Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý / 2023 # Top 16 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

  Một số định hướng chung của việc soạn giảng

    – Đặt ra mục tiêu bài học thật rõ ràng:  Mục tiêu chính là kết quả sau khi kết thúc bài học học sinh cần nhớ, cần hiểu và cần vận dụng được những gì (3 mức độ ban đầu trong thang nhận thức Bloom) Mục tiêu bài học phải chi tiết, cụ thể và được thể hiện bằng các động từ cụ thể như nêu được, phát biểu được, giải thích được, áp dụng được, tóm tắt được, so sánh được…Không viết mục tiêu chung chung không rõ ràng; Giáo viên cần thuộc lòng mục tiêu bài dạy trước khi lên lớp; Sau mỗi tiết học giáo viên có thể kiểm tra xem học sinh đã đạt được những mục tiêu mà mình để ra chưa.

  – Luôn chủ động linh hoạt tìm mạch lô gic để làm cho bài giảng được hay, hấp dẫn, lô gic, không quá phụ thuộc vào sách giáo khoa, có thể sử dụng lô gic hình thành kiến thức theo phương án khác sách giáo khoa hoặc đảo thứ tự các phần, các nội dung trong bài học miễn sao đạt được mục tiêu bài dạy.

    – Lựa chọn và cung cấp lượng kiến thức phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của học sinh: Trên cơ sở mục tiêu đã biên soạn, giáo viên nên lựa chọn những vấn đề kiến thức phù hợp với đối tượng, không quá nặng nề phức tạp (nhưng vẫn đảm bảo là kiến thức trọng tâm, vẫn phải nằm trong mục tiêu của bài). Với những phép chứng minh, giải thích quá phức tạp, rắc rối, học sinh không thể hiểu được thì có thể cho học sinh công nhận kết quả rồi tìm cách áp dụng vào các trường hợp cụ thể, phần chứng minh có thể yêu cầu những em học sinh khá về nhà đọc sách tự tìm hiểu

Trên cơ sở của định hướng trên ta đi vào các kĩ thuật dạy học cụ thể: Kĩ thuật dạy học là phần thể hiện hoạt động của giáo viên và học sinh trong giờ học nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra. Ở đây ta nêu ra một số kĩ thuật dạy học đối với hai loại giờ học hay gặp nhất đó là giờ lý thuyết và giờ bài tập.

I. KỸ THUẬT DẠY HỌC GIỜ LÝ THUYẾT

Đối với một giờ lý thuyết thì những hoạt động mà giáo viên thương tiến hành gồm:

1. Dẫn dắt vào vấn đề (nêu vấn đề)

2. Đặt câu hỏi gợi mở, điều khiển sự trả lời của học sinh.

3. Thuyết trình phân tích

4. Làm thí nghiệm

5. Khai thác các phương tiện dạy học

7. Tạo sự hứng thú cho lớp học.

Bảy hoạt động này cần được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và khéo léo sao cho đạt được 3 mục đích:

– Học sinh tích cực hoạt động

– Học sinh đạt được những mục tiêu mà giáo viên đã đề ra

– Học sinh hứng thú đối với giờ học.

Phân tích từng hoạt động cụ thể:

1. Dẫn dắt nêu vấn đề

– Làm một thí nghiệm mà kết quả có một điểm mới, lạ đối với học sinh

2. Đặt câu hỏi gợi mở, điều khiển sự trả lời của học sinh

Việc chuyển đổi nội dung kiến thức bài học thành một hệ thống các câu hỏi sẽ khơi dậy sự tò mò tìm hiểu về bài học, từ đó học sinh chủ động khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, giờ dạy trở nên hào hứng, sinh động, học sinh thực sự trở thành chủ động nắm kiến thức của bài, chất lượng, hiệu quả giờ dạy tăng lên rất nhiều.

Hệ thống câu hỏi trong dạy học có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc làm cho bài giảng thực sự tạo được tình huống có vấn đề từ đó phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập; Để xây dựng được một hệ thống câu hỏi đạt yêu cầu đòi hỏi người thầy phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, tìm tòi, cân chỉnh, rút kinh nghiệm qua soạn bài, qua sự thể hiện ở các giờ lên lớp, qua nhiều năm công tác.

Mỗi tiết dạy đưa ra nhiều hay ít câu hỏi, còn tùy thuộc vào từng bài và đối tượng học sinh; Điều quan trọng nhất là đưa ra được các câu hỏi cần thiết vừa đủ, có chất lượng, có tác dụng thiết thực tạo được các tình huống có vấn đề, kích thích tư duy của học sinh khám phá kiến thức. Có bài hầu như chỉ phù hợp với phương pháp thuyết trình, tuy nhiên nếu chịu khó tìm tòi, cân nhắc chúng ta vẫn có cơ hội đưa ra được một số câu hỏi tạo tình huống có vấn đề làm tăng hiệu quả giờ dạy.

a. Yêu cầu đối với câu hỏi

– Câu hỏi có tác dụng đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, động não mới làm sáng tỏ được những điều mà giáo viên đặt ra.

– Câu hỏi dựa trên những kinh nghiệm hoặc kiến thức bài cũ mà học sinh đã học, đã biết.

– Câu hỏi cần có hệ thống gợi ý, dẫn dắt để học sinh trả lời các ý, từ đó hoàn chỉnh vấn đề cần trả lời.

b. Những câu hỏi không nên dùng

Câu hỏi là phương tiện cần thiết cho việc dạy theo phương pháp nêu vấn đề, thực tế cho thấy để đưa ra được các câu hỏi đạt yêu cầu quả không phải dễ dàng, có không ít câu hỏi sử dụng đã tạo ra tác dụng ngược lại làm cho giờ dạy nhạt nhẽo, lủng củng, tốn phí thời gian, tạo dấu ấn rất mờ nhạt, không có giá trị phát huy tính tích cực của học sinh. Cụ thể:

– Câu hỏi không dựa trên kinh nghiệm hoặc nền kiến thức cũ: Những câu hỏi loại này thường làm học sinh lúng túng và thường phản ứng bằng cách đoán mò hoặc đọc sách giáo khoa tìm câu trả lời.

– Câu hỏi không định hướng: khó xác định hoặc xác định sai yêu cầu, điều này làm học sinh rối trí, mất nhiều thời gian đồng thời không hoàn thành được yêu cầu thầy giáo đặt ra; Dạng câu hỏi này thực tế dẫn tới người giải quyết vấn đề lại chính là thầy giáo.

– Câu hỏi quá dài, học sinh không thể nhớ hết nội dung câu hỏi.

– Các câu hỏi quá đơn giản không có giá trị phát huy trí lực học sinh, các câu hỏi vụn vặt với những trả lời như: có, không, đúng ạ… loại câu hỏi này đưa ra vừa làm mất thời gian vừa làm cho giờ dạy đơn điệu nhạt nhẽo.

– Câu hỏi đưa ra mà nội dung trả lời có sẵn trong SGK, học sinh không cần phải động não, không cần ghi nhớ, chỉ cần đọc đúng là trả lời được vấn đề mà thầy giáo nêu lên.

   c. Kĩ thuật đặt câu hỏi

Bên cạnh hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị thì cách hỏi và điều khiển sự trả lời của học sinh cũng rất quan trọng; Để việc khai thác hệ thống câu hỏi đạt kết quả cao chúng ta lưu ý một số điểm sau:

– Câu hỏi nêu ra phải chỉ rõ đối tượng trả lời, tránh tình trạng hỏi chung chung rồi sau đó giáo viên tự trả lời

– Khi đặt câu hỏi phải cho học sinh thời gian suy nghĩ, tránh việc nêu câu hỏi ra rồi bắt học sinh trả lời luôn. (có thể nói từ từ, nhấn mạnh, lặp đi lặp lại một vài lần)

– Với một câu hỏi có thể hỏi ‎ gọi một vài học sinh trả lời, nhận xét trả lời để kiểm tra sự nhận thức của các em.

– Khi học sinh trả lời câu hỏi xong thì dù trả lời đúng hay sai cũng nên khen học sinh. Điều này làm học sinh tăng sự tự tin trong việc suy nghĩ và trả lời câu hỏi của giáo viên.

– Nếu học sinh không trả lời được thì có thể sử dụng gợi ‎ ý cho câu hỏi hoặc gọi học sinh khác, tránh việc dừng quá lâu trước một học sinh sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ bài giảng.

– Đối với việc sử dụng khai thác các câu hỏi gợi ‎ ý của sách giáo khoa, tránh việc dùng cụm từ “các em hãy đọc C1 và trả lời C 1” Giáo viên cần nêu hẳn câu hỏi lên và cho học sinh suy nghĩ trả lời.

– Nên có hệ thống câu hỏi chọn lọc phù hợp với đối tượng học sinh; Đối với học sinh trung bình, yếu nên cho trả lời những câu hỏi đơn giản, dễ dàng; Còn đối với học sinh khá giỏi nên cho trả lời những câu hỏi cần suy luận nhiều hơn.

– Nếu là câu hỏi có dạng đúng, sai thì phải yêu cầu Hs giải thích câu trả lời của mình (bản thân Hs)

-Không nên đưa ra quá nhiều câu hỏi trong một bài học: điều này sẽ làm cho bài giảng nát vụn ra, mất tính hệ thống, giờ giảng bị căng, học sinh mệt mỏi, tốn nhiều thời gian, các kiến thức cốt lõi ít được giảng giải phân tích.

Hệ thống câu hỏi là yếu tố rất quan trọng đối với bài giảng, Giáo viên cần đầu tư thời gian, công sức biên soạn hệ thống câu hỏi thể hiện  rõ trong giáo án đồng thời nắm vững những kĩ thuật hỏi để việc khai thác câu hỏi đạt kết quả cao nhất.

3. Thuyết trình, phân tích, diễn giảng                         

a. Khi nào cần phân tích, thuyết trình, diễn giảng?

– Những khái niệm mới

– Những vấn đề khó

– Những hiện tượng vật lí mới

– Những định luật vật lí

– Những ứng dụng vật lí

– Những giả thuyết vật lí

b. Để việc phân tích, thuyết trình, diễn giảng đạt hiệu quả cần lưu ý:

  – Lời nói, trình bày của người thầy phải sinh động: việc tạo cho giờ dạy có tính sinh động có ý nghĩa cực kì quan trọng, chúng ta đã từng chứng kiến cùng một bài dạy được trình bày với cung cách và ngôn ngữ giống nhau song do sự khác nhau trong trạng thái tâm lí mà có lớp giờ giảng rất sinh động, học sinh tiếp thu hào hứng, đưa lại hiệu quả cao, người ta thường gọi đó là bài giảng có hồn. Có lớp giờ giảng diễn ra một cách nhạt nhẽo, buồn tẻ, nặng nề, mặc dù hoàn thành nhưng hiệu quả rất thấp, những dấu ấn của bài giảng để lại trong trí não học sinh rất mờ nhạt, đó là những bài giảng không có hồn.

Để tạo sự sinh động trong giảng bài thì cần sử dụng ngôn ngữ gần gũi với học sinh, không nhất thiết chỉ toàn sử dụng những thuật ngữ khoa học khô khan, nên sử dụng những hình ảnh gần gũi dễ nhận biết, so sánh sự tương đương giữa hiện tượng vật lí với hiện tượng trong cuộc sống, giọng điệu phải thay đổi tránh giữ chất giọng đều đều suốt cả giờ học, đôi khi pha thêm một vài câu đùa vui hóm hỉnh.

   – Tích cực khai thác, sử dụng kênh hình trong việc phân tích, thuyết trình: Kênh hình ở đây có thể là hình vẽ trong SGK, hình vẽ chuẩn bị sẵn, các hình ảnh, video mà giáo viên đã chuẩn bị hoặc hình vẽ do giáo viên vẽ lên bảng trong giờ học.  việc đưa ra hình vẽ, hình ảnh rồi phân tích hiện tượng, quá trình ngay trên hình vẽ, hình ảnh có tác dụng giúp học sinh dễ hình dung, tưởng tượng ra hiện tượng, quá trình từ đó nắm bài tốt hơn so với việc giáo viên chỉ nói mà không có bất cứ hình vẽ, hình ảnh nào.

 – Sử dụng mô hình tương đồng giữa khái niệm, hiện tượng trong vật lí với khái niệm hiện tượng trong cuộc sống quen thuộc đối với học sinh. Ví dụ so sánh sự tương đồng của dòng điện với dòng nước, hiệu điện thế với hiệu độ cao…..

  – Nêu ví dụ và phân tích ví dụ khi cần trình bày một khái niệm, định luật phức tạp: Một khái niệm khó nếu học sinh chỉ đọc định nghĩa và công thức có thể chưa hiểu ngay, giáo viên cần nêu và phân tích một vài ví dụ về khái niệm, định luật đó; Điều này không những giúp học sinh hiểu ngay tại lớp mà còn giúp cho việc làm bài tập của học sinh.

– Kết hợp chặt chẽ việc thuyết trình, diễn giảng với việc đặt câu hỏi và điều khiển sự trả lời của học sinh: không nên thuyết trình quá dài mà nên có câu hỏi xen giữa các nội dung thuyết trình. Điều này giúp cho học sinh vừa phải lắng nghe, quan sát vừa phải suy nghĩ để trả lời câu hỏi của giáo viên

4. Làm thí nghiệm

Trong dạy học vật lí làm thí nghiệm là một hoạt động khá đặc trưng của bộ môn; Đối với các giờ lí thuyết thì thí nghiệm bao gồm hai loại là thí nghiệm biểu diễn của thầy và thí nghiệm đồng loại của trò. Chúng ta phân tích đặc điểm và kĩ thuật tiến hành các loại thí nghiệm trên

a. Thí nghiệm biểu diễn của thầy: ở loại thí nghiệm này giáo viên sẽ tiến hành thí nghiệm biểu diễn để khảo sát hoặc minh họa một hiện tượng, quá trình, định luật vật lí nào đó. Để tiến hành một cách hiệu quả chúng ta lưu ý những điểm sau:

– Trước khi làm thí nghiệm:  

 + Giới thiệu mục đích thí nghiệm: đây là điều đầu tiên giáo viên cần làm trước khi tiến hành thí nghiệm; Học sinh phải biết là thí nghiệm này để làm gì để từ đó tập trung vào những chỗ cốt lõi, chủ yếu trong kết quả thí nghiệm.

 + Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm: nêu những bộ phận và tác dụng của từng bộ phận trong thí nghiệm; Không cần quá đi sâu vào chi tiết kĩ thuật chỉ cần giới thiệu tên gọi, sơ lược cơ chế hoạt động và tác dụng của bộ phận.

+ Hướng dẫn học sinh tập trung quan sát vào kết quả cốt lõi của thí nghiệm, tránh tập trung vào những kết quả không chủ yếu (xa mục đích)

– Khi làm thí nghiệm:

+ kết hợp vừa thuyết trình, phân tích vừa tiến hành thí nghiệm.

+ kết hợp vừa làm thí nghiệm vừa đặt câu hỏi cho học sinh ví dụ như đang làm thí nghiệm thì dừng lại, yêu cầu học sinh dự đoán điều sắp xảy ra,  yêu cầu học sinh suy nghĩ để lí giải kết quả thí nghiệm…

+ Hướng dẫn học sinh phân tích, xử lí số liệu thu được từ thí nghiệm.

+ Chốt lại kết luận sau khi làm xong thí nghiệm và xử lí xong dữ liệu.

Về mặt kĩ thuật cần lưu ý: Thí nghiệm phải bố trí cho cả lớp đều quan sát được. Nếu dụng cụ quá nhỏ không thể quan sát cả lớp có thể gọi từng bàn lên quan sát lần lượt.

b. Thí nghiệm đồng loạt của trò: Hoạt động này thường tiến hành khi nội dung của thí nghiệm là đơn giản và có đủ dụng cụ cho các nhóm trong lớp tiến hành đồng loạt. Khi tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm đồng loạt tại lớp cần lưu tâm những điểm sau:

– Trước khi làm thí nghiệm: giáo viên cần chia nhóm, giới thiệu mục đích thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm, hướng dẫn học sinh quan sát kết quả cốt lõi của thí nghiệm, nêu khoảng thời gian cho thí nghiệm.

– Trong khi làm thí nghiệm: theo dõi hoạt động của các nhóm, hướng dẫn những nhóm chưa làm được thí nghiệm, đặt câu hỏi cho các nhóm trong quá trình làm thí nghiệm.

– Kết thúc thí nghiệm: hướng dẫn học sinh xử lí số liệu, rút ra kết luận, giáo viên chốt lại.

5. Khai thác các phương tiện dạy học

Đây là hoạt động tiến hành song song đồng thời với các hoạt động trên; Các phương tiện dạy học cơ bản gồm Bảng, SGK của học sinh, bảng phụ, máy tính, máy chiếu, dụng cụ thí nghiệm… Chúng ta cùng phân tích cách khai thác hiệu quả các phương tiện chủ yếu hay dùng nhất trong các giờ dạy lí thuyết vật lí.

a.  Sử dụng khai thác Bảng

      – Đảm bảo hài hoà giữa trả lời của học sinh với lời giảng và việc ghi bảng của thầy Điều này tưởng như đơn giản nhưng thực tế không ít giáo viên thực hiện không thành công. Lỗi thường mắc phải trong trường hợp này là: thầy giáo nêu câu hỏi, học sinh trả lời, thầy giảng giải, phân tích xong và cuối cùng là ghi bảng. Cung cách này tạo ra sự khập khểnh, không hài hoà, không ăn khớp giữa hoạt động của thầy và trò,  tốn thời gian và làm cho giờ giảng giảm bớt tính sinh động. Để thực hiện sự hài hòa này giáo viên có thể chốt ghi bảng theo sự trả lời của học sinh hoặc có thể cho học sinh lên bảng ghi nội dung vừa kết luận.

– Những nội dung trình bày trên bảng là những nội dung cô đọng thể hiện chuẩn kiến thức kĩ năng của bài; Thông thường ở trên bảng sẽ là các tiêu đề, các công thức, kết luận quan trọng. Nội dung vừa đủ, không quá dài hoặc không quá ngắn.

– Nên có một phần trên bảng để tự do thể hiện y tưởng của giáo viên hoặc học sinh (viết, vẽ xong rồi xóa) bên cạnh phần cố định trình bày kiến thức theo nội dung.

b. Sử dụng, khai thác sách giáo khoa: Một trong những đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay đó là rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh. Sách giáo khoa trở thành một phương tiện dùng cho mục đích này và sử dụng trong các trường hợp sau:

– Từ vốn kiến thức SGK để giải thích các tình huống lí thuyết hoặc thực tiễn đặt ra (ví dụ trả lời các lệnh trong SGK).

– Từ các hình ảnh, biểu đồ học sinh phân tích so sánh và rút ra các kết luận cần thiết theo yêu cầu của bài học.

– Hình ảnh, biểu đồ được sử dụng minh họa giúp học sinh hiểu thêm những điều mà thầy giáo trình bày.

– Một số nội dung được nêu trong sách giáo khoa không phải là kiến thức cốt  lõi và đơn giản học sinh có thể tự đọc để hiểu.

Hiện trạng đáng lưu ý hiện nay đó là một bộ phận giáo viên lạm dụng SGK trong quá trình giảng dạy thể hiện:

– Câu hỏi đưa ra mà nội dung trả lời có sẵn trong SGK, học sinh không cần phải động não, không cần ghi nhớ, chỉ cần đọc đúng là trả lời được vấn đề mà thầy giáo nêu lên.

– Giáo viên phát phiếu học tập, câu hỏi nêu lên trong phiếu học sinh chỉ cần dựa vào sách giáo khoa chép lại nguyên xi là đạt yêu cầu…

Việc sử dụng SGK theo cung cách nêu trên sẽ dần dần hình thành tật xấu cho học sinh đó là cứ mỗi khi giáo viên đưa ra câu hỏi học sinh không động não, không tư duy mà nhanh chóng nhìn vào SGK để tìm câu trả lời. Với cách làm này giờ dạy diễn ra có vẻ trôi chảy nhẹ nhàng và hình như một bộ phận đáng kể giáo viên và nhiều em học sinh cũng thích cung cách này vì việc học tập diễn ra thật dễ dàng khỏe khoắn, thầy giáo thậm chí không cần đọc sách giáo khoa và soạn bài trước mà đến lớp cùng học trò đọc luôn thể; Tuy nhiên hiệu quả giờ dạy rất thấp, dấu ấn các kiến thức được khắc họa trong trí não học sinh rất mờ nhạt, không đạt được các yêu cầu và mục tiêu của việc dạy học;Các câu hỏi mà giáo viên đưa ra không những không phát huy tính tích cực mà trái lại làm cho học sinh có thói quen trông chờ ỷ lại, ít cố gắng, lười biếng – Đây là điều luôn cần tránh trong các giờ dạy.

Để khai thác sách giáo khoa một các có hiệu quả giáo viên cần:

– Tạo ra cho học sinh nhu cầu muốn tìm hiểu, muốn đọc sách giáo khoa: Có thể thông qua một hiện tượng thực tế, một câu hỏi định tính nào đó tạo sự tò mò mà câu trả lời sẽ có sau khi đọc xong nội dung cần tìm hiểu trong sách giáo khoa. Điều này sẽ có tác dụng kích thích học sinh ham muốn đọc sách để trả lời vấn đề mà giáo viên nêu ra

– Thưởng điểm cho học sinh thông qua việc đọc sách giáo khoa để trả lời câu hỏi của thầy.

– Hướng dẫn học sinh tự đọc những nội dung không cốt lõi, không quan trọng trong sách giáo khoa.

– Câu lệnh hướng dẫn học sinh đọc, khai thác sử dụng sách giáo khoa phải rõ ràng, chính xác.

   c. Sử dụng dụng cụ thí nghiệm (xem phần làm thí nghiệm ở trên)

  d.  Sử dụng máy tính, máy chiếu, hình vẽ, bảng phụ: tuân thủ các nguyên tắc sau:

+ Kết hợp sử dụng các dụng cụ trên với thuyết trình phân tích và đặt hệ thống câu hỏi hợp lí

+ Sử dụng vừa đủ, không tràn lan, không làm dụng, không biến việc sử dụng phương tiện thành mục đích của bài dạy.

6. Tổ chức hoạt động nhóm

Tổ chức hoạt động nhóm là một hoạt động có thể phát huy rất tốt tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học tuy nhiên đó cũng là con dao 2 lưỡi; Nếu thực hiện tốt thì học sinh sẽ rất tích cực, chủ động xây dựng và nắm kiến thức, hứng thú với tiết học còn nếu thực hiện không tốt thì có thể làm giờ học trở nên hỗn loạn, khó kiểm soát; Chúng ta phân tích các đặc điểm của hoạt động này.

a. Tổ chức hoạt động nhóm với những hoạt động như thế nào?

Thường chúng ta tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh đối với các trường hợp sau:

– Sử dụng thí nghiệm đồng loạt để kiểm chứng, minh họa, khảo sát quy luật, hiện tượng

b. Cách thức tổ chức hoạt động:

+ Chia nhóm: Giáo viên là người tiến hành chia nhóm. Số lượng nhóm và thành viên trong các nhóm tùy vào tình hình cụ thể của lớp học, cử nhóm trưởng, thư kí, đặt tên cho nhóm.

+ Giao nhiệm vụ cho các nhóm: nhiệm vụ giao cho các nhóm phải chi tiết, cụ thể rõ ràng, giáo viên có thể hướng dẫn phân tích cách làm.

+ dự kiến thời gian hoạt động của các nhóm, quan sát, bao quát hoạt động của các nhóm

+ Nghiệm thu sản phẩm của các nhóm, yêu cầu các nhóm nhận xét kết quả

+ Kết luận và chốt lại.

7. Tạo sự hứng thú trong giờ học

Việc tạo sự hứng thú trong giờ học có vai khá quan trọng, nó giúp cho học sinh cảm thấy yêu thích môn học hơn từ đó việc chủ động lĩnh hội kiến thức sẽ đạt hiệu quả hơn; Tuy vậy vấn đề này thường không được nhiều giáo viên để tâm đến; Nhiều người thường cố gắng hoàn thành bài giảng dưới dạng tròn vai mà không chú ‎ tâm đến các biện pháp giúp tạo sự hứng thú cho học sinh trong giờ học; Làm thế nào để học sinh có hứng thú trong giờ học? thực ra để đạt được điều này dựa nhiều vào kinh nghiệm, sự nhiệt tình  của giáo viên và đặc điểm của học sinh. Chúng ta cùng phân tích một vài biện pháp giúp tăng sự hứng thú của học sinh trong giờ học.

– Tạo điều kiện cho học sinh được làm thí nghiệm hoặc quan sát thí nghiệm: trong quá trình học sinh tự làm hoặc quan sát, dự đoán, phân tích, lí giải thí nghiệm học sinh sẽ tự xây dựng và chiếm lĩnh kiến thức cho mình đồng thời tăng thêm sự hứng thú đối với môn học

– Sử dụng các quá trình mô phỏng bằng hình ảnh, video, phần mềm, trình chiếu. Nếu giáo viên khai thác tốt (kết hợp với kĩ thuật thuyết trình và phát vấn) và sử dụng hợp lí (vừa mức, không sa đà) thì hiệu quả giờ học sẽ rất cao đồng thời học sinh sẽ rất hứng thú.

– Trong quá trình giảng dạy sử dụng ngôn từ tự nhiên, sinh động, không khô khan, cứng nhắc, không quá nhiều thuật ngữ phức tạp, khó hiểu (có thể thay thế bằng từ hoặc cụm từ khác dễ hiểu hơn miễn là chính xác).

– Khen ngợi học sinh đúng lúc và đúng chỗ (sau khi học sinh trả lời câu hỏi, có thể cho điểm thưởng). Tuyệt đối không mạt sát xúc phạm học sinh.

– Tổ chức nhiều hoạt động học tập mới lạ dạng học mà chơi như mô phỏng các trò chơi trên truyền hình.

– Hài hước và tế nhị trong nhắc nhở học sinh.

– Khuyến khích học sinh nêu câu hỏi để hỏi lẫn nhau hoặc hỏi ngược lại giáo viên (có thể thưởng điểm nếu câu hỏi hay)

Các hoạt động gây hứng thú cho học sinh có thể tiến hành vào đầu buổi hoặc song song cùng các hoạt động khác trong suốt cả buổi học; Vấn đề quan trọng nhất là tạo được sự hứng thú cao đối với học sinh.

II. KỸ THUẬT DẠY GIỜ BÀI TẬP

A.  Một số vấn đề còn tồn tại của tiết bài tập vật lí

– Tiết bài tập rất khó dạy, ở chỗ không có một thiết kế nào cụ thể, tuỳ thuộc vào khả năng tiếp thu của học sinh, của chương trình. Nếu không xác định đúng mục tiêu rất dễ đi vào sự đơn điệu.

– Một số giáo viên còn xem nhẹ tiết bài tập, chỉ dừng lại khi giải xong các bài tập ở sách giáo khoa.

– Đa số bài tập ở sách giáo khoa chỉ dừng lại ở mức độ củng cố, và còn thiếu so với lượng kiến thức đã nêu trong lý thuyết do đó dẫn đến tình trạng:

học sinh khá giỏi không thể phát huy được khả năng, học sinh ở mức độ trung bình trở xuống thì bế tắc khi gặp dạng bài tập khác.

– Tiết bài tập trong phân phối chương trình còn ít.

– Kĩ năng vận dụng kiến thức Toán cho việc giải bài tập còn hạn chế đối với một bộ phận không nhỏ học sinh.

– Trong bộ sách ban cơ bản, một số đơn vị kiến thức không trình bày nhưng lại cho bài tập trong sách bài tập, nếu giáo viên không chịu tìm hiểu thì học sinh không biết đâu mà giải khi gặp loại bài tập như vậy.

B.Phân loại và phương pháp giải bài tập vật lý

Bài tập vật lý có thể chia làm 4 loại như sau:

– Bài tập vật lý định tính (còn có các tên gọi khác như câu hỏi định tính, câu hỏi thực tế..)

– Bài tập vật lý định lượng

– Bài tập đồ thị

– Bài tập thí nghiệm.

Chúng ta phân tích đặc điểm và phương pháp giải của từng dạng

  1. Bài tập vật lý định tính hay bài tập câu hỏi lý thuyết

     a. Đặc điểm   

– Là bài tập mà học sinh không cần phải tính toán (Hay chỉ có các phép toán đơn giản) mà chỉ vận dụng các định luật, định lý, qui luật để giải tích hiện tượng thông qua các lâp luận có căn cứ, có lôgich.

– Nội dung của các câu hỏi khá phong phú, và đòi hỏi phải vận dụng rất nhiều các kiến thức vật lý.

    b. Các bước chung để giải bài tập định tính: Thông thường để giải các bài toán này cần tiến hành theo các bước:

–  Phân tích câu hỏi

– Phân tích hiện tượng vật lý có đề cập đến trong câu hỏi để từ đó xác định các định luật, khái niệm vật lý hay một qui tắc vật lý nào đó để giải quyết câu hỏi. – Tổng hợp các điều kiện đã cho với các kiến thức tương ứng để trả lời câu hỏi.   2. Bài tập vật lý định lượng

     a. Đặc điểm   

Đó là loại bài tập vật lý mà muốn giải quyết nó ta phải thực hiện một loạt các phép tính dựa vào mục đích dạy học ta có thể phân loại bài tập dạng này thành 2 loại: + Bài tập tập dượt: Là bài tập đơn giản được sử dụng ngay khi nghiên cứu một khái niệm hay một qui tắc vật lý nào dó để học sinh vật dụng kiến thức vừa mới tiếp thu.

+ Bài tập tổng hợp; Là những bài tập phức tạp mà muốn giải nó học sinh vận dụng nhiều kiến thức ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp học và thuộc nhiều lĩnh vực.

Đặc biệt, khi các câu hỏi loại này được nêu dưới dạng trắc nghiệm khách quan thì yêu cầu học sinh phải nhớ kết quả cuối cùng đã dược chứng minh trước đó để giải nó một cách nhanh chóng vì vậy yêu cầu học sinh phải hiểu bài một cách sâu sắc để vận dụng kiến thức ở mức độ cao.

  b. Các bước chung để giải:

+ Bước 1: Tìm hiểu đầu bài

Đọc kỹ đầu bài, vừa đọc vừa tóm tắt các dữ kiện bài cho, những cái cần phải tính.Trong bước này,chú ý phân tích kỹ để hiểu rõ những thuật ngữ đặc biệt của bài (Bước này tất nhiên ai cũng phải thực hiện,nhưng nhiều học sinh mới đọc sơ qua đã vội làm bài nên làm sai hoặc không thể làm được do chưa nắm hết dữ kiện của bài )

+Bước 2: Phân tích hiện tượng vật lý

Giải hệ phương trình để tìm những đại lượng mà bài yêu cầu (Chú ý,khi giải cần tuân thủ đúng các quy tắc toán học, chẳng hạn khi khai căn phải lấy hai giá trị +,- …) + Bước 4 : Biện luận

Xét xem các nghiệm toán học tìm được có phù hợp với ý nghĩa vật lý không ,loại bỏ những nghiệm không phù hợp với vật lý

  3. Bài tập đồ thị

      a. Đặc điểm   

Đó là bài tập mà dữ kiện đề bài cho dưới dạng đồ thị hay trong quá trình giải nó ta phải sử dụng dồ thị ta có thể phân loại dạng câu hỏi nay thành các loại:

+  Đọc và khai thác đồ thị đã cho: Bài tập loại này có tác dụng rèn luyện cho học sinh ký năng đọc đồ thị, biết cách đoán nhận sự thay đổi trạng thái của vật thể, hệ vật lý, của một hiện tượng hay một quá trình vật lý nào đó;  Biết cách khai thác từ đồ thị những dữ để giải quyết một vấn đề cụ thể.

+ Vẽ đồ thị theo những dữ liệu đã cho: bài tập này rèn luyện cho học sinh kỹ năng vẽ đồ thị, nhất là biết cách chọn hệ tọa độ và tỉ lệ xích thích hợp để vẽ đồ thị chính xác.

  Các bước giải:

Đọc kỹ đầu bài bài, xác định yêu cầu của bài, xác định thông tin dựa vào các trục, đơn vị, dạng đồ thị, nhận xét về các cực trị, điểm đặc biệt để suy ra thông tin cần thiết. Khi vẽ cần chọn tỉ lệ và đơn vị thích hợp.

  3. Bài tập thí nghiệm (xây dựng phương án thực nghiệm)

      a. Đặc điểm   

Đây là loại bài tập yêu cầu học sinh xây dựng phương án thực nghiệm để xác định một đại lượng hoặc kiểm tra một quy luật, một hiện tượng hoặc một điều kiện vật lý nào đó. Loại bài tập này có 2 mức độ:

+ Mức độ 1: Chỉ xây dựng phương án (tính toán lập luận trên giấy, không đo đạc, làm thí nghiệm thực)

+ Mức độ 2: Tíên hành làm thí nghiệm thực theo phương án đã vạch ra.

Bài tập thí nghiêm tạo ra ở học sinh động cơ học tập, sự hăng say tò mò khám phá xậy dựng kiến thức mưói, gây cho học sinh một sự hứng thú, tự giác tư duy độc lập, tích cực sáng tạo.

Thông qua bài tập thí nghiệm, học sinh sẽ có khả năng tổng hợp kiến thuc lý thuyết và thực nghiêm, các kỹ năng hoạt động trí óc và thực hành một cách khéo léo, các vốn hiểu biết về vật lý, kĩ thuật vả thực tế cuộc sống nhằm phát huy tốt nhất khả năng suy luận và tu duy lô gíc

Với bài tập thí nghiệm, học sinh có thể đề xuất các phương án thí nghiệm khác nhau gây ra không khí tranh luận sôi nổi trong lớp

   b. Các bước giải:

          + Bước 1: Đọc, hiểu đề bài

+ Bước 2: Phân tích nội dung bài tập thí nghiêm

+ Bước 3: Xác định phương án thí nghiệm

+ Bước 4: Tiến hành các thao tác thí nghiệm

+ Bước 5: Kiểm tra câu trả lời so với kết quả thí nghiệm.

C. Chuẩn bị của Giáo viên

Để thực hiện tốt một tiết dạy bài tập vật lý, giáo viên cần chuẩn bị những yếu tố sau:

1. Xác định những kiến thức kỹ năng cần củng cố cho học sinh thông qua giờ bài tập đó: Thông thường giờ bài tập thường được bố trí sau từ 2 đến 3 giờ lý thuyết, tác dụng của giờ bài tập ở đây thường là củng cố những kiến thức kỹ năng đã học thông qua những giờ học lý thuyết trước đó do đó giáo viên cần phải xác định chính xác và cụ thể những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần củng cố cho học sinh (ví dụ kĩ năng áp dụng định luật gì, kĩ năng giải thích hiện tượng gì, kĩ năng vẽ đồ thị, đọc đồ thị ….) để lựa chọn hệ thống bài tập thích hợp.

+ Loại hình bài tập phải đa dạng: nên gồm nhiều loại bài tập trong giờ dạy (cả bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm …), sử dụng kết hợp các loại bài tập đó một cách khéo léo, tránh chỉ sử dụng một loại bài tập duy nhất gây đơn điệu nhàm chán trong học sinh.

+ Hệ thống bài tập phải phù hợp với trình độ của đa số học sinh, tránh đưa ra những bài tập quá dễ hoặc quá khó đối với trình độ chung của lớp.

D. Những hoạt động thường được tổ chức trong một giờ bài tập vật lý

1. Gọi học sinh lên bảng trình bày lời giải: đây là hoạt động thường được giáo viên áp dụng nhiều nhất trong các giờ bài tập; Ở hoạt động này giáo viên sẽ nêu bài tập (đã đưa ra cho học sinh về làm ở nhà), gọi học sinh lên bảng tóm tắt và trình bày lời giải, gọi học sinh khác nhận xét lời giải, giáo viên tổng kết bài giải và kết luận.

Hoạt động này có những ưu điểm và nhược điểm cụ thể như sau:

– Ưu điểm:

+ Kiểm tra và biết được khả năng hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh lên bảng chữa bài

+ Có thể phân tích và chỉ ra lỗi của học sinh một cách trực tiếp

+ Có thể rèn luyện cho học sinh kĩ năng trình bày bài tập.

– Nhược điểm:

+ Trong một giờ bài tập chỉ kiểm tra được một số ít học sinh của lớp

+ Học sinh ở dưới lớp dễ mất trật tự nếu giáo viên không bao quát tốt.

Để hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả giáo viên cần lưu ý những nội dung sau:

  – Giao bài tập phù hợp với trình độ của học sinh: đối với một lớp thông thường có nhiều đối tượng học sinh với các mức độ học lực khác nhau nên khi giao bài tập giáo viên phải giao đúng đối tượng, bài tập đơn giản, dễ dành cho học sinh yếu và TB, bài tập phức tạp, nâng cao dành cho học sinh khá giỏi.

– Bao quát lớp, tổ chức các hoạt động khác trong khi học sinh đang chữa bài trên bảng: Trong khi học sinh đang chữa bài trên bảng giáo viên có thể kiểm tra bài tập về nhà của học sinh dưới lớp, đặt câu hỏi định tính, hoặc ra bài tập bổ sung cho học sinh…

– Phân tích kĩ những chỗ lỗi của học sinh: qua việc phân tích chỗ lỗi trong bài tập của học sinh để rèn cho cả lớp những kĩ năng còn yếu (kĩ năng đổi đơn vị, vẽ hình, tính toán, suy luận…)

– Tổng kết bài tập và chốt lại phương pháp giải cho cả lớp.

2. Hướng dẫn cả lớp giải chung một bài tập: Đây là một hoạt động cũng khả phổ biến trong các giờ bài tập. Ở hoạt động này giáo viên hướng dẫn học sinh cả lớp cùng giải chung một bài tập thông qua hệ thống câu hỏi; Hoạt động này thường được tiến hành khi có những bài tập phức tạp, phải giải qua nhiều bước, ở trong lớp chỉ có một số ít học sinh giải được. Chúng ta cùng phân tích đặc điểm của hoạt động này:

– Ưu điểm:

+ Nhiều học sinh trong lớp cùng tham gia vào quá trình giải bài.

+ Học sinh hiểu các bước suy luận giải bài toán thông qua các câu hỏi của giáo viên

+ Giáo viên dễ bao quát lớp.

– Nhược điểm:

+ Không phát hiện được những lỗi và những chỗ vướng mắc của học sinh khi giải bài tập.

Để hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả giáo viên cần lưu ý những nội dung sau:

* Đọc, tóm tắt đề bài, đổi đơn vị, vẽ hình

* Mô tả và tưởng tượng về hiện tượng nêu trong bài toán

* Với các phương trình trên ta có xác định được cái cần tìm không?

* Cụm từ “………….” trong bài có nghĩa như thế nào? Với cụm từ đó ta có thể biểu diễn bằng phương trình toán học như thế nào?

* Có thể giải PT/Hệ PT trên như thế nào?

* Kết quả thu được có hợp lý không? …………….

  + Linh hoạt trong quá trình đặt hệ thống câu hỏi gợi ý cho học sinh: Hệ thống câu hỏi, các yêu cầu phải phù hợp với đối tượng, không cứng nhắc trong việc đặt câu hỏi (nếu câu hỏi khó, lớp không trả lời được thì chia nhỏ câu hỏi đó thành những câu dễ hơn hoặc sử dụng sự liên tưởng, tưởng tượng để học sinh có thể trả lời được); Sử dụng khéo léo kĩ thuật đặt câu hỏi (hỏi có đối tượng trả lời, khen học sinh sau khi trả lời, có thể cho điểm với những câu trả lời tốt…)

+ Kết hợp tốt phần trình bày trên bảng với phần trả lời câu hỏi gợi ý của học sinh: Thông thường cứ sau những câu trả lời quan trọng có tác dụng định hướng lời giải của học sinh GV nên chốt lại trong phần trình bày bài giải trên bảng.

  + Tổng kết và chốt lại phương pháp giải chung của bài toán.

3. Giao phiếu học tập và chia nhóm để học sinh giải bài tập tạilớp: Ở hoạt động này, GV chuẩn bị các bài tập ra phiếu, chia lớp thành các nhóm để làm bài tập trong các phiếu; Hoạt động này thường tiến hành khi GV đã tiến xong hoạt động 1 hoặc hoạt động 2 ở trên. Để hoạt động này tiến hành có hiệu quả GV cần lưu ý:

– Số lượng bài tập trong phiếu phải phù hợp với trình độ của học sinh.

– Chia nhóm và giao nhiệm vụ thật cụ thể cho các nhóm (số lượng thành viên, nhóm trưởng, các bài tập cần làm, thời gian hoàn thành…).

– Nên cho các nhóm làm bài tập trên bảng phụ, sau khi hoàn thành đem lên trình bày trên bảng; Theo dõi, bao quát hoạt động của các nhóm trong quá trình giải bài.

– Cho các nhóm cử người lên trình bày bài tập của nhóm mình, các nhóm khác nhận xét.

– GV tổng kết và chốt lại bài tập, đánh giá về hoạt động của các nhóm.

4. Các hoạt động khác: ngoài các hoạt động chính nói trên trong giờ bài tập vật lý có thể tiến hành thêm các hoạt động khác như sau:

– Ra các câu hỏi trắc nghiệm để cả lớp cùng làm chung  (có thể chuẩn bị trên bảng phụ, số lượng câu hỏi và mức độ câu hỏi phù hợp, luôn yêu cầu học sinh lý giải cho câu trả lời).

– Tổ chức đặt các câu hỏi dưới dạng hình thức giống như các trò chơi trên truyền hình (Ai là triệu phú, đấu trường một trăm, đối mặt…): Hoạt động này có tác dụng rât lớn trong việc kích thích sự hứng thú của học sinh tuy nhiên số lượng câu hỏi và thời gian bố trí phải phù hợp.

– Ra bài tập thí nghiệm cho học sinh (có thể ra ở giờ trước): Yêu cầu học sinh nêu phương án, GV chốt lại có thể yêu cầu học sinh về nhà làm thí nghiệm thực để kiểm tra phương án mà mình nêu ra.

E. Một số lưu ý chung khi tiến hành các hoạt động trong giờ bài tập

1. Sử dụng phối hợp nhiều hoạt động trong một giờ bài tập:nếu toàn bộ giờ học chỉ có một hoạt động duy nhất (ví dụ hoạt động chỉ gọi học sinh lên bảng) thì dễ gây đơn điệu, nhàm chán cho học sinh đặc biệt là những lớp có sự phân loại học sinh rõ nét GV nên tiến hành ít nhất từ 2 đến 4 hoạt động nêu ở trên, đồng thời kết hợp các hoạt động với nhau một cách hợp lý. Điều đó sẽ giúp cho giờ học không còn đơn điệu, tạo điều kiện cho học sinh các loại đối tượng đều được tham gia hoạt động.

2. Nên khen ngợi và khuyến khích học sinh, cho điểm hợp lý, tuyệt đối không chê bai học sinh: Theo tâm lý học thì con người ai cũng thích được khen, ghét bị chê. Do đó việc khen ngợi học sinh sau khi làm được một bài tập (cho dù là dễ) hoặc trả lời được một câu hỏi là rất cần thiết (kể cả khi học sinh trả lời sai ta cũng khen ngợi vì học sinh đã suy nghĩ và nói lên suy nghĩ của mình). Việc khen ngợi và cho điểm hợp lý sẽ giúp cho học sinh tăng thêm sự hứng thú trong môn học. Bên cạnh đó nếu có chê trách học sinh thì nên thực hiện một cách khéo léo tế nhị, tránh làm học sinh bị tổn thương, tuyệt đối không được có mạt sát học sinh, điều này có thể dập tắt ngay sự hứng thú của học sinh đối với môn học vừa mới được hình thành.

3. Luôn luôn tổng kết và chốt lại phương pháp giải của các dạng bài tập đã nêu ra: đây là thao tác rất cần thiết nó giúp cho học sinh xác định được phương pháp chung giải bài tập theo dạng và lần sau có thể làm bài tập tương tự.

sưu tầm

Phương Pháp Học Tập Bộ Môn Vật Lý / 2023

Thứ bảy, 24/11/2012 17:31

2. Rèn luyện cho chúng ta một trí nhớ tốt vì có như thế chúng ta mới nắm bắt được bài mới ở lớp cũng như các kiến thức đã học trước đó. Rèn luyện như thế nào? Đó là: trước khi học bài mới chúng ta nên xem lại các bài học cũ. Khi được tái hiện lần nữa, ta sẽ nhớ được lâu hơn, chắc hơn. Thực tế đã cho thấy, trong quá trình làm bài thi trắc nghiệm, chỉ cần ta quên (hoặc không hiểu) một thuật ngữ nào đó thôi là không làm bài được.

4. Nếu có điều kiện, các bạn nên thành lập nhóm học tập từ 03 đến 05 học sinh. Khi có được sự phân công hợp lý trong nhóm thì việc học sẽ đạt được hiệu quả cao.

– Sau đó là phải nhớ công thức tính toán, môn Vật lý có hai phần: thứ nhất là phần lý thuyết, thứ hai là phần bài tập. Việc nhớ rõ công thức là điều rất quan trọng. Vì nếu học sinh nhớ sai công thức thì kết quả bài làm sẽ sai. Muốn nhớ được những công thức mới phải làm bài tập nhiều, càng nhiều càng tốt. Trong lúc làm vẫn lấy công thức ra xem. Như vậy vừa hiểu rõ công thức, vừa biết áp dụng đúng và nhớ công thức lâu.

– Một việc nữa là trong sách giáo khoa, để cho dễ hiểu, người ta thường đưa ra những công thức rút gọn cho những trường hợp đặc biệt từ một công thức tổng quát. Và điều này giúp chúng ta làm câu hỏi trắc nghiệm nhanh hơn.

– Đọc và soạn bài kỹ trước khi đến lớp. Chú ý ghi lại những từ ngữ quan trọng, những vấn đề còn chưa rõ trong bài để khi đến lớp nghe thầy cô giảng bài ta sẽ tiếp thu nhanh hơn. Phải mạnh dạn hỏi ngay những gì còn chưa hiểu với thầy cô, bạn bè…

– Về nhà làm tất cả các bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập. Muốn vậy phải học tốt môn Toán – vì đây là môn học giúp ta có được tư duy logic và tính toán chính xác, rất cần trong việc giải các bài tập Vật lý.

– Các định nghĩa, khái niệm, định luật: cần cố gắng hiểu rõ và nhớ chính xác từng ý nghĩa của các mệnh đề được phát biểu.

– Các công thức: cần hiểu rõ ý nghĩa, đơn vị của từng đại lượng.

– Tập thói quen tự làm dàn bài tóm tắt bài học theo ý mình sau khi vừa học xong để sao cho khi học theo dàn bài, ta dễ dàng hiểu và nhớ chính xác bài học.

2. Phần bài tập:

– Sau khi đọc xong đề việc tóm tắt đề bài rất quan trọng, bước này giúp chúng ta tìm những dữ kiện cần thiết trong đề. Việc tóm tắt đề sẽ giúp chúng ta biết được đề bài cho những đại lượng nào, đại lượng nào chưa có để học sinh có hướng giải cho bài toán.

– Với những bài phức tạp thì việc vẽ hình còn quan trọng hơn nữa, nên vẽ hình đủ lớn, vì sau đó ta còn viết hay vẽ thêm nhiều dữ kiện khác nữa. Điều này giúp cho chúng ta có thể minh họa những dữ kiện đề bài ngay trên hình vẽ, giúp cho việc tính toán chính xác và nhanh hơn.

– Làm đầy đủ bài tập (từ dễ đến khó) trong sách giáo khoa và sách bài tập vật lý do Bộ GD-ĐT phát hành. Với hầu hết bài trong các bài tập này, HS sẽ làm được không khó khăn lắm nếu học kỹ phần lý thuyết.

– Ở từng chương trong sách bài tập thường có một hay hai bài tập mức độ khó, cần cố gắng làm những bài tập này sau khi làm các bài tập dễ và trung bình.

* Không nên tập trung làm những bài tập quá dài và khó, đòi hỏi nhiều thời gian. Ưu tiên làm các bài tập cơ bản do giáo viên hướng dẫn tại lớp, trong sách giáo khoa và sách bài tập do Bộ GD-ĐT ban hành, sau khi thuần thục mới làm thêm các bài tập phù hợp và giải thử các đề trắc nghiệm để rèn luyện kỹ năng.

Trình tự làm một bài toán vật lý là:

– Đọc để hiểu đề muốn tìm những đại lượng nào.

– Tóm tắt đề bài: ghi ra những đại lượng cần thiết cho việc tìm ra đại lượng mà đề bài yêu cầu.

– Đổi đơn vị nếu cần (thường không để ý hay quên làm bước này).

– Suy nghĩ những công thức nào có thể dùng để giải.

– Tìm ra đại lượng cần tìm sau khi biến đổi và kết hợp các công thức (chưa thế số).

– Thế số để tìm ra kết quả cuối cùng.

– Để ý đơn vị của kết quả có phù hợp thực tế không.

B. Ôn tập:

– Cần tự làm dàn bài tóm tắt từng chương. Việc làm này nhiều em tưởng rằng mất thời gian, nhưng thật ra rất tiết kiệm thời gian và rất hiệu quả để nhớ lâu và nắm vững phần lý thuyết (vì chỉ tốn thời gian lần đầu để hệ thống từng chương, những lần sau khi ôn tập rất dễ nhớ lại kiến thức của cả chương).

– Làm lại các bài tập cơ bản trong sách giáo khoa và sách bài tập để nhớ sâu phần lý thuyết và tăng cường kỹ năng nhanh, nhạy trong việc làm các câu hỏi trắc nghiệm định lượng. Cố gắng giải những bài tập mà lần đầu tiên chưa giải được.

* Đề thi trắc nghiệm gồm nhiều câu rải đều trong cả chương trình nên không được học tủ, không được bỏ bài học nào.

C. Các vấn đề cần lưu ý khi làm bài thi trắc nghiệm môn vật lý:

– Đọc lần lượt từ trên xuống dưới, câu nào chắc chắn giải được trong thời gian ngắn thì làm ngay và tô ngay phương án lựa chọn vào phiếu trả lời.

– Lần thứ nhì tiếp tục giải những câu khó hơn và cứ tiếp tục đến khi hết thời gian.

– Đợt làm đầu tiên không nên “sa lầy” vào những câu làm mất quá nhiều thời gian, vì câu nào cũng có điểm như nhau, không phân biệt câu dễ hay khó. Mặt khác, nếu số câu hỏi còn nhiều mà thời gian làm bài còn ít sẽ mất bình tĩnh dẫn đến làm sai nhiều.

– Khi thời gian làm bài thi gần hết mà còn một số câu chưa giải quyết xong, nên chọn nhanh phương án trả lời cho tất cả câu này, không bỏ sót câu nào.

Nguồn Trường THPT Lạng Giang số 1

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Vật Lí / 2023

1. Lí do chọn đề tài.

Môn Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường trung học cơ sở, cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản, bước đầu hình thành ở học sinh những kỹ năng và thói quen làm việc khoa học.

Muốn hoàn thành tốt tiết dạy trên lớp, chúng ta không thể không sử dụng thiết bị dạy học làm thí nghiệm chứng minh trên lớp, đặt câu hỏi, sử dụng phiếu học tập…Vậy làm thế nào để học sinh hứng thú học tập môn Vật lí, giải thích được một số hiện tượng vật lí thường xảy ra trong cuộc sống thường ngày? Chính vì lí do đó tôi chọn đề tài mới phương pháp dạy học môn Vật lí 6″

2. Mục đích nghiên cứu

– Đổi mới phương pháp trong dạy học môn Vật lí 6 có thể làm cho những em thích học tập môn Vật lí có hứng thú học tập.

– Có thể rèn luyện cho học sinh có được một cách học để tiếp thu bài nhanh nhất, hình thành tư duy lôgic khoa học cho học sinh.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu : Học sinh khối 6 trường THCS

– Các dạng bài tập mẫu hướng dẫn học sinh cách thực hiện.

– Thông qua việc thực hiện nội dung đề tài, kiểm tra, so sánh kết quả học tập của học sinh qua hai năm học 2015-2016 và 2016-2017.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Hướng dẫn học sinh quan sát thí nghiệm, độc lập suy nghĩ trả lời các câu hỏi của giáo viên.

– Phát huy tính tích cực, tinh thần tự giác trong học tập của học sinh.

– Giúp học sinh yêu thích môn học, có tinh thần học hỏi ở thầy cô, bạn bè…

– Sử dụng phiếu học tập đối với từng bài học phù hợp để học sinh hứng thú trong giờ học, hiểu bài trên lớp dễ dàng hơn.

– Đổi mới phương pháp dạy học là dùng hình ảnh để minh họa trong từng bài học cụ thể, thí nghiệm chứng minh trên lớp,…

Tập trung nghiên cứu việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí lớp 6.

5. Kế hoạch thực hiện.

Để thực hiện hoàn thành tốt sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình bày kế hoạch thực hiện đề tài như sau:

– Đầu tháng 8 năm 2016 nghiên cứu và đăng ký tên đề tài.

– Vào tháng 9 năm 2016, tìm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và liên hệ thực tế ở trường nơi công tác giảng dạy. Lập thành đề cương nghiên cứu áp dụng đề tài trong giảng dạy.

– Đến 17/4/2017 kết thúc đề tài.

Cụ thể qua điều tra kết quả học tập của học sinh năm học 2015-2016 khi chưa áp dụng đề tài:

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận.

Luật giáo dục năm 2005 (điều 5) quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực học tập, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Do đó, đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập…Từ đó học sinh dần hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Đó là điều kiện cần thiết cho bản thân học sinh và cho sự phát triển của xã hội.

Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nói riêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:

– Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Dạy học không chỉ đơn thuần cung cấp cho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được, mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo. Học sinh càng được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì phẩm chất và năng lực của cá nhân càng sớm được hình thành phát triển và hoàn thiện. Tính năng động, sáng tạo là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

– Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọng truyền đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộ môn). Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, giáo viên phải làm cho học sinh nắm vững và sử dụng các phương pháp bộ môn. Điều đó có ý nghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai.

– Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóa trong dạy học. Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn giống nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất yếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh.

– Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn koa học thực nghiệm. Đổi mới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn.

Tóm lại, dạy học không chỉ là “dạy chữ” mà phải qua dạy chữ mà “dạy người”. Tất nhiên, hình thành và phát triển nhân cách không chỉ có nhà trường. Trong nhà trường cũng không chỉ có hoạt động dạy học, tuy nhiên dạy học là hoạt động chủ yếu.

2. Cơ sở thực tiễn

– Trong những năm thực hiện cải cách giáo dục chúng ta có nhiều cố gắng đổi mới và đa dạng hóa cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới nội dung giáo dục trong nhà trường. Tuy nhiên, về phương pháp giáo dục và dạy học thì chưa có sự quan tâm đầy đủ, phương pháp dạy học chưa được đổi mới tương xứng.

– Những năm gần đây, do nhiều tác động khách quan, phương pháp và chất lượng dạy học đã có sự phân hóa và đã có không ít giáo viên giỏi, học sinh giỏi. Ở những giáo viên này phương pháp dạy học có nhiều cải tiến theo hướng hiên đại. Về cơ bản giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường THCS hiện nay, trình độ chung của học sinh còn thấp, học sinh chưa biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã được học vào cuộc sống hoặc chỉ vận dụng kiến thức một cách đơn giản, máy móc…

3. Nội dung thực hiện các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn Vật lí 6.

Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải thực hiện kết hợp một số giải pháp sau đây:

Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước:

Bước 1: Làm chung cho cả lớp

Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.

Bước 2: Hoạt động nhóm

Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác. Thành viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến , phân công nhóm sau đó từng thành viên làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cần thiết. Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học sinh.

Trong quá trình thực hiện dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên cần làm các công việc sau:

* Tổ chức nhóm:

+ Quy mô nhóm:

Nhóm từ 5 đến 6 học sinh là nhóm lớn, chủ yếu thích hợp với những công cụ lớn, phức tạp như thực hành thí nghiệm. Các nhóm lớn dễ tạo cho học sinh cảm giác vui, hồ hởi và niềm tin vào sự thành công. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm là phức tạp hơn, khó đạt được sự đồng thuận hơn. Giáo viên khó khăn hơn trong việc quản lí các thành viên trong nhóm lớn nhưng dễ dàng bao quát chung các nhóm hơn và thời gian để các nhóm trình bày kết quả cũng ít hơn.

+ Phân công nhiệm vụ trong nhóm:

Trong các nhóm thường có các thành phần: Trưởng nhóm, thư kí nhóm, báo cáo viên và các thành viên còn lại. Trưởng nhóm chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều khiển nhóm, thư kí có trách nhiệm ghi chép lại các kết quả công việc của nhóm. Các thành viên còn lại trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào hoạt động của nhóm theo sự phân công của nhóm trưởng.

Sự phân công nhiệm vụ trong nhóm cần linh hoạt, không phải luôn cần có đầy đủ các thành phần như trên. Tuy nhiên một nhóm nhất thiết nên có trưởng nhóm để triển khai hoạt động của nhóm. Các thành phần trong một nhóm cũng cần thực hiện luân phiên, các em trong nhóm lần lượt trao đổi với nhau thực hiện các vai trò đó để đều có cơ hội rèn luyện về mọi mặt như nhau.

* Các kiểu chia nhóm:

Chia nhóm theo trình độ học sinh. Khi đó, học sinh trong lớp được chia vào các nhóm thường theo một số kiểu sau: Nhóm nhiều trình độ (trong nhóm có cả học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu); nhóm cùng trình độ (các em học sinh trong một nhóm có khả năng học tập tương đối như nhau). Với nhóm nhiều trình độ các em học yếu có cơ hội học hỏi các em học khá, giỏi. Ngoài những cách chia nói trên, vẫn có thể có những cách chia nhóm dựa trên sự tương đồng với dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bảo đầy đủ các dụng cụ cho các nhóm thực hành có hiệu quả.

* Giao nhiệm vụ cho nhóm:

Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện. Sau khi giao nhiệm vụ cho các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh đã hiểu được nhiệm vụ của mình chưa. Có thể thực hiện đều này bằng cách hỏi một vài nhóm trưởng cũng như một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói rõ nhiệm vụ của mình. Giáo viên cũng cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải hoàn thành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt động, thời gian từ 5 đến 7 phút.

* Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:

Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinh theo các chú ý sau:

– Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khăn thông qua các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp.

– Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốn nắn. Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời. Dù là khuyến khích hay nhắc nhở học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân mật, hợp tác, tạo niềm tin cho học sinh.

Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cử đại diện lên trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày như đứng tại chỗ hay lên bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết bảng…Sau khi giáo viên yêu cầu một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác quan sát, nhận xét, bổ sung. Sự nhận xét, bổ sung lẫn nhau giữa các nhóm là rất quan trọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm và sự gắn kết của cả lớp trong mục tiêu chung của nhiệm vụ học tập. Sau khi mỗi nhóm đã trình bày và có sự nhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra ý kiến của mình, thể thức hóa kết quả của mỗi nhóm trước cả lớp.

Cuối cùng, sau khi các nhóm được chỉ định đều đã trình bày xong, giáo viên tổng kết, chốt lại những điểm quan trọng trong kết quả của tất cả các nhóm và nhận xét, động viên, khen ngợi các nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán những khiếm khuyết đã mắc phải của một số nhóm hay cá nhân trong quá trình thực hiện hoạt động nhóm.

3.2. Sử dụng phương pháp trực quan trong tiết học:

Phương pháp trực quan hay nói chính xác hơn là nhóm các phương pháp sử dụng các vật thực, mô hình, tranh vẽ… để minh họa cho các bài học nhằm cụ thể hóa cái nhìn trừu tượng trong đối tượng và hiện tượng giúp học sinh khắc phục khó khăn ban đầu, tiếp thu và vận dụng được các kiến thức một cách hiệu quả, nhanh chóng.

Khi dạy bài 5 ” Khối lượng – đo khối lượng” trong chương trình Vật lí 6, để giúp học sinh hiểu thêm một số dụng cụ dùng để đo khối lượng thường dùng trong đời sống, giáo viên cần dùng một số tranh vẽ sau:

Cân y tế Cân tạ Cân đòn Cân đồng hồ

3.3. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tình huống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà học sinh chưa giải đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ thấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ.

Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác.

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:

– Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông báo tri thức dưới dạng có sẵn.

Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải là nghe thầy giảng một cách thụ động.

– Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho học sinh phát triển khả năng tiến hành khám phá và lĩnh hội tri thức mới.

Trong dạy học và phát hiện vấn đề là việc điều khiển học sinh tự thực hiện hoặc hòa nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề, quá trình này có thể chia làm các bước sau:

Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề

– Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường do thầy tạo ra. Học sinh có thể liên tưởng, dự đoán, suy nghĩ, tìm tòi tình huống gợi vấn đề.

– Giải thích và chính xác hóa tình huống khi cần thiết để hiểu đúng vấn đề được đặt ra.

– Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.

Bước 2: Tìm giải pháp

– Học sinh tìm một cách giải quyết vấn đề, cần làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm. Trong Vật lí thường liên tưởng tới những khái niệm, đặc điểm hoặc tính chất thích hợp.

– Tổ chức thu thập dữ liệu, học sinh tiến hành suy luận tìm ra hướng giải quyết vần đề một cách hiệu quả.

Bước 3: Trình bày giải pháp

Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề. Trong khi trình bày, học sinh phải trình bày rõ ràng, mạch lạc, logic.

a) Tính thể tích của 1 tấn cát.

b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m 3

Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt học sinh làm bài tập theo trình tự các bước sau:

Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề

Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán

Em hãy cho biết đề bài đã cho những đại lượng nào?

+HS: Đề bài cho biết khối lượng và thể tích của cát.

-GV: Bài toán yêu cầu tính những đại lượng nào?

+HS: Bài toán yêu cầu tính thể tích và trọng lượng của cát

-GV yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài, giáo viên theo dõi

+HS: Ta tính được khối lượng riêng của cát

-GV: Em hãy cho biết công thức tính khối lượng riêng?

+HS: Khối lượng riêng được xác định theo công thức

-GV: Sau khi tính được khối lượng riêng của cát, các em tính thể tích của cát dựa vào công thức biến đổi

với m = 1tấn = 1000kg

Giáo viên hướng dẫn câu b của bài toán

-GV: Em hãy cho biết công thức tính trọng lượng của cát?

+HS: Công thức tính trọng lượng là

P = 10m

– GV: Muốn tính được trọng lượng của một đóng cát có thể tích 3m 3, trước hết ta phải tính được khối lượng của cát. Vậy khối lượng của cát được tính theo công thức nào?

+ HS: Khối lượng của cát được tính theo công thức m = D.V

– GV: Sau khi các em tính được khối lượng của cát, ta áp dụng lại công thức P=10m sẽ tính được trọng lượng của cát.

Bước 3: Trình bày giải pháp

Bằng các gợi ý và hướng dẫn của giáo viên, học sinh trình bày bài toán một cách chi tiết, cụ thể.

– GV theo dõi, uốn nắn, sữa sai kịp thời.

Cho biết

V = 10dm 3 = 0,01m 3

m = 15kg

V = ? Khi m = 1tấn = 1000kg

P = ? Khi V = 3m 3

Khối lượng riêng của cát là

a) Thể tích của một tấn cát là:

b)Trọng lượng của một đóng cát 3m 3 là:

Khối lượng của 3m 3 cát là:

m = D.V = 1500.3 = 4500 (kg) Trọng lượng của 3m 3 cát là:

P = 10.m = 10.4500 = 45000 (N) Đáp số: a) V = 4500 (kg)

b) P = 45000 (N)

3.4. Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh trên lớp:

Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm. Các tri thức Vật lí là sự khái quát hóa các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng xảy ra trong đời sống. Không có thí nghiệm, học sinh không có cơ sở để thực hiện các thao tác tư duy để tiếp nhận tri thức mới. Do đó mọi tri thức mà giáo viên truyền đạt đến học sinh về bản chất là áp đặt. Chính cách dạy chay là một trong những nguyên nhân của tình trạng chất lượng học tập bộ môn còn thấp và cũng đồng thời là sự tách rời giữa học và hành, giữa nhà trường và cuộc sống.

Trong học tập, nếu sử dụng các đồ dùng dạy học thực hiện các thí nghiệm chứng minh trên lớp ta dễ dàng nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, sinh động hơn, hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, trang thiết bị trong nhà trường còn hạn chế. Để thực hiện các thí nghiệm trong các tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy cần thực hiện các bước sau:

+ Giáo viên bộ môn phối hợp với nhóm bộ môn, tập thể tổ rèn kĩ năng thực hiện các thí nghiệm chứng minh.

+ Các câu hỏi phải được sắp xếp thành hệ thống, đảm bảo tính lôgic và theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ khái quát đến cụ thể…

+ Các hiện tượng mà học sinh quan sát được là một chỉnh thể, các em cần tự mình phân tích để lí giải từng bộ phận, từng khía cạnh, từng giai đoạn…để nắm vững được bản chất và quy luật của chúng. Nếu học sinh không tự làm được theo các yêu cầu đó, giáo viên mới tách ra thành những câu hỏi nhỏ, cụ thể và chi tiết hơn.

+ Học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả phát huy được năng lực của mọi đối tượng học sinh. Đối với học sinh khá – giỏi trả lời những câu hỏi chung, khái quát; học sinh trung bình và yếu trả lời các câu hỏi cụ thể, chi tiết hơn. Có thể trong thời gian đầu, học sinh chưa quen với cách làm này nhưng giáo viên cần phải làm như vậy để rèn luyện thói quen cho học sinh.

+ Câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh phải được chuẩn bị trước, kể cả các câu hỏi gợi ý chi tiết. Diễn đạt phải rõ ràng, ngắn gọn.

3.6. Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp:

Luyện tập là khâu quan trọng trong mỗi tiết học. Nó giúp học sinh hoàn thiện tri thức mới và biết vận dụng tri thức đó để giải quyết các nhệm vụ thực tiễn. Qua luyện tập, giáo viên tiếp nhận thông tin ngược từ học sinh để bổ sung những tri thức còn thiếu, uốn nắn những sai lầm thường mắc phải.

Nội dung luyện tập phải được lựa chọn ưu tiên cho học sinh trung bình: Tương ứng với yêu cầu tối thiểu của bài học, có tác dụng chuẩn bị cho học sinh học bài và làm bài ở nhà. Tuy vậy, không thể bỏ qua những đối tượng khá, giỏi. Nên có những bài tập có yêu cầu cao hơn cho các em này. Khâu luyện tập cần được dành thời gian hợp lí, tốt nhất là khoảng 10 phút cho mỗi tiết học. Coi trọng những bài tập có nội dung thực tế, gắn với đời sống để giúp học sinh biết vận dụng kiến thức giải quyết những nhiệm vụ hàng ngày.

3.7. Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh:

Để hỗ trợ và thực hiện tốt các giải pháp trên. Phiếu học tập được thiết kế cho từng tiết học. Nội dung của phiếu bao gồm:

– Các câu hỏi hoặc những chỉ dẫn cho học sinh quan sát và ghi lại các kết quả thí nghiệm.

– Các bài luyện tập.

Sử dụng phiếu học tập cho mỗi bài dạy cụ thể sẽ có tác dụng:

– Tiết kiệm được thời gian để giáo viên truyền đạt các yêu cầu hoặc hướng dẫn đối với học sinh.

– Tăng cường tính độc lập trong khi làm việc của mỗi học sinh.

– Nhịp độ và khối lượng công việc làm được tùy thuộc vào năng lực của mỗi học sinh. Bằng cách này quá trình học tập của học sinh từng bước được cá nhân hóa.

– Trong thời gian đầu, giáo viên có thể thu “phiếu học tập” sau tiết học để xem xét, đánh giá hoạt động của từng học sinh và của tập thể học sinh. Từ đó có biện pháp uốn nắn, chấn chỉnh hoặc điều chỉnh cho hợp lí và có hiệu quả hơn.

Tóm lại: Các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học vật lí nêu trên nhằm đạt được ba yêu cầu sau:

– Học sinh phải được quan sát các hiện tượng vật lí một cách trực tiếp đúng theo nguyên tắc sư phạm.

– Giáo viên tổ chức, hướng dẫn cho các em tự phân tích, lí giải…để qua đó nắm được bản chất, quy luật của hiện tượng.

– Học sinh được luyện tập vận dụng phương pháp và tri thức mới vào giải quyết các nhiệm vụ cụ thể – trước hết là trong các bài tập, sau đó là trong đời sống.

Chính trong quá trình hoạt động một cách tích cực, chủ động để chiếm lĩnh tri thức trên, các năng lực và phẩm chất nhân cách của các em được hình thành và phát triển.

Ví dụ 1: BÀI LỰC ĐÀN HỒI * Mục tiêu bài học: 1. Kiến thức:

– Nhận biết được vật đàn hồi (qua sự đàn hồi của lò xo).

– Trả lời đặc điểm của lực đàn hồi.

– Rút ra được nhận xét về sự phụ thuộc của lực đàn hồi vào độ biến dạng của vật đàn hồi.

2. Kỹ năng:

– Lắp được thí nghiệm chứng minh lò xo là một vật có tính chất đàn hồi.

– Nghiên cứu hiện tượng để rút ra quy luật về sự biến dạng và đặc điểm của lực đàn hồi.

3. Thái độ: Có ý thức tìm tòi quy luật vật lý qua các hiện tượng tự nhiên.

*Thí nghiệm:

Dụng cụ: Chuẩn bị cho mỗi nhóm học sinh

Một giá treo, một lò xo, một thước có độ chia đến mm

Ba quả nặng giống nhau, mỗi quả có khối lượng 50g

Bước 1: Đo chiều dài tự nhiên của lò xo khi chưa kéo dãn (chiều dài tự nhiên của lò xo): l 0

Bước 2: Móc quả nặng vào đầu dưới của lò xo. Đo chiều dài ­l 1 của lò xo khi bị biến dạng.

Bước 3: Tính trọng lượng của quả nặng và ghi vào ô tương ứng.

Bước 4: Đo lại chiều dài của lò xo khi bỏ quả nặng ra. So sánh l 0 và l 1.

Bước 5: Móc thêm 2, 3 quả nặng 50g vào vào đầu dưới của lò xo và làm tương tự như trên.

* Hệ thống câu hỏi: Từ kết quả thí nghiệm hãy cho biết chiều dài của lò xo khi bỏ hết quả nặng ra và so sánh với chiều dài tự nhiên của lò xo?

Giáo viên đặt các câu hỏi hướng dẫn học sinh:

– Trọng lượng của các quả nặng tương ứng được móc vào lò xo được xác định như thế nào?

– Đặt thước đo như thế nào để đo chiều dài của lò xo chính xác?

– Số chỉ trên thước đo khi móc các quả nặng tương ứng vào lò xo có giá trị như thế nào so với chiều dài tự nhiên ban đầu của lò xo?

– Khi bỏ các quả nặng ra chiều dài của lò xo như thế nào so với chiều dài ban đầu của lò xo?

Học sinh làm thí nghiệm, thu thập kết quả ghi vào ô tướng ứng trong phiếu học tập của nhóm:

Z

* Củng cố và luyện tập: Giáo viên có thể đặt một số câu hỏi cho học sinh tham gia trả lời

1. Lực đàn hồi là gì? Đặc điểm của lực đàn hồi?

2. Nêu ví dụ về một số vật có tính chất đàn hồi?

3. Lực đàn hồi phụ thuộc như thế nào vào độ biến dạng của lò xo?

4. Các lực nào sau đây là lực đàn hồi?

A. Lực hút của trái đất lên các vật

B. Lực hút của mặt trời lên trái đất.

C. Lực kéo của một sợi dây khi treo một vật nặng vào

D. Lực mà cung tác dụng lên mũi tên.

BÀI ĐÒN BẨY *Mục tiêu của bài: 1. Kiến thức:

– Nêu được các ví dụ về sử dụng đòn bẩy trong cuộc sống.

– Xác định điểm tựa 0, các lực tác dụng lên đòn bẩy.

– Biết sử dụng đòn bẩy trong các công việc thích hợp (biết thay đổi vị trí của các điểm 0, 0 1, 0 2 cho phù hợp với yêu cầu sử dụng).

2. Kĩ năng: Biết đo lực ở mỗi trường hợp

3. Thái độ: Cẩn thận, trung thực nghiêm túc.

Dụng cụ và cách tiến hành thí nghiệm:

– Dụng cụ: Lực kế có GHĐ 2N, khối trụ kim loại có móc, một giá đỡ

-Tiến hành:

Bước1: Tính trọng lượng của quả nặng P = F 1

Bước 3: Dịch chuyển điểm 0, sao cho khoảng cách 00 1­ = 00 2, dùng lực kế đo cường độ lực F 2.

Bước 4: Tiếp tục dịch chuyển 0, sao cho khoảng cách 00 2 < 00 1, dùng lực kế đo cường độ lực F 2.

*Hệ thống câu hỏi:

Trước khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên đặt vấn đề: Muốn lực nâng nhỏ hơn trọng lượng của vật thì các khoảng cách 00 1 và 00 2 phải thỏa mãn điều kiện gì? Để giúp học sinh trả lời được câu hỏi mà giáo viên đặt ra, học sinh phải thực hiện được thí nghiệm, ghi lại kết quả thí nghiệm trong từng trường hợp cụ thể. Do đó giáo viên đặt một số câu hỏi gợi ý:

– Muốn xác định độ lớn của lực F 1, ta dùng dụng cụ gì?

– Cho biết độ lớn của lực F 2 ứng với từng trường hợp

– So sánh cường độ lực F 2 và F 1 trong từng trường hợp?

– Muốn lực nâng vật nhỏ hơn trọng lượng của vật (F 2 < F 1) phải thỏa mãn điều kiện gì?

– Từ kết quả thí nghiệm, em rút ra được kết luận gì?

Phiếu học tập của nhóm

* Củng cố và luyện tập: Giáo viên có thể sử dụng phiếu học tập cho cá nhân học sinh trả lời.

Họ và tên:……………

Lớp:…………………

C. F = 200N D. F = 100N

Trả lời: …………………………………………………………………….

Câu hỏi 2. Dùng đòn bẩy được lợi về lực khi:

Trả lời: ……………………………………………………………………..

Câu hỏi 3. Cần tác dụng một lực 150N thì mới nâng được vật lên (biết 00 1< 00 2), trọng lượng của vật là:

A. 150N B. 200N C. 1000N D. 150N

Trả lời: …………………………………………………………………….

* Năm học 2015- 2016 * Năm học 2016-2017

Qua đó các em có sự hứng thú, tích cực tìm hiểu nội dung bài học để hình thành và chiếm lĩnh kiến thức mới.

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Từ vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, nên mỗi bản thân giáo viên giảng dạy bộ môn cần phải nắm vững được lý luận của phương pháp, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy. Nắm được yêu cầu của từng bài học cụ thể để từng bước phát huy được hiệu quả của phương pháp dạy học, hình thành cho học sinh khả năng tự học, độc lập, sáng tạo…

2. Bài học kinh nghiệm

Để thực sự phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi học chương trình Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng, giáo viên cần vận dụng các phương pháp đổi mới nhằm tạo mọi điều kiện cho học sinh hoạt động trong tiết học.Tuy nhiên trong quá trình dạy học, học sinh cần chú ý:

– Thu thập thông tin: Cá nhân học sinh thực hiện.

– Xử lý thông tin: Chủ yếu là hoạt động nhóm.

Đối với giáo viên, là người đóng vai trò, tổ chức điều khiển hoạt dộng học của học sinh, giáo viên cần sử dụng các câu hỏi phù hợp với trình độ học sinh, đặt ra các câu hỏi gợi mở, đồng thời dự kiến trước các phương án trả lời của học sinh và cách xử lí các tình huống có thể xảy ra. Từ đó chỉnh lại câu hỏi mở cho phù hợp hơn với trình độ thực tế của học sinh.

* Ưu điểm: Trong quá trình sử dụng đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, tôi nhận thấy:

– Học sinh trả lời được một số câu hỏi gợi mở do giáo viên đặt ra.

– Học sinh có tinh thần hợp tác, quan sát thí nghiệm theo tổ, nhóm.

– Vận dụng kiến thức, giải thích một số hiện tượng cơ bản trong đời sống.

* Nhược điểm: Thực hành thí nghiệm chứng minh trên lớp là một trong những phương pháp đặc thù của bộ môn, trong quá trình thực hành thí nghiệm học sinh không tự chủ động được thời gian, có thể kéo dài thời gian làm thí nghiệm. Do đó, giáo viên thường xuyên nhắc nhở, kiểm tra đôn đốc các em thực hiện thu thập kết quả đúng theo thời gian quy định.

3. Khuyến nghị

Để việc đổi mới phương pháp dạy học đạt dược kết quả cao nhát tôi xin được có những kiến nghị sau:

Với nhà trường thường xuyên bổ sung và kiểm tra những thiết bị bị hỏng của bộ môn vật lý để giáo viên có thể dạy thực hành cho học sinh một cách tốt nhất và hiệu quả nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sách giáo khoa vật lý 6 NXB Giáo Dục

Sách giáo viên vật lý 6 NXB Giáo Dục

Sách kiến thức cơ bản và nâng cao vật lý 6 NXB Giáo Dục.

Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Vật lí 6 NXB Giáo dục

Sách bài tập Vật lí 6 NXB Giáo dục.

CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÍ 6” Lĩnh vực : Vật lí Cấp học : THCS Năm học: 2016 – 2017

Phương Pháp Giúp Trẻ Học Tốt Môn Vật Lý Lớp 6 / 2023

Cập nhật vào 05/07

Khi vào lớp 6, các em học sinh sẽ bắt đầu được làm quen với môn Vật lý. Và muốn học tốt môn Vật lý lớp 6, học sinh cần có phương pháp học phù hợp.

1. Nắm chắc lí thuyết ngay tại lớp

Vật lý lớp 6 có lượng kiến thức tương đối ít, do đó, các em học sinh cần tập trung để có thể nắm chắc những kiến thức này ngay trên lớp.Việc tập trung chú ý và ghi nhớ bài sẽ giúp các em hiểu ra vấn đề cũng như kịp thời đưa ra những câu hỏi để giáo viên giải đáp. Sau khi đã nắm chắc lí thuyết ngay tại lớp, thời gian về nhà các em có thể làm nhiều bài tập áp dụng ơn.

Các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập do Bộ Giáo dục đưa ra trong chương trình học Vật lý lớp 6 là những dạng bài tập cơ bản, là cơ sở, tiền đề để làm tốt các bài tập nâng cao. Do đó, các em học sinh cần hoàn thành tốt các bài tập này trước khi thực hiện các bài tập ở các sách tham khảo khác.

3. Liên tưởng để chứng minh lí thuyết trong thực tế

Vật lý là một môn Khoa học ứng dụng, do đó, những lí thuyết được đưa vào trong sách vở tương đối khó hiểu, muốn hiểu được chúng, các em học sinh cần liên tưởng đến những ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Có như vậy, các em có thể hiểu rõ bản chất của các định luật, quy luật và áp dụng một cách thành thạo các công thức tính toán mà các em học được.

4. Học theo nhóm

Một cách học hiệu quả môn Vật lý lớp 6 đó là học theo nhóm. Khi học và làm bài tập theo nhóm, các em học sinh sẽ có cơ hội học hỏi cách làm bài, tư duy của bạn. Bên cạnh đó, việc cùng nhau tìm ra cách giải sẽ giúp cho việc làm bài tập trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, để việc học nhóm đạt hiệu quả, các em học sinh nên đề cao tinh thần tự giác, tránh trường hợp biến những buổi học nhóm thành những buổi trò chuyện, tâm sự hay ăn uống vui vẻ cùng nhau.

5. Làm bài theo một trình tự phù hợp

– Đọc kỹ đề bài.

– Tóm tắt đề bài

– Phân tích các dữ kiện mà đề bài cung cấp

– Đổi đơn vị (nếu cần)

– Tìm công thức áp dụng

– Tìm ra đại lượng cần tìm sau khi biến đổi và kết hợp các công thức (chưa vội thế số).

– Thế số để tìm ra kết quả cuối cùng.

– Đổi đơn vị kết quả theo yêu cầu của bài tập.

6. Chú thích những công thức trong một cuốn sổ

Mặc dù, trong chương trình học Vật lý lớp 6, lượng kiến thức còn tương đối ít nhưng Vật lý là môn học sẽ theo suốt các em trong những năm học còn lại ở cấp 2 và cấp 3, thậm chí là đại học. Do đó, các em cần lưu lại những phần kiến thức quan trọng để có thể tìm lại khi cần. Chính vì thế, các em có thể chuẩn bị cho mình một cuốn sổ nhỏ, ghi lại tất cả những điều mà em cho là quan trọng, kèm theo những lỗi sai dễ dàng mắc phải trong khi làm bài để nhắc nhở mình không mắc phải lần nữa. Sau khi thực hiện tốt điều này, việc ghi lại công thức sẽ trở thành một thói quen tốt, hỗ trợ đắc lực cho các em trong quá trình học môn Vật lý.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!