Đề Xuất 12/2022 # Phát Triển Năng Lực Kể Chuyện Cho Giáo Viên Tiểu Học / 2023 # Top 18 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Phát Triển Năng Lực Kể Chuyện Cho Giáo Viên Tiểu Học / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phát Triển Năng Lực Kể Chuyện Cho Giáo Viên Tiểu Học / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt: trong chương trình tiếng việt ở bậc tiểu học, kể chuyện là một phân môn quan trọng không chỉ hình thành các kĩ năng mà còn góp phần phát triển trí tuệ, tình cảm, đạo đức cho HS. Để một tiết dạy không đơn điệu, nhàm chán, lôi cuốn được HS cùng tham gia, GV cần trau dồi năng lực kể chuyện. Bài viết đưa ra các kĩ năng kể chuyện ở từng khối lớp, các yêu cầu về năng lực kể chuyện của GV để làm tiền đề cho việc đưa ra các biện pháp nhằm phát triển các năng lực kể chuyện cần có như phát huy các năng lực thiết kế và sáng tạo thủ công kĩ thuật; khơi gợi, kích thích hứng thú cho HS; xây dựng các bài tập kể chuyện sáng tạo; sân khấu hóa truyện kể… Từ khóa: năng lực, kể chuyện, Tiếng Việt, Tiểu học 1. Mở đầu Trong các phân môn của Tiếng Việt, Kể chuyện là một môn học quan trọng, giúp hình thành và phát triển toàn diện các kĩ năng của học sinh. Kể chuyện tạo cho học sinh tư duy phân tích tổng hợp, biết cách tóm tắt, diễn đạt; rèn kĩ năng nói, giúp học sinh mở rộng vốn từ; rèn kĩ năng kể mạch lạc, diễn cảm, biết hóa thân vào nhân vật khi kể, hiểu ý nghĩa nội dung từng câu chuyện. Kể chuyện góp phần rất lớn vào việc phát triển trí tuệ, tình cảm, đạo đức; hình thành phẩm chất, nhân cách cho trẻ. Có thể nói, Kể chuyện là một phân môn lí thú, hấp dẫn ở trường Tiểu học. Mỗi tiết Kể chuyện đi sâu vào tâm hồn ngây thơ của trẻ, thật sự thu hút sự chú ý, lắng nghe, sự suy ngẫm hồn nhiên của trẻ. Để làm được điều đó, giáo viên cần phát huy năng lực kể chuyện của mình nhằm giúp cho các tiết dạy đạt hiệu quả cao như mong muốn. Thực tế giáo viên tại một số trường Tiểu học hiện nay một số giáo viên tại các trường Tiểu học thiếu năng lực tổ chức giờ học, chưa phát huy hết năng lực kể chuyện: giọng kể tẻ nhạt, chưa thu hút; chưa thuộc cốt truyện, chưa thoát li văn bản; chưa thấm nhuần nội dung câu chuyện nên kể chuyện vô cảm, không truyền được cảm hứng cho học sinh; đồ dùng dạy học nghèo nàn…. Điều này đã biến tiết Kể chuyện trở nên đơn điệu, học sinh thụ động, không phát huy được tài năng, sự sáng tạo cũng như kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh. Trước thực tế này, bài tham luận hướng đến việc phát huy năng lực kể chuyện cho giáo viên Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy cho bộ môn này. 2. Phát triển năng lực kể chuyện cho giáo viên Tiểu học 2.1 Phân môn Kể chuyện trong chương trình Tiểu học Nhìn chung, quá trình dạy học là một quá trình nghệ thuật, khoa học, tinh tế và độc đáo. Đối với phân môn Kể chuyện thì đặc điểm này càng được bộc lộ rõ nét, sâu sắc.Việc sử dụng các kĩ năng để tiến hành một tiết dạy trên lớp cho hiệu quả hoàn toàn tùy thuộc vào năng lực của người giáo viên. Khác với các môn học khác, phân môn Kể chuyện mang dấu ấn cá nhân rõ nhất. Để phát huy năng lực kể chuyện, giáo viên cần nắm vững yêu cầu chung của kể chuyện: kể một cách tự nhiên, với giọng kể và điệu bộ phù hợp với từng nhân vật trong câu chuyện, biết đưa vào câu chuyện một số câu từ của bản thân làm cho câu chuyện thêm cụ thể và hấp dẫn (kể lại câu chuyện bằng lời của mình). Các khối lớp khác nhau thì yêu cầu của kể chuyện cũng khác nhau. Do đó giáo viên có năng lực tốt sẽ biết khai thác hiệu quả các yêu cầu ở từng khối lớp để mang lại chất lượng cho một tiết kể chuyện. *Kĩ năng kể chuyện ở lớp 1: Học sinh lớp 1 chỉ yêu cầu kể lại được một vài tình tiết của câu chuyện. Phương pháp chung là giáo viên kể, học sinh nghe. Ở đây, việc tập kể lại của học sinh mới chỉ yêu cầu ở một mức độ đơn giản: tập kể lại một đoạn ngắn, thậm chí từng tình tiết, tập trả lời câu hỏi dễ. *Kĩ năng kể chuyện ở lớp 2,3: Học sinh được yêu cầu kể lại 1 đoạn hoặc cả truyện, kèm theo ngữ điệu và nét mặt biểu cảm thích hợp. Phương pháp chung ở lớp 2,3 là giáo viên kể, học sinh nghe và kể lại từng đoạn hoặc cả truyện đối với truyện có tình tiết đơn giản.Trong khi học sinh tập kể lại, giáo viên nên khuyến khích học sinh sử dụng ngôn ngữ của bản thân mình. *Kĩ năng kể chuyện ở lớp 4,5: Học sinh có thể kể lại một đoạn truyện dài và cả câu chuyện. Ngoài việc nhớ tình tiết truyện, cốt truyện, học sinh lớp 4,5 cần dùng từ, diễn đạt mạch lạc, rõ ràng. Giáo viên khuyến khích các em sử dụng vốn từ của bản thân để kể lại câu chuyện. Giáo viên có năng lực sẽ hình thành và rèn luyện được cho học sinh kĩ năng diễn đạt bao gồm kĩ năng nói, kĩ năng dùng từ, lựa chọn từ, đặt câu. Nói cho rành mạch, rõ ràng, nói có ngữ điệu, có lên giọng xuống giọng ở những chỗ cần thiết, nói bằng ngôn ngữ của riêng mình. Bên cạnh đó đối với học sinh lớp 4,5, kĩ năng kể chuyện ở đây còn bao gồm cả kĩ năng truyền cảm. Kĩ năng truyền cảm ở đây là khả năng thể hiện cảm xúc qua lời kể, giọng điệu, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…phù hợp với nội dung câu chuyện. Những cung bậc cảm xúc sẽ qua giọng kể của học sinh lan tỏa đến cho người nghe. Giáo viên cần nắm bắt các yêu cầu kĩ năng này để rèn cho học sinh và cả cho bản thân mình. 2.2. Những yêu cầu về năng lực Kể chuyện của giáo viên Trên cơ sở nắm vững các yêu cầu của kĩ năng kể chuyện được qui định ở từng khối lớp, giáo viên cần đáp ứng các yêu cầu về năng lực kể chuyện như sau: 2.2.1 Trau dồi năng lực cảm thụ tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, phức tạp, có tính đa nghĩa. Các văn bản truyện kể trong phân môn Kể chuyện ở bậc tiểu học là các tác phẩm văn học đặc sắc, được chọn lọc tiêu biểu, mang tính nghệ thuật và tính nhân văn cao. Muốn thẩm thấu được linh hồn của các tác phẩm, giáo viên cần trau dồi năng lực cảm thụ văn học. Khi đọc một tác phẩm, giáo viên không chỉ hiểu mà còn biết rung động trước những giá trị nghệ thuật nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và cao đẹp mà tác giả gửi gắm vào đứa con tinh thần của mình. Giáo viên cần hiểu thấu đáo văn bản truyện qua lớp ngôn từ đa nghĩa, giàu sức biểu cảm; nắm vững đặc trưng thể loại của văn bản nghệ thuật mà cụ thể ở đây là truyện, từ đó vận dụng thích hợp lời kể, sử dụng đúng ngôn ngữ kể. Cảm thụ tốt văn bản truyện, giáo viên mới có khả năng đồng cảm, thể hiện những suy tư về số phận của từng nhân vật trong câu chuyện, từ đó lây lan những xúc cảm tích cực này đến học sinh qua lời kể truyền cảm của mình. Cảm thụ tốt văn bản truyện còn giúp giáo viên rút ra những bài học ý nghĩa cho học sinh sau khi kể xong câu chuyện, giúp các em bồi dưỡng thế giới tâm hồn phong phú. 2.2.2 Bồi dưỡng nghệ thuật kể chuyện Người kể chuyện có nghệ thuật sẽ có tác dụng truyền cảm tức thời. Nếu truyện có nội dung và nghệ thuật hấp dẫn, người kể có phương pháp kể chuyện truyền cảm thì tiết Kể chuyện đó thành công. Ngôn ngữ nghệ thuật có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tâm hồn, trí tuệ, tình cảm của học sinh. Bằng nghệ thuật ngôn từ, người kể sẽ làm cho câu chuyện cất tiếng nói, vẽ ra một thế giới như cuộc đời thực. Giáo viên cần trau dồi cách nói nghệ thuật, sử dụng từ ngữ có hình ảnh, kể mà như tả, như vẽ, như dựng lại những tình tiết của truyện. Để gây được hứng thú cho học sinh trong giờ Kể chuyện, thu hút các em say sưa lắng nghe, giáo viên cần sắp xếp hệ thống từ ngữ để diễn đạt cho hay, cho đẹp. Muốn đạt được điều này, giáo viên cần nắm các nội dung sau: +Nắm cốt truyện: Giáo viên cần phải thuộc truyện, nắm cốt truyện để tránh tình trạng ngập ngừng, lúng túng khi kể. Giáo viên cũng cần nhận biết các tình tiết chính và tình tiết phụ. Khi kể cần tập trung gây ấn tượng ở các tình tiết, sự kiện chính để khắc sâu vào trí nhớ học sinh. Giáo viên tránh sa đà vào các sự kiện, chi tiết phụ khiến câu chuyện lan man, dài dòng. Giáo viên cần biết khai thác hệ thống tranh trong sách giáo khoa và hướng dẫn học sinh kể tình tiết, sự kiện chính trong tranh. +Nắm nguyên tắc ngắt giọng: Đó là cách ngừng, nghỉ đúng chỗ, hợp lí khi kể, là phương tiện để bộc lộ ý tứ của câu chuyện. Giáo viên cần luyện ngắt giọng một cách tự nhiên, phù hợp và theo đúng ý đồ của tác giả. Giáo viên cũng cần phân biệt được 2 kĩ thuật ngắt giọng : đó là ngắt giọng biểu cảm và ngắt giọng logic. + Làm chủ tốc độ, cường độ: Kể chuyện cần có một nhịp điệu phù hợp; kể nhanh hay chậm, to hay nhỏ, nhấn giọng ở các chỗ quan trọng nào là tùy vào từng nội dung câu chuyện. Giáo viên cần rèn luyện xử lí cho phù hợp. Việc điều chỉnh tốc độ, cường độ là một thủ thuật quan trọng trong quá trình kể chuyện. Đó là độ vang, độ hoàn chỉnh của giọng, là khả năng điều chỉnh giọng từ to sang nhỏ, từ nhỏ sang to cho phù hợp nội dung câu chuyện. + Xử lí giọng điệu cho từng câu chuyện: Mỗi câu chuyện cần có các giọng điệu riêng, giáo viên cần nhạy bén nhận ra sự đa dạng trong giọng điệu của từng câu chuyện. Giáo viên cần giúp học sinh xác định giọng điệu riêng của nhân vật, biết cách nhập vai, hóa thân vào từng nhân vật. Làm tốt được phần này, thế giới nhân vật trong câu chuyện sẽ như hiển hiện ra đầy đủ, sinh động trước mắt các học sinh. + Tận dụng các yếu tố phi ngôn ngữ: Các yếu tố phi ngôn ngữ như ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…có vai trò làm tăng không khí và cái hồn cho câu chuyện kể. Chúng giúp giáo viên có thể lan truyền tình cảm, hứng thú sang học sinh một cách trực tiếp. Tóm lại giáo viên cần nắm bắt các yếu tố của nghệ thuật kể chuyện để nâng cao chất lượng giờ dạy, mở rộng thế giới tâm hồn, mang lại hứng thú, say mê cho học sinh. 2.3. Một số biện pháp phát triển năng lực kể chuyện cho giáo viên 2.3.1 Phát huy các năng lực thiết kế và sáng tạo thủ công kĩ thuật Kể chuyện cần kết hợp với sử dụng đồ dùng dạy học trực quan sinh động, phong phú làm tăng sự hấp dẫn, lôi cuốn cho câu chuyện. Các đồ dùng dạy học có thể kể đến như: *Các đồ dùng trực quan khác: Các hình ảnh trên internet, tranh ảnh từ sách truyện, phục trang và đạo cụ kèm theo cho câu chuyện… giáo viên có thể tự làm nhằm góp phần phục dựng không khí, thế giới của câu chuyện kể. Khai thác tốt đồ dùng dạy học sẽ giúp trẻ bước vào thế giới sinh động của các nhân vật trong câu chuyện, khiến các em thích thú, say mê với câu chuyện. *Sáng tạo các đồ dùng dạy học : Bằng sự khéo léo và tài năng như vẽ, cắt, gấp giấy, may, vá…giáo viên có thể tạo ra thế giới các trang phục, đạo cụ phục vụ cho câu chuyện thêm phần sinh động, hấp dẫn. 2.3.2 Khơi gợi, kích thích hứng thú cho học sinh Một giáo viên có năng lực sẽ biết cách khơi gợi, kích thích hứng thú nơi học sinh từ nhiều cách khác nhau như: *Sử dụng câu hỏi gợi ý: Sau khi nghe giáo viên kể, học sinh sẽ kể lại từng đoạn truyện và cả truyện. Nếu học sinh ngập ngừng, không kể được, giáo viên cần đặt câu hỏi gợi ý. Yêu cầu câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu, có tính gợi mở chứ không phải “trả lời thay” cho học sinh. Cũng có khi giáo viên đang kể câu chuyện, để làm tăng thêm tính tò mò, gây cấn, giáo viên đặt câu hỏi gợi mở. Học sinh sẽ như bị cuốn hút vào thế giới câu chuyện. *Sử dụng các động tác diễn xuất: Trong dạy Kể chuyện, sáng tạo là yếu tố hàng đầu. Đây là một thách thức lớn về chuyên môn nghiệp vụ đối với giáo viên. Giáo viên có năng lực kể chuyện cũng như một nghệ sĩ giỏi đóng vai, hóa thân. Các động tác diễn xuất kèm theo sẽ tác động vào tâm tư, tình cảm và sở thích của học sinh. Giáo viên có tài năng diễn xuất cũng sẽ bồi dưỡng, phát triển khả năng kể chuyện ở học sinh. Khả năng diễn xuất không tự nhiên mà có, giáo viên cần có ý thức thực hành, rèn luyện qua các câu chuyện. Muốn đạt được điều này, giáo viên nên luyện kể trước ở nhà, suy nghĩ các động tác kèm theo phù hợp với nội dung của từng câu chuyện. 2.3.3 Xây dựng các bài tập kể chuyện sáng tạo Để giờ kể chuyện phát huy được khả năng sáng tạo của học sinh và cá thể hóa hoạt động của mỗi em, bên cạnh cách kể chuyện theo nội dung văn bản (cho học sinh lớp 3, 4, 5), giáo viên sẽ hướng dẫn cách kể chuyện sáng tạo: thay lời nhân vật kể lại câu chuyện, sáng tạo một kết thúc khác cho câu chuyện… Cố nhiên, để làm được điều này, giáo viên phải hiểu rõ đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm tự sự, phải có khả năng nhận diện các thủ pháp kể chuyện để từ đó giúp học sinh phát hiện và xác định cách kể nào là phù hợp nhất. Các bài tập sáng tạo như thế này sẽ giúp học sinh phát huy trí tưởng tượng tuyệt vời nơi các em. 2.3.4. Sân khấu hóa truyện kể Giáo viên có thể dàn dựng câu chuyện thành một vở kịch thu hút các học sinh cùng tham gia. Muốn như thế, giáo viên cần có kĩ năng xây dựng lời kể chuyện, kĩ năng tạo lập các mẩu đối thoại, kĩ năng phân vai nhân vật đến từng học sinh trong lớp. Để thực hiện được một vở kịch trên lớp, giáo viên cần lên kế hoạch chuẩn bị: từ khâu viết kịch bản thoại, đến khâu phân vai cho từng học sinh, lên ý tưởng về trang phục, đạo cụ, cảnh trí kèm theo. Giáo viên có thể phân việc cho các học sinh ở các công đoạn chuẩn bị của vở kịch để phát huy khả năng, sự sáng tạo của các em như thiết kế trang phục, cảnh trí, xây dựng lời thoại… 3. Kết luận Kể chuyện là một môn học đầy tính sáng tạo. Giáo viên cần nắm vững đặc trưng phân môn này, trau dồi năng lực kể chuyện để góp phần đổi mới giờ dạy kể chuyện, mang lại những tiết học đầy lí thú. Trong khuôn khổ bài tham luận ngắn, chúng tôi đưa ra các kĩ năng kể chuyện ở từng khối lớp, các yêu cầu về năng lực kể chuyện của giáo viên để làm tiền đề cho việc đưa ra các biện pháp nhằm phát triển các năng lực kể chuyện cần có ở giáo viên. Có rất nhiều biện pháp nhằm phát huy năng lực kể chuyện cho giáo viên, tiêu biểu là: Phát huy các năng lực thiết kế và sáng tạo thủ công kĩ thuật; khơi gợi, kích thích hứng thú cho học sinh; xây dựng các bài tập kể chuyện sáng tạo; sân khấu hóa truyện kể…Tùy vào đặc điểm đối tượng học sinh, tùy vào điều kiện từng trường, giáo viên sẽ lựa chọn các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng các giờ Kể chuyện ở tiểu học. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hoàng Hòa Bình, Dạy văn cho học sinh Tiểu học, NXB GD, 1998. [2] Dương Thu Hương, Giáo trình cảm thụ văn học, NXB Đại học Sư phạm, 2009. [3] Nguyễn Quang Ninh (chủ biên), Đào Ngọc, Bộ GD&ĐT, “Dự án phát triển giáo viên tiểu học”, Tiếng Việt thực hành, NXB GD, NXB Đại học Sư phạm, 2007. [4] Bộ GD&ĐT, “Dự án mô hình trường học mới”, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Tập 2, NXB Đại học Sư phạm. [5] Nguyễn Trí, Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, NXB Giáo dục, 2003.

Ngũ Nhị Song Hiền – Khoa Sư phạm

Dạy Học Hợp Tác Phát Triển Năng Lực Và Kỹ Năng Cho Học Sinh / 2023

Năng lực hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện nay, chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác từ trong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới.

Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ chính là sự phản ánh thực tiễn của xu thế đó.

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của học sinh.

1. Bản chất

Đây là một PPDH mà “ học sinh được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung”.

2. Quy trình thực hiện

Cấu tạo của một hoạt động theo nhóm (trong một phần của tiết học, hoặc một tiết, một buổi) có thể là như sau:

Bước 1. Làm việc chung cả lớp

Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí làm việc cho các nhóm.

Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm (nếu cần).

Bước 2. Làm việc theo nhóm

Lập kế hoạch làm việc

Thỏa thuận quy tắc làm việc

Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập.

Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.

GV tổng kết và nhận xét, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo.

3. Ưu điểm

Học sinh được học cách cộng tác trên nhiều phương diện

Học sinh được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua cách học đó, kiến thức của hs sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của hs được rèn luyện và phát triển.

Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau. Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra. Học sinh hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp.

Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của học sinh thêm phong phú; kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác của học sinh được phát triển.

4. Hạn chế

Một số học sinh do nhút nhát hoặc vì một lí do nào đó không tham gia vào hoạt động chung cuả nhóm, nên nếu giáo viên không phân công hợp lí có thể dẫn đến tình trạng chỉ có một vài học sinh khá tham gia còn đa số học sinh khác không hoạt động.

Ý kiến các nhóm có thể quá phân tán hoặc mâu thuẫn gay gắt với nhau (nhất là đối với các môn Khoa học xã hội).

Thời gian có thể bị kéo dài

Với những lớp có sĩ số đông hoặc lớp học chật hẹp, bàn ghế khó di chuyển thì khó tổ chức hoạt động nhóm. Khi tranh luận, dễ dẫn tới lớp ồn ào, ảnh hưởng đến các lớp khác.

5. Khi nào sử dụng phương pháp này

Chỉ những hoạt độngđòi hỏi sự phối hợp của các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn hoạt động động cá nhân thì mới nên sử dụng phương pháp này.

Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:

Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?

Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?

Học sinh đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?

Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?

Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?

Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

6. Các cách thành lập nhóm

Có nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Có thể theo sổ điểm danh, theo màu sắc, theo biểu tượng, theo giới tính, theo vị trí ngồi, hoặc có cùng sự lựa chọn,… Bảng sau đây trình bày 10 cách theo các tiêu chí khác nhau.

Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, tùy theo nhiệm vụ. Tuy nhiên, nhóm thường từ 3-5 học sinh là phù hợp.

7. Một số lưu ý

Khi làm việc theo nhóm, các nhóm có thể tự bầu ra nhóm trưởng nếu cần. Các thành viên trong nhóm có thể luân phiên nhau làm nhóm trưởng. Nhóm trưởng phân công cho mỗi thành viên thực hiện một phần công việc.

Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc có thể phân công mỗi nhóm viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ được giao là khá phức tạp.

Tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánh giá.

Tùy theo nhiệm vụ học tập, học sinh có thể sử dụng hình thức làm việc cá nhân hoặc hoạt động nhóm cho phù hợp, không nên thực hiện PPDH này một cách hình thức. Không nên làm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức (tránh lối suy nghĩ: đổi mới PPDH là phải sử dụng hoạt động nhóm).

Nguyễn Đức Loan (THCS Quyết Thắng, Hải Dương)

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học / 2023

Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi gi áo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường.

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học ((sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như : học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng KT vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng CNTT trong dạy học.

, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…

chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.

, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.

, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá) .

Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống.

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử , Trường học lớn(E-Learning), mạng trường học kết nối (BigSchool) …

Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy , kỹ thuật khăn trải bàn …

Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Và Giáo Dục Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh / 2023

Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.

I. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh.

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức(tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng KT vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng CNTT trong dạy học.

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…

Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.

Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.

Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá).

II. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học:1. Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

2. Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học

Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác.

3. Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống.

4. Vận dụng dạy học theo tình huống

5. Vận dụng dạy học định hướng hành động

Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội. Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành động.

6. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng trường học kết nối, Trường học lớn……………….

7. Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo

Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy, kỹ thuật khăn trải bàn…

8. Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn

Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn. Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học…

9. Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh

Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn.

Group:idialy.HLT.vn Fanpage: dialy.HLT.vn chúng tôi – Tài liệu Địa Lý miễn phí

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phát Triển Năng Lực Kể Chuyện Cho Giáo Viên Tiểu Học / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!