Đề Xuất 5/2022 # Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý # Top Like

Xem 9,108

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý mới nhất ngày 19/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 9,108 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Viết Báo Cáo Nckh Sinh Viên
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Ts Vũ Cao Đàm
  • Để Viết “phần Phương Pháp” Của Một Bài Báo Nghiên Cứu Khoa Học Bằng Tiếng Anh
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Hiện Nay
  • Bài Giảng Nghiên Cứu Khoa Học
  • 47517

    1. Khoa học là gì?

    Khoa học (science) được định nghĩa bởi Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy “.

    Như vậy, có thể nói, khoa học là hệ thống tri thức (hiểu biết) của con người về hiện thực khách quan. Khoa học chính là sự phản ánh của con người về hiện thực khách quan. Hiện thực ấy có thể là các hiện tượng thuộc về tự nhiên (mưa, bão, sấm, chớp, lũ, lụt, nóng ấm toàn cầu, biến đổi khí hậu, lở đất, sóng thần v.v.) hoặc hiện tượng xã hội ( tội phạm, bạo lực gia đình, hoạt động kinh doanh, tổ chức sự kiện, vui chơi, giải trí, bạo loạn, cách mạng v.v.) hoặc các hiện tượng gắn bởi bản thân mỗi con người.

    Khi nói tới khoa học, rất cần phân biệt “tri thức khoa học” với “tri thức thông thường”. Tri thức khoa học không nhất thiết đồng nhất với tri thức thông thường (commonsense knowledge). Tri thức thông thường có khi “đúng”, có khi “sai”. Tuy nhiên, tri thức khoa học là tri thức được phát hiện thông qua một quy trình nghiên cứu, phát hiện, kiểm chứng theo những chuẩn mực nhất định. Quá trình ấy chính là hoạt động nghiên cứu khoa học. Bởi vậy, tri thức khoa học thường là sản phẩm chọn lọc công phu của các nhà khoa học.

    Khi tìm hiểu về “khoa học”, thường người ta hay nhắc tới “công nghệ”. Công nghệ được Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 định nghĩa là “giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.” Thông thường, có thể hiểu rằng, công nghệ chính là sự ứng dụng của tri thức khoa học vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không có tri thức khoa học làm nền, hoạt động sáng tạo công nghệ sẽ rất khó được thực hiện. Ngày nay, khi nói tới công nghệ, người ta thường nói tới các phát minh, sáng chế. Đây là những giải pháp được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, được bảo hộ pháp lý bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ. Ở Việt Nam, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các phát minh, sáng chế được thực hiện theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

    Có thể khẳng định rằng, ngày nay, một quốc gia có nền kinh tế hùng mạnh phải là quốc gia mạnh về công nghệ. Nói cách khác, từng sản phẩm được sử dụng hàng ngày, đến quy trình sản xuất ra các loại sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế đều là sự tích tụ hàm lượng trí tuệ rất cao. Chính vì thế, không phải không có lý khi cho rằng, trí tuệ hoặc trí thông minh, năng lực đổi mới, sáng tạo chính là yếu tố nền tảng quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế hiện nay trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nhiều quốc gia bứt phá được khỏi bẫy thu nhập trung bình, vươn lên vào câu lạc bộ các quốc gia phát triển nhờ dám đặt cược sinh mệnh quốc gia, đặt cược sinh mệnh của nền kinh tế, sinh mệnh của nền quản trị quốc gia vào hệ thống đổi mới, sáng tạo, cũng là đặt cược vào tiềm năng, sức mạnh sáng tạo của con người, của người dân quốc gia ấy. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore có thể coi là những quốc gia như vậy.

    2. Nghiên cứu khoa học là gì?

    Vậy nghiên cứu khoa học là gì?

    Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 định nghĩa “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn“.

    Người ta thường phân hoạt động nghiên cứu khoa học thành 2 loại là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản, theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.” Nghiên cứu ứng dụng, theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.”

    Nghiên cứu khoa học đã từng được thực hiện hàng ngàn năm trước. Các nhà khoa học ở Athen đã từng phát hiện ra nhiều tri thức khoa học quan trọng, nhất là các tri thức về toán học, thiên văn học. Chẳng hạn, định luật Pytago, định luật acsimet v.v. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học gắn liền với sản xuất công nghiệp và được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sản xuất công nghiệp gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế thị trường, gắn liền với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân).

    Nhờ các hoạt động khoa học, nhiều phát minh, sáng chế quan trọng đã ra đời. Những sáng chế quan trọng có thể kể tới như:

    – Phát minh ra máy hơi nước;

    – Phát minh ra động cơ đốt trong;

    – Phát minh ra bóng điện;

    – Phát minh ra máy điện thoại;

    – Tìm ra quy luật về mối quan hệ giữa năng lượng và khối lượng của Einstein (E = MC2).

    Có thể kể ra đây một số phát minh được xem là quan trọng hàng đầu nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng góp phần làm thay đổi thế giới:

    Liên hệ với lĩnh vực nhà nước và pháp luật, chúng ta đã khá quen với luận đề nổi tiếng của Marx khi nhấn mạnh tới bản chất “công cụ giai cấp” của pháp luật trong các xã hội có phân tầng và có giai cấp: Pháp luật của được nâng lên thành luật áp dụng chung cho tất cả mọi người – thứ ý chí mà nội dung chủ yếu của nó do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định.” Trường phái này là sự tiếp nối tư tưởng nghiên cứu pháp luật từ thời La Mã cổ đại, được kế tục trong thời kỳ khai sáng với các học giả quan trọng như Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau. Tuy nhiên, khi xã hội học được ra đời nhờ sự đóng góp của August Comte (1798-1857), Emile Durkheim (1958-1917), Max Weber (1864-1920), và Roscoe Pound (1870-1964), thì nền tảng lý luận xã hội học pháp luật được củng cố vững chắc hơn. Ở chừng mực nhất định, tư tưởng của Marx về pháp luật cũng có thể được xếp và trường phái xã hội học pháp luật.

    Thứ hai, trường phái kinh tế học pháp luật (Law and Economics) hoặc kinh tế học thể chế (Institutional Economics). Trường phái này nhấn mạnh tới mối tương tác giữa pháp luật với quá trình phân bổ nguồn lực khan hiếm trong xã hội. Theo lý luận của trường phái này, pháp luật có vai trò quan trọng đối với sự phân bổ nguồn lực tối ưu trong xã hội (có thể khuyến khích hoặc ngăn cản các hoạt động tối ưu hóa sử dụng nguồn lực trong xã hội). Trường phái này được xây dựng dựa trên một giả định quan trọng (nhưng là thứ giả định mang tính giản lược và có phần siêu hình) về bản chất của con người, bản chất hành vi của con người. Theo đó, cá nhân con người trong đời sống hiện thực đều là những con người có hai đặc điểm là “vị lợi” (self-interested) và “duy lý” (rational). Điều này hàm ý rằng, hành vi của mỗi con người là sản phẩm của sự chọn lựa duy lý (có cân nhắc tính toán thiệt/hơn, lợi/hại) và bị thúc đẩy bởi nhân tố lợi ích (mong muốn tối đa hóa lợi ích của bản thân hoặc của người thân thích của mình).

    3. Xu hướng nghiên cứu luật học so sánh

    Nghiên cứu luật học so sánh là một xu hướng nghiên cứu rất quan trọng và có ứng dụng rộng rãi trong công tác xây dựng pháp luật. Cốt lõi của việc nghiên cứu luật học so sánh không đơn thuần là đi so sánh, tìm hiểu, giải thích sự giống và khác nhau trong các quy định pháp luật hoặc trong các hiện tượng pháp lý ở các quốc gia khác nhau. Cốt lõi của nghiên cứu luật học so sánh hiện nay chính là tìm hiểu hiện tượng các ý tưởng pháp lý hoặc các giải pháp pháp lý, các quy phạm, chế định pháp lý, thiết chế pháp lý cụ thể đã “khuếch tán” như thế nào ra khỏi quê hương của mình. Nói cách khác, luật học so sánh quan tâm hàng đầu tới việc các hệ thống pháp luật của các quốc gia tương tác với nhau thế nào, có thể học hỏi được ở nhau những gì. Chính vì thế, trong những năm gần đây, lý thuyết luật so sánh được phát triển và ứng dụng rộng rãi hiện nay là lý thuyết cấy ghép pháp luật (hoặc lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài) (legal transplantation theory). Lý thuyết này quan tâm giải quyết các vấn đề như:

    • Vì sao pháp luật quốc gia khác nhau lại quan tâm học hỏi lẫn nhau?
    • Trường hợp nào việc du nhập pháp luật của nước khác vào quốc gia mình sẽ thành công và trường hợp nào không thành công?
    • Khi một quy phạm/giải pháp pháp lý hoặc một chế định, thiết chế pháp lý được du nhập vào một quốc gia thì chúng sẽ bị biến đổi (khúc xạ) như thế nào so với thiết kế nguyên mẫu của mình.

    Điều kỳ quặc là, dù nhiều học giả cho rằng quy phạm pháp luật/thiết chế pháp luật sau khi du nhập sẽ không còn giữ nguyên được tính năng, tác dụng ban đầu của mình, nhưng thực tế, vay mượn pháp luật, nhập khẩu, du nhập pháp luật vẫn là cách mà hàng loạt quốc gia sử dụng khi tiến hành cải cách pháp luật.

    Ngày nay, xu hướng nghiên cứu so sánh đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ, không chỉ trong lĩnh vực luật học mà cả trong nhiều lĩnh vực khác như: chính trị học so sánh (comparative politics), kinh tế học so sánh (comparative economic systems), chính sách công so sánh (comparative public policy), hành chính công so sánh (comparative public administration), tư pháp hình sự so sánh (comparative criminal justice systems) v.v.

    IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ

    Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý có thể hiểu đó là những phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng vào hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý. Nói cách khác, đó chính là cách thức tiến hành các công việc nghiên cứu mà người làm công tác nghiên cứu cần phải thực hiện để thu thập được những bằng chứng, dữ liệu, tìm ra những phát hiện, những tri thức mới đáng tin cậy.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý thường được chia thành 2 nhóm phương pháp: phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Đi vào cụ thể, có thể nói tới 5 phương pháp cơ bản như: (1) phương pháp quan sát, mô tả thực tế; (2) phương pháp thực nghiệm khoa học; (3) phương pháp điều tra (phỏng vấn ngẫu nhiên, phỏng vấn sâu, điều tra theo mẫu v.v.); (4) phương pháp nghiên cứu tình huống (case studies); (5) phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp (dữ liệu có sẵn, chẳng hạn các số liệu thống kê); (6) phương pháp so sánh (trong lĩnh vực luật là phương pháp luật học so sánh). Trong quá trình xử lý dữ liệu được thu thập (kể cả dữ liệu sơ cấp hoặc dữ liệu thứ cấp), nhất là khi viết báo cáo kết quả nghiên cứu, nhà nghiên cứu thường sử dụng các kỹ thuật xử lý dữ liệu hoặc kỹ thuật tư duy (mà nhiều khi cũng được gọi là phương pháp nghiên cứu) như: tổng hợp, phân tích, trừu tượng hóa, mô hình hóa, diễn dịch, quy nạp v.v.

    Trong thực tế hiện nay, người làm nghiên cứu khoa học pháp lý có thể sử dụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau tùy theo đối tượng, nội dung hay vấn đề nghiên cứu cần thực hiện.

    Chẳng hạn, khi nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận, để nhận diện sâu sắc hơn bản chất của vấn đề, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp phân tích, tổng hợp, mô hình hóa sẽ được sử dụng.

    Khi nghiên cứu các vấn đề thực tiễn, việc điều tra, khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu thống kê (hay còn gọi là phương pháp xã hội học) rất cần thiết được thực hiện.

    Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, do sự giới hạn về thời gian, nguồn lực nghiên cứu, người được giao thực hiện nghiên cứu không có điều kiện để tự mình tiến hành tổng hợp, nghiên cứu toàn bộ các vấn đề mà phải sử dụng các chuyên gia, người có am hiểu sâu về một số nội dung, khía cạnh được nghiên cứu. Khi này, giới nghiên cứu thường gọi là phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia hoặc trưng cầu ý kiến chuyên gia.

    Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, sự tương tác giữa các hệ thống pháp luật với nhau diễn ra khá phổ biến, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. Chính vì thế, phương pháp nghiên cứu luật học so sánh rất được coi trọng.

    Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng, các quá trình … bằng cách xây dựng các mô hình của chúng (các mô hình này bảo toàn các tính chất cơ bản được trích ra của đối tượng đang nghiên cứu) và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực.

    Cơ sở logic của phương pháp mô hình hóa là phép loại suy. Phương pháp mô hình hóa cho phép tiến hành nghiên cứu trên những mô hình (vật chất hay ý niệm (tư duy)) do người nghiên cứu tạo ra (lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn đối tượng thực) để thay thế việc nghiên cứu đối tượng thực. Điều này thường xảy ra khi người nghiên cứu không thể hoặc rất khó nghiên cứu đối tượng thực trong điều kiện thực tế.

    Phương pháp mô hình hóa xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ thống (tổng thể), song tách ra từ hệ thống (đối tượng) các mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật có trong thực tế nghiên cứu, phản ánh được các mối quan hệ, liên hệ đó của các yếu tố cấu thành hệ thống – đó là sự trừu tượng hóa hệ thống thực.

    Dùng phương pháp mô hình hóa giúp người nghiên cứu dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các biện pháp điều khiển, quản lý hệ thống.Ví dụ: sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc (đặc biệt là cấu trúc không gian, các bộ phận hợp thành có bản chất vật lý giống hệt đối tượng gốc) để phản ánh, suy ra cấu trúc của đối tượng gốc như: mô hình động cơ đốt trong, mô hình tế bào, sa bàn….

    3. Phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học

    Việc điều tra, khảo sát xã hội học đòi hỏi rất nhiều yêu cầu, kỹ thuật để thực hiện. Điều trước tiên là phải xác định được phạm vi, nội dung, đối tượng điều tra, khảo sát. Đây chính là những người có được thông tin mà người nghiên cứu đang cần được tiếp cận. Chẳng hạn, nếu chúng ta được giao nhiệm vụ đánh giá thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 bằng việc điều tra, khảo sát thực tiễn, khi xác định đối tượng điều tra, khảo sát phải bao gồm các nhóm đối tượng cơ bản sau đây:

    – Cán bộ trực tiếp tổ chức thực thi Luật: cán bộ các cơ quan y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương ở các cấp.

    – Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trực tiếp phải chấp hành Luật an toàn thực phẩm: ví dụ cơ sở thức ăn đường phố, nhà hàng v.v.

    – Người dân với tư cách là người tiêu dùng thực phẩm.

    Việc chọn địa bàn điều tra, khảo sát cũng rất quan trọng. Yêu cầu chính khi chọn địa bàn điều tra, khảo sát là phải xem địa bàn ấy có đối tượng được điều tra, khảo sát có nhiều thông tin cần thu thập hay không. Thêm vào đó, phải làm sao địa bàn được chọn mang tính đại diện cho cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, có đại diện của đô thị, nông thôn và miền núi (thậm chí là vùng biển, hải đảo). Ví dụ: khi điều tra, khảo sát về thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm, số tỉnh, thành phố được chọn làm địa bàn điều tra thường là 9 tỉnh để bảo đảm tính đại diện.

    Việc xác định số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát là rất cần thiết. Trước một thực tiễn, do đối tượng được điều tra, khảo sát có nhận thức khác nhau nên nếu số lượng đối tượng điều tra, khảo sát quá ít, kết quả điều tra, khảo sát sẽ khó bảo đảm được tính đại diện. Trong thực tiễn làm việc tại Viện Khoa học pháp lý, số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát sẽ tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, với các cuộc điều tra, khảo sát có quy mô toàn quốc, số đối tượng được điều tra, khảo sát thường xoay quanh mức từ 3 tới 5 ngàn đối tượng.

    Để thu thập được thông tin từ quá trình điều tra, khảo sát xã hội học, người làm công tác điều tra, khảo sát thường sử dụng 3 cách thức sau:

    – Phỏng vấn đối tượng điều tra, khảo sát thông qua phiếu hỏi (phiếu thông thường hoặc phiếu phỏng vấn sâu).

    – Tiến hành tọa đàm, trao đổi với các đối tượng được khảo sát.

    – Thu thập số liệu thống kê, dữ liệu chính thống từ các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức có dữ liệu, số liệu.

    4. Phương pháp luật học so sánh

    Sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra điểm giống và khác của pháp luật giữa các quốc gia khác nhau chưa đủ để trở thành phương pháp luật học so sánh mặc dù phương pháp luật học so sánh thường sử dụng kỹ thuật so sánh, đối chiếu này.

    Phương pháp luật học so sánh đòi hỏi nghiên cứu, giải thích sự phát sinh, phát triển, biến đổi của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các thiết chế pháp luật trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử của quốc gia được chọn lựa để so sánh, từ đó hiểu rõ giá trị, vai trò, ý nghĩa của các quy phạm, chế định hoặc thiết chế đó. Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc ấy, việc so sánh và phát hiện điểm giống và khác, cùng với sự giải thích căn nguyên của những sự giống và khác đó mới có ý nghĩa.

    Ngoài ra, phương pháp luật học so sánh còn quan tâm tới hiện tượng tiếp nhận, lan tỏa, khuếch tán pháp luật nước ngoài (legal diffusion) hoặc cấy ghép pháp luật, khi các quốc gia có sự học hỏi, tham khảo lẫn nhau để hoàn thiện pháp luật của quốc gia mình.

    V. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT – LIÊN HỆ THỰC TIỄN

    1. Xây dựng pháp luật là gì?

    Quan niệm hoạt động xây dựng pháp luật là loại hình lao động quyền lực nhằm đưa ý chí của Nhà nước, ý chí của nhân dân lên thành pháp luật, tạo ra các quy phạm pháp luật như đề cập ở trên là đúng nhưng chưa đủ. Qua nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước này, chúng tôi thấy cần bổ sung thêm 4 khía cạnh nhận thức về bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật (nhất là gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam):

    Thứ hai, cần nhấn mạnh tới thực tế Nhân dân không phải là một khối đồng nhất mà là những khối, những nhóm lợi ích rất đa dạng. Thực tiễn Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới vừa qua cho thấy xu thế phân tầng xã hội là một thực tế và sự phân tầng ấy ngày càng phức tạp. Cách tiếp cận cấu trúc xã hội theo kiểu truyền thống là 2 giai cấp (nông dân, công nhân), 1 tầng lớp (trí thức) đã ngày càng không phản ánh đúng thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay cũng như trong thời gian tới. Nói cách khác, xây dựng pháp luật là quá trình xã hội (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) chọn lựa những giải pháp pháp lý để xử lý các vấn đề mà xã hội đang đặt ra, đòi hỏi nhà nước phải có biện pháp ứng phó. Xây dựng pháp luật chính là quá trình xã hội ra quyết định về việc thay đổi hành vi của những chủ thể nhất định để giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra. Việc quan niệm xây dựng pháp luật là một quá trình ra quyết định, sẽ đưa tới nhiều gợi mở quan trọng cho việc nhận diện chính xác hơn những vấn đề trong công tác hoàn thiện pháp luật. Theo lý thuyết về ra quyết định, một quyết định chỉ có thể là quyết định hợp lý (tối ưu), nếu người ra quyết định đáp ứng tối thiểu 2 điều kiện sau Như trên, tr. 9.

    Như trên, tr. 9.

    [12] Như trên, tr. 13.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học.pdf
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Mầm Non (Dùng Cho Hệ Đào Tạo Từ Xa
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100