Đề Xuất 2/2023 # Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay # Top 8 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phong tục hôn nhân – cưới hỏi là dấu mốc quan trọng của đời người và đồng thời cũng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc. Tuy vậy, văn hóa là một phạm trù có sự tiếp biến, nên phong tục hôn nhân của mỗi dân tộc luôn có sự chọn lọc, thay đổi cho phù hợp hơn với thời đại mới, trên cái nền của bản sắc truyền thống.

Trầu cau là lễ vật không thể thiếu trong mỗi lễ cưới. Ảnh: sưu tầm

* Từ hôn nhân theo ý nguyện gia đình, dòng tộc…

TS Nguyễn Thị Nguyệt, giảng viên Trường đại học Văn hóa chúng tôi nhận định, hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không đơn thuần là việc hai người lấy nhau mà là việc của hai bên cha mẹ, hai dòng họ dựng vợ gả chồng cho con. Từ đó kéo theo việc xác lập quan hệ qua lại giữa hai gia tộc. Bên cạnh đó trong xã hội xưa, giáo dục gia đình thuần theo triết lý của Nho giáo nên hôn nhân luôn đặt trong tình huống Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy.

Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu đúc kết vấn đề kén rể, chọn dâu. Chẳng hạn: Lấy vợ xem tông, lấy chồng kén giống, việc đầu tiên không phải là lựa chọn cá nhân cụ thể cho cuộc hôn nhân mà là lựa chọn một gia đình, một dòng họ, xem hai bên có tương xứng không, có môn đăng hộ đối hay không.

Đám cưới hiện đại ngày nay có xu hướng giản lược nhưng luôn phải đảm bảo vấn đề cơ bản là đăng ký kết hôn để pháp luật công nhận, bảo vệ cuộc hôn nhân hợp pháp. Một số cặp đôi là công nhân lao động sống xa quê, không có điều kiện kinh tế, thì có khi tự tổ chức đám cưới và báo hỉ với gia đình, dòng tộc, tổ chức mâm cơm ra mắt tại quê nhà. Một số địa phương còn tổ chức đám cưới tập thể cho các cặp đôi công nhân lao động khó khăn, người khuyết tật…

Tiếp đó, trong xã hội Việt Nam trước đây, nghề nông nghiệp là chủ yếu nên cần nhiều nhân lực. Ông bà xưa rất quan tâm đến năng lực sinh sản, duy trì nòi giống của người phụ nữ. Người ta thường chúc đôi trai gái mới cưới có Con đàn cháu đống; việc chọn dâu cũng theo tiêu chí: Đàn bà thắt đáy lưng ong/ Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con; hoặc Mua heo chọn nái/ lấy gái chọn dòng…

Ngoài ra, đối tượng được dựng vợ gả chồng còn phải có trách nhiệm mang lại các lợi ích cho gia đình. Con rể phải mang về vẻ vang, hãnh diện cho gia đình vợ, và ngược lại con dâu phải đảm đang, quán xuyến cho gia đình chồng: Chồng sang vợ được đi giày/ Vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông.

Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa, gia đình ở xã hội Việt Nam truyền thống không tách rời khỏi làng và nước, mà ngược lại “nhà – làng – nước” là một thể thống nhất, có mối liên hệ chặt chẽ. Một trong những ví dụ cụ thể cho mối liên hệ này trong lĩnh vực hôn nhân là tục nộp cheo: Nuôi lợn thì phải vớt bèo/ Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; hoặc Lấy vợ không  cheo/ Tiền gieo xuống đất…

Như vậy, khi đôi trai gái lấy nhau phải nộp cho làng một khoản lệ phí gọi là cheo mới được làng xã công nhận khoản cheo này để làng xã dùng vào những việc chung, công ích. Đa phần tục nộp cheo phổ biến ở miền Bắc hơn vì tính cộng đồng mạnh mẽ được cố kết bởi những lũy tre làng. Còn ở phương Nam, đặc thù có nhiều kênh rạch bao quanh đã hình thành tính mở của làng. Việc nộp cheo không thể hiện rõ ràng như ở miền Bắc. Tuy vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu về di sản văn hóa làng xã ở xã Hiệp Phước, H.Nhơn Trạch, TS Nguyễn Thị Nguyệt cho biết ở xã Hiệp Phước xưa có tổ chức lễ lạy làng trong hôn nhân, thể hiện trách nhiệm của gia đình tổ chức hôn nhân đó đối với làng.

Nhìn rộng ra, hầu hết các cuộc hôn nhân xưa đều làm theo ý nguyện của cộng đồng, vì lợi ích của quốc gia như: cuộc hôn nhân đi vào lịch sử của Mỵ Châu – Trọng Thủy, công chúa Huyền Trân – vua Chàm Chế Mân…, hay ở phạm vi nhỏ hơn ở các gia tộc là vô số những cuộc hôn nhân của thường dân.

* … Đến tự do hôn nhân

Ngày nay, quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, được tôn trọng và thực hiện theo quy định của pháp luật, với các luật cụ thể như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới… Khác với trước đây Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thì ngày nay theo Luật Hôn nhân và gia đình, nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn, thì được tự nguyện quyết định trong việc kết hôn.

Các cặp đôi rước dâu bằng xe xích lô, trong tà áo dài truyền thống. Ảnh: TTXVN

Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.

Dưới góc nhìn văn hóa, TS Nguyễn Thị Nguyệt nhận định rõ ràng việc tự do yêu và tự do hôn nhân là sự tiến bộ của xã hội, nhưng nếu quan niệm tự do hôn nhân một cách thái quá cũng sẽ trở thành một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng “sống thử” để lại nhiều hệ lụy, nhất là trong giới sinh viên, hoặc công nhân lao động.

Ngoài ra, ngày nay, hôn nhân được hiểu thiên về chuyện cá nhân, riêng tư của mỗi người nhiều hơn trước nên một số tục lệ được điều chỉnh để phù hợp với thực tế. Cụ thể như lễ lạy làng ở xã Hiệp Phước đã được chuyển đổi thành lễ gia tiên, thường tổ chức vào đêm trước ngày rước dâu về nhà chồng. Hoặc việc xem tuổi xem đôi trai gái có hợp với nhau hay không, người con dâu tuổi có xung khắc với gia đình chồng hay không, xem ngày tốt để tổ chức các nghi lễ… vốn dĩ trước đây rất được coi trọng, nay không còn đặt nặng như trước nữa. Những ngày cưới thường được tổ chức vào dịp cuối tuần để tạo thuận lợi cho người tổ chức và tham dự lễ cưới, một số cặp vợ chồng tuy không hợp tuổi vẫn tiến đến hôn nhân và sống hạnh phúc với nhau… 

* Gìn giữ các giá trị văn hóa

Để cho quan hệ vợ chồng đời đời bền vững, theo sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của GS-TS Trần Ngọc Thêm thì khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương có tục trao cho nhau nắm đất và gói muối. Nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn bó với đất đai – làng xóm – quê hương; gói muối là lời chúc cho tình nghĩa giữa cặp vợ chồng thêm mặn mà chung thủy.

Trong đồ lễ vật của đám cưới ngày nay tuy không dùng đất và muối nhưng cũng luôn có một loại bánh rất đặc biệt có ý nghĩa là bánh su sê. Loại bánh được đọc chệch đi của từ phu thê – mang nghĩa vợ chồng. Bánh làm bằng bột lọc, nhân gồm đường, dừa, đậu xanh, rắc thêm mè, được nắn hình tròn, đặt trong một hộp vuông làm bằng lá dứa úp khíp vào nhau. Bánh su sê với hình vuông tròn như một biểu tượng của triết lý âm dương, biểu tượng của sự hòa hợp, vẹn toàn…

Trong phong tục hôn nhân của người Việt, trải qua hàng ngàn năm vẫn luôn có sự hiện diện của trầu cau – một biểu tượng văn hóa đặc biệt của dân tộc ta, thể hiện của sự mặn nồng trong các lễ cưới. Hình ảnh cây cau vươn cao là biểu tượng của trời, vôi lấy từ đá là biểu tượng của đất, dây trầu quấn quýt lên thân cây tạo nên sự hòa hợp, trở thành biểu tượng của tình yêu đôi lứa: Thưa rằng bác mẹ đã răng/ Làm thân con gái chớ ăn trầu người; hoặc Có trầu mà chẳng có cau/ Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm; hay Em về, anh  gởi buồng cau/ Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy…

Đáng chú ý, dù tiếp cận với nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng trang phục cưới truyền thống của cô dâu Việt không bao giờ thiếu tà áo dài. So với áo dài thường, áo dài cưới được may với loại vải có chất liệu cao cấp hơn, màu sắc cũng tươi sáng, rực rỡ hơn như: màu đỏ, vàng, hồng, trắng… Một số áo dài cưới được may cầu kỳ, cách điệu cho phù hợp với xu hướng thời trang, nhưng chung quy vẫn giữ được những nét cơ bản của tà áo dài, tôn vinh sự duyên dáng, nữ tính của người mặc nó. Trong một số đám cưới, chú rể cũng diện trang phục áo dài, đồng bộ với cô dâu.

Lâm Viên

1️⃣So Sánh Hôn Nhân Xưa Và Nay ® Blog Cưới

Ảnh: dantri

Ý nghĩa của lễ cưới

Ngày xửa ngày xưa

Ngoài sự đồng ý của hai bên gia đình, điều kiện tiên quyết còn lại là dựa vào hoàn cảnh của hai bên gia đình. Hai bên gia đình cần có địa vị và kinh tế phù hợp để cô dâu chú rể được chúc phúc.

Hôn nhân ngày xưa coi trọng lễ cưới, nó còn ý nghĩa hơn cả tờ hôn thú. Vì đây là dịp để chung vui, chia sẻ niềm vui với hai bên gia đình.

Ngày nay

Cùng với xu hướng hiện đại hóa và hội nhập với thế giới, các quan niệm dần thay đổi. Tiến trình hôn nhân không chỉ là sự đồng thuận của hai bên gia đình mà quan trọng là sự thấu hiểu, hòa hợp và quyết định của cô dâu, chú rể.

Cả hai cần đăng ký kết hôn và ý nghĩa của đám cưới dù thay đổi nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc như xưa. Vẫn là niềm vui chung của bạn bè, người thân để chúc phúc cho cặp đôi hướng đến hạnh phúc trăm năm.

Nghi thức đám cưới xưa và nay

Khi so sánh hôn nhân xưa và nay, điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất chính là nghi lễ cưới hỏi.

Ảnh: Lạc Văn phòng phẩm

Ngày xửa ngày xưa

Do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa cổ đại nên các nghi lễ cưới hỏi cũng mang nét đặc trưng của đất nước này. Các nghi lễ này được thực hiện nhiều giai đoạn hơn, nhưng phải kể đến các nghi thức chính sau:

– Lễ cất nóc: Nhà trai mang cặp “én” sang nhà gái thể hiện đã chọn được ý trung nhân. – Lễ ăn hỏi: Nhà trai đến hỏi họ tên, ngày tháng năm sinh của cô gái. – Lễ nạp cát: Lễ sẽ thông báo kết quả hợp tuổi, hợp tuổi thì tiến hành, nếu không hợp sẽ hủy. – Lễ nạp tệ: Nhà trai mang sính lễ sang nhà gái. – Lễ thỉnh: Lễ hỏi ngày giờ tốt để cử hành lễ. – Lễ thân: Tức là lễ cưới, đúng giờ làm lễ nhà trai sẽ mang lễ vật đến đón dâu.

Ngoài các nghi lễ chính kể trên còn có các nghi lễ khác như lễ mai mối, lễ giao duyên, …

Ngày nay

Việc đơn giản hóa giúp cho các nghi lễ được thực hiện bớt rườm rà cũng như tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức. Các nghi lễ ngày nay có tên gọi khác một chút so với các nghi lễ trước đây, nhưng ý nghĩa thì khá giống nhau. Các nghi lễ chính trong đám cưới ngày nay là lễ dạm ngõ, dạm ngõ, xin dâu, đón dâu, trẩy hội.

Trang phục cưới

Ngày xửa ngày xưa

Cô dâu sẽ mặc áo bà ba, bên trong là áo màu rực rỡ như hồng, xanh, vàng,… bên ngoài là áo khoác sẫm màu. Sau đó, mặc váy trắng hoặc váy trắng có thiết kế đơn giản. Còn chú rể thường mặc quần âu, áo sơ mi đơn giản.

Ảnh: Yêu Media

Ngày nay

Trang phục cưới ngày nay khá đa dạng nhưng thông thường cô dâu sẽ mặc áo dài trong đám cưới và áo dài trong đám cưới. Áo dài cô dâu ngày nay có nhiều kiểu dáng khác nhau nên có nhiều lựa chọn cho các tân nương. Về phần phù rể sẽ mặc vest hiện đại trong cả lễ cưới và lễ đính hôn.

Lễ cưới

Nhìn chung, quà cưới ngày nay về cơ bản không khác ngày xưa. Nhìn chung sẽ có trầu cau, rượu, thuốc lào, bánh, chè, mứt sen, xôi, lợn quay,… Tùy từng vùng miền mà lễ vật sẽ có phần khác nhau nhưng đều mang một ý nghĩa nhất định.

Từ sự so sánh về hôn nhân xưa và nay như trên cho thấy việc kết hôn vào thời điểm nào cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Nét Đẹp Văn Hóa Trong Phong Tục Đám Cưới Việt Nam Xưa Và Nay

Quan niệm theo phong tục đám cưới Việt Nam xưa , một đám cưới Việt Nam truyền thống và chuẩn mực sẽ diễn ra theo trình tự 6 lễ như sau:

Lý do cho việc dùng đôi chim nhạn làm sính lễ đó là vì nó có ý nghĩa hòa thuận âm dương, mong đôi vợ chồng có thể dễ dàng hòa giải khó khăn trong hôn nhân và người vợ sẽ thuận theo đạo nghĩa của người chồng.

Phía nhà gái đón lễ vấn danh bằng cách chuẩn bị sẵn một tờ giấy trên đó đã ghi đủ thông tin cá nhân: họ tên và sinh nhật của con gái, thậm chí có cả giờ sinh nếu nhà trai yêu cầu.

Không chỉ ở xã hội Việt Nam thời xưa mà hiện tại việc xem tuổi vẫn đóng vai trò quan trọng để hai bên gia đình đi đến quyết định có cho phép cặp đôi thành thân hay không.

Thể theo phong tục đám cưới Việt Nam xưa , người ta tổ chức lễ nạp cát khi nhà trai quyết định là cặp đôi hợp mệnh, hợp tuổi để đánh tiếng xin nhà gái tiến đến lễ ăn hỏi. Yếu tố tiên quyết là phải chọn ngày lành, tháng tốt cho lễ nạp cát.

Bên nhà trai sẽ hỏi ý kiến chi tiết nhà gái mong muốn bày trí và có lễ vật như thế nào. Trong trường hợp nhà gái yêu cầu lễ to thì họ nói ý tứ rằng họ hàng nội ngoại đôi bên đều đông người, giao du bạn bè rộng,… nhà trai hiểu ý và chuẩn bị đầy đủ.

Lễ nạp trưng (hay còn được gọi là thách cưới)

Tuy nhiên, thói quen hình thành từ xưa đến nay là nhà gái thường sẽ nói đội lên rất cao yêu cầu về vật dụng làm sính lễ: quần áo mớ ba mớ bảy, xà tích, hoa tai, tiền giấy, gạo và rượu,… Phía nhà trai cũng phải tùy vào khả năng mới có thể đáp ứng được hết.

Có nhiều trường hợp thời xưa ví dụ như nhà gái không muốn gả con đi nên sẽ thách cưới cao hơn hẳn điều kiện kinh tế nhà trai, hoặc nhà trai thật sự không có đủ khả năng hoàn thành số lễ vật. Mọi người truyền tai nhau rằng có thể vì thế mà khi nàng dâu mới về nhà thường sẽ bị mẹ chồng làm khó.

Lễ thỉnh kỳ chỉ đơn giản là lễ xin định ngày giờ tốt để làm lễ cưới. Thông thường, nhà trai sẽ là bên quyết định rồi hỏi lại ý kiến nhà gái. Nhà gái thường cũng thuận theo ý nhà trai.

Cả hai người cô dâu lẫn chú rể đều không được ở trong thời kỳ chịu tang, vì không một ai mong muốn sự kiện hoan hỉ trọng đại của cuộc đời vướng âm khí của một đám ma từ trước.

Đặc biệt chọn ngày cưới phải tránh hết các giờ không vong, sát chủ và không tổ chức cưới hỏi vào tháng ngâu (tháng 7 âm lịch).

Trước khi đám cưới diễn ra vài tiếng đồng hồ, thường nhà trai lại cử người đại diện sang nhà gái mang theo cơi trầu đủ 12 miếng trầu xếp cánh phượng và 12 miếng cau xếp cánh tiên, báo cáo giờ xin đón dâu với nhà gái. Ý nghĩa của hành động này là nhằm đảm bảo đám cưới diễn ra suôn sẻ và thuận lợi, tránh gây tai tiếng cho họ hàng quan khách đôi bên hoặc đề phòng đám cưới không có cô dâu.

Phong tục đám cưới Việt Nam ngày nay được đơn giản hóa so với thời xưa

Lễ dạm ngõ (hay còn được gọi là chạm ngõ, xem mặt)

Buổi gặp gỡ chính thức đầu tiên giữa hai bên gia đình được tính là làm lễ dạm ngõ. Đây là buổi gặp mà nhà trai sang đặt vấn đề với nhà gái, xin phép cho cặp đôi được chính thức và công khai tìm hiểu nhau trước khi quyết định tiến đến hôn nhân. Tương tự với lễ nạp thái ngày xưa, tuy nhiên buổi lễ này không cần phải đem theo lễ vật đồ sộ.

Đối với những ý kiến trái chiều về việc tổ chức lễ dạm ngõ, nếu bỏ qua lễ này rồi tiến thẳng đến ăn hỏi sẽ tạo cho hai gia đình (đặc biệt là nhà gái) cảm giác đường đột không chuẩn bị trước, không có khởi đầu. Do vậy, có thể lễ dạm ngõ thật sự rườm rà không cần thiết nhưng lại là yếu tố khởi nguồn quá trình cưới hỏi. Một điểm cộng cho phần lễ tục này là không tốn kém về lễ vật (trầu cau) mà vẫn thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc (văn hóa trầu cau) từ ngày xưa.

Lễ ăn hỏi (hay còn được gọi là lễ đính hôn)

Nhà trai chuẩn bị gì cho lễ ăn hỏi?

Trang phục riêng cho chú rể và trang phục đồng bộ cho đội hình sang dự lễ ăn hỏi tại nhà gái.

Lựa chọn đội hình nam bê tráp đồng đều, ngoại hình tươi tắn, nhỏ hơn hoặc bằng tuổi chú rể và còn độc thân.

Bao lì xì để thực hiện nghi lễ trao duyên giữa đội bê tráp ăn hỏi của hai bên nhà trai với nhà gái.

Lễ vật ăn hỏi.

Nhà gái chuẩn bị gì cho lễ ăn hỏi?

Trang phục riêng cho cô dâu và trang phục cho những người tham dự lễ ăn hỏi.

Dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, lau chùi và bày trí bàn thờ tổ tiên với lọ hoa, bánh trái, hoa quả,…

Trang trí không gian tổ chức lễ ăn hỏi, dựng phông bạt có tên cô dâu chú rể làm chỗ chụp ảnh kỷ niệm cho khách khứa.

Lựa chọn đội hình nữ bê tráp đồng đều, ngoại hình xinh xắn, nhỏ hơn hoặc bằng tuổi cô dâu và còn độc thân.

Chiêu đãi họ hàng, khách quan tham dự tiệc mặn tùy sở thích và điều kiện gia đình.

Bắt đầu với nghi thức “xin dâu” khi nhà trai cử người (thường là mẹ chú rể) đến trước giờ tổ chức lễ cưới, mang theo rượu và trầu cau “xin” cô dâu về và báo đoàn đón dâu sẽ đến.

Tiếp theo, đoàn rước dâu xếp hàng đi một đoàn vào thưa gửi đôi lời với nhà gái, rồi chú rể đón cô dâu và cặp đôi cùng thắp hương trước bàn thờ họ nhà gái. Thắp hương xong cô dâu chú rể sẽ rót trà mời khách khứa có mặt tại nhà gái.

Mẹ cô dâu có thể tặng con gái của hồi môn như kiềng vàng, nhẫn và căn dặn con một số điều trước khi gả về nhà chồng. Cả đoàn rời nhà gái để rước cô dâu đi, bao gồm cả một số người bên nhà gái như bố cô dâu, họ hàng và bạn bè thân thiết. Riêng mẹ của cô dâu không được tiễn con về nhà chồng.

Đại diện nhà trai dẫn cô dâu chú rể đến bàn thờ để ra mắt gia tiên họ nhà trai, sau đó dẫn cặp đôi cùng họ hàng cô dâu vào xem phòng cưới. Mục đích của nhà trai cho nhà gái thấy được hoàn cảnh, điều kiện mới mà cô dâu sẽ gắn bó đến cuối cuộc đời với con trai họ.

Sau khi thăm quan xong phòng cưới, cô dâu chú rể quay lại khu vực tổ chức hôn lễ, tiến hành lễ thành hôn. Một số gia đình lễ thành hôn được kết hợp chung với tiệc cưới để tiết kiệm ngân sách.

Nổi bật giữa hàng chục các trung tâm hội nghị tiệc cưới trên địa bàn TP. Hà Nội, Tràng An Palace là trung tâm hội nghị tiệc cưới hàng đầu với không gian sang trọng, dịch vụ chuyên nghiệp, sản phẩm tinh tế và quản lý văn minh. Hệ thống Tràng An Palace cung cấp cho quý khách hàng những dịch vụ tiện ích bao gồm: Dịch vụ tiệc cưới, hội nghị – hội thảo, sự kiện và cả tiệc lưu động.

Nếu bạn có mong muốn đặt tiệc, tìm hiểu về 2 cơ sở Tràng An Palace hoặc được tư vấn chi tiết hơn về từng dịch vụ tiện ích, đừng ngần ngại kết nối với chúng tôi qua website https://tranganpalace.vn hoặc liên hệ ngay hotline: (024)37.666.555 – 085.695.6969 (cơ sở Nguyễn Khang) và (024)33.734.555 – 0962.247.555 (cơ sở Ngụy Như Kon Tum).

Tràng An Palace là trung tâm hội nghị tiệc cưới hàng đầu với không gian SANG TRỌNG – dịch vụ CHUYÊN NGHIỆP – sản phẩm TINH TẾ – quản lý VĂN MINH. Hệ thống Tràng An cung cấp cho bạn những dịch vụ tiện ích bao gồm: Dịch vụ Tiệc Cưới, Hội Nghị – Hội Thảo, Sự kiện và Tiệc lưu động.

Với thông điệp “Enjoy Happy Time” Tràng An Palace luôn là lựa chọn hoàn hảo nhất cho bữa tiệc của bạn để tận hưởng hạnh phúc trọn vẹn nhất.

Tìm Hiểu Tục Lệ Cúng Giỗ Xưa Nay Của Người Việt

Ngày giỗ còn gọi là húy nhật hay kỵ nhật, là ngày mất của một người tính theo âm lịch, là dịp để con cháu và người thân hàng năm tổ chức cúng cơm tưởng nhớ đến người đã khuất, đồng thời cùng nhau gặp mặt nhận họ nhận hàng và bàn bạc những công việc chung của gia đình, dòng họ.

Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là việc báo hiếu, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nền đắp móng của các bậc tổ tiên, và để cầu xin vong linh các bậc tiền bối phù hộ độ trì cho con cháu, cho gia đình, dòng họ.

Giỗ Đầu, Giỗ Hết và Giỗ Thường

Trong tục lệ cúng giỗ, căn cứ thời gian qua đời của người quá cố người ta lưu ý đến 3 ngày giỗ với những nghi thức khác nhau, đó là: Giỗ Đầu, Giỗ Hết và Giỗ Thường.

Giỗ Đầu còn gọi là lễ Tiểu Tường, là ngày giỗ đầu tiên, tổ chức sau ngày người mất đúng một năm. Đây là thời gian còn nằm trong kỳ tang chế, nên ngày giỗ vẫn còn mang không khí buồn thảm, bi ai.

Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức rất trang nghiêm. Con cháu vẫn mặc đồ tang phục (ngày nay đa số chỉ đeo băng tang trên ngực), một số gia đình lúc tế lễ và khấn gia tiên, thân nhân của người quá cố vẫn khóc than, tạo không khí nhớ thương buồn thảm. Khách đến ăn giỗ luôn ăn mặc chỉnh tề, giữ thái độ trang nghiêm, không cười đùa hoặc có những cử chỉ thiếu sự nghiêm túc.

Giỗ Hết còn gọi là lễ Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm. Theo tục lệ thì thời gian này cũng vẫn nằm trong kỳ tang chế nên người ta vẫn tổ chức lễ giỗ với nghi thức trang nghiêm.

Ngày giỗ hết được cho là ngày giỗ quan trọng nhất trong tất cả những ngày giỗ đối với người qua đời, bởi nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của người còn sống cũng như đối với vong linh của người đã khuất. Chính vì vậy Giỗ hết thường được tổ chức long trọng, con cháu, người thân thường có mặt đông đủ, khách mời dự cũng được mở rộng.

Sau lễ Giỗ Hết ba tháng (tức sau 27 tháng để tang người mất), người nhà sẽ chọn một ngày tốt để làm lễ Đoạn tang (hết tang). Lễ Đoạn tang còn gọi là lễ Đàm tế hay lễ Trừ phục (bỏ hết mọi đồ tang phục). Trong lễ này người ta làm ba việc chính sau đây:

– Sửa sang, đắp điếm cho mộ phần to đẹp thêm.

– Đốt hủy các thứ thuộc phần tang lễ như: khăn áo, băng tang, gậy chống, rèm sô, câu đối, trướng điếu…, bỏ bàn thờ vong để rước linh vị vào bàn thờ gia tiên.

– Cáo yết tổ tiên để xin cho rước bát hương vào bàn thờ gia tiên.

Sau khi làm lễ, người nhà đưa linh vị, di ảnh và bát hương thờ vong linh người quá cố vào thờ chung ở bàn thờ gia tiên theo thế thứ sắp đặt. Người ta cũng có thể lấy 3 chân nhang ở bát hương người quá cố cắm chung vào bát hương hội đồng ở bàn thờ gia tiên thay cho việc chuyển cả bát hương lên.

Sau lễ này người đang sống sẽ trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tham gia các tổ chức hội hè, đình đám, vui chơi; người vợ có chồng chết có thể đi bước nữa.

Trong cuộc sống hiện nay, nhiều người đã có những nhận thức mới, đa số đều thực hiện sau Giỗ Hết là bỏ tang chế. Đặc biệt, đối với những người chết được hỏa táng thì người ta cho rằng họ đã sớm được “sạch sẽ” nên lễ Đoạn tang sẽ tiến hành ngay sau Giỗ Hết chứ không phải chờ thêm 3 tháng nữa, thậm chí có gia đình ngay sau lễ Tốt Khốc (100 ngày) đã đưa di ảnh và chân hương lên thờ chung ở bàn thờ gia tiên.

Giỗ Thường còn gọi là ngày Cát kỵ, là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Cát kỵ nghĩa là Giỗ lành. Trong lễ giỗ này, con cháu mặc đồ thường phục, không còn mặc tang phục nữa. Đây là dịp để con cháu sum họp vừa để tưởng nhớ người đã khuất, vừa vui vẻ nhận biết người thân, giới thiệu họ hàng, bàn những chuyện về gia đình, dòng họ. Thường thì ngày Cát kỵ được tổ chức nhỏ gọn hơn, chủ yếu trong phạm vi gia đình chứ không mời khách khứa rộng rãi như hai kỳ Giỗ Đầu và Giỗ Hết.

Lễ Tiên thường và ngày Chính kỵ

Trong một kỳ giỗ, người ta thường tiến hành 2 lễ quan trọng là lễ Tiên thường và lễ Chính kỵ.

Lễ Tiên thường còn được gọi là ngày cúng Cáo giỗ, cúng trước ngày người quá cố qua đời. Trong ngày này, con cháu cáo giỗ để mời người đã khuất hôm sau về hưởng giỗ, xin phép Thổ công cho vong hồn người quá cố và Gia tiên nội ngoại về hưởng giỗ cùng cháu con. Ngày này con cháu, người thân cũng thường sắp lễ ra mộ, vừa là thăm viếng, sửa sang phần mộ, vừa trực tiếp mời vong linh người thân, đồng thời cáo thỉnh thần linh, thổ địa cai quản nghĩa trang cho phép vong linh thân nhân được về hưởng giỗ.

Tiên thường có nghĩa là nếm trước. Ý nghĩa ban đầu của lễ Tiên thường là con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Lễ Tiên thường thường được cúng vào buổi chiều ngày hôm trước. Ngày này, từ sáng sớm bàn thờ được dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ để bày mâm biện lễ, chuẩn bị cho việc cúng bái buổi chiều. Trong lễ Tiên thường, khi khấn, chủ lễ phải kính cáo Linh Thần Thổ Địa trước, rồi mới khấn mời Gia tiên sau. Bắt đầu từ lúc đó bàn thờ luôn phải duy trì đèn nhang, hương khói cho đến hết lễ Chính kỵ vào ngày hôm sau.

Có một điều chú ý là, lễ Tiên thường chỉ được áp dụng đối với Giỗ Trọng, tức giỗ những người hàng trên hoặc ngang hàng trưởng gia như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, chồng, vợ, anh, chị, em… Còn đối với Giỗ Mọn, tức giỗ những người hàng dưới trưởng gia như con, cháu, chắt, chít… thì không cần cúng Tiên thường mà chỉ cúng ngày Chính giỗ.

Trước đây Lễ Tiên thường được tổ chức rất long trọng. Những gia đình có điều kiện còn làm cỗ mời bà con thân thích, thông gia, xóm giềng đến ăn giỗ vào ngày này. Ngày nay, trong nhịp sống hiện đại, lễ Tiên thường được tổ chức đơn giản đi nhiều. Trên bàn thờ chủ yếu bày hương hoa, trầu cau, trái cây , rượu nước và một số vật phẩm chay tịnh như phẩm oản, xôi chè để kính cáo Gia thần và khấn mời vong linh Gia tiên, mang đúng ý nghĩa là cúng Cáo giỗ. Bây giờ không nhiều người làm cỗ cúng và mời khách trong Lễ Tiên thường mà tập trung vào ngày Chính kỵ.

Ngày Chính kỵ còn được gọi là Chính giỗ, là ngày mất của người quá cố. Tùy theo điều kiện từng gia đình, lễ Chính kỵ có thể được tổ chức quy mô to nhỏ khác nhau. Nhà giàu thì tổ chức làm giỗ linh đình, mời người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh em bằng hữu về dự giỗ. Nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, tuần nhang và vài món ăn giản dị cúng người đã mất. Lòng kính trọng, tiếc thương đối với người đã khuất phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày mất để làm giỗ, không phụ thuộc vào việc giỗ lớn hay nhỏ. Thân bằng, cố hữu của người quá cố nếu có tình nghĩa, thấy lưu luyến thì nhớ ngày giỗ chủ động đến thắp nén hương, không cần phải đợi có lời mời.

Một điều quan trọng trong Lễ Chính kỵ là trên bàn thờ phải có bát cơm úp và một quả trứng luộc kèm gia vị. Ý nghĩa của việc này được chi phối bởi thuyết Âm Dương, thể hiện sợi dây tình cảm giữa người đang sống và người quá cố. Theo luận thuyết, sự vật có Âm Dương hài hòa thì mới phát triển sinh sôi. Ở bát cơm úp, phần chìm dưới bát thuộc Âm, phần nổi trên thuộc Dương. Quả trứng luộc cũng vậy, lòng đỏ bên trong thuộc Âm, lòng trắng bên ngoài thuộc Dương. Trong quả trứng còn mang mầm sống, thể hiện ý nguyện của con cháu là các bậc tiền bối qua đi sẽ luôn nảy sinh ra thế hệ mới kế tục.

Sau khi cỗ cúng và đồ lễ bày biện xong xuôi, gia chủ khăn áo chỉnh tề, bước vào thắp hương, khấn bái. Khác với lễ Tiên thường, trong lễ Chính kỵ gia chủ cần phải khấn mời vong linh người được hưởng giỗ trước, tiếp theo mời Gia tiên nội ngoại, từ bậc cao nhất đến thấp nhất, sau đó mới cáo thỉnh Gia thần cùng về hâm hưởng.

Khách đến dự giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, thắp nén hương vái 3 vái rồi đọc lời khấn. Khấn xong vái thêm 4 vái nữa.

Đợi hết ba tuần hương, gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi lấy đồ vàng mã đem đi hóa. Sau đó hạ lễ, mời khách khứa và mọi người thụ lễ (ăn giỗ). Sau khi ăn giỗ xong, gia chủ hạ lễ vật trên bàn thờ xuống, chia thành từng túi cho từng gia đình – thân khách gọi là lộc của Tổ tiên.

Theo đúng phong tục cổ truyền thì lễ Tiên thường phải cúng vào buổi chiều ngày hôm trước, lễ Chính kỵ phải cúng vào buổi sáng ngày chết (kể cả việc người đó chết vào buổi chiều hay tối). Tuy nhiên, ngày nay nhiều gia đình không câu nệ, có khi chuyển cúng Chính giỗ vào buổi chiều, thậm chí cúng trước một, hai ngày nếu đó là ngày nghỉ để tạo điều kiện thuận lợi cho con cháu được dự giỗ đông đủ. Vào sáng ngày Chính giỗ chỉ thắp hương tưởng nhớ người đã khuất và yết cáo Tổ tiên, Thần Phật.

Theo tục lệ thì con trai trưởng là người chịu trách nhiệm lo cúng giỗ bố mẹ. Đến ngày giỗ, con cháu sẽ tập trung ở nhà ông trưởng để làm giỗ. Trường hợp con trai trưởng mất thì tổ chức tại nhà cháu đích tôn. Nếu người được giỗ là hàng cao thì con cái, cháu chắt đến nhà trưởng tộc làm giỗ. Con gái và con trai thứ chịu trách nhiệm góp giỗ cho con trai trưởng. Các cháu, chắt cũng là những người đóng góp thêm để giảm bớt gánh nặng chi phí cho trưởng chi hay trưởng tộc. Lễ gửi góp giỗ lớn hay nhỏ tùy thuộc vào hoàn cảnh và mối quan hệ với người chết của từng gia đình. Trước đây, gần đến ngày giỗ, những người đóng giỗ thường đem tiền, gạo đến góp cho trưởng chi để chuẩn bị tổ chức giỗ. Một số gia đình, dòng họ còn có ruộng hương hỏa, cày cấy lấy phần lợi nhuận cho người làm giỗ.

Ngày nay có nhiều đổi khác, con cháu thường góp giỗ bằng tiền và các đồ lễ vật khác như: vàng hương, trái cây, bánh kẹo… Cũng có người gửi giỗ là những vật phẩm thuộc sở thích của người quá cố. Một số gia đình tổ chức giỗ trong phạm vi hẹp lại phân công mỗi anh chị em trong nhà chuẩn bị một vài món theo sở trường từng người rồi đem đến tập trung lại bày cỗ… Những người sống ở xa không có khả năng về dự giỗ thì gửi đồ lễ cho trưởng họ và cúng vọng mời vong linh người quá cố về hưởng giỗ tại nhà mình. Bây giờ có nhiều người góp giỗ không đưa trực tiếp cho trưởng họ mà để phong bì thắp hương trên bàn thờ, điều này không đúng với tục lệ, mặt khác khi gia chủ thu dọn đồ lễ dễ rơi vãi, thất lạc.

Theo sách Thọ Mai Gia Lễ thì ông bà ta có tục lệ “Ngũ đại mai thần chủ”, tức việc cúng giỗ chỉ thực hiện trong 5 đời theo phép “Ngũ đại đồng đường”. 5 đời là tính cả đời người chịu trách nhiệm cúng giỗ, nên thực tế thì chỉ cúng có 4 đời là: Cao, Tằng, Tổ, Phụ, tức 4 đời tính từ dưới lên là: cha mẹ, ông bà, cụ (hay cố) và kỵ (hay can). Các đời trên Cao tổ khảo (tức kỵ/can) gọi chung là Tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của Thuỷ tổ. Người chịu trách nhiệm cúng giỗ sẽ mang thần chủ của cụ đời thứ 6 đem đi chôn và sửa lại thần chủ của các đời bên dưới bằng cách nâng lên một bậc, cụ đời 6 được rước vào nhà thờ họ để khấn chung với cộng đồng Gia tiên trong các dịp giỗ chạp, tết lễ.

Những người theo thuyết Luân hồi thì cho rằng, sau năm đời vong linh người quá cố được siêu thoát, đầu thai hóa kiếp trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa mà nạp chung vào kỳ xuân tế.

Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng) thì vẫn được cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc em ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.

Cũng có trường hợp nhà không có con trai, khi mất, tất cả gia tài thuộc về con gái. Khi đó con rể là người thừa tự. Việc cúng giỗ do con rể đảm nhiệm và sau này là cháu, chắt ngoại kế tục. Chúng ta được biết, trước đây không ít trường hợp do thừa tự nhà vợ mà một số người đã cải họ, mang họ ngoại, đến nhiều đời sau cháu chắt mới lấy lại họ gốc.

Xưa kia làng xã Việt Nam còn có tục lệ cúng Hậu. Cúng Hậu là hình thức cúng ruộng, tiền, vàng bạc, đồ thờ …. cho làng hoặc cho đình, chùa… để được cúng giỗ lâu dài sau khi “trăm tuổi về già”. Thông thường, người nào có tiền, có của mà không có con trai nối dõi, phụng thờ, để khỏi phải chịu cảnh “cướp cháo lá đa” thì ngoài việc lập người kế tự giữ gìn hương hoả, người ta còn cúng Hậu. Có người cúng Hậu để nhờ làng, đình, chùa, đền, miếu … cúng giỗ không chỉ cho bản thân mà còn cho cả những người thân trong gia đình. Cũng có người cúng Hậu để nâng cao uy tín, địa vị của bản thân, của dòng họ hoặc chỉ để nương bóng Thần Phật mong cả làng cúng giỗ mình thì hương hoả càng được lâu dài.

Ngày nay tục cúng hậu từ lâu đã không còn tồn tại nữa. Việc thừa tự cũng đã khác xưa. Những người được thừa hưởng tài sản của người mất theo luật thừa kế, không phân biệt con trai hay con gái đều có trách nhiệm chăm lo hương khói, giỗ chạp cho cha mẹ, ông bà.

Việc thờ cúng những người chết yểu

Những người chết khi chưa đến tuổi thành thân (nam dưới 16, nữ dưới 13), sau khi hết lễ tang, người nhà làm lễ yết cáo tổ tiên, xin được phụ thờ, khấn chung là Thương Vong Tòng Tự (dân gian gọi là Bà cô, Ông mãnh). Những người này không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mâm, coi như người thân còn sống trong gia đình. Ðiều này thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất chứ không có trong gia lễ.

Cúng giỗ là một trong những phong tục truyền thống lâu đời của nhân dân ta. Mặc dù ngày nay có một số thay đổi về nghi thức cho phù hợp với cuộc sống thực tại, song nó vẫn luôn giữ được bản sắc văn hóa riêng của người Việt. Nghiên cứu để hiểu rõ thêm về tập tục của từng địa phương, trong từng thời kỳ sẽ giúp ta gạn đục khơi trong, tiếp thu được những tinh hoa của cha ông ta để lại, đồng thời vận dụng tốt hơn, phù hợp với cuộc sông hiện đại ngày nay. Chắc rằng đây cũng là một trong những việc làm bổ ích và cần thiết đối với mỗi người chúng ta.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phong Tục Hôn Nhân Xưa Và Nay trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!