Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Dạy Học Kiến Tạo Kết Hợp Ứng Dụng Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Trong Dạy Học Tích Hợp / 2023 # Top 19 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Dạy Học Kiến Tạo Kết Hợp Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Đạt Hiệu Quả Trong Dạy Học Tích Hợp / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Dạy Học Kiến Tạo Kết Hợp Ứng Dụng Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Trong Dạy Học Tích Hợp / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phương pháp dạy học kiến tạo kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả trong dạy học tích hợp

 Cập nhật  (05/11/2016)

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn của giáo dục nghề nghiệp đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp bắt đầu từ việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống theo hướng phát huy tính tích cực của người học, hướng vào người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu vận dụng các lý thuyết mới, quan điểm mới về dạy học như lý thuyết tình huống, lý thuyết kiến tạo, dạy học dự án, lấy người học làm trung tâm,…là một hướng được nhiều nhà sư phạm lựa chọn.

1. Đặt vấn đề Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn của giáo dục nghề nghiệp đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp bắt đầu từ việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống theo hướng phát huy tính tích cực của người học, hướng vào người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu vận dụng các lý thuyết mới, quan điểm mới về dạy học như lý thuyết tình huống, lý thuyết kiến tạo, dạy học dự án, lấy người học làm trung tâm,…là một hướng được nhiều nhà sư phạm lựa chọn.

Lý thuyết kiến tạo (LTKT) ( Constructivism Theory) đang là một trong những lý thuyết về dạy học vượt trội được sử dụng trong giáo dục. Lý thuyết này khuyến khích sinh viên (SV) tự xây dựng kiến thức cho mình dựa trên những thực nghiệm cá nhân và áp dụng trực tiếp vào môi trường học tập của các em. Mỗi cá nhân SV là trung tâm của tiến trình dạy học, còn giáo viên (GV) đóng vai trò tổ chức điều khiển và là người đại diện cho tri thức khoa học chính thống, đóng vai trò trọng tài để thể chế hóa tri thức mới của bài học. Đổi mới phương pháp dạy học sẽ mang lại những hiệu quả vượt trội hơn khi ứng dụng công nghệ thông tin vào tiến trình dạy học. CNTT sẽ kích thích hứng thú học tập thông qua các khả năng kĩ thuật (kĩ thuật đồ họa; công nghệ Multimedia, phần mềm chuyên dụng, các chương trình trình chiếu ….); góp phần tổ chức, điều khiển tiến trình dạy học; hợp lí hoá công việc của thầy và trò. Sự kết hợp giữa các lý thuyết mới và CNTT trong tiến trình dạy học sẽ tạo nên một tiến trình dạy học mới mà trong tiến trình đó người học chủ động, tích cực hơn trong việc xây dựng hệ thống tri thức cho bản thân.

2. Vận dụng LTKT vào dạy học các môn học kỹ thuật với sự hỗ trợ của CNTT 2.1. Tư tưởng của LTKT Theo quan điểm của LTKT thì tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Trong quá trình chiếm lĩnh tri thức bằng kinh nghiệm, kiến thức đã có từ trước thông qua quá trình đồng hóa (Assimilation) và điều ứng (Accomodation) SV sẽ tự xây dựng cho mình một hệ thống tri thức có sắc thái riêng và có khả năng vận dụng hệ thống tri thức này vào giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Theo Piaget đồng hóa là quá trình SV vận dụng kiến thức cũ để giải quyết tình huống mới và sắp xếp kiến thức mới thu nhận được vào cấu trúc kiến thức hiện có. Muốn thế khi tổ chức quá trình dạy học GV cần phải làm cho SV bộc lộ quan niệm của mình về vấn đề học tập, cần tổ chức cho SV hệ thống hóa và khai thác kinh nghiệm cũ nhằm phát triển nhận thức cho bản thân SV và phổ biến cho cả lớp. Để đồng hóa được kiến thức mới và cũ cần phải tiến hành quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh,… nhằm đánh giá lại kiến thức cũ từ đó sắp xếp lại hệ thống kiến thức sao cho hoàn thiện, chính xác hơn. Điều ứng là sự thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề lý thuyết và thực tiễn. Đây là quá trình mà SV phải thực hiện các thao tác tư duy, làm kiến thức bộc lộ các thuộc tính, bản chất, các mặt mạnh yếu, tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố kiến thức, tính hệ thống của chúng và khả năng vô tận của kiến thức. 2.2. Các loại kiến tạo trong dạy học Dựa vào bản chất của LTKT có thể phân kiến tạo trong dạy học ra thành hai loại Kiến tạo cơ bản (Radial constructivism) đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức và cách thức xây dựng tri thức cho bản thân. Mặt mạnh của loại kiến tạo này là khẳng định vai trò chủ đạo của SV trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, do coi trọng quá mức vai trò của các nhân nên SV bị đặt trong tình trạng cô lập và kiến thức mà họ xây dựng được sẽ thiếu tính xã hội. Kiến tạo xã hội (Social constructivism) nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hóa, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành kiến thức. Kiến tạo xã hội xem xét các tác nhân thông qua các mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội. Nhân cách của SV được hình thành thông qua sự tương tác của họ với những người khác. 2.3. Mô hình của dạy học kiến tạo, chu trình của dạy học kiến tạo gồm các pha chính sau: Tri thức cũ → Dự đoán → Kiểm nghiệm (thử và sai) → Điều chỉnh → Tri thức mới. Do đó tiến trình của dạy học kiến tạo bao gồm 3 bước sau: Bước 3: Tổ chức cho SV vận dụng kiến thức: GV tổ chức cho SV vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề về lý thuyết cũng như thực hành qua đó giúp SV khắc sâu hơn kiến thức mới để thực hiện kỹ năng nghề. 2.4. Ứng dụng CNTT vào tiến trình dạy học kiến tạo trong dạy học tích hợp – Sử dụng các phần mềm để mô phỏng các nguyên lý, hoạt động, xây dựng hệ thống câu hỏi ôn tập, kiểm tra các kiến thức cũ, cũng như vận dụng để khắc sâu kiến thức mới cho SV. – Mô phỏng các quá trình nguyên lý hoạt động, chuyển động kết hợp với để nêu vấn đề. – Sử dụng các thư viện mô phỏng để SV kiểm tra giả thuyết, phân tích kết quả để rút ra các kết luận. 2.5. Ví dụ minh họa Vận dụng dạy học kiến tạo với sự hỗ trợ của CNTT để xây dựng tiến trình dạy học nội dung “ Cân bằng khớp nối động cơ điện” Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của SV – Ôn tập, tái hiện: GV nêu các câu hỏi về các loại khớp nối, động cơ điện truyền chuyển động đến hộp giảm tốc… qua bộ phận nào trong bài học mới để đưa ra công dụng của việc cân bằng khớp nối động cơ điện. – Nêu vấn đề: + Cho SV quan sát khi khớp nối động cơ điện khi được cân bằng với khớp nối trục truyền chuyển động, và khớp nối giữa động cơ điện không được cân bằng với khớp nối trục truyền chuyển động. Quan sát trường hợp đó và đặt vấn đề: Trong quá lắp đặt động cơ điện với các khớp nối để truyền chuyển động tại sao phải cân bằng chúng? + GV kết luận: Nếu không cân bằng trước khi vận hành sẽ làm cho động cơ rung lắc, tuổi thọ ổ bi ngắn lại hoặc phá hủy ổ bi. Vậy cân bằng theo mấy hướng và như thế nào thế nào? + Nếu động cơ bị lệch theo phương ngang thì có những trường hợp nào, cách điều chỉnh.

Hình 1. Hình vẽ quy ước điều chỉnh động cơ điện

+ Nếu động cơ bị lệch do động cơ cao hoặc thấp hơn so với khớp nối điều chỉnh như thế nào.

Hình2. Hình vẽ lắp đặt đồ gá đồng hồ so

– Kiểm tra giả thuyết: Trong bước này giáo viên cho các nhóm học sinh thực hiện hai bước: + Xác định độ lệch của động cơ trong hai vị trí khác nhau đó. + Quan sát phân tích hình ảnh của mô phỏng động cơ bị lệch theo phương ngang thì có những trường hợp nào, động cơ cao hoặc thấp hơn so cới khớp nối có những trường hợp nào. – SV các nhóm phân tích kết quả, trình bày cách điều chỉnh động cơ trong các trường hợp đó được cho cả lớp. Bước 3: Tổ chức cho SV vận dụng kiến thức: đưa ra quy trình cân chỉnh khớp nối.

3. Kết luận Trong quá trình dạy học sử dụng phương pháp kiến tạo bản thân SV không phải là một quả bóng để GV bơm đầy kiến thức vào đó mà là chủ thể hoạt động trên cơ sở vận dụng những kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước để giải quyết một tình huống mới nảy sinh và sắp xếp kiến thức mới vào hệ thống kiến thức đã có và chỉ khi nào SV tạo được mối liên hệ hữu cơ giữa kiến thức mới và cũ, sắp xếp vào hệ thống kiến thức đã có thì lúc đó kiến thức mới sẽ có giá trị ứng dụng và không bị lãng quên.  Do vậy, phương pháp dạy học kiến tạo đòi hỏi giáo viên phải có vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp nhất định, khả năng ứng dụng linh hoạt CNTT vào các bước trong quy trình dạy học, phải là người chuyển hóa các tri thức khoa học thành các tri thức dạy học với việc xây dựng các tình huống dạy học chứa đựng những tri thức cần lĩnh hội, tạo dựng nên môi trường mang tính xã hội để SV kiến tạo nên kiến thức của mình, như vậy thì phương pháp dạy học kiến tạo trong dạy học tích hợp mới phát huy được ưu thế vượt trội của nó, mới có thể đào tạo ra những con người lao động sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp nói chung và giảng dạy lý thuyết ban đầu trong dạy học tích hợp nói riêng./.

Tài liệu tham khảo 1. TS. Trần Hùng Lượng, Đào tạo bồi dưỡng năng lực sư phạm kỹ thuật cho đội ngũ giáo viên dạy nghề, Nxb Giáo dục.  2.Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng Cục dạy nghề, Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, Nxb Dân trí. 3.Bộ kế hoạch đầu tư, báo cáo tổng hợp: Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam 2011 – 2020. 4.Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển Việt Nam 2015 – Báo cáo tổng quát. 5.Tổng Cục dạy nghề – Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Báo cáo dạy nghề việt nam 2013 – 2014. 5.Tạp chí Khoa học dạy nghề (số 28, 29)- Tổng cục dạy nghề.

Dạy Học Theo Dự Án Có Tích Hợp Công Nghệ Thông Tin (Cntt) Và Ứng Dụng Cntt Trong Giảng Dạy Địa Lý Ở Trường Phổ Thông. / 2023

Trong những năm gần đây, để thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học trong môn Địa lý, các giáo viên đã sử dụng rất nhiều phương pháp theo hướng dạy học tích cực, trong đó có thể kể đến các phương pháp như: phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ, phương pháp đóng vai,…

Hãy tưởng tượng có hai lớp học môn Địa lý lớp 12. Tại lớp học đầu tiên, học sinh ngồi trật tự theo hàng lối, ghi chép trong khi giáo viên đứng trước lớp giảng về vùng cây ăn quả lớn của nước ta. Các em hạn chế phát biểu trình bày ý kiến mà chỉ được phép nói khi trả lời các câu hỏi của giáo viên. Ngay những câu hỏi này cũng yêu cầu học sinh phải trả lời đúng đáp án. Những học sinh thụ động này chỉ ngồi nghe giảng và tiếp nhận thông tin.

Sự khác biệt giữa hai lớp học này rất rõ nét. Lớp học đầu tiên dựa trên mô hình truyền thống, học tập dựa trên nội dung bài giảng. Lớp học thứ hai sử dụng cách học dựa trên dự án có ứng dụng công nghệ thông tin.

Cách học dựa trên dự án (PBL) không chỉ tập trung vào các chương trình giảng dạy mà còn khám phá các chương trình này, yêu cầu học sinh phải đặt câu hỏi, tìm kiếm những mối liên hệ và tìm ra giải pháp. PBL là một cấu trúc học tập có thể thay đổi môi trường học từ “giáo viên nói” thành “học sinh thực hiện”.

* Tính thách thức: PBL khuyến khích học sinh giải quyết những vấn đề phức tạp mang tính hiện thực. Các em khám phá, đánh giá, giải thích, và tổng hợp thông tin một cách có ý nghĩa. Ví dụ, xây dựng kế hoạch cho một “ngôi trường lý tưởng”, hoàn thiện một chương trình giảng dạy, miêu tả công việc, thiết kế sơ đồ nhà, xây dựng tiêu chí tuyển chọn và đưa ra lý do cho từng kế hoạch. Tất cả những hoạt động này yêu cầu học sinh phải có tư duy sâu sắc về công việc của mình.

* Gây hứng thú: PBL được cộng đồng giáo dục thừa nhận là phương pháp học có ý nghĩa, thúc đẩy ham muốn học tập của học sinh, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và niềm khát khao được đánh giá các kết quả đã hoàn thành. Khi học sinh có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình thì giá trị của việc học đối với các em cũng tăng lên. Cơ hội lựa chọn và kiểm soát, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp sẽ làm tăng hứng thú học tập của các em. Ví dụ khi học sinh tham gia một cách nghiêm túc vào một dự án, như thiết kế và xây dựng một cây cầu bằng những chiếc tăm để nghiên cứu những khái niệm kỹ thuật, các em sẽ tham gia nhiệt tình hơn trong giờ học để hoàn thiện công việc. Kết quả là các khái niệm về kỹ thuật và toán học được tiếp thu một cách chủ động trong một môi trường gắn kết hơn.

* Tính xác thực: PBL yêu cầu học sinh tiếp thu kiến thức theo cách học của người lớn là học và trình diễn kiến thức. Ví dụ, khi học sinh phải làm dự án viết tài liệu quảng bá về trường mình bằng tiếng Anh, các em sẽ tiếp thu được những kiến thức và kỹ năng thực tế.

* Khả năng cộng tác: PBL thúc đẩy sự cộng tác giữa các em học sinh và giáo viên và giữa các em học sinh với nhau; trong nhiều trường hợp, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng. Tất cả các bộ môn đều thừa nhận tầm quan trọng của phương pháp làm việc mang tính cộng tác của học sinh như một phương tiện làm phong phú hơn và mở rộng sự hiểu biết của học sinh về những điều các em đang học.

* Sự vui nhộn: Học sinh rất thích phương pháp học dựa trên dự án. Nhiều giáo viên sử dụng PBL cho biết các em rất mong được đến trường học tập.

Ví dụ, một nhóm học sinh có thể phải đóng vai ủy viên của Uỷ ban Tư vấn Môi trường Quốc tế với nhiệm vụ phải đưa ra những giải pháp cho những vấn đề môi trường. Tất nhiên, giáo viên sẽ cung cấp những thông tin nền và những chỉ dẫn, nhưng học sinh phải có trách nhiệm tìm ra phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề trong phạm vi những tiêu chí do giáo viên đặt ra.

Quá trình PBL được mô tả như sau (Savoie và Hughes):

1. Xác định một vấn đề phù hợp với học sinh.

2. Liên kết vấn đề với thế giới của các em.

4. Tạo cho học sinh cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch thú nhận kiến thức để giải quyết vấn đề.

5. Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra các nhóm học tập.

6. Yêu cầu tất cả học sinh trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án hoặc chương trình.

Lợi ích và thách thức của PBL

Có rất nhiều lợi ích khi sử dụng PBL trong lớp học. Như đã đề cập ở phần trước, PBL gây hứng thú cho học sinh học tập. Khi học sinh có cơ hội để định hướng việc học của mình, các em sẽ coi trọng việc học hơn. Do các em phải đề xuất và tham gia những nghiên cứu có chiều sâu, việc học tập của học sinh được mở rộng ra ngoài những vấn đề trước mắt. Học sinh cũng học được kỹ năng nghiên cứu có giá trị và kỹ năng quan sát mà họ không thể có được từ các bài giảng truyền thống.

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, học sinh tham gia cách học dựa trên dự án có khả năng lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng cao hơn. Thông tin các em thu nhập được cũng được truyền tải thông qua những ngữ cảnh khác nhau bởi các em được dạy cách tìm và tư duy về thông tin hơn là ghi nhớ các dữ kiện.

PBL cũng khuyến khích những học sinh tự giải quyết vấn đề một cách đầy đủ. Điều đó dạy cho học sinh cách cộng tác với nhau cũng như tìm cách để lắng nghe và giao tiếp. PBL hỗ trợ kỹ năng giao tiếp của học sinh. Học sinh không học cách nghĩ gì mà thay vào đó là nghĩ như thế nào.

Mặc dù phương pháp học dựa trên dự án đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng có những thách thức. Để xây dựng và thực hiện PBL phải mất rất nhiều thời gian. Với nhiều bài kiểm tra gắt gao, nhiều giáo viên sẽ cảm thấy phải chịu áp lực trong việc thực hiện chương trình giảng dạy PBL so với phong cách truyền thống. Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng các sinh viên y khoa tham gia vào PBL có điểm học tập trong các kỳ thi cao hơn so với các sinh viên được dạy theo phong cách truyền thống.

Một thách thức nữa là rất nhiều học sinh đã theo học phương pháp dạy truyền thống nhiều năm trước khi các em tham gia PBL. Các em không quen với việc chủ động định hướng quá trình học tập và do đó sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải làm như vậy. Tương tự, rất nhiều giáo viên cảm thấy thoải mái với vai trò giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Khi họ bắt đầu áp dụng PBL thì đó là thời kỳ chuyển tiếp khó khăn. Vì vậy cần phải làm tốt công tác phát triển cán bộ trước khi thực hiện PBL.

Chắc bạn còn nhớ trường hợp hai lớp học môn Địa lý của học sinh lớp 12 mà chúng ta đã đến thăm. Hãy hình dung tương lai của các học sinh trong mỗi lớp. Lớp học nào sẽ tạo ra được sự hứng thú học môn Địa lý cho các em? Học sinh lớp nào giải thích được sự phong phú và đa dạng của trái cây vùng Nam Bộ ngay cả khi đã thi hết môn? Học sinh lớp nào sẽ học được nhiều hơn? Giáo viên thường băn khoăn “Làm sao để học sinh tư duy mang tính phê phán?”. Học sinh thắc mắc “Tại sao em phải làm bài tập này?”. PBL sẽ là lời giải đáp cho cả hai câu hỏi này.

Công nghệ và cách học dựa trên dự án

Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong bất kỳ lớp học nào, nhưng nó chỉ đặc biệt có tác động mạnh mẽ khi kết hợp với cách học dựa trên dự án. Nâng cao chất lượng dạy và học trên cơ sở sử dụng công nghệ thông tin.

* Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ công tác giảng dạy và nâng cao chất lượng của các hoạt động học tập, tạo ra nhiều phương pháp tiếp cận học tập, bảo đảm sự tiếp cận với chương trình giảng dạy mà các công nghệ khác không thể làm được. Những ứng dụng công nghệ thông tin đã đem lại những kết quả tích cực cho học sinh bao gồm khả năng cộng tác với sự hỗ trợ của máy tính, các dự án của học sinh, nghiên cứu Internet, tiếp xúc với các chương trình giảng dạy đa phương tiện, xử lý văn bản. Công nghệ thông tin cũng đưa ra những ưu điểm độc đáo không đâu có được, như trong việc đưa ra những hỗ trợ công nghệ thông tin cho các cá nhân khuyết tật hoặc hướng dẫn từ xa thông qua các công cụ Internet hoặc hội thảo video (Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng trong công nghệ thông tin giáo dục).

* Công nghệ thông tin có thể cải thiện việc đánh giá quá trình dạy và học bằng cách đưa ra những phân tích và phản hồi nhanh chóng và bằng cách hỗ trợ các trường và giáo viên sử dụng những đánh giá của học sinh để cải tiến chương trình giảng dạy.

Các bước tiến hành dạy học theo dự án có tích hợp CNTT ở môn Địa lý

Dự án học tập trong tài liệu hướng dẫn này được thiết kế cho học sinh ở cấp trung học cơ sở nhưng được cấu trúc rất linh hoạt, giúp giáo viên dễ dàng sửa đổi cho phù hợp với đối tượng học sinh khác (tức là trên hoặc dưới cấp trung học cơ sở).

Bước 1: Tìm hiểu các vấn đề đang diễn ra xung quanh cuộc sống của học sinh. Các vấn đề này phải có tác động rất rõ nét đối với cuộc sống thường nhật của các em. Những vấn đề này có thể không giống nhau đối với mọi đối tượng học sinh, ví dụ: khi giáo viên dạy bài Di dân và sự bùng nổ đô thị ở đới nóng (Địa lý 7) thì giáo viên có thể chọn bài học này để dạy theo cách dạy học theo dự án nếu như giáo viên đang dạy ở các thành phố lớn như chúng tôi chúng ta, bởi vì nội dung của bài này gắn liền với thực tế cuộc sống đang diễn ra xung quanh các em, ngược lại đối với giáo viên đang dạy ở những vùng miền núi hoặc nông thôn thì chọn bài này để dạy theo cách học theo dự án không phải là lựa chọn tốt.

Bước 4: Lựa chọn một bài, nhiều bài, hoặc một phần mà giáo viên thấy có khả năng dạy bằng cách dạy học theo dự án có tích hợp CNTT.

Bước 5: Xác định mức độ tư duy của học sinh, nhận thức của học sinh để từ đó xác định được dự án phù hợp với trình độ của học sinh.

Bước 6: Xác định mục tiêu của dự án.

Bước 7: Xây dựng dự án. Giaó viên cần lưu ý khi thực hiện bước này bởi vì dự án sẽ chi phối sản phẩm dự án, từ đó chi phối các hoạt động các hoạt động của học sinh nhằm thực hiện dự án đó. Chính vì vậy, dự án phải có nội dung bao trùm lên toàn bộ bài hoặc phần mà giáo viên lựa chọn, đồng thời cũng phải phù hợp với trình độ nhận thức và tư duy học sinh, tránh để diễn ra tình trạng dự án quá khó hoặc quá dễ đối với học sinh.

Bước 10: Giaó viên lập các phiếu đánh giá bài tập của học sinh, giáo viên phát các phiếu đánh giá này trước khi học sinh thực hiện dự án. Những phiếu đánh giá này có hai tác dụng:

Thứ nhất, nó mang tính định hướng cho học sinh, học sinh sẽ biết giáo viên sẽ đánh giá sản phẩm của học sinh theo những tiêu chí nào. Vì thế học sinh sẽ tập trung vào nội dung sản phẩm chứ không phải hình thức sản phẩm.

Thứ hai, Việc giáo viên đánh giá bằng phiếu đánh giá sẽ là hình thức đánh giá tích cực chuyển từ đánh giá một chiều sang đánh giá nhiều chiều (đánh giá từ bản thân học sinh, các học sinh khác, từ nhóm học sinh khác và từ giáo viên).

Bước 11: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân nhóm, thường mỗi nhóm từ 4 đến 6 học sinh ở các trình độ khác nhau.

Bước 12: Giáo viên lập kế hoạch sử dụng máy tính, truy cập Internet v.v…tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.

Bước 13: Giaó viên tổ chức một tiết để nêu ý tưởng dự án, giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh, cung cấp nguồn tham khảo, thời gian tiến độ hoàn thành dự án v.v…

Bước 14: Tổ chức một hoặc vài tiết học để học sinh báo cáo sản phẩm, giáo viên cùng học sinh nhóm khác phản biện và cho điểm. Rút kinh nghiệm dự án.

(Trích từ “Hội thảo chuyên đề cụm V, bộ môn Địa lý tại trường THCS&THPT Thái Bình, tháng 12/2012. Thực hiện: Thầy Trần Đức Thịnh). Nội dung trong tài liệu này được tham khảo từ:

Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng, “Phương pháp dạy học Địa lý theo hướng tích cực”, Nxb Đại học Sư phạm, 2004.

Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, “Lí luận dạy học Địa lý”, Nxb Đại học Sư phạm, 2004.

Nguyễn Hải Châu, Phạm Thị Sen, Nguyễn Đức Vũ (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS, Nxb Giáo dục.

Nguyễn Thị Kim Liên (2009), “Cơ sở khoa học của việc vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lí 12, THPT“, Tạp chí khoa học ĐHSP TP. HCM (số 29)

“Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học”, tài liệu bồi dưỡng giáo viên giai đoạn 2, thuộc chương trình Partner In Learning của Microsoft Việt Nam.

Trần Thị Thanh Thủy, khoa Địa lý, ĐHSP Hà Nội “Sử dụng phương pháp dạy học dự án có ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lý ở trường phổ thông” Tạp chí khoa học ĐHSP Hà Nội, 2006.

Phương Pháp Dạy Học Tích Hợp Là Gì? Áp Dụng Thế Nào? / 2023

I. Phương pháp dạy học tích hợp là gì?

Dạy học tích hợp là phương pháp dạy học không còn xa lạ với giáo viên, học sinh, sinh viên ở nước ta trong vài năm trở lại đây. Thực tế, phương pháp dạy học hiện đại, đặc biệt này đã và đang được áp dụng và thực hiện rất hiệu quả ở rất nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển hàng đầu. Vậy phương pháp dạy học tích hợp là gì?

Theo từ điển giáo dục học, dạy học tích hợp là việc liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.

Có thể hiểu một cách đơn giản, đó là việc định hướng dạy học cho các em học sinh phát triển năng lực toàn diện, phát triển khả năng huy động, tổng hợp kiến thức, kỹ năng… ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ đó, giúp các em rèn luyện các kỹ năng cần thiết và phát triển năng lực giải quyết vấn đề hiệu quả.

Từ định nghĩa trên, có thể phân tích thấy mục tiêu cơ bản của việc áp dụng cách dạy học khoa học này đó là:

– Hình thành và phát triển năng lực toàn diện cho học sinh

– Tạo dựng mối quan hệ giữa các môn học với nhau và áp dụng với kiến thức thực tiễn.

– Cho phép các em học sinh lĩnh hội càng nhiều kiến thức rộng lớn của nhân loại.

– Hạn chế tối đa việc trùng lặp nội dung thuộc các môn học khác nhau.

II. Ưu nhược điểm của phương pháp tích hợp

Mỗi phương pháp dạy học đều có những thế mạnh và hạn chế riêng. Với phương pháp dạy học tích hợp cũng không nằm ngoài quy luật đó.

– Áp dụng linh hoạt với mọi đối tượng học sinh từ tiểu học, THCS, THPT, Đại học, cao đẳng.

– Linh hoạt cho mọi nền tảng kiến thức, trình độ hiểu biết, khả năng tiếp thu…

– Phá bỏ rào cản bất bình đẳng trong quá trình học tập, đảm bảo cho học sinh nắm chắc kiến thức quan trọng.

– Giảm tải chương trình học với ít môn học hơn, nội dung được chọn lọc kỹ lưỡng hơn.

– Rút ngắn quá trình tổng hợp

– Tạo điều kiện cho các em có cơ hội được trang bị đầy đủ những kỹ năng cần thiết, phục vụ cho học tập, làm việc trong tương lai cũng như hội nhập quốc tế.

– Gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng thực tế bởi các năng lực chính cần được xác định và phân loại cho từng lớp.

– Việc đánh giá đòi hỏi phải có sự sáng tạo và ý nghĩa.

– Buộc giáo viên phải làm việc vất vả hơn, sáng tạo trong nội dung và phương thức truyền đạt. Bởi với phương pháp này, ngoài việc truyền đạt kiến thức, các giáo viên còn là người chịu trách nhiệm tự tổ chức, kiểm tra, đánh giá và định hướng học tập cho các em học sinh cả trong và ngoài lớp học.

– Giáo viên phải liên tục nhận thức được sự tiến bộ của học sinh, giúp các em đạt được các tiêu chuẩn đầu ra về năng lực.

III. Tại sao nên áp dụng dạy và học tích hợp

Với những ưu điểm nổi bật kể trên, việc áp dụng phương pháp dạy học tích hợp đem lại tối đa lợi ích cho cả học sinh, sinh viên và giáo viên. Đây chính là lý do phương pháp dạy học này ngày càng được áp dụng rộng rãi và phổ biến trong các nền giáo dục hiện đại.

1. Lợi ích dạy học tích hợp với học sinh

Đáp ứng sở thích, phong cách học tập của học sinh tốt

Đây là một trong những lợi ích tích cực mà phương pháp dạy học này đem lại. Bởi mỗi học sinh, sinh viên đều có những sở thích, mong muốn và phong cách học tập riêng. Việc áp dụng giải pháp dạy học này giúp các em có cơ hội được lựa chọn cách học phù hợp nhất, đảm bảo hiệu quả học tập tốt nhất cho mình mà không làm ảnh hưởng đến các bạn khác.

Khơi nguồn cảm hứng học tập cho các em

Với nội dung bám sát với thực tiễn khách quan kết hợp với các phương pháp trực quan, sinh động, các bài giảng trở nên sinh động, có sức hút với các em học sinh hơn, xóa bỏ cảm giác nhàm chán, buồn ngủ khi áp dụng cách học truyền thống cũ. Từ đó, tạo động lực cho các em thỏa sức sáng tạo, tư duy, giúp các em có hứng thú, tập trung học tập hơn.

Xóa tan tình trạng học vẹt

Với việc tiếp thu và vận dụng ngay những kiến thức học tập để giải quyết những vấn đề của cuộc sống hàng ngày, sẽ hạn chế đáng kể tình trạng học vẹt, học trước quên sau ở các em.

Thấy mình được quan tâm hơn

Nếu với phương pháp học truyền thống cũ, giáo viên thường ưu tiên chọn hướng bài giảng đến đám đông học sinh với ý nghĩ rằng ít nhất sẽ dạy tốt cho phần đông các em trong lớp. Điều này khiến số ít học sinh còn lại cảm thấy bơ vơ, không được kèm cặp và ngày càng không theo kịp tiến độ học tập trên lớp.

Với dạy học tích hợp thì hoàn toàn khác. Nó cho phép giáo viên có nhiều thời gian quan tâm và chỉ bảo sát sao cho từng học sinh trong lớp, giúp các em có sự phát triển năng lực đồng đều, đạt được sự tiến bộ tốt.

Giúp các em trở nên tự tin hơn

Với việc có thời gian để chuẩn bị và luyện tập trước khi đến lớp và ôn lại bài tập sau giờ học, các em học sinh sẽ không còn cảm thấy sợ hãi khi trình bày trước đám đông, giúp các em tự tin hơn, năng động hơn.

Được tiếp cận nguồn tài nguyên học tập dồi dào

Như đã phân tích ở phần trên, việc áp dụng phương pháp dạy học này giúp các em chủ động trong việc tìm kiếm tài liệu, kiến thức trên cơ sở dựa vào yêu cầu của giáo viên và nguyện vọng của chính mình. Đồng thời, giúp các em phát huy được năng lực của chính mình trong việc lĩnh hội kiến thức cũng như vận dụng kiến thức trong thực tiễn.

Khuyến khích tìm tòi, khám phá và phát triển tính tự chủ

Với phương pháp học đặc biệt này, các em không chỉ tìm những thứ mình muốn mà còn được “va chạm” với những kiến thức bất tận khác để tự củng cố, đối chiếu và phát triển kiến thức tốt hơn. Dần dần, các em sẽ không còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên mà trở nên tự tin, độc lập, tự chủ hơn.

2. Lợi ích dạy học tích hợp với giáo viên

Vận dụng phương pháp dạy và học tích hợp này không chỉ hữu ích cho các em học sinh, sinh viên mà còn đem lại nhiều tiện ích dành cho giáo viên như:

– Với những giáo viên có năng lực chuyên môn giỏi, vững về nghiệp vụ và am hiểu kiến thức sâu rộng, phương pháp dạy học liên môn này giúp các cô dễ dàng tổng hợp và tinh giản kiến thức thành những ý chính, vấn đề, nội dung quan trọng, giúp dễ hình dung, dễ hiểu và không bị trùng lặp.

– Phương pháp dạy học khoa học này còn giúp tăng cường tính tương tác xã hội trong giờ học giữa thầy và trò. Giáo viên sẽ có nhiều thời gian để sáng tạo ra những trải nghiệm học tập thú vị cho học sinh khi học sinh đã tự học trước khi đến lớp. Mặt khác, học sinh có thể thỏa mái đặt câu hỏi, trình bày những thắc mắc và được giáo viên hướng dẫn, hỗ trợ giải đáp kịp thời.

– Giảm áp lực nghề nghiệp, tăng khả năng chuyên môn của giáo viên

– Tạo nên mối quan hệ thầy trò gần gũi, thân thiết và tốt đẹp qua từng trải nghiệm học tập thực tế.

IV. Áp dụng cách dạy học tích hợp như thế nào?

Hiện nay, việc thực hiện phương pháp dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta dựa trên 3 định hướng cơ bản:

– Tích hợp giữa các mảng kiến thức khác nhau, giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kỹ năng trong cùng một môn học.

Với việc chú trọng phát triển năng lực của người học, để thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học này, vai trò của giáo viên là vô cùng quan trọng. Bởi vậy, các giáo viên cần phải chuẩn bị:

– Xây dựng nội dung, ý chính để giảng dạy

– Nắm bắt năng lực, trình độ của học sinh trong từng nội dung để thực hiện nâng cao kiến thức.

– Tổ chức, định hướng, biên soạn các câu hỏi, bài tập tích hợp để đánh giá trình độ của học sinh.

– Soạn giáo án, thiết kế bài giảng khoa học, sáng tạo, linh hoạt thành các hoạt động trải nghiệm thú vị, hấp dẫn cho học sinh.

– Tổ chức dạy học và dự giờ nhiều hơn để phân tích, rút kinh nghiệm.

Bình Luận Facebook

.

Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “Liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới / 2023

1. MỞ ĐẦU

2.3. Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

Liên kết hóa học là phần tương đối khó và hay trong chương trình môn hóa học ở trung học phổ thông, học sinh được nghiên cứu về quy tắc octet, ion, sự hình thành các loại liên kết, đặc biệt là ứng dụng của chúng vào thực tiễn.

2.4. Cơ sở xây dựng nội dung dạy học

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ đến phương pháp giáo dục và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học.

– Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất chủ yếu, giúp học sinh linh hoạt, độc lập, sáng tạo phát triển tư duy.

– Lựa chọn linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù bộ môn để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

– Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp…

2.5. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

– Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học bộ môn. Sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu phù hợp với nội dung học tập và đối tượng học sinh. Tích cực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học [5].

– Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết, không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn.

– Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,… Cần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen,… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh.

– Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

Hoạt động tìm hiểu ion đơn nguyên tử, ion đa nguyên tử

Công văn số 791/HD-BGDĐT ngày 25 tháng 06 năm 2013 hướng dẫn triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông cho phép xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục, kế hoạch giáo dục định hướng phát triển NL HS, tăng cường năng lực thực hành, vận dụng kiến thức, giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật… do nhà trường phổ thông ban hành.

Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học, trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.

Công văn 3718/BGDĐT- GDTrH ngày 15 tháng 08 năm 2017 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học và tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

Bảng 1. Yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất chương “Liên kết hóa học”

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Trước hết, giáo viên cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành thiết kế bài dạy lên lớp. Chẳng hạn như kỹ thuật mở bài hay hoạt động khởi động, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại,…. Cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn để tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.

Dạy học giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Đây là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Hiện nay, học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn.

1. Hoạt động cá nhân hoàn thành phiếu học tập. Hướng dẫn học sinh chốt kiến thức.

3. KẾT LUẬN

Việc đổi mới phương pháp dạy học giúp giáo viên thực sự đóng vai trò là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập. Giáo viên phải có động lực đổi mới, nhiệt tình tâm huyết với nghề, tích cực học tập, trau dồi kiến thức chuyên môn và phương pháp dạy học, thành thạo ứng dụng công nghệ thông tin.

Qua kết quả thực nghiệm ở một số trường THPT, chúng tôi đã xác định yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực và phẩm chất nội dung của chương, đó là căn cứ để xây dựng kế hoạch dạy học, áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Đây là “bước đệm” để giáo viên và học sinh có thể dạy và học tốt chương trình mới, giúp học sinh biết cách phối hợp vận dụng kiến thức từ đó phát triển được năng lực, phẩm chất theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học.

Phạm Thị Kim Anh (2015), Chương trình đào tạo giáo viên ở Việt nam- Một số bất cập và định hướng phát triển, Hội thảo khoa học Quốc tế: “Phát triển chương trình đào tạo GV-Cơ hội và thách thức”. ĐHSP Thái Nguyên.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công văn 5555 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh trong nhà trường THPT môn Hóa học.

Trần Kiểm (2017), Phát triển năng lực người học – xu thế dạy học hiện đại, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp.153-159.

Nguyễn Thị Sửu, Vũ Quốc Trung, Nguyễn Thị Phương Thúy, Lê Tùng (2015), Vận dụng dạy học dự án trong dạy học hóa học hữu cơ ở trường trung học cơ sở tỉnh Điện biên, HNUE, Tạp chí Khoa học, Vol.60, No.8, pp. 67-75.

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Ban hành chương trình giáo dục phổ thông, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

Võ Thị Thiều (2017), Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, Proceeding Development trends in Education in a globalized world, TP HCM, pp 483-488.

Đào Đình Thức (2010), Cấu tạo nguyên tử và Liên kết hóa học, Tập II, NXB Giáo dục Việt Nam.

Title: APPLY POSITIVE TEACHING METHODS IN TEACHING CHAPTER “CHEMICAL BOND” – CHEMISTRY GRADE 10 – NEW GENERAL EDUCATION CURRICULUM

Abstract: Positive teaching methods to develop competence for students are being concerned. From the aim of chapter “Chemical Bond”- Chemistry 10 th grade – and based on the new general education curriculum, content and teaching plan to apply positive teaching methods were built. Experimental results shown effectiveness, possibility of content and methods were applied.

Keywords: Positive teaching methods, chemical bond. new general education.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Dạy Học Kiến Tạo Kết Hợp Ứng Dụng Công Nghệ Đạt Hiệu Quả Trong Dạy Học Tích Hợp / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!