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Biệt Heap Memory Và Stack Memory Trong Java mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phân biệt Heap memory và Stack memory trong java.

Bộ nhớ Heap – Heap Memory

Heap memory là bộ nhớ được sử dụng bởi Java Runtime để cấp phát bộ nhớ cho các đối tượng (object) và String.

Bất kỳ khi nào có một đối tượng được tạo, nó sẽ được tạo lưu ở bộ nhớ Heap.

Bộ dọn rác (Garbage Collection) chạy trên heap memory để giải phóng bộ nhớ được sử dụng bởi các đối tượng có bất kỳ tham chiếu nào.

Bộ nhớ Stack – Stack Memory

Stack memory được sử dụng cho quá trình thực thi của mỗi thread.

Stack memory bao gồm các giá trị cụ thể của method: các biến local và các tham chiếu tới các đối tượng chứa ở trong heap memory được tham chiếu bởi method.

Stack memory được tham chiếu theo thứ tự LIFO (Last In First Out – vào cuối cùng thì ra đầu tiên). Tức là lưu trữ kiểu ngăn xếp (stack). Khi có một method được thực thi, một block được tạo ra trong stack memory để chứa các biến nguyên thủy local và các tham chiếu tới các object. Khi method kết thúc, block đó sẽ không còn được sử dụng và được phục vụ cho method tiếp theo.

Stack memory có kích thước rất nhỏ so với Heap memory.

Ví dụ 1:

Dòng thứ 1: khi khai báo int i = 4 nó sẽ đưa i = 4 vào stack

Dòng thứ 2: khi khai báo y = 2 nó sẽ đưa y = 2 vào stack (xếp trên i = 4)

Dòng thứ 3: khi khai báo class1 cls1 = new class1(): đây là kiểu đối tượng nên nó sẽ tạo đối tượng cls1 trong heap đồng thời chưa tham chiếu của đối tượng cls1 vào stack (xếp trên cùng trong stack)

Sau khi kết thúc method, bộ nhớ trong stack được giải phóng, còn bộ nhớ trong heap thì chưa. Bộ nhớ trong heap phải chờ cho tới khi garbage collector (bộ dọn rác) của Java quét qua để giải phóng.

Ví dụ 2:

Tương tự như ví dụ trên nhưng với trường hợp đối tượng cụ thể:

Điều đặc biệt ở đây là khi bạn khai báo String name = "kai". Giá trị "kai" sẽ được lưu trong String pool và biến name trong stack thực hiện tham chiếu tới “kai“. (String là kiểu dữ liệu đặc biệt, giá trị của nó luôn được lưu trong String pool)

Khi bạn khai báo Person p = new Person(age, name) nó sẽ tạo đối tượng p với age, name tương ứng vào bộ nhớ heap và thêm biến tham chiếu tới đối tượng p vào bộ nhớ tack.

Phân biệt Heap với Stack:

Okay, Done!

References:

https://docs.oracle.com/…/garbage_collect.html

https://gurunguns.wordpress.com/…/stack-heap-value-types-reference-types-boxing-and-unboxing/

Physical Memory Usage Là Gì? Tại Sao Cần Phải Biết Physical Memory Usage?

Ý nghĩa của các thông số trong cPanel

Trong cPanel có rất nhiều các thông số khác nhau, trong đó đáng để ý nhất là:

Là tỷ lệ CPU hiện thời mà bạn đang sử dụng trên tổng số 100% CPU của host. Thông số này tương tự như trên máy tính của bạn vậy. CPU Usage càng cao (gần với số lượng 1/ 1) thì host xử lý các tác vụ càng chậm, kéo đến blog/ web load càng chậm.

2. Memory Usage

Hay hiểu chuẩn xác hơn là Virtual Memory Usage (RAM ảo), là dung lượng RAM ảo mà bạn đang dùng trên tổng dung lượng RAM không có thực của hosting. tỉ lệ này càng cao thì hosting giải quyết các tác vụ càng chậm. Khi nó đạt đến số lượng 1/ 1 thì bạn sẽ nhận được thông báo lỗi 500 hoặc 503 (bị ngắt kết nối với server host) khi truy cập blog/ web. Tổng dung lượng RAM ảo càng cao thì càng tốt, ví dụ như trong hình bên trên, hosting của mình có 2GB RAM ảo.

3. Physical Memory Usage

Là dung lượng RAM vật lý (RAM thực) mà bạn đã dùng trên tổng dung lượng RAM vật lý của host. Cũng tương tự như RAM không có thực, khi số lượng này đạt đến 1/ 1, blog/ web của bạn sẽ gặp phải lỗi 500 hoặc 503. Tổng dung lượng RAM vật lý của hosting càng cao thì càng tốt, ít nhất phải đạt từ 1GB trở lên.

4. Entry Processes

Là số lượng tác vụ đang xử lý tại một thời điểm trên tổng số tác vụ mà host đủ nội lực xử lý cùng lúc. Entry Process được xây dựng nhằm chống lại các cuộc tấn công DDOS vào server. Khi tỉ lệ này đạt đến 1/ 1, blog/ web của bạn sẽ gặp lỗi 508 (Resource Limit Reached).

Tổng số tác vụ mà host đủ sức giải quyết đồng thời (Entry Processes Limit hay còn gọi là Concurrent Connections) không đồng nghĩa với số người có thể truy cập đồng thời vào blog/ website của bạn.

gợi ý, gói US Nano trong dịch vụ WordPress hosting chỉ có Entry Processes Limit là 20 nhưng có thể chịu được vài trăm người Trực tuyến cùng một lúc nếu mã gốc blog/ website của bạn được tăng cao tốt.

5. Number of Processes

Thông số này làm chủ tổng số tiến trình có trong host. Khi nó đạt đến tỉ lệ 1/ 1, k có bất cứ quá trình nào đủ nội lực khởi chạy nữa (cho đến khi các công cuộc khác bị ngắt) và bạn có thể sẽ gặp phải lỗi 500 hoặc 503 khi truy cập blog/ website. Cũng tương tự giống như Entry Processes Limit, Number of Processes Limit càng cao thì càng tốt.

6. I/O Usage

Hay IO Limits, là hạn chế tốc độ truyền tải dữ liệu từ host đến khách truy cập blog/ website của bạn, được tính bằng KB/s. Khi số lượng của thông số này đạt đến 1/ 1, tốc độ sharing dữ liệu sẽ trở nên chậm hơn, khiến cho blog/ website load chậm hơn. IO Limitscàng lớn thì càng tốt. ví dụ dịch vụ WordPress host do WP Căn bản phân phối có IO Limits lên tới 30MB/s, cao gấp 6 lần mức 5MB/s của StableHost và HawkHost.

7. IOPS

Hay IOPS Limits, là hạn chế số lần đọc/ ghi mỗi giây của hosting. Khi số lượng đạt tới 1/ 1, hoạt động đọc/ ghi của hosting sẽ dừng lại cho đến khi… giây bây giờ chấm dứt. IOPS Limits càng cao thì càng tốt. ví dụ IOPS của dịch vụ WordPress host do WP Căn bản phân phối là 7680, cao gấp 7,5 lần mức 1024 của StableHost và HawkHost.

8. Một vài thông số không giống

Inodes: tỉ lệ file hiện có trên tổng tỉ lệ file được phép lưu trữ trên hosting. Một số dịch vụ host k giới hạn dung lượng lưu trữ nhưng hạn chế số lượng file được phép lưu trữ trên host. gợi ý con số này ở StableHost là 250.000, ở HawkHost là 500.000. Dịch vụ WordPress host của WP Căn bản k giới hạn tỉ lệ file được phép lưu trữ.

Disk Usage: dung lượng lưu trữ mà bạn vừa mới dùng trên tổng dung lượng của host.

MySQL Disk Usage: dung lượng mà bạn đang sử dụng để lưu trữ database trên tổng dung lượng của hosting.

Bandwidth: băng thông mà bạn vừa mới dùng trên tổng số băng thông khả dụng của hosting, thường được thống kê theo tháng.

email Accounts: số account email mà bạn đã có trên tổng số account mail khả dụng của host.

Addon Domains: số lượng addon tên miền mà bạn đã thêm trên tổng số addon tên miền khả dụng của host.

Subdomains: tỉ lệ subdomain mà bạn đang thêm trên tổng số subdomain khả dụng của hosting.

Aliases: tỉ lệ parked domain mà bạn đã thêm trên tổng số parked tên miền khả dụng của host.

FTP Accounts: số lượng tài khoản FTP mà bạn đã tạo trên tổng số tài khoảng FTP khả dụng của host.

MySQL Databases: số lượng database mà bạn đã tạo trên tổng số database đủ nội lực tạo trên host.

giới hạn của các thông số kể trên càng cao thì càng tốt. tuy nhiên, chúng gần như k tác động đến tốc độ load blog/ web của bạn.

Hy vọng, qua post này, các bạn đang hiểu hơn về các thông số trong cPanel host và lựa chọn được cho mình một dịch vụ host thích hợp với nhu cầu dùng. Mọi thắc sang chảnh và góp ý về các thông số trong cPanel, xin vui lòng gửi vào khung cmt bên dưới để được hỗ trợ và giải đáp.

Nguồn: chúng tôi Edit by Lion

8.10 Phân Loại Các Vùng Nhớ (Stack &Amp; Heap …)

Chào các bạn đang theo dõi khóa học lập trình trực tuyến ngôn ngữ C++.

Sau khi tìm hiểu một số khái niệm cơ bản về con trỏ, cấp phát động, … chúng ta đã thấy được dãy địa chỉ bộ nhớ ảo được chia thành nhiều phân vùng khác nhau và được sử dụng cho những mục đích khác nhau. Trong bài học này, mình sẽ cùng các bạn tổng hợp lại chức năng của một số phân vùng trên bộ nhớ ảo.

Code segment

Code segment (text segment) là nơi mà lưu trữ các mã lệnh đã được biên dịch của các chương trình máy tính. Những mã lệnh trong phân vùng này sẽ được chuyển đến CPU xử lý khi cần thiết. Code segment chỉ chịu sự chi phối của hệ điều hành, các tác nhân khác không thể can thiệp trực tiếp đến phân vùng này. Việc đưa các mã lệnh đã được biên dịch của chương trình lên phân vùng code segment là công việc đầu tiên mà hệ điều hành cần làm khi chúng ta chạy chương trình.

Data segment

Data segment (initialized data segment) là phân vùng mà hệ điều hành sử dụng để khởi tạo giá trị cho các biến kiểu static, biến toàn cục (global variable) của các chương trình.

BSS segment

BSS segment (uninitialized data segment) cũng được dùng để lưu trữ các biến kiểu static, biến toàn cục (global variable) nhưng chưa được khởi tạo giá trị cụ thể.

Heap segment

Heap segment (free srote segment) được sử dụng để cấp phát bộ nhớ thông qua kỹ thuật Dynamic memory allocation.

Để sử dụng kỹ thuật cấp phát bộ nhớ động, ngôn ngữ C++ đã hổ trợ sẵn cho chúng ta toán tử new. Ví dụ:

Toán tử new sau khi thực thi thành công sẽ trả về địa chỉ của vùng nhớ được cấp phát trên heap, chúng ta có thể sử dụng con trỏ có kiểu dữ liệu phù hợp để lưu trữ địa chỉ trả về này, và con trỏ cũng là công cụ duy nhất giúp chúng ta có thể xác định được vị trí vùng nhớ được cấp phát là ở đâu, và cũng thông qua con trỏ để chúng ta có thể giải phóng vùng nhớ đã được cấp phát.

Chúng ta không cần biết rõ cơ chế quản lý bộ nhớ Heap như thế nào, mà chỉ cần biết rằng bộ nhớ được cấp phát trên Heap sẽ không tự giải phóng cho đến khi nào toàn bộ chương trình đang chạy kết thúc. Do đó, nếu chương trình có thời gian chạy quá lâu mà không được giải phóng các vùng nhớ một cách hợp lý, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến việc cấp phát bộ nhớ động cho các chương trình khác.

Mình có thể kể ra một số ưu điểm và nhược điểm đáng chú ý khi sử dụng phân vùng Heap như sau:

Việc cấp phát bộ nhớ trên Heap chậm hơn các phân vùng khác.

Vùng nhớ đã được cấp phát sẽ vẫn thuộc quyền kiểm soát của chương trình đang chạy cho đến khi chúng được giải phóng, hoặc nhận được tín hiệu kết thúc chương trình.

Vùng nhớ được cấp phát phải được quản lý bởi ít nhất 1 con trỏ.

Toán tử dereference truy xuất đến vùng nhớ chậm hơn các biến thông thường.

Phân vùng Heap có dung lượng lớn nhất, nên chúng ta có thể sử dụng một cách thoải mái hơn các phân vùng khác.

Stack segment

Call Stack (thường được gọi là Stack) được dùng để cấp phát bộ nhớ cho tham số của các hàm (function parameters) và biến cục bộ (local variables). Call Stack được thực hiện theo cấu trúc dữ liệu stack, do đó, trước khi nói về phân vùng Stack trên bộ nhớ ảo mình sẽ trình bày cho các bạn về cấu trúc dữ liệu stack trước.

Stack data structure

Stack là một cơ chế tổ chức dữ liệu. Các bạn cũng từng làm việc với một kiểu tổ chức dữ liệu khá phổ biến là mảng một chiều. Mỗi cấu trúc dữ liệu sẽ tổ chức dữ liệu dưới một cơ chế khác nhau để sử dụng hiệu quả trong từng công việc cụ thể. Bây giờ chúng ta xem xét cấu trúc dữ liệu stack.

Những đĩa CD này được đặt chồng lên nhau. Khi nhìn vào chồng đĩa CD này, chúng ta chỉ có thể thực hiện 3 công việc:

(1) Nhìn vào đĩa CD trên cùng của chồng đĩa.(2) Lấy ra một đĩa CD nằm trên cùng.(3) Đặt thêm một đĩa CD lên trên cùng của chồng đĩa.

Do đó, chúng ta có thể nhận thấy ngay việc tổ chức dữ liệu theo cơ chế stack gặp nhiều hạn chế hơn so với tổ chức dữ liệu theo mảng một chiều.

Khi sử dụng mảng một chiều, chúng ta có thể truy cập vào bất kì phần tử nào bên trong mảng bằng cách đưa ra chỉ số của phần tử. Nhưng đối với stack thì không được. Chúng ta chỉ có thể thao tác với phần tử nằm trên cùng (ngoài cùng). Chúng ta thường nói stack hoạt động theo cơ chế “Last-in, first-out”. Có nghĩa là phần tử nào được thêm vào mảng sau cùng thì sẽ được lấy ra đầu tiên.

Ví dụ:

Stack ban đầu của chúng ta là

Thêm vào phần tử có giá trị là 3

Thêm vào phần tử có giá trị 9

Lấy một phần tử ra khỏi stack

Call Stack segment

Call stack segment cũng hoạt động dựa trên cơ chế tổ chức dữ liệu như stack. Khi bắt gặp một dòng lệnh khai báo biến, nếu biến đó là biến cục bộ hoặc tham số hàm, nó sẽ được cấp phát tại địa chỉ lớn nhất hiện tại trên Stack. Khi một biến cục bộ hoặc tham số của hàm ra khỏi phạm vi khối lệnh, nó sẽ được đưa ra khỏi Stack.

Để kiểm chứng điều này, các bạn có thể chạy thử đoạn chương trình sau:

Đoạn chương trình này khai báo lần lượt 5 biến cục bộ liên tiếp nhau. Nếu trong trường hợp tại thời điểm khai báo, chỉ có chương trình này được CPU xử lý, chúng ta sẽ thấy địa chỉ của 5 biến cục bộ này có địa chỉ liên tiếp nhau.

Địa chỉ sau cách địa chỉ trước đó đúng bằng kích thước của kiểu dữ liệu int.

Như vậy, lần lượt biến n1 n2 n3 n4 và n5 được cấp phát tại những địa chỉ tiếp theo (từ thấp đến cao) trên phân vùng Stack, và khi ra khỏi hàm main, lần lượt biến n5 n4 n3 n2 và n1 sẽ bị đưa ra khỏi Stack.

Stack overflow

Phân vùng Stack có kích thước khá hạn chế. Trên hệ điều hành Windows mà mình đang sử dụng, Call Stack chỉ có kích thước khoảng 1MB. Nếu chúng ta cố gắng cho chương trình cấp phát vùng nhớ trên Stack vượt quá kích thước của Stack, chúng ta gọi đó là hiện tượng tràn bộ nhớ phân vùng Stack (Stack overflow).

Một số ưu và nhược điểm có thể nhận thấy khi sử dụng phân vùng Stack

Việc cấp phát bộ nhớ trên Call Stack khá nhanh.

Nhìn vào mã nguồn chương trình, chúng ta có thể biết được thời điểm cấp phát và hủy vùng nhớ của biến trên Stack.

Kích thước vùng nhớ cấp phát trên phân vùng Stack phải được khai báo rõ ràng trước khi biên dịch.

Vùng nhớ trên phân vùng Stack có thể được truy cập trực tiếp thông qua định danh.

Kích thước của phân vùng Stack khá hạn chế.

Tổng kết

Trong bài học này, chúng ta đã cùng tìm hiểu qua một số phân vùng bộ nhớ trên dãy địa chỉ bộ nhớ ảo. Còn một phân vùng nữa thuộc vùng dịa chỉ nhỏ nhất, đứng trước Code segment là phân vùng dành cho hệ điều hành. Vì hệ điều hành cũng là một chương trình (nhưng thuộc về hệ thống) nên nó cũng cần được load lên bộ nhớ ảo như những chương trình thông thường. Điều đặc biệt là phân vùng này ngăn chặn mọi hành vi truy cập từ phía người dùng, do đó mình không đề cập đến trong bài học này.

Hẹn gặp lại các bạn trong bài học tiếp theo trong khóa học lập trình C++ hướng thực hành.

Mọi ý kiến đóng góp hoặc thắc mắc có thể đặt câu hỏi trực tiếp tại diễn đàn

chúng tôi

Sự Khác Nhau Giữa Bộ Nhớ Heap Và Bộ Nhớ Stack Trong Lập Trình

Như chúng ta đã biết thì việc Quản lý bộ nhớ đối với một lập trình viên là rất quan trọng.

Mục đích quan trọng của việc quản lý bộ nhớ là cung cấp những cách thức để cấp phát động các ô nhớ cho chương trình khi được yêu cầu và giải phóng các ô nhớ đó khi không cần dùng nữa. Đây là việc rất quan trọng đối với bất kỳ hệ thống máy tính cao cấp nào vì sẽ có nhiều công việc được tiến hành ở mọi thời điểm.

Nhiều phương pháp đã được tìm ra để gia tăng hiệu quả của việc quản lý bộ nhớ. Những hệ thống bộ nhớ ảo giúp tách những địa chỉ ô nhớ đang được dùng ra khỏi những địa chỉ thực, từ đó cho phép chia sẻ công việc và gia tăng lượng RAM một cách hiệu quả nhờ đánh dấu địa chỉ hoặc chuyển đến vùng lưu trữ thứ hai. Chất lượng của việc quản lý bộ nhớ ảo có thể có tác dụng lớn đến hiệu năng làm việc của hệ thống nói chung.

Bộ nhớ Heap và bộ nhớ Stack bản chất đều cùng là vùng nhớ được tạo ra và lưu trữ trong RAM khi chương trình được thực thi.

Bộ nhớ Stack được dùng để lưu trữ các biến cục bộ trong hàm, tham số truyền vào… Truy cập vào bộ nhớ này rất nhanh và được thực thi khi chương trình được biên dịch.

Bộ nhớ Heap được dùng để lưu trữ vùng nhớ cho những biến con trỏ được cấp phát động bởi các hàm malloc – calloc – realloc (trong C) hoặc từ khóa new (trong c++, c#, java,…).

Ví dụ trong ngôn ngữ lập trình C++:

Ngoài ra, còn rất nhiều trọng điểm để so sánh sự khác nhau giữa bộ nhớ Heap và bộ nhớ Stack như :

Kích thước vùng nhớ Stack: kích thước của bộ nhớ Stack là cố định, tùy thuộc vào từng hệ điều hành, ví dụ hệ điều hành Windows là 1 MB, hệ điều hành Linux là 8 MB (lưu ý là con số có thể khác tùy thuộc vào kiến trúc hệ điều hành của bạn). Heap: kích thước của bộ nhớ Heap là không cố định, có thể tăng giảm do đó đáp ứng được nhu cầu lưu trữ dữ liệu của chương trình.

Đặc điểm vùng nhớ Stack: vùng nhớ Stack được quản lý bởi hệ điều hành, dữ liệu được lưu trong Stack sẽ tự động hủy khi hàm thực hiện xong công việc của mình. Heap: Vùng nhớ Heap được quản lý bởi lập trình viên (trong C hoặc C++), dữ liệu trong Heap sẽ không bị hủy khi hàm thực hiện xong, điều đó có nghĩa bạn phải tự tay hủy vùng nhớ bằng câu lệnh free (trong C), và delete hoặc delete [] (trong C++), nếu không sẽ xảy ra hiện tượng rò rỉ bộ nhớ. Ở các ngôn ngữ lập trình bậc cao như .NET, Java, … đã có chế dọn rác tự động (Garbage Collection), bạn không cần phải tự tay hủy vùng nhớ Heap nữa.

Lưu ý: việc tự động dọn vùng nhớ còn tùy thuộc vào trình biên dịch trung gian.

Bạn sử dụng Stack nếu bạn biết chính xác lượng dữ liệu mà bạn phân bổ trước khi biên dịch và dữ liệu không quá lớn. Ngược lại, bạn nên sử dụng Heap…

Note: Trong các ứng dụng đa luồng chạy song song (multithreading), mỗi luồng xử lý (thread) sẽ có vùng nhớ Stack riêng của nó, trong khi tất cả các luồng cùng chia sẻ một vùng nhớ Heap. Sử dụng chung vùng nhớ Heap đồng nghĩa với việc phải đồng bộ hóa để tránh tình trạng xảy ra mâu thuẫn giữa các luồng, cho nên cấp phát vùng nhớ Heap phải cài đặt thêm một số cơ chế do đó thực hiện lâu hơn so với cấp phát vùng nhớ Stack. Cấp phát và hủy vùng nhớ Heap liên tục có thể xảy ra tình trạng phân mảnh bộ nhớ, từ phân mảnh bộ nhớ có thể dẫn đến lỗi cấp phát bộ nhớ thất bại như những mô tả ở trên.

All Rights Reserved

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Biệt Heap Memory Và Stack Memory Trong Java trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!