Đề Xuất 2/2023 # Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết # Top 6 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

nguồn:http://phuongphapnghiencuukhoahoc.com/phuong-phap-nghien-cuu-ly-thuyet/

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là phương pháp thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, xây dựng những mô hình lý thuyết hay thực nghiệm ban đầu.

Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết (còn gọi là phương pháp nghiên cứu tài liệu), người nghiên cứu cần hướng vào thu thập và xử lý những thông tin sau:

+ Các kết quả nghiên cứu cụ thể đã công bố trên ác ấn phẩm + Số liệu thống kê + Nguồn tài liệu

Nghiên cứu lý thuyết thường bắt đầu từ phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc, các xu hướng phát triển của lý thuyết. Từ phân tích lý thuyết, lại cần tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù tiến tới tạo thành lý thuyết khoa học mới.

– Phương pháp phân tích lý thuyết: là phương pháp phân tích lý thuyết thành những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

Phân tích lý thuyết bao gồm những nội dung sau: + Phân tích nguồn tài liệu (tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ thông tin đại chúng). Mỗi nguồn có giá trị riêng biệt. + Phân tích tác giả (tác giả trong hay ngoài ngành, tác giả trong cuộc hay ngoài cuộc, tác giả trong nước hay ngoài nước, tác giả đương thời hay quá cố). Mỗi tác giả có một cái nhìn riêng biệt trước đối tượng. + Phân tích nội dung (theo cấu trúc logic của nội dung).

Tổng hợp lý thuyết bao gồm những nội dung sau: + Bổ sung tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch. + Lựa chọn tài liệu chỉ chọn những thứ cần, đủ để xây dựng luận cứ. + Sắp xếp tài liệu theo lịch đại (theo tiến trình xuất hiện sự kiện để nhận dạng động thái); sắp xếp tài liệu theo quan hệ nhân – quả để nhận dạng tương tác. + Làm tái hiện quy luật. Đây là bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tài liệu, chính là mục đích của tiếp cận lịch sử. + Giải thích quy luật. Công việc này đòi hỏi phải sử dụng các thao tác logic để đưa ra những phán đoán về bản chất các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng.

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích. Trong nghiên cứu lý thuyết, người nghiên cứu vừa phải phân tích tài liệu, vừa phải tổng hợp tài liệu.

Phương pháp phân loại lý thuyết: là phương pháp sắp xếp các tài liệu khoa học thành hệ thống logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học có cùng dấu hiệu bản chất, có cùng hướng phát triển để dễ nhận biết, dễ sử dụng theo mục đích nghiên cứu, giúp phát hiện các quy luật phát triển của đối tượng, sự phát triển của kiến thức khoa học để từ đó dự đoán được các xu hướng phát triển mới của khoa học và thực tiễn.

Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết: là phương pháp sắp xếp những thông tin đa dạng thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ (theo quan điểm hệ thống – cấu trúc của việc xây dựng một mô hình lý thuyết trong nghiên cứu khoa học) để từ đó mà xây dựng một lý thuyết mới hoàn chỉnh giúp hiểu biết đối tượng được đầy đủ và sâu sắc hơn.

Phân loại và hệ thống hóa là hai phương pháp đi liền với nhau. Trong phân loại đã có yếu tố hệ thống hóa. Hệ thống hóa phải dựa trên cơ sở phân loại và hệ thống hóa làm cho phân loại được hợp lý và chính xác hơn.

Phương pháp mô hình hóa

Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng, các quá trình … bằng cách xây dựng các mô hình của chúng (các mô hình này bảo toàn các tính chất cơ bản được trích ra của đối tượng đang nghiên cứu) và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực.

Mô hình: là một hệ thống các yếu tố vật chất hoặc ý niệm (tư duy) để biểu diễn, phản ánh hoặc tái tạo đối tượng cần nghiên cứu, nó đóng vai trò đại diện, thay thế đối tượng thực sao cho việc nghiên cứu mô hình cho ta những thông tin mới tương tự đối tượng thực.– Tính chất của mô hình:

+ Tính tương tự: có sự tương tự giữa mô hình và vật gốc, chúng có những đặc điểm cơ bản có thể so sánh với nhau được như: cấu trúc (đẳng cấu), chức năng, thuộc tính, cơ chế vận hành…. Song sự tương tự giữa mô hình và đối tượng thực (vật gốc) chỉ là tương đối. + Tính đơn giản: mô hình chỉ phán ánh một hoặc một số mặt nào đó của đối tượng gốc. + Tính trực quan: mô hình là sự tái hiện đối tượng nghiên cứu dưới dạng trực quan. + Tính lý tưởng: khi mô hình hóa đối tượng gốc, ta đã khái quát hóa, trừu tượng hóa, phản ánh đặc tính của đối tượng gốc ở mức độ hoàn thiện hơn (lý tưởng). + Tính quy luật riêng: mô hình có những tính chất riêng được quy định bởi các phần tử tạo nên nó. Ví dụ mô hình tế bào được làm bởi chất liệu khác với tế bào thực; mô hình trường học tiên tiến có nét riêng bởi các thành tố của trường đó (đội ngũ, cơ sở vật chất, môi trường giáo dục, quản lý …).

Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học bằng việc xây dựng mô hình của đối tượng nghiên cứu, sao cho việc nghiên cứu mô hình cho ta những thông tin (về thuộc tính, cấu trúc, chức năng, cơ chế vận hành ….) tương tự đối tượng nghiên cứu đó.

Cơ sở logic của phương pháp mô hình hóa là phép loại suy. Phương pháp mô hình hóa cho phép tiến hành nghiên cứu trên những mô hình (vật chất hay ý niệm (tư duy)) do người nghiên cứu tạo ra (lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn đối tượng thực) để thay thế việc nghiên cứu đối tượng thực. Điều này thường xảy ra khi người nghiên cứu không thể hoặc rất khó nghiên cứu đối tượng thực trong điều kiện thực tế.

Phương pháp mô hình hóa xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ thống (tổng thể), song tách ra từ hệ thống (đối tượng) các mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật có trong thực tế nghiên cứu, phản ánh được các mối quan hệ, liên hệ đó của các yếu tố cấu thành hệ thống – đó là sự trừu tượng hóa hệ thống thực.

Dùng phương pháp mô hình hóa giúp người nghiên cứu dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các biện pháp điều khiển, quản lý hệ thống.Ví dụ: sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc (đặc biệt là cấu trúc không gian, các bộ phận hợp thành có bản chất vật lý giống hệt đối tượng gốc) để phản ánh, suy ra cấu trúc của đối tượng gốc như: mô hình động cơ đốt trong, mô hình tế bào, sa bàn….

Phương pháp “chiếc hộp đen” được coi là phương pháp mô hình hóa chức năng.Trong phương pháp này, người ta đã trìu xuất chức năng của hệ, còn chứcnăng của hệ được mô hình hóa bằng “chiếc hộp đen” cho biết mối quan hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” của hệ.

Phương pháp sơ đồ

Sơ đồ (graph) là một công cụ toán học được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học như: kinh tế học (kế hoạch hóa…), sinh học (mạng thần kinh), tâm lý học (sơ đồ hóa các quá trình hình thành các khái niệm – tri thức), giáo dục học(phân tích hoạt động trong quá trình dạy học)…. Ngày nay, trong thiết kế dự án phát triển kinh tế xã hội, trong xây dựng cơ bản, trong nghiên cứu khoa học thì graph là một trợ thủ tuyệt vời.

– Tác dụng ứng dụng của graph:

+ Graph có ưu thế tuyệt đối trong việc mô hình hóa cấu trúc của sự vật, các hoạt động từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến vĩ mô. Graph cho phép hình dung một cách trực quan các mối liên hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc của một sự vật hay một hoạt động mà không quan tâm đến kích thước hay tỉ lệ thực của chúng.

+ Graph cho phép đề xuất nhiều phương án khác nhau cho cùng một hoạt động.

Phương pháp sơ đồ (graph) là phương pháp khoa học sử dụng sơ đồ để mô tả sự vật, hoạt động, cho phép hình dung một cách trực quan các mối liên hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc của sự vật, cấu trúc logic của quy trình triển khai hoạt động (tức là con đường từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc hoạt động) giúp con người quy hoạch tối ưu, điều khiển tối ưu các hoạt động.

– Graph ngày nay được xem như phương pháp khoa học, đặc biệt là phương pháp nghiên cứu khoa học hiệu nghiệm.

Với những ứng dụng quan trọng và phổ biến của lý thuyết graph vào thực tiễn như:

+ Phương pháp tiềm năng: MP – Methode des potentials (sinh ra ở Pháp năm 1985).

+ Phương pháp đường găng (con đường tới hạn): CMP – Critical PathMethods – chính là tiếp cận PERT theo nghĩa hẹp …. có thể nêu lên những ưu thế cụ thể nổi bật hoạt động từ đơn giản đến phức tạp (trong đó kể cả hoạt động nghiên cứu khoa học) bằng sơ đồ graph.

+ Mô hình hóa cấu trúc của quy trình hoạt động thành hệ thống những nhiệm vụ, mục tiêu, các công đoạn thực hiện cùng với những yêu cầu chặt chẽ.

+ Mô hình hóa logic triển khai hoạt động, tức là con đường vận động từ điểm bắt đầu cho tới khi kết thúc cùng với những con đường phân nhánh của nó.

+ Tính toán được con đường tới hạn và thời lượng tối đa phải hoàn thành một hoạt động (đề án).Tất cả những khả năng trên giúp người nghiên cứu có thể quy hoạch tối ưu và nhờ đó điều khiển tối ưu hoạt động nghiên cứu khoa học của mình dù phức tạp hay có quy mô như thế nào.

Phương pháp giả thuyết là phương pháp nghiên cứu đối tượng bằng cách dự đoán bản chất của đối tượng và tìm cách chứng minh các dự đoán đó. Phương pháp giả thuyết có hai chức năng: dự báo và dẫn đường, nó đóng vai trò là một phương pháp nhận thức, phương pháp nghiên cứu khoa học.

– Trong nghiên cứu khoa học, khi phát hiện ra vấn đề khoa học, người nghiên cứu thường so sánh hiện tượng chưa biết với hiện tượng đã biết, từ tri thức cũ với trí tưởng tượng sáng tạo mà hình dung ra cái cần tìm. Đó chính là thao tác xây dựng giả thuyết. Chỉ khi nào đề xuất được giả thuyết thì công việc nghiên cứu khoa học mới thực sự bắt đầu.

– Vì giả thuyết là một kết luận giả định, một dự báo dựa trên cơ sở phán đoán,suy lý nên giả thuyết có thể phù hợp, không hoàn toàn phù hợp hoặc không phù hợp. Người nghiên cứu cần phải chứng minh, thông thường được thực hiện bằng hai cách:

+ Chứng minh trực tiếp: là phép chứng minh dựa vào các luận chứng chân xácvà bằng các quy tắc suy luận để rút ra tính chân xác của luận đề. Nói cách khác: chứng minh trực tiếp là phép chứng minh trong đó tính chân xác của tất cả các cứ luận.

+ Chứng minh gián tiếp: là phép chứng minh khẳng định rằng phản luận đề là phi chân xác (giả dối) và từ đó rút ra kết luận đề chân xác. Nói cách khác: chứng minh gián tiếp là phép chứng minh trong đó tính chân xác của luận đề được chứng minh bằng tính phi chân xác của phản luận đề.

Với tư cách là một phương pháp biện luận, phương pháp giả thuyết được sử dụng như là một thử nghiệm của tư duy, thử nghiệm được sử dụng như là một thử nghiệm của tư duy, thử nghiệm thiết kế các hành động lý thuyết, trong đó suy diễn để rút ra kết luận chân xác từ giả thuyết là một thao tác logic quan trọng của quá trình nghiên cứu khoa học.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh), quá trình phát triển và biến hóa (điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian…. có ảnh hưởng) để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng.

– Phương pháp nghiên cứu lịch sử yêu cầu người nghiên cứu làm rõ quá trình phát sinh, phát triển cụ thể của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát đối tượng, theo dõi những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, tất yếu của lịch sử, những tính phức tạp muôn màu muôn vẻ trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định …. từ đó phát hiện sợi dây lịch sử, đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học.

– Phương pháp nghiên cứu lịch sử trong nghiên cứu lý thuyết còn được sử dụng để phân tích các tài liệu lý thuyết đã có nhằm phát hiện xu hướng, các trường phái nghiên cứu… từ đó xây dựng tổng quan về vấn đề nghiên cứu còn gọi là lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Nghiên cứu lịch sử vấn đề là cơ sở để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có nhằm thừa kế, bổ sung và phát triển các lý thuyết đó, hoặc phát hiện những thiếu sót, không hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có… từ đó tìm thấy chỗ đứng của đề tài nghiên cứu của từng cá nhân.

Các Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết – Kipkis

7. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là tổ hợp các phương pháp nhận thức khoa học bằng con đường suy luận (các thao tác tư duy logic) dựa trên các tài liệu lí thuyết (văn bản, tài liệu) đã được thu thập từ các nguồn khác nhau. Những phương pháp sau đây là phương pháp chung nhất trong nhận thức khoa học giáo dục:

7.1. Phân tích và tổng hợp lý thuyết

a) Khái niệm

Ở trình độ nghiên cứu lí thuyết các nhà khoa học sử dụng các thao tác tư duy logic trong đó có phân tích và tổng hợp lí thuyết.

Phân tích lí thuyết là thao tác phân tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến thức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, bản chất, cấu trúc bên trong của lí thuyết. Từ đó mà nắm vững bản chất của từng đơn vị kiến thức và toàn bộ vấn đề mà ta nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết đã phân tích ta lại tổng hợp chúng để tạo ra một hệ thống, từ đó thấy được mối quan hệ biện chứng của chúng với nhau, vậy mà hiểu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về lí thuyết đang nghiên cứu

Phân tích và tổng hợp trở thành phương pháp nhận thức đặc biệt, cho phép ta xây dựng lại cấu trúc của vấn đề, tìm được các mặt, các quá trình khác nhau của hiện thực giáo dục. Con đường phân tích tổng hợp cho phép ta nhận thức được nội dung, xu hướng phát triển khách quan của lí thuyết và từ đây tiến hành suy diễn hình thành khái niệm, tạo ra hệ thống các phạm trù, lí thuyết khoa học mới.

b) Các nguồn tài liệu để phân tích tổng hợp

Nguồn tài liệu được phân tích từ nhiều gốc độ: chủng loại, tác giả, logic… Xét về chủng loại có các loại tài liệu sau đây:

Tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành có vai trò nhất trong quá trình tìm kiếm luận cứ cho nghiên cứu về chuyên môn.

Tác phẩm khoa học là loại công trình hoàn thiện về lý thuyết có giá trị cao về các luận cứ lý thuyết, nhưng không mang tính thời sự.

Tài liệu lưu trữ có thể bao gồm các văn kiện chính thức của nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, hồ sơ các loại…

Thông tin đại chúng gồm báo chí, bản tin của các cơ quan thông tấn, báo điện tử, chương trình phát thanh, truyền hình…

(1) Tài liệu nguồn cấp 1: gồm tài liệu nguyên gốc của chính tác giả hoặc nhóm tác giả viết.

(2) Tài liệu nguồn cấp 2: gồm những tài liệu được tốm tắt, xử lý, biên soạn, biên dịch, trích dẫn từ tài liệu gốc cấp 1.

Trong nghiên cứu khoa học, người ta ưu tiên sử dụng tài liệu gốc cấp 1. Trong trường hợp. Chỉ trong trường hợp không thể tìm kiếm được tài liệu gốc cấp 1, thì mới sử dụng tài liệu gốc cấp 2.

7.2. Phương pháp phân loại hệ thống hóa lý thuyết

Trên cơ sở phân tích lí thuyết để tiến tới tổng hợp chúng người ta lại thực hiện quá trình phân loại kiến thức.

Phân loại là bước quan trọng giúp ta hệ thống hóa kiến thức sắp xếp kiến thức theo mô hình nghiên cứu, làm cho sự hiểu biết của ta chặt chẽ và sâu sắc. Hệ thống hóa là phương pháp sắp xếp tri thức khoa học thành hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm cho sự hiểu biết về đối tượng được đầy đủ và sâu sắc. Hệ thống hóa là phương pháp theo quan điểm hệ thống – cấu trúc trong nghiên cứu khoa học. Khi nghiên cứu khoa học giáo dục luôn phải phân loại các hiện tượng giáo dục, sắp xếp các kiến thức thành hệ thống có thứ bậc, có trật tự qua đó có được một chỉnh thể với một kết cấu chặt chẽ để từ đó xây dựng một lý thuyết hoàn chình.

7.3. Mô hình hóa

Mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng khoa học và quá trình giáo dục bằng cách xây dựng giả định về chúng và dựa vào trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng

Trong quá trình nghiên cứu, các hiện tượng và quá trình giáo dục được tái hiện thông qua hệ thống mô hình thay thế nguyên bản. Mô hình đối tượng là hệ thống các yếu tố vật chất và ý niệm (tư duy). Hệ thống mô hình giống đối tượng nghiên cứu trên cơ sở tái hiện những mối liên hệ cơ cấu – chức năng, nhân – quả của các yếu tố của đối tượng.

Đặc tính quan trọng là mô hình luôn tương ứng với nguyên bản. Mô hình thay thế đối tượng và bản thân nó lại trở thành đối tượng nghiên cứu, nó phục vụ cho nhận thức đối tượng và là phương tiện để thu nhận thông tin mơí.

Mô hình tái hiện đối tượng nghiên cứu giáo dục dưới dạng đơn giản hóa, tri thức thu được nhờ mô hình có thể áp dụng vào nguyên bản.

Mô hình trong nghiên cứu lí thuyết có nhiệm vụ cấu trúc thành cái mới chưa có trong hiện thực, tức là mô hình cái chưa biết để nghiên cứu chúng, còn gọi là mô hình giả thuyết.

Mô hình hóa cũng có thể là một thực nghiệm của tư duy, một cố gắng để tìm ra bản chất của các hiện tượng giáo dục.

Tóm lại: nghiên cứu giáo dục được thực hiện bằng phương pháp mô hình, đó là con đường dùng cái cụ thể trực quan để nghiên cứu cái trưù tượng từ đó mà tìm ra các quy luật của giáo dục.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007

Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

“Like” us to know more!

Knowledge is power

Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý

47517

1. Khoa học là gì?

Khoa học (science) được định nghĩa bởi Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy “.

Như vậy, có thể nói, khoa học là hệ thống tri thức (hiểu biết) của con người về hiện thực khách quan. Khoa học chính là sự phản ánh của con người về hiện thực khách quan. Hiện thực ấy có thể là các hiện tượng thuộc về tự nhiên (mưa, bão, sấm, chớp, lũ, lụt, nóng ấm toàn cầu, biến đổi khí hậu, lở đất, sóng thần v.v.) hoặc hiện tượng xã hội ( tội phạm, bạo lực gia đình, hoạt động kinh doanh, tổ chức sự kiện, vui chơi, giải trí, bạo loạn, cách mạng v.v.) hoặc các hiện tượng gắn bởi bản thân mỗi con người.

Khi nói tới khoa học, rất cần phân biệt “tri thức khoa học” với “tri thức thông thường”. Tri thức khoa học không nhất thiết đồng nhất với tri thức thông thường (commonsense knowledge). Tri thức thông thường có khi “đúng”, có khi “sai”. Tuy nhiên, tri thức khoa học là tri thức được phát hiện thông qua một quy trình nghiên cứu, phát hiện, kiểm chứng theo những chuẩn mực nhất định. Quá trình ấy chính là hoạt động nghiên cứu khoa học. Bởi vậy, tri thức khoa học thường là sản phẩm chọn lọc công phu của các nhà khoa học. Khi tìm hiểu về “khoa học”, thường người ta hay nhắc tới “công nghệ”. Công nghệ được Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 định nghĩa là “giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.” Thông thường, có thể hiểu rằng, công nghệ chính là sự ứng dụng của tri thức khoa học vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không có tri thức khoa học làm nền, hoạt động sáng tạo công nghệ sẽ rất khó được thực hiện. Ngày nay, khi nói tới công nghệ, người ta thường nói tới các phát minh, sáng chế. Đây là những giải pháp được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, được bảo hộ pháp lý bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ. Ở Việt Nam, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các phát minh, sáng chế được thực hiện theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Có thể khẳng định rằng, ngày nay, một quốc gia có nền kinh tế hùng mạnh phải là quốc gia mạnh về công nghệ. Nói cách khác, từng sản phẩm được sử dụng hàng ngày, đến quy trình sản xuất ra các loại sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế đều là sự tích tụ hàm lượng trí tuệ rất cao. Chính vì thế, không phải không có lý khi cho rằng, trí tuệ hoặc trí thông minh, năng lực đổi mới, sáng tạo chính là yếu tố nền tảng quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế hiện nay trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nhiều quốc gia bứt phá được khỏi bẫy thu nhập trung bình, vươn lên vào câu lạc bộ các quốc gia phát triển nhờ dám đặt cược sinh mệnh quốc gia, đặt cược sinh mệnh của nền kinh tế, sinh mệnh của nền quản trị quốc gia vào hệ thống đổi mới, sáng tạo, cũng là đặt cược vào tiềm năng, sức mạnh sáng tạo của con người, của người dân quốc gia ấy. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore có thể coi là những quốc gia như vậy.

2. Nghiên cứu khoa học là gì?

Vậy nghiên cứu khoa học là gì?

Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 định nghĩa “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn“.

Người ta thường phân hoạt động nghiên cứu khoa học thành 2 loại là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản, theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.” Nghiên cứu ứng dụng, theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là “hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.”

Nghiên cứu khoa học đã từng được thực hiện hàng ngàn năm trước. Các nhà khoa học ở Athen đã từng phát hiện ra nhiều tri thức khoa học quan trọng, nhất là các tri thức về toán học, thiên văn học. Chẳng hạn, định luật Pytago, định luật acsimet v.v. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học gắn liền với sản xuất công nghiệp và được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sản xuất công nghiệp gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế thị trường, gắn liền với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân).

Nhờ các hoạt động khoa học, nhiều phát minh, sáng chế quan trọng đã ra đời. Những sáng chế quan trọng có thể kể tới như:

– Phát minh ra máy hơi nước; – Phát minh ra động cơ đốt trong; – Phát minh ra bóng điện; – Phát minh ra máy điện thoại; – Tìm ra quy luật về mối quan hệ giữa năng lượng và khối lượng của Einstein (E = MC2).

Có thể kể ra đây một số phát minh được xem là quan trọng hàng đầu nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng góp phần làm thay đổi thế giới:[1]

Phát minh 1 – Phát minh rabóng đèn điện (1879): Phát minh này ra đời trong một phòng thí nghiệm nhỏ của Thomas Edison nằm trên một con phố ở New Jersey – Mỹ vào năm 1879. Nhờ phát minh này, ngành công nghiệp điện và điện dân dụng của thế giới đã ra đời, giúp con người không còn sợ hãi trước bóng tối.Sau hơn một thế kỷ sử dụng đèn điện do Edison phát minh ra, vì lý do tiết kiệm năng lượng người ta mới dần chuyển sang dùng bóng đèn huỳnh quang. Song, không ai có thể phủ nhận: bóng đèn điện là một trong những phát minh tuyệt vời nhất trong lịch sử nhân loại.

Phát minh 3 – vệ tinh thông tin (1958): đây chính là một phần quan trọng trong hạ tầng thông tin toàn cầu. Vệ tinh thông tin đầu tiên được quân đội Hoa Kỳ phát triển và được đưa lên quỹ đạo trái đất vào năm 1958.

Phát minh 4 – Máy quét cộng hưởng từ (của Raymond Damadian – nhà khoa học Hoa Kỳ):Nhờ chiếc máy này mà nhiều bệnh nhân đã được chẩn đoán đúng bệnh, phát hiện sớm bệnh và được cứu sống.Ý tưởng cơ bản của chiếc máy này là: làm sao có được một công nghệ quét được hình ảnh bên trong cơ thể người để phát hiện bệnh mà không gây ra đau đớn hay ảnh hưởng gì cho người bệnh. Máy cộng hưởng từ được chính thức đưa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới từ năm 1977.Phát minh 5 – Internet (1960): Đây là phát minh do quân đội Hoa Kỳ nghĩ ra đầu tiên vào năm 1960. Ngày nay, chúng ta thật khó tưởng tượng cuộc sống sẽ ra sao nếu thiếu Internet.

Phát minh 6 – Công nghệ laser (1960) do Viện nghiên cứu Hughes – California -Hoa Kỳ phát minh ra: Công nghệ này hiện được ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau cả trong lĩnh vực quân sự và dân sự. Trong y học, laser được sử dụng để tiến hành các ca phẫu thuật phức tạp.

Phát minh 7 – Máy bay (1903): Vào ngày 17/12/1903, hai anh em nhà Wright sống tại Dayton, bang Ohio, Hoa Kỳ đã làm thay đổi lịch sử thế giới bằng sự phát minh ra chiếc máy bay đầu tiên.Cỗ máy do Wilbur và Orville Wright chế tạo đã thực hiện thành công chuyến bay kéo dài 12 giây của nó, và chứng minh cho cả nhân loại thấy rằng: một cỗ máy với trọng lượng nặng gấp nhiều lần so với không khí vẫn có thể bay được trong không khí. …. Trong lịch sử khoa học, khoa học tự nhiên có bước phát triển mạnh và tiến trước khoa học xã hội. Tuy nhiên, tư duy khoa học được áp dụng không chỉ trong khoa học tự nhiên mà lan sang lĩnh vực tìm hiểu về xã hội. Ở một góc nhìn, đây được xem là sự “vận dụng” sáng tạo công nghệ/ phương pháp nhận thức từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Ở góc nhìn khác, có thể xem đó là một sự “bá quyền” của phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên sang lĩnh vực khoa học xã hội. Thực ra, trong lịch sử khoa học, kể cả lịch sử khoa học xã hội, không hiếm trường hợp phương pháp nghiên cứu chủ đạo hoặc tư tưởng chủ đạo của lĩnh vực khoa học này lại “xâm lấn” sang lĩnh vực khác. Chẳng hạn, sự “xâm lấn” của khoa học xã hội học sang lĩnh vực pháp luật sẽ cho ta bộ môn khoa học về ” xã hội học pháp luật “. Sự “xâm lấn” của khoa văn hóa học sang lĩnh vực pháp luật sẽ cho ta bộ môn khoa học về “văn hóa học pháp luật”. Sự “xâm lấn” của khoa kinh tế học sang lĩnh vực pháp luật cho ta bộ môn khoa học “Kinh tế học pháp luật”.

Như vậy, có thể nói, kết quả đầu ra của hoạt động nghiên cứu khoa học chính là các phát minh, sáng chế, các phát hiện khoa học hoặc các ý tưởng khoa học.

Cũng cần lưu ý thực tế là, hoạt động nghiên cứu khoa học trước hết là hoạt động tư duy. Đành rằng, trong nghiên cứu khoa học, nhiều khi, các hoạt động lao động mang tính vật lý cũng được thực hiện, nhưng khía cạnh chủ đạo của nghiên cứu khoa học là hoạt động tư duy.

3. Phương pháp tiến hành hoạt động khoa học (scientific method)

Các nhà khoa học khi thực hiện lao động khoa học của mình thường tuân theo những yêu cầu, đòi hỏi, chuẩn mực nghiêm ngặt để bảo đảm tri thức do mình phát hiện ra, sản xuất ra là có độ tin cậy. Một trong những yêu cầu mà các nhà khoa học phải đáp ứng là khi tiến hành hoạt động nghiên cứu, nhà khoa học phải tuân theo phương pháp khoa học phù hợp.

Phương pháp khoa học (the scientific method) được hiểu là một chu trình lao động khoa học gồm nhiều bước, nhiều công đoạn có mối liên hệ logic chặt chẽ với nhau. Cụ thể, đó là các bước cơ bản sau đây:

Bước 1. Quan sát (chẳng hạn, nhìn thấy 1 hiện tượng nào đó).

Bước 2. Nêu câu hỏi nghi vấn (chẳng hạn, vì sao hiện tượng đó diễn ra? Hiện tượng đó do yếu tố gì gây ra? Hiện tượng đó sẽ diễn tiến thế nào trong tương lai?)

Bước 3. Hình thành giả thiết/giả thuyết khoa học (chẳng hạn, hiện tượng đó diễn ra, khả năng chủ yếu, là do nguyên nhân X, Y, Z).

Bước 4. Đưa ra các dự đoán có thể kiểm chứng được (chẳng hạn, nếu đúng X, Y, Z gây ra hiện tượng A ở 1 quốc gia tại thời điểm hiện tại thì có thể nguyên nhân X, Y, Z gây ra hiện tượng đó ở quốc gia có điều kiện tương tự…).

Bước 5. Thu thập bằng chứng để xác nhận hoặc bác bỏ giả thiết khoa học.

Bước 6. Đưa ra kết luận (nếu giả thiết đã được kiểm chứng), hình thành lý thuyết khoa học.

Phương pháp khoa học như vậy được áp dụng trước hết trong lĩnh vực khoa học tự nhiên (từ thế kỷ 17). Tuy nhiên, từ thế kỷ 19 đến nay, phương pháp khoa học ấy đã được mở rộng sang các lĩnh vực khoa học xã hội, gắn liền với sự khai sinh các chuyên ngành khoa học xã hội rất quan trọng như (1) nhân chủng học (anthropology, khoảng cuối thế kỷ 19), (2) xã hội học (sociology) (nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20), (3) quản trị học (đầu thế kỷ 20), (4) chính trị học (political science) (những năm thuộc thập niên 30 của thế kỷ 20) v.v.

Như vậy, có thể thấy, phương pháp khoa học như đã nêu ở trên giúp cho việc hình thành tri thức khoa học tương đối khác với việc hình thành các loại ý tưởng, ý niệm khác (chẳng hạn ý tưởng, ý niệm về tôn giáo). Vì tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình lao động khoa học, theo phương pháp khoa học, nên tri thức ấy luôn mở cửa cho việc chứng minh đúng/sai.

II. QUY TRÌNH TRIỂN KHAI MỘT DỰ ÁN/ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Ứng dụng phương pháp tiến hành hoạt động khoa học vừa nêu trên trong quá trình tiến hành một nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học đã gắng nhận diện những bước, những công đoạn lao động, công đoạn tư duy cụ thể để giúp việc tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học một cách hữu hiệu nhất. Đối với lĩnh vực khoa học xã hội (trong đó có cả lĩnh vực luật học), đây là lĩnh vực khoa học quan tâm tới xã hội hiện thực: tức là gắng tìm hiểu, phản ánh xem xã hội hiện thực đang vận hành như thế nào và tại sao lại có sự vận hành như vậy. Khoa học xã hội cũng góp phần cung cấp một dự đoán (một cách tương đối) rằng với cách vận hành xã hội như vậy, liệu tương lai của xã hội sẽ ra sao. Khoa học xã hội vì thế, thường không giải quyết được vấn đề thuộc về lĩnh vực triết học xã hội đó là: một xã hội lý tưởng là xã hội như thế nào (hoặc nên là xã hội như thế nào). Nói cách khác, khoa học xã hội quan tâm tới các câu hỏi thực chứng (positive/descriptive questions) hơn là các câu hỏi mang tính chuẩn tắc (normative questions). Nhà khoa học xã hội, vì thế, là nhà quan sát và tìm hiểu/phản ánh xã hội. Do giới hạn của nhận thức, các nhà khoa học xã hội thường có cách đánh giá, nhìn nhận khác nhau về một hiện tượng xã hội (chẳng hạn khác nhau về việc đánh giá, đo lường, tiên lượng hiện tượng cũng như khác nhau trong đánh giá ý nghĩa, tầm quan trọng, những ngụ ý, ẩn ý của một hiện tượng). Tuy nhiên, họ khá thống nhất ở việc tin rằng, các câu hỏi thực chứng, có thể trả lời được dưới dạng chân lý đúng/sai (khách quan) bằng các dữ liệu, bằng chứng, sự kiện hiện thực. Các vấn đề thuộc về chuẩn tắc, giá trị, giữa các khà khoa học xã hội thường không có cách nhìn nhận giống nhau. Theo nhiều nhà khoa học xã hội đương đại, một dự án nghiên cứu khoa học xã hội (trong đó có nghiên cứu khoa học pháp lý) thường phải trải qua một quy trình 10 bước như sau:

Nguồn: John J. Macionis and Linda M. Gerber, Sociology, 6th Canadian Ed., (Toronto: Pearson Prentice, 2008) at 49-51.

Trong lĩnh vực khoa học xã hội học, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội cho rằng, có 3 xuất phát điểm cơ bản (ba xu hướng phương pháp luận nhận thức cơ bản) trong cách tiếp cận hiện thực xã hội (tiếp cận hiện tượng xã hội) mà các nhà nghiên cứu cần lưu ý đó là:

1. Cách tiếp cận thực chứng/khoa học (scientific sociology): theo cách tiếp cận này, xã hội được nhìn như là sự tương tác của các “biến số”. Bằng sự quan sát xã hội khách quan, và gán các hiện tượng xã hội bằng các biến số, ta có thể hiểu được mô thức vận động của các hiện tượng xã hội. Cách tiếp cận này nhìn xã hội tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý thức chủ quan của đối tượng bị quan sát/nghiên cứu. Trọng tâm chính của xu hướng nghiên cứu này là làm rõ mối quan hệ nhân quả (cause-and-effect relationship) giữa các biến số và các mối quan hệ khác giữa các biến số (hiện tượng xã hội). Cha đẻ của lối nghiên cứu này chính là August Comte và Emile Durkheim).

Trong thực tế nghiên cứu về xã hội hiện nay, một dạng biểu hiện cụ thể của cách tiếp cận này chính là cách tiếp cận cơ cấu – chức năng (hoặc cách tiếp cận theo chức năng) (structural-functional approach or functional approach): Theo cách tiếp cận này, xã hội được nhìn như một tổng thể gồm nhiều bộ phận cấu thành nhưng giữa các bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với những chức năng được xác định hợp thành nên một chỉnh thể xã hội. Nói cách khác, với cách tiếp cận này, xã hội được nhìn như 1 cỗ máy hoặc cái đồng hồ trong đó bộ phận nào có chức năng của bộ phận ấy. Với cách nhìn nhận như vậy, một xã hội lý tưởng (hoặc một xã hội hợp lẽ tự nhiên) là xã hội có tính hài hòa trong đó các bộ phận làm đúng chức năng, phận sự của mình. Trong xã hội lý tưởng ấy, khi các bộ phận xã hội làm đúng chức năng, sẽ tạo nên sự ổn định và cố kết (hoặc sự đoàn kết) xã hội. Bất ổn xã hội xảy ra khi các bộ phận không làm đúng chức năng, bổn phận, nhiệm vụ hay phần việc của mình. Giải pháp cho các bất ổn xã hội là làm sao giúp cho các bộ phận, các phần cấu thành nên xã hội trở về trạng thái tự nhiên, vốn có, làm đúng chức năng, bổn phận của mình. Lý thuyết cơ cấu, chức năng ẩn chứa lý tưởng về một xã hội hài hòa, ổn định, trong trật tự. Thông thường, lý thuyết này có xu hướng “bảo thủ” tức là mong muốn duy trì một hiện trạng xã hội lý tưởng theo thứ bậc, tôn ti, trật tự được coi là “trật tự tự nhiên” mà các tri thức sẵn có của xã hội có thể hình dung nên được. Lý thuyết cơ cấu, chức năng cũng có xu hướng cổ vũ cho sự hợp tác và ổn định xã hội. Gắn với lĩnh vực khoa học pháp lý của chúng ta, việc các bạn vẫn nghe thấy đánh giá về “chức năng kinh tế của nhà nước” theo kiểu “nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế”, chính là một trong những ứng dụng của cách tiếp cận dựa theo chức năng (functional approach). Theo cách tiếp cận này, nhà nước được sinh ra và có thiên chức là giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng xã hội. Điều này cũng hàm ý rằng, những vấn đề riêng có của cá nhân, những vấn đề mà các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức có thể tự giải quyết được thì nhà nước không nên can thiệp. Nhà nước chỉ nên tham gia giải quyết những vấn đề chung của xã hội mà mỗi cá nhân, tổ chức không thể tự giải quyết, không có động lực giải quyết hoặc giải quyết sẽ không hiệu quả. Ví dụ: nhà nước nên quan tâm để giải quyết các trục trặc, khuyết tật của nền kinh tế thị trường như việc thiếu hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu, phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường, duy trì trật tự trị an, bảo đảm an ninh, an toàn cá nhân thay vì trực tiếp tổ chức các doanh nghiệp để tranh kinh doanh với dân. Một ví dụ khác có thể khá quen thuộc với các bạn, những người xây dựng pháp luật đó là việc chúng ta đặt ra yêu cầu hệ thống pháp luật phải “thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận với chi phí tuân thủ thấp”. Pháp luật được sinh ra là để điều chỉnh hành vi của con người, giống như hệ thống biển báo giao thông. Việc pháp luật quy định một cách không rõ ràng, không thống nhất, không đồng bộ với nhau sẽ làm cho chức năng của pháp luật bị ảnh hưởng tiêu cực.

2. Cách tiếp cận của phái xã hội học giải nghĩa (interpretive sociology), theo đó, hành vi của con người không thể mô tả bằng các số liệu khô cứng mà phải chú ý tới khía cạnh quan trọng hơn đó là ý nghĩa của hành vi theo nhận thức chủ quan của chủ thể hành vi đó. Với cách tiếp cận này, hiện thực xã hội không chỉ là những thứ khách quan có thể quan sát được một cách cơ học, máy móc. Hiện thực xã hội bao giờ cũng gắn bó với thế giới tư tưởng và ý niệm, thế giới ý nghĩa do con người tạo nên. Chính sự tồn tại của thế giới biểu tượng, ý nghĩa này, khiến xã hội loài người khác với các loài vật khác. Cha đẻ của cách tiếp cận này trong xã hội học là Max Weber – người đặt vấn đề phê phán cách tiếp cận thực chứng luận.

Trong lĩnh vực chính sách, pháp luật, việc đề cao công tác tuyên truyền, phổ biến, truyền thông thay đổi nhận thức của con người cũng chính là một trong những biểu hiện của cách tư duy mà trường phái tiếp cận giải nghĩa vừa nêu.

3. Cách tiếp cận phê phán (critical sociology): cách tiếp cận này nhìn nhận hiện trạng xã hội như một tình trạng khiếm khuyết và bất công, cần phải bị thay đổi bằng một tương lai/hiện thực khác. Cũng theo thứ lý thuyết này, không có lý thuyết khoa học xã hội khách quan. Mọi lý thuyết khoa học đều mang bản chất chính trị và đều nhằm cổ vũ/biện minh cho một xu hướng chính trị nào đó (chẳng hạn, đó có thể là xu hướng của chủ nghĩa bảo thủ. chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tư bản v.v.). Karl Marx được coi là một trong những cha đẻ của xu hướng nhận thức này. Cũng theo cách tiếp cận này, xã hội là một đấu trường hoặc “chiến trường” trong đó tình trạng bất bình đẳng, sự mâu thuẫn, cạnh tranh, đối kháng thuộc về bản chất của xã hội. Theo cách tiếp cận này, sự hài hòa, ổn định trong xã hội chỉ là những trạng thái mang tính “tạm thời” bởi giữa người với người hoặc giữa các bộ phận cấu thành nên xã hội luôn ở trong quá trình thay đổi, đấu tranh không ngừng và chính sự đấu tranh, thay đổi này lại góp phần tạo nên động lực đấu tranh mới, tạo nên tình trạng bất bình đẳng xã hội. Theo cách tiếp cận này, xã hội đương thời là xã hội bất công và đẳng cấp trong đó người với người bị chia thành nhiều thứ bậc khác nhau do sự khác biệt về tài sản, địa vị xã hội, giới tính, và chủng tộc. Cách tiếp cận này cũng có xu hướng cho rằng, đấu tranh (và mâu thuẫn) là động lực thúc đẩy xã hội tiến lên. Những con đẻ của cách tiếp cận này chính là hệ tư tưởng của chủ nghĩa nữ quyền (feminism) trong đó nhìn nhận xã hội như một môi trường tràn ngập sự áp bức đối với phụ nữ bởi phái mạnh (nam giới). Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, xã hội hiện thời là xã hội được cấu tạo, từ bản chất, theo hướng chỉ thuận lợi và thăng hoa cho phái nam và tước bỏ những cơ hội của phái nữ. Hầu hết các lý thuyết lên án sự bất công xã hội, sự thống trị xã hội của một thiểu số người vì lý do giai cấp, tôn giáo, chủng tộc, địa lý chia sẻ cách tiếp cận xung đột – mâu thuẫn xã hội này.[2]

Liên hệ với lĩnh vực nhà nước và pháp luật, chúng ta đã khá quen với luận đề nổi tiếng của Marx khi nhấn mạnh tới bản chất “công cụ giai cấp” của pháp luật trong các xã hội có phân tầng và có giai cấp: Pháp luật của [xã hội tư sản] chẳng qua chỉ là “ý chí của các ông [giai cấp tư sản] được nâng lên thành luật áp dụng chung cho tất cả mọi người – thứ ý chí mà nội dung chủ yếu của nó do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định.”[3] Trong hiện thực xã hội, với tính đa dạng và đa chiều của xã hội, mỗi cách tiếp cận chỉ góp phần giúp những nhà quan sát xã hội soi rọi một phần nhỏ vào bản chất và hiện thực xã hội. Không có cách tiếp cận nào được coi là toàn diện và tuyệt đối đúng trong việc phản ánh, mô tả và giải thích xã hội. Ngoài 3 cách tiếp cận kể trên trong phân tích xã hội, nhiều nhà xã hội học đương đại còn sử dụng lý thuyết hậu hiện đại (postmodernism) trong phân tích xã hội. Theo cách tiếp cận này, việc xây dựng một lý thuyết chung phản ánh trung thực bản chất hiện tượng xã hội là một giấc mơ ảo tưởng. Cũng theo cách tiếp cận này, lý thuyết nào tuyên bố về sự độc quyền chân lý là lý thuyết phi khoa học. Chân lý có tính chủ quan và tương đối lệ thuộc vào góc nhìn, chỗ đứng và nhiều yếu tố khác của các nhà nghiên cứu xã hội hoặc các chủ nhân xã hội.

III. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ LÀ GÌ?

Khoa học pháp lý là một lĩnh vực khoa học xã hội lấy nhà nước và pháp luật là đối tượng nghiên cứu của mình. Khoa học pháp lý nhìn nhận nhà nước và pháp luật ở nhiều góc độ khác nhau và ở nhiều trạng thái khác nhau. Nhìn chung, có 3 xu hướng nghiên cứu về nhà nước và pháp luật: xu hướng triết học, xu hướng thực chứng và xu thế nghiên cứu so sánh.

1. Xu hướng triết học

Khi nghiên cứu về nhà nước, xu hướng triết học (hay còn gọi là xu hướng triết học pháp luật) gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi như: vì sao nhà nước ra đời? Nhà nước ra đời mang lại lợi ích gì? Sự hiện diện của Nhà nước có thể đưa tới những nguy cơ gì? Khi nghiên cứu về pháp luật, xu hướng triết học pháp luật gắng đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi rất phức tạp như: vì sao pháp luật ra đời? Pháp luật ra đời mang lại lợi ích gì cho xã hội? Pháp luật ra đời có thể đưa tới những phiền toái gì cho xã hội? Ngoài ra, triết học pháp quyền còn đặc biệt quan tâm tới vấn đề về tính công bằng của pháp luật (giữa pháp luật và công lý có mối quan hệ gì với nhau?). Những câu hỏi lớn mà hướng nghiên cứu này gắng tìm câu trả lời là: Ý nghĩa xã hội của pháp luật là gì? Thế nào là một nhà nước tốt? Thế nào là một thứ pháp luật tốt?

2. Xu thế nghiên cứu thực chứng về pháp luật

Xu hướng này có nhiều trường phái khác nhau. Xin đơn cử 2 trường phái đang có ảnh hưởng quan trọng:Thứ nhất, trường phái xã hội học pháp luật (Sociology of Law hoặc Law and Society). Trường phái này là một phân nhánh của khoa xã hội học, nghiên cứu pháp luật trong bối cảnh xã hội sản sinh ra pháp luật ấy.[4] Trường phái này là sự tiếp nối tư tưởng nghiên cứu pháp luật từ thời La Mã cổ đại, được kế tục trong thời kỳ khai sáng với các học giả quan trọng như Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau. Tuy nhiên, khi xã hội học được ra đời nhờ sự đóng góp của August Comte (1798-1857), Emile Durkheim (1958-1917), Max Weber (1864-1920), và Roscoe Pound (1870-1964), thì nền tảng lý luận xã hội học pháp luật được củng cố vững chắc hơn. Ở chừng mực nhất định, tư tưởng của Marx về pháp luật cũng có thể được xếp và trường phái xã hội học pháp luật.

Thứ hai, trường phái kinh tế học pháp luật (Law and Economics) hoặc kinh tế học thể chế (Institutional Economics). Trường phái này nhấn mạnh tới mối tương tác giữa pháp luật với quá trình phân bổ nguồn lực khan hiếm trong xã hội. Theo lý luận của trường phái này, pháp luật có vai trò quan trọng đối với sự phân bổ nguồn lực tối ưu trong xã hội (có thể khuyến khích hoặc ngăn cản các hoạt động tối ưu hóa sử dụng nguồn lực trong xã hội). Trường phái này được xây dựng dựa trên một giả định quan trọng (nhưng là thứ giả định mang tính giản lược và có phần siêu hình) về bản chất của con người, bản chất hành vi của con người. Theo đó, cá nhân con người trong đời sống hiện thực đều là những con người có hai đặc điểm là “vị lợi” (self-interested) và “duy lý” (rational). Điều này hàm ý rằng, hành vi của mỗi con người là sản phẩm của sự chọn lựa duy lý (có cân nhắc tính toán thiệt/hơn, lợi/hại) và bị thúc đẩy bởi nhân tố lợi ích (mong muốn tối đa hóa lợi ích của bản thân hoặc của người thân thích của mình).

3. Xu hướng nghiên cứu luật học so sánh

Nghiên cứu luật học so sánh là một xu hướng nghiên cứu rất quan trọng và có ứng dụng rộng rãi trong công tác xây dựng pháp luật. Cốt lõi của việc nghiên cứu luật học so sánh không đơn thuần là đi so sánh, tìm hiểu, giải thích sự giống và khác nhau trong các quy định pháp luật hoặc trong các hiện tượng pháp lý ở các quốc gia khác nhau. Cốt lõi của nghiên cứu luật học so sánh hiện nay chính là tìm hiểu hiện tượng các ý tưởng pháp lý hoặc các giải pháp pháp lý, các quy phạm, chế định pháp lý, thiết chế pháp lý cụ thể đã “khuếch tán” như thế nào ra khỏi quê hương của mình. Nói cách khác, luật học so sánh quan tâm hàng đầu tới việc các hệ thống pháp luật của các quốc gia tương tác với nhau thế nào, có thể học hỏi được ở nhau những gì. Chính vì thế, trong những năm gần đây, lý thuyết luật so sánh được phát triển và ứng dụng rộng rãi hiện nay là lý thuyết cấy ghép pháp luật (hoặc lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài) (legal transplantation theory). Lý thuyết này quan tâm giải quyết các vấn đề như:

Vì sao pháp luật quốc gia khác nhau lại quan tâm học hỏi lẫn nhau?

Trường hợp nào việc du nhập pháp luật của nước khác vào quốc gia mình sẽ thành công và trường hợp nào không thành công?

Khi một quy phạm/giải pháp pháp lý hoặc một chế định, thiết chế pháp lý được du nhập vào một quốc gia thì chúng sẽ bị biến đổi (khúc xạ) như thế nào so với thiết kế nguyên mẫu của mình.

Điều kỳ quặc là, dù nhiều học giả cho rằng quy phạm pháp luật/thiết chế pháp luật sau khi du nhập sẽ không còn giữ nguyên được tính năng, tác dụng ban đầu của mình, nhưng thực tế, vay mượn pháp luật, nhập khẩu, du nhập pháp luật vẫn là cách mà hàng loạt quốc gia sử dụng khi tiến hành cải cách pháp luật. Ngày nay, xu hướng nghiên cứu so sánh đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ, không chỉ trong lĩnh vực luật học mà cả trong nhiều lĩnh vực khác như: chính trị học so sánh (comparative politics), kinh tế học so sánh (comparative economic systems), chính sách công so sánh (comparative public policy), hành chính công so sánh (comparative public administration), tư pháp hình sự so sánh (comparative criminal justice systems) v.v.

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ

Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý có thể hiểu đó là những phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng vào hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý. Nói cách khác, đó chính là cách thức tiến hành các công việc nghiên cứu mà người làm công tác nghiên cứu cần phải thực hiện để thu thập được những bằng chứng, dữ liệu, tìm ra những phát hiện, những tri thức mới đáng tin cậy.

Phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý thường được chia thành 2 nhóm phương pháp: phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Đi vào cụ thể, có thể nói tới 5 phương pháp cơ bản như: (1) phương pháp quan sát, mô tả thực tế; (2) phương pháp thực nghiệm khoa học; (3) phương pháp điều tra (phỏng vấn ngẫu nhiên, phỏng vấn sâu, điều tra theo mẫu v.v.); (4) phương pháp nghiên cứu tình huống (case studies); (5) phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp (dữ liệu có sẵn, chẳng hạn các số liệu thống kê); (6) phương pháp so sánh (trong lĩnh vực luật là phương pháp luật học so sánh). Trong quá trình xử lý dữ liệu được thu thập (kể cả dữ liệu sơ cấp hoặc dữ liệu thứ cấp), nhất là khi viết báo cáo kết quả nghiên cứu, nhà nghiên cứu thường sử dụng các kỹ thuật xử lý dữ liệu hoặc kỹ thuật tư duy (mà nhiều khi cũng được gọi là phương pháp nghiên cứu) như: tổng hợp, phân tích, trừu tượng hóa, mô hình hóa, diễn dịch, quy nạp v.v.

Trong thực tế hiện nay, người làm nghiên cứu khoa học pháp lý có thể sử dụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau tùy theo đối tượng, nội dung hay vấn đề nghiên cứu cần thực hiện.

Chẳng hạn, khi nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận, để nhận diện sâu sắc hơn bản chất của vấn đề, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp phân tích, tổng hợp, mô hình hóa sẽ được sử dụng.

Khi nghiên cứu các vấn đề thực tiễn, việc điều tra, khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu thống kê (hay còn gọi là phương pháp xã hội học) rất cần thiết được thực hiện.

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, do sự giới hạn về thời gian, nguồn lực nghiên cứu, người được giao thực hiện nghiên cứu không có điều kiện để tự mình tiến hành tổng hợp, nghiên cứu toàn bộ các vấn đề mà phải sử dụng các chuyên gia, người có am hiểu sâu về một số nội dung, khía cạnh được nghiên cứu. Khi này, giới nghiên cứu thường gọi là phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia hoặc trưng cầu ý kiến chuyên gia. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, sự tương tác giữa các hệ thống pháp luật với nhau diễn ra khá phổ biến, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. Chính vì thế, phương pháp nghiên cứu luật học so sánh rất được coi trọng.[5]

1. Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phân tích là phương pháp nhận thức về sự vật, hiện tượng bằng cách chia sự vật, hiện tượng (mang tính toàn thể hay tổng thể) thành những phần, những bộ phận, những chiều cạnh giản đơn hơn để nghiên cứu. Ví dụ, khi nghiên cứu về mô hình tổng thể bộ máy nhà nước Việt Nam, người làm nghiên cứu khoa học pháp lý thường chia nhỏ ra để nghiên cứu riêng về 4 bộ phận cơ bản: (1) cơ quan lập pháp, (2) cơ quan hành pháp, (3) cơ quan tư pháp, và (4) bộ máy chính quyền địa phương. Qua việc phân tích, làm rõ từng phần, từng bộ phận, tổng hợp lại kết quả, xâu chuỗi, xâu nối lại, ta có bức tranh tổng thể về bộ máy nhà nước. Phương pháp phân tích trong nghiên cứu khoa học chính là việc ứng dụng lối tư duy, chia việc khó thành nhiều việc dễ để thực hiện. Tổng hợp là quá trình ngược lại của hoạt động phân tích. Tuy nhiên, về bản chất, tổng hợp là bước kế tiếp của phương pháp phân tích. Sau khi đã có tri thức riêng lẻ về từng mảnh, từng bộ phận, sự xâu nối, kết hợp các tri thức riêng lẻ thành kiến thức tổng thể chính là phương pháp tổng hợp trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng. Chính vì vậy, có thể nói, phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng.

2. Phương pháp mô hình hóa[6]

Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng, các quá trình … bằng cách xây dựng các mô hình của chúng (các mô hình này bảo toàn các tính chất cơ bản được trích ra của đối tượng đang nghiên cứu) và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực. Cơ sở logic của phương pháp mô hình hóa là phép loại suy. Phương pháp mô hình hóa cho phép tiến hành nghiên cứu trên những mô hình (vật chất hay ý niệm (tư duy)) do người nghiên cứu tạo ra (lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn đối tượng thực) để thay thế việc nghiên cứu đối tượng thực. Điều này thường xảy ra khi người nghiên cứu không thể hoặc rất khó nghiên cứu đối tượng thực trong điều kiện thực tế. Phương pháp mô hình hóa xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ thống (tổng thể), song tách ra từ hệ thống (đối tượng) các mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật có trong thực tế nghiên cứu, phản ánh được các mối quan hệ, liên hệ đó của các yếu tố cấu thành hệ thống – đó là sự trừu tượng hóa hệ thống thực. Dùng phương pháp mô hình hóa giúp người nghiên cứu dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các biện pháp điều khiển, quản lý hệ thống.Ví dụ: sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc (đặc biệt là cấu trúc không gian, các bộ phận hợp thành có bản chất vật lý giống hệt đối tượng gốc) để phản ánh, suy ra cấu trúc của đối tượng gốc như: mô hình động cơ đốt trong, mô hình tế bào, sa bàn….

3. Phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học

Việc điều tra, khảo sát xã hội học đòi hỏi rất nhiều yêu cầu, kỹ thuật để thực hiện. Điều trước tiên là phải xác định được phạm vi, nội dung, đối tượng điều tra, khảo sát. Đây chính là những người có được thông tin mà người nghiên cứu đang cần được tiếp cận. Chẳng hạn, nếu chúng ta được giao nhiệm vụ đánh giá thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 bằng việc điều tra, khảo sát thực tiễn, khi xác định đối tượng điều tra, khảo sát phải bao gồm các nhóm đối tượng cơ bản sau đây:

– Cán bộ trực tiếp tổ chức thực thi Luật: cán bộ các cơ quan y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương ở các cấp.

– Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trực tiếp phải chấp hành Luật an toàn thực phẩm: ví dụ cơ sở thức ăn đường phố, nhà hàng v.v.

– Người dân với tư cách là người tiêu dùng thực phẩm.

Việc chọn địa bàn điều tra, khảo sát cũng rất quan trọng. Yêu cầu chính khi chọn địa bàn điều tra, khảo sát là phải xem địa bàn ấy có đối tượng được điều tra, khảo sát có nhiều thông tin cần thu thập hay không. Thêm vào đó, phải làm sao địa bàn được chọn mang tính đại diện cho cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, có đại diện của đô thị, nông thôn và miền núi (thậm chí là vùng biển, hải đảo). Ví dụ: khi điều tra, khảo sát về thực tiễn thi hành Luật an toàn thực phẩm, số tỉnh, thành phố được chọn làm địa bàn điều tra thường là 9 tỉnh để bảo đảm tính đại diện. Việc xác định số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát là rất cần thiết. Trước một thực tiễn, do đối tượng được điều tra, khảo sát có nhận thức khác nhau nên nếu số lượng đối tượng điều tra, khảo sát quá ít, kết quả điều tra, khảo sát sẽ khó bảo đảm được tính đại diện. Trong thực tiễn làm việc tại Viện Khoa học pháp lý, số lượng đối tượng được điều tra, khảo sát sẽ tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, với các cuộc điều tra, khảo sát có quy mô toàn quốc, số đối tượng được điều tra, khảo sát thường xoay quanh mức từ 3 tới 5 ngàn đối tượng. Để thu thập được thông tin từ quá trình điều tra, khảo sát xã hội học, người làm công tác điều tra, khảo sát thường sử dụng 3 cách thức sau:

– Phỏng vấn đối tượng điều tra, khảo sát thông qua phiếu hỏi (phiếu thông thường hoặc phiếu phỏng vấn sâu). – Tiến hành tọa đàm, trao đổi với các đối tượng được khảo sát. – Thu thập số liệu thống kê, dữ liệu chính thống từ các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức có dữ liệu, số liệu.

4. Phương pháp luật học so sánh

Sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra điểm giống và khác của pháp luật giữa các quốc gia khác nhau chưa đủ để trở thành phương pháp luật học so sánh mặc dù phương pháp luật học so sánh thường sử dụng kỹ thuật so sánh, đối chiếu này.

Phương pháp luật học so sánh đòi hỏi nghiên cứu, giải thích sự phát sinh, phát triển, biến đổi của các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các thiết chế pháp luật trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử của quốc gia được chọn lựa để so sánh, từ đó hiểu rõ giá trị, vai trò, ý nghĩa của các quy phạm, chế định hoặc thiết chế đó. Trên cơ sở hiểu biết sâu sắc ấy, việc so sánh và phát hiện điểm giống và khác, cùng với sự giải thích căn nguyên của những sự giống và khác đó mới có ý nghĩa.

Ngoài ra, phương pháp luật học so sánh còn quan tâm tới hiện tượng tiếp nhận, lan tỏa, khuếch tán pháp luật nước ngoài (legal diffusion) hoặc cấy ghép pháp luật, khi các quốc gia có sự học hỏi, tham khảo lẫn nhau để hoàn thiện pháp luật của quốc gia mình.

V. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÁP LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT – LIÊN HỆ THỰC TIỄN

1. Xây dựng pháp luật là gì?

Quan niệm hoạt động xây dựng pháp luật là loại hình lao động quyền lực nhằm đưa ý chí của Nhà nước, ý chí của nhân dân lên thành pháp luật, tạo ra các quy phạm pháp luật như đề cập ở trên là đúng nhưng chưa đủ. Qua nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước này, chúng tôi thấy cần bổ sung thêm 4 khía cạnh nhận thức về bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật (nhất là gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam):

Thứ hai, cần nhấn mạnh tới thực tế Nhân dân không phải là một khối đồng nhất mà là những khối, những nhóm lợi ích rất đa dạng. Thực tiễn Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới vừa qua cho thấy xu thế phân tầng xã hội là một thực tế và sự phân tầng ấy ngày càng phức tạp. Cách tiếp cận cấu trúc xã hội theo kiểu truyền thống là 2 giai cấp (nông dân, công nhân), 1 tầng lớp (trí thức) đã ngày càng không phản ánh đúng thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay cũng như trong thời gian tới.[13] Chính vì thế, hoạt động hình thành nên pháp luật (ý chí chung của xã hội) thường xảy ra sự tương tác, va chạm, cọ xát, thậm chí là sự đấu tranh về quan điểm, ý kiến giữa các nhóm lợi ích khác nhau. Điều này có nghĩa rằng, xây dựng pháp luật không đơn thuần là công việc riêng có của các cơ quan nhà nước hoặc các quan chức nhà nước mà công việc này thường bị các chủ thể khác nhau, đại diện cho những nhóm lợi ích khác nhau trực tiếp hoặc gián tiếp tác động. Điều này cũng có nghĩa rằng, cần nhìn nhận xây dựng pháp luật luôn ở trong trạng thái động và “mở”, không chỉ là sự tương tác giữa các thành tố trong bộ máy nhà nước mà thường có sự tương tác giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, cá nhân bên ngoài nhà nước. Điều này cũng hàm ý rằng, xây dựng pháp luật luôn diễn ra trong môi trường chính trị-xã hội mà ở đó kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là sự kéo dài của những tương tác chính trị. Thực tế phức tạp này cũng góp phần luận giải vì sao hoạt động xây dựng pháp luật thường phải tuân theo những trình tự, thủ tục khá đặc biệt để bảo đảm rằng pháp luật thực sự là sản phẩm phản ánh ý chí chung của xã hội chứ không chỉ là sản phẩm của sự phản ánh ý chí của những nhóm lợi ích nhất định.

Thứ ba, cần nhấn mạnh tới thực tế rằng “xây dựng pháp luật” là một quá trình ra quyết định và pháp luật là cácquyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn xã hội đòi hỏi.[14] Nói cách khác, xây dựng pháp luật là quá trình xã hội (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) chọn lựa những giải pháp pháp lý để xử lý các vấn đề mà xã hội đang đặt ra, đòi hỏi nhà nước phải có biện pháp ứng phó. Xây dựng pháp luật chính là quá trình xã hội ra quyết định về việc thay đổi hành vi của những chủ thể nhất định để giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra. Việc quan niệm xây dựng pháp luật là một quá trình ra quyết định, sẽ đưa tới nhiều gợi mở quan trọng cho việc nhận diện chính xác hơn những vấn đề trong công tác hoàn thiện pháp luật. Theo lý thuyết về ra quyết định, một quyết định chỉ có thể là quyết định hợp lý (tối ưu), nếu người ra quyết định đáp ứng tối thiểu 2 điều kiện sau[15]: Một là, người ra quyết định (hoặc tham gia vào quá trình ra quyết định) phải có thông tin đầy đủ về vấn đề mà mình cần phải quyết định. Những thông tin này bao gồm: vấn đề mà xã hội đang đặt ra đỏi hỏi phải giải quyết là vấn đề gì? Nguyên nhân của vấn đề này là ở đâu? Sự tồn tại của vấn đề này (nếu không được giải quyết) sẽ mang lại những tác hại gì cho xã hội? Ai (nhóm đối tượng nào) là người phải chịu những tác hại đó? Mức độ phân bố tác hại đó có đồng đều hay không? Xã hội cần có những giải pháp (về nguồn lực, về tổ chức, về nhân lực, về hệ thống truyền thông v.v) như thế nào để giải quyết các vấn đề đó? Nguồn lực giải quyết các vấn đề đó lấy từ đâu? Hai là, người ra quyết định phải có năng lực xử lý các thông tin do tự mình thu thập được hoặc được cung cấp, để nhận diện đúng vấn đề, chọn lựa được giải pháp tối ưu xử lý vấn đề. Cách quan niệm “xây dựng pháp luật” là một quá trình ra quyết định cho thấy về mặt phương pháp luận, chúng ta chỉ có thể cải thiện chất lượng của pháp luật khi chất lượng thông tin sử dụng trong quá trình xây dựng pháp luật phải tốt (tức là phải đầy đủ, toàn diện, khách quan, trung thực) và người ở vị thế ra quyết định phải thực sự đủ “tâm” và “tầm” để xây dựng các VBQPPL có chất lượng.

Từ kinh nghiệm thực tế, có 2 cái lõi để làm tốt công tác xây dựng pháp luật: (1) Kỹ năng làm chính sách công; (2) Kỹ năng nghiên cứu luật học so sánh. Cả hai công việc này đều rất cần thiết với công việc xây dựng pháp luật.

2. Vì sao xây dựng pháp luật cần nghiên cứu khoa học pháp lý?

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 lần đầu tiên đã chính thức thừa nhận mối lương duyên không thể chia cắt của hoạt động ” xây dựng pháp luật” với hoạt động ” nghiên cứu khoa học pháp lý “.

VI. THÔNG ĐIỆP KẾT

Thứ nhất, nghiên cứu khoa học pháp lý bao giờ cũng là hoạt động sản xuất ra tri thức mới. Chính vì thế, hoạt động này đòi hỏi sự tìm tòi, trăn trở, khám phá, phát hiện ra những điều mới lạ. Việc chỉ tập hợp, cắt ghép, vào google tìm kiếm, cắt gọt tài liệu, sắp xếp, biến thành cái của mình không bao giờ là hoạt động nghiên cứu khoa học, mà về bản chất, có thể đó là một dạng đạo văn, ăn cắp tri thức. Thứ đó hoàn toàn xa lạ với bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng. Ai còn có nhận thức như vậy thì xin hãy thay đổi. Đó là một sự hạ thấp, thậm chí là sự nhục mạ khoa học pháp lý. Thêm vào đó, tuy nghiên cứu khoa học pháp lý có tính đặc thù nhất định nhưng luôn nhớ rằng đạo đức của người làm nghiên cứu khoa học pháp lý trước hết phải tuân thủ theo những chuẩn mực đạo đức của người làm nghiên cứu nói chung, trong đó phẩm chất quan trọng hàng đầu của nhà khoa học là trung thực, tôn trọng sự thật. Với người mới vào nghề, xin nhấn mạnh tới yếu tố trung thực trong nghiên cứu khoa học đồng thời cần biết trân trọng những đóng góp của những nhà khoa học pháp lý đi trước. Điều này cũng có nghĩa rằng, không được phép ngụy tạo chứng cứ, dữ liệu. Mọi biểu hiện hời hợt, thiếu nghiêm túc khi đối xử với dữ liệu khoa học đều xa lạ với đạo đức khoa học. Việc đạo văn trong nghiên cứu khoa học pháp lý, thiếu footnote đều là những hành vi trái với nguyên tắc đạo đức căn bản trong nghiên cứu khoa học pháp lý. Ngoài ra, thực tiễn nghiên cứu cho thấy, có những vấn đề nghiên cứu rất tế nhị mà việc tiết lộ danh tính người cung cấp thông tin cho mình có thể gây ra những điều phiền phức với họ. Chính vì thế, người làm nghiên cứu khoa học pháp lý phải có những biện pháp bảo mật cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người đã hợp tác với mình trong quá trình nghiên cứu khoa học.

Thứ hai, hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý là đi vào ngưỡng cửa của thế giới chưa biết. Chính vì thế, người làm nghiên cứu khoa học pháp lý luôn phải đứng ở biên giới của tri thức khoa học. Người nào chỉ loanh quanh, luẩn quẩn với những điều mình đã biết hoặc người khác đã biết, tức là chỉ rong chơi trong hậu phương của tri thức khoa học pháp lý, thì những người ấy cũng không phải là những người hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý. Cái áo không làm nên thày tu!

Thứ ba, nếu áp dụng công nghệ xây dựng pháp luật bằng công nghệ xây dựng chính sách, pháp luật dựa trên bằng chứng (evidence-based policy making) thì hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật luôn đòi hỏi sự cung cấp thông tin, tri thức từ khoa học pháp lý. Nói cách khác, xây dựng pháp luật và khoa học pháp lý là hai hoạt động có mối quan hệ tương hỗ, cần đến nhau như cây xanh cần tới nguồn nước và nguồn chất dinh dưỡng. Vì vậy, những người xem nhẹ khoa học pháp lý không bao giờ có thể trở thành những người có năng lực, trình độ tốt để đảm nhận công việc xây dựng thể chế, chính sách cho quốc gia.

[9] Như trên, tr. 9.

[10] Như trên, tr. 9.

[11] Như trên, tr. 9.

[12] Như trên, tr. 13.

Phương Pháp Nghiên Cứu Marketing

Kết quả

Phương pháp nghiên cứu Marketing:

Những số liệu sơ cấp có thể thu thập theo bốn cách: Quan sát, nhóm tập trung, điều tra và thực nghiệm.

– Nghiên cứu quan sát: Những số liệu mới có thể thu thập bằng cách quan sát các nhân vật và khung cảnh tương ứng. Những người nghiên cứu của American Airlines đi lang thang khắp các sân bay, văn phòng hãng hàng không và công ty du lịch để nghe ngóng khách hàng du lịch nói chuyện với nhau về các hãng hàng không khác nhau. Những người nghiên cứu có thể đi các máy bay của hãng American Airlines và các đối thủ cạnh tranh để quan sát chất lượng dịch vụ trên chuyến bay . Những nghiên cứu thăm dò này có thể gợi ý một số giả thiết bổ ích về khách du lịch lựa chọn các hãng hàng không.

– Nghiên cứu nhóm tập trung: Nhóm tập trung là một cuộc họp mặt của từ sáu đến mười người được mời đến trong một vài giờ để cùng với một người chủ trì khôn khéo trao đổi với nhau về sản phẩm, dịch vụ, tổ chức hay một thực tế Marketing khác. Người chủ trì cần có thái độ khách quan, hiểu biết vấn đề và hiểu biết những động thái của nhóm và hành vi của người tiêu dùng.

Ví dụ tại American Airlines người chủ trì cuộc họp có thể mở đầu bằng một câu hỏi chung chẳng hạn như “Bạn cảm thấy như thế nào về chuyện đi du lịch bằng máy bay?” Sau đó các câu hỏi sẽ chuyển dần sang những vấn đề mọi người nhìn nhận như thế nào về các hãng hàng không khác nhau, các dịch vụ khác nhau và dịch vụ điện thoại trong khi bay.

– Nghiên cứu điều tra. Nghiên cứu điều tra nằm giữa một bên là nghiên cứu quan sát và nhóm tập trung và một bên là nghiên cứu thực nghiệm. Quan sát và nhóm tập trung thích hợp nhất với nghiên cứu thăm dò, còn nghiên cứu điều tra lại thích hợp nhất với nghiên cứu mô tả, và thực nghiệm thì thích hợp nhất với nghiên cứu nguyên nhân. Các công ty tiến hành điều tra để nắm được trình độ hiểu biết, niềm tin, sở thích, mức độ thỏa mãn v…v của công chúng và lượng định các đại lượng này trong nhân dân. Vì vậy những người nghiên cứu của American Airlines có thể muốn điều tra xem có bao nhiêu người biết về hãng, ưa thích hãng, v…v. Ta sẽ nói nhiều hơn về nghiên cứu điều tra khi trình bày các công cụ nghiên cứu, kế hoạch lấy mẫu và các phương pháp tiếp xúc.

– Nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu có giá trị khoa học cao nhất là nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu thực nghiệm đòi hỏi phải tuyển chọn các nhóm đối tượng tương xứng, xử lý các nhóm đó theo những cách khác nhau, khống chế các biến ngoại lai, và kiểm tra xem những sai lệch trong các kết quả quan sát được có ý nghĩa thống kê không. Trong trường hợp các yếu tố ngoại lai bị loại trừ hay khống chế, thì khi xử lý theo những cách khác nhau đều có thể thu được cùng những kết quả quan sát. Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm là nắm được quan hệ nhân quả bằng cách loại trừ những cách giải thích khác nhau về các kết quả quan sát được.

Ví dụ, American Airlines có thể tổ chức dịch vụ điện thoại trong khi bay trên một trong những chuyến bay thường xuyên từ New York đến Los Angeles với giá 25 USD một lần gọi. Ngày hôm sau trên chuyến bay đó hãng thông báo có dịch vụ này, nhưng với giá 15 USD một lần gọi. Nếu máy bay đó chuyên chở số lượng và loại hành khách như nhau trên mỗi chuyến bay, và các ngày trong tuần không có gì khác nhau, thì mọi chênh lệch lớn về số lần gọi có thể xem là do giá cả. Thí nghiệm có thể phát triển tiếp bằng cách áp dụng thử những giá khác nữa, lặp lại cùng một giá trên một số chuyến bay, bổ sung thêm những tuyến khác vào thí nghiệm.

Nguồn: Th.s: Nguyễn Ngọc Long – Sưu tầm & hiệu chỉnh (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!