Đề Xuất 5/2022 # Phương Pháp Dạy Học Tự Nhiên Xã Hội Ở Tiểu Học # Top Like

Xem 8,910

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Dạy Học Tự Nhiên Xã Hội Ở Tiểu Học mới nhất ngày 16/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 8,910 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • 10 Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Dành Cho Các Thầy Cô
  • Tiểu Luận Phương Pháp Dạy Học: Nêu Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Hướng Dẫn Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn
  • Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

    KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN

    BÀI GIẢNG HỌC PHẦN

    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    TỰ NHIÊN – XÃ HỘI

    Ở TIỂU HỌC

    Người biên soạn: TRẦN THỊ HẠNH THẮM

    1

    2

    CÁC CHỮ VIẾT TẮT

    GV

    : Giáo viên

    HS

    : Học sinh

    SV

    : Sinh viên

    SGK

    : Sách giáo khoa

    SGV

    : Sách giáo viên

    TN – XH : Tự nhiên và Xã hội

    PPDH

    : Phương pháp dạy học

    TR

    : Trang

    3

    4

    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI,

    KHOA HỌC, LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC

    5

    6

    CHỦ ĐỀ 1:

    NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (24 tiết)

    Chương 1. MỤC TIÊU, NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH, CẤU TRÚC

    Giúp học sinh lĩnh hội những kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:

    *Con người: HS có những hiểu biết cơ bản về con người ở các phương diện:

    + Sinh học: Sơ lược về cấu tạo, chức phận và sự hoạt động của các cơ quan trong

    cơ thể người và mối liên hệ giữa con người và môi trường.

    + Nhân văn: Tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người, các thành quả lao động,

    sáng tạo của con người, mối quan hệ giữa con người và con người trong gia đình và

    cộng đồng.

    * Sức khoẻ: Vệ sinh cá nhân, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, phòng

    tránh một số bệnh tật và tai nạn, các vấn đề về sức khỏe tinh thần.

    * Xã hội: Học sinh có những hiểu biết ban đầu về xã hội theo thời gian (biết

    được một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, điển hình trong lịch sử

    Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến ngày nay), theo không gian (biết được nơi

    bản thân, gia đình và cộng đồng cư trú, sơ lược về đất nước Việt Nam, về các châu

    lục và các nước trên thế giới).

    7

    8

    9

    1.1.3.3. Chương trình các môn về Tự nhiên – Xã hội được cấu trúc linh hoạt, mềm

    dẻo, thực tiễn, thiết thực, tạo điều kiện cho giáo viên có thể vận dụng các phương

    pháp mới vào quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của

    học sinh. Đồng thời, giúp học sinh có thể vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống

    hàng ngày.

    1.1.4. Phân phối chương trình:

    Môn

    Tự nhiên – xã hội

    Khoa học

    Lịch sử và Địa lí

    Lớp

    Số tiết/ tuần

    Tổng số tiết

    1

    1

    35

    2

    1

    35

    3

    2

    70

    4

    2

    70

    5

    2

    70

    4

    2 (ĐL: 1, LS:1)

    70

    5

    2 (ĐL: 1, LS:1)

    70

    1.2. Sách giáo khoa môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1, 2, 3 và môn Khoa học lớp 4,

    5.

    1.2.1. Cách trình bày chung:

    Sách giáo khoa môn Tự nhiên – Xã hội, môn Khoa học chủ yếu được trình bày

    bằng những hình ảnh phong phú, sinh động, màu sắc tươi sáng bao gồm kênh hình

    và kênh chữ phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học.

    – Khác với sách giáo khoa môn Tự nhiên – Xã hội cũ, kênh hình làm nhiệm vụ

    kép: Vừa đóng vai trò cung cấp thông tin, là nguồn tri thức quan trọng của bài học,

    vừa đóng vai trò chỉ dẫn các hoạt động học tập cho học sinh thông qua các kí hiệu:

    + “Kính lúp”: Yêu cầu học sinh quan sát và trả lời câu hỏi.

    + “Dấu chấm hỏi”: Yêu cầu học sinh liên hệ thực tế và trả lời.

    + “Cái kéo và quả đấm”: Yêu cầu học sinh thực hiện trò chơi học tập.

    + “Bút chì”: Yêu cầu học sinh vẽ những gì đã học.

    + “Ống nhòm”: Yêu cầu học sinh làm nhiệm vụ thí nghiệm, thực hành.

    + “Bóng đèn toả sáng”: Bạn cần biết.

    10

    11

    1.3. Sách giáo khoa môn Lịch sử và Địa lí

    1.3.1. Cách trình bày chung của cuốn sách:

    – Kênh chữ: Khác với sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3,

    trong sách giáo khoa môn Lịch sử và Địa lí kênh chữ đóng vai trò chủ yếu trong

    việc cung cấp kiến thức, thể hiện nội dung trọng tâm của bài được đặt trong phần

    đóng khung và hệ thống câu hỏi cuối bài. Ngoài ra còn có những câu hỏi và lệnh ở

    giữa bài được in nghiêng để học sinh dễ nhận biết và được dùng để hướng dẫn học

    sinh làm việc với kênh hình và liên hệ thực tế để tìm ra kiến thức mới.

    – Kênh hình: So với sách giáo khoa phần Lịch sử và Địa lí trước đây, kênh

    hình được tăng lên không những về số lượng mà còn cả về thể loại. Kênh hình

    không chỉ minh họa cho kênh chữ mà còn là nguồn cung cấp kiến thức và rèn luyện

    kỹ năng cho học sinh.

    1.3.2. Cách trình bày một bài học:

    Khác với sách giáo khoa môn Tự nhiên – Xã hội và môn Khoa học, cấu trúc

    mỗi bài học trong môn Lịch sử và Địa lí gồm có 3 phần:

    – Phần cung cấp kiến thức bằng kênh hình, kênh chữ.

    – Phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập:

    + Câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập được in nghiêng ở giữa bài gợi

    ý giáo viên tổ chức cho HS hoạt động để khai thác thông tin, rèn luyện kỹ năng.

    + Câu hỏi ở cuối bài nhằm giúp giáo viên kiểm tra việc thực hiện mục tiêu của

    bài và củng cố kiến thức của học sinh sau mỗi bài học.

    – Phần tóm tắt trọng tâm của bài được in màu xanh.

    NHIỆM VỤ SINH VIÊN

    Nhiệm vụ: Làm việc cá nhân

    Sinh viên đọc tài liệu

    – Chương trình môn Tự nhiên và xã hội năm 2000, trang 49 – 65

    – Nguyễn Thượng Giao (1998), Phương pháp dạy học Tự nhiên và xã hội, nhà

    xuất bản Giáo dục, Hà Nội

    – Lê Văn Trưởng (chủ biên) (2007), Phương pháp dạy học Tự nhiên và xã hội,

    nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. (Trang 7-26)

    12

    BÀI TẬP

    1. Phân tích mục tiêu của các môn về Tự nhiên và Xã hội

    2. Phân tích đặc điểm chương trình các môn về Tự nhiên và Xã hội. Cho ví dụ

    minh họa.

    3. Phân tích đặc điểm sách giáo khoa các môn: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học,

    Lịch sử và Địa lí.

    13

    Chương 2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC

    ĐẶC TRƯNG CÁC MÔN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI, KHOA HỌC, LỊCH

    SỬ VÀ ĐỊA LÍ (20 tiết)

    Mục tiêu:

    Chương này cung cấp cho sinh viên những vấn đề lí luận cơ bản, từ đó rèn

    luyện, thực hành các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đặc trưng của bộ

    môn theo hướng phát huy tích cực nhận thức của học. Sinh viên vận dụng được các

    nguyên tắc, kĩ năng cơ bản để sử dụng, tự làm, sưu tầm đồ dùng dạy học; sinh viên

    xác định được nội dung, hình thức, công cụ kiểm tra, đánh giá của bộ môn.

    2.1. Một số phương pháp dạy học đặc trưng các môn Tự nhiên – Xã hội, Khoa

    học, Lịch sử và Địa lí

    2.1.1. Phương pháp quan sát

    2.1.1.1. Khái niệm:

    Phương pháp quan sát là cách thức tổ chức cho học sinh sử dụng các giác quan

    khác nhau để tri giác các sự vật, hiện tượng một cách có mục đích, có kế hoạch, có

    trọng tâm, qua đó rút ra được những kết luận khoa học.

    2.1.1.2. Tác dụng của phương pháp quan sát:

    Đối với HS tiểu học, tư duy trực quan cụ thể còn chiếm ưu thế, thông qua

    việc tổ chức cho HS quan sát mới hình thành cho các em những biểu tượng và

    những khái niệm đầy đủ, chính xác, sinh động về thế giới tự nhiên và xã hội xung

    quanh. Qua đó, phát triển năng lực quan sát, năng lực tư duy và ngôn ngữ cho HS.

    2.1.1.3. Cách thức sử dụng:

    Giáo viên sử dụng phương pháp quan sát để dạy các bài học mà học sinh có

    thể chiếm lĩnh kiến thức từ các sự vật, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên và xã hội

    xung quanh hoặc từ tranh ảnh, mô hình, sơ đồ, biểu đồ, mẫu vật.

    Có thể tổ chức cho học sinh tiến hành quan sát theo trình tự sau:

    * Lựa chọn đối tượng quan sát: Đối tượng quan sát có thể là các hiện tượng

    đang xảy ra trong môi trường tự nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, vật thật hay

    tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, mô hình… Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của từng bài học

    mà giáo viên lựa chọn đối tượng quan sát cho phù hợp.

    14

    * Xác định mục đích quan sát:

    Trong một bài học không phải mọi kiến thức cần cung cấp cho học sinh đều

    được rút ra từ quan sát. Vì vậy khi đã chuẩn bị được đối tượng quan sát cần xác

    định việc quan sát phải đạt những mục đích nào đó.

    Ví dụ: Quan sát các loại quả (Tự nhiên – xã hội, lớp 3)

    Nếu như đối tượng quan sát là các loại quả thật thì giáo viên yêu cầu học sinh

    sử dụng các giác quan khác nhau để quan sát màu sắc, hình dạng, kích thước, mùi

    vị, dùng tay (hoặc dao) bổ đôi quả để quan sát thịt và hạt của các loại quả, so sánh

    chúng với nhau. Trong trường hợp chỉ có tranh vẽ các loại quả thì giáo viên có thể

    yêu cầu học sinh nhận xét về màu sắc, hình dạng, kích thước, dựa vào kinh nghiệm

    của mình để nhận xét mùi vị của quả.

    *Tổ chức và hướng dẫn quan sát:

    – Có thể tổ chức cho học sinh quan sát cá nhân, theo nhóm hoặc toàn lớp là

    tùy thuộc vào số đồ dùng dạy học có được. Các nhóm có thể cùng quan sát một đối

    tượng để giải quyết chung một nhiệm vụ học tập hoặc mỗi nhóm có thể có một đối

    tượng quan sát riêng, giải quyết nhiệm vụ riêng.

    Nếu đối tượng quan sát là vật thật (động, thực vật tươi sống, các dạng vật liệu

    thường dùng…), giáo viên cần khuyến khích học sinh sử dụng các giác quan khác

    nhau vào quá trình quan sát nhằm thu được biểu tượng đầy đủ, chính xác, sinh động

    về đối tượng.

    Trong trường hợp đối tượng quan sát là tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, mô hình, các

    diễn biến thí nghiệm… Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng thị giác để quan sát

    các đối tượng một cách có mục đích, có kế hoạch.

    – Cần hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng theo một trình tự nhất định: Từ tổng

    thể đến các chi tiết, bộ phận, từ bên ngoài vào bên trong.

    – Cần hướng dẫn học sinh so sánh, liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác đã biết

    để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng.

    * Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát: Kết thúc quan sát, từng cá nhân

    hoặc đại diện các nhóm báo cáo kết quả quan sát, cả lớp lắng nghe, bổ sung ý kiến.

    * Hoàn thiện kết quả quan sát, rút ra kết luận chung.

    15

    16

    Tên lá

    Màu sắc

    Hình dạng

    Kích thước

    17

    Giáo viên cũng dành ít phút để biểu dương các nhóm đã tích cực quan sát, có kết

    quả quan sát tốt.

    2.1.2. Phương pháp đàm thoại (hỏi đáp)

    2.1.2.1. Khái niệm:

    Phương pháp hỏi đáp là cách thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh, giữa

    học sinh với nhau dựa trên hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt học sinh đi đến những kết

    luận khoa học, hoặc vận dụng vốn hiểu biết của mình để tìm hiểu những vấn đề học

    tập, vấn đề của cuộc sống, trong tự nhiên và xã hội.

    2.1.1.2. Tác dụng của phương pháp đàm thoại

    – Đàm thoại giáo viên tạo ra trong học sinh nhu cầu nhận thức và các em được

    tham gia giải quyết những vấn đề do bài học đặt ra.

    – Đàm thoại giáo viên có thể dễ dàng nắm được năng lực học tập, trình độ

    nhận thức của học sinh, từ đó điều chỉnh hoạt động dạy của mình để nâng cao hiệu

    quả dạy học.

    – Đàm thoại, không khí lớp học sôi động hơn, học sinh tích cực, hứng thú học

    tập hơn, do đó phát triển được tư duy độc lập, tính tích cực nhận thức và năng lực

    diễn đạt bằng lời của học sinh.

    2.1.1.3. Cách thức sử dụng:

    Tuỳ theo yêu cầu sư phạm, giáo viên có thể sử dụng 3 dạng hỏi đáp:

    + Hỏi đáp tái hiện: Loại hỏi đáp thường được sử dụng để kiểm tra bài cũ, ôn

    tập, hoặc để khai thác vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh làm điểm tựa cho việc

    lĩnh hội tri thức mới của bài học.

    Ví dụ: Kể tên một vài bệnh về tim mạch mà bạn biết. Bài 9: Phòng bệnh tim

    mạch, (TN-XH, lớp 3)

    – Kể tên một số thức ăn chứa nhiều chất đạm mà bạn biết. Bài 5: Vai trò của

    chất đạm và chất béo, (Khoa học, lớp 4)

    + Hỏi đáp thông báo: Trên cơ sở những kiến thức tối thiểu làm điểm tựa, giáo

    viên đặt câu hỏi cho HS nhằm dẫn dắt các em lĩnh hội tri thức mới.

    Ví dụ: Thú con mới sinh ra đã có hình dạng giống thú mẹ chưa? Thú con mới

    ra đời được thú mẹ nuôi bằng gì? Bài 59: Sự sinh sản của thú, (Khoa học, lớp 5)

    18

    + Hỏi đáp có tính chất tìm tòi khám phá: Dạng hỏi đáp này có tác dụng kích

    thích sự suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Đó là những câu hỏi yêu cầu học

    sinh dựa vào kiến thức đã học để suy luận, giải thích được nguyên nhân, bản chất,

    mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng.

    Ví dụ: Hãy giải thích tại sao ban ngày gió từ biển thổi vào đất liền và ban đêm

    gió từ đất liền thổi ra biển? (Bài 37: Tại sao có gió? Khoa học, lớp 4).Tại sao châu

    Phi có khí hậu khô nóng bậc nhất thế giới? (Bài 23. Châu Phi, Lịch sử và Địa lí 5).

    Trong quá trình dạy học giáo viên cần sử dụng linh hoạt các dạng hỏi đáp

    trên, cần chú trọng tới dạng hỏi đáp tìm tòi khám phá vì nó phát huy được tính tích

    cực, độc lập, tư duy sáng tạo của học sinh.

    2.1.1.4. Một số điểm lưu ý khi sử dụng phương pháp đàm thoại.

    Nghệ thuật đặt câu hỏi là yếu tố quyết định thành công của phương pháp hỏi

    đáp. Vì vậy, khi đặt câu hỏi giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:

    – Phải rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu.

    – Phải lôgic, phù hợp với nội dung bài dạy.

    – Phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.

    – Phải kích thích được sự suy nghĩ, tìm tòi của học sinh.

    – Tránh đặt những câu hỏi chung chung, quá dễ hoặc quá khó, tránh đặt những

    câu hỏi trong đó đã có sẵn câu trả lời, học sinh có thể đoán ra mà không cần động

    não gì cả. Tránh đặt những câu hỏi yêu cầu học sinh đoán mò hoặc chỉ trả lời có

    hoặc không.

    – Cần lưu ý rèn luyện cho học sinh biết cách trả lời thành câu tương đối hoàn

    chỉnh với vốn từ ngữ của các em. Mặt khác phải dạy cho các em biết cách tự đặt ra

    những câu hỏi trong quá trình học tập.

    2.1.1.5. Ví dụ minh hoạ

    Bài 60: Nhu cầu không khí của thực vật (Khoa học, lớp 5)

    Để giúp HS tìm hiểu về sự trao đổi khí của thực vật trong quá trình quang hợp

    và hô hấp, trước hết GV có thể đặt câu hỏi yêu cầu học sinh ôn lại các kiến thức cũ:

    – Không khí gồm những thành phần nào?

    – Không khí có vai trò như thế nào đối với con người, động vật và thực vật?

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp “lớp Học Đảo Ngược”
  • Phương Pháp Dạy Học Luyện Từ Và Câu Hiệu Quả
  • Các Hoạt Động Dạy Học Lấy Học Sinh Làm Trung Tâm (Phần 2)
  • Chương Trình Môn Lịch Sử Mới: Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tiếp Cận Năng Lực
  • Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Là Gì? Nguyên Tắc Và Bản Chất Của Phương Pháp
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Dạy Học Tự Nhiên Xã Hội Ở Tiểu Học trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100