Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Quan Sát Khoa Học – Kipkis / 2023 # Top 18 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Quan Sát Khoa Học – Kipkis / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Quan Sát Khoa Học – Kipkis / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Phương pháp quan sát khoa học

1.1. Khái niệm

Quan sát với tư cách là PPnghiên cứu khoa học là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch đợc tiến hành một cách có hệ thống. Đây là một trong những hình thức chủ yếu của nhận thức kinh nghiệm, để tạo ra thông tin ban đầu, nhờ nó mà sau này xây dựng lý thuyết và kiểm tra lý thuyết bằng thực nghiệm và như vậy nó là con đường để gắn nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu hoạt động thực tiễn.

Quan sát khoa học được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, mẫu quan sát nhiều hay ít.

Quan sát sư phạm là phương pháp để thu thập thông tin về quá trình giáo dục và dạy học trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệu sống và thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những quy luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn.

√ Quan sát trong nghiên cứu khoa học thực hiện ba chức năng:

Chức năng thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất.

Chức năng kiểm chứng các lý thuyết, các giả thuyết đã có.

Chức năng so sánh đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn.(Đối chiếu lý thuyết với thực tế)

√ Đặc điểm quan sát sư phạm:

Bất cứ quan sát nào cũng được tiến hành do một chủ thể sử dụng để nhận thức một đối tượng xác định, trong một thời gian, một không gian, với mục đích và bằng một phương tiện nhất định. Vì vậy, quan sát sư phạm có những sau đây:

Đối tượng quan sát là hoạt động sư phạm phức tạp của một cá nhân, hay một tập thể. Bản thân cá nhân hay tập thể đó lại có những đặc điểm đa dạng về năng lực hay trình độ phát triển. Nội dung hoạt động sư phạm càng phức tạp, có những hình thức phong phú, thì quá trình quan sát càng khó khăn, càng phải công phu hơn.

Chủ thể quan sát là nhà khoa học hay cộng tác viên. Đã là con người thì đều mang tính riêng tư, đó là tính chủ quan. Chủ quan ở trình độ, kinh nghiệm, ở thế giới quan, ở cảm xúc tâm lí. Sự quan sát bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan của “cái tôi” ngay cả khi sử dụng kĩ thuật hiện đại để quan sát. Mặt khác còn chi phối bởi quy luật ảo giác của cảm giác, tri giác trong hoạt động nhận thức.

Kết quả quan sát dù khách quan đến mấy vẫn phụ thuộc vào việc xử lý các thông tin của người nghiên cứu, do đó cần được lựa chọn theo các chuẩn nhất định, được xử lí bằng toán học hay theo một lí thuyết nhất định.

Để nhận được thông tin theo mục đích nghiên cứu cần phải lập một kế hoạch và chương trình quan sát tỉ mỉ.

1.2. Các công việc quan sát khoa học

1. Xác định đối tượng quan sát, mục đích quan sát.

Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ làm cho người lập phiếu quan sát cũng như người đi quan sát tập trung hơn vào các nội dung quan sát. Nghĩa là cần trả lời câu hỏi: Quan sát để làm gì?

Ví d: Cùng một công việc là quan st sự học tập của một lớp học sinh. Nếu với mục đích là quan sát sự chú ý của học sinh trong lớp học thì các quan sát sẽ tập trung chủ yếu vào học sinh. Nhưng, nếu với mục đích là quan sát phương pháp dạy của thầy sao cho thu hút sự chú ý của học sinh thì các dữ liệu quan sát chủ yếu là ở người thầy, các dữ liệu của học sinh (ánh mắt, nét mặt…) là để chứng minh cho việc ghi chép hoạt động của thầy nhằm thu hút sự chú ý của học sinh.

2. Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát

Câu trả lời tiếp câu hỏi: quan sát cái gì, quan sát như thế nào và bằng cái gì. Nếu mục đích quan sát rõ ràng thì nội dung quan sát sẽ dễ dàng được ấn định. Nội dung quan sát thể hiện qua việc lựa chọn đối tượng quan sát (mẫu quan sát), số lượng mẫu, định thời điểm quan sát và độ dài thời gian quan sát. Căn cứ vào qui mô của đề tài và độ phức tạp của mẫu mà quyết định phương pháp, phương tiện quan sát.

3. Lập phiếu quan sát và kế hoạch quan sát

Phần thủ tục: Ðối tượng, địa chỉ, ngày giờ quan sát, người quan sát.

Phần nội dung: Ðây là phần quan trọng nhất của phương pháp, nó quyết định sự thành công của đề tài nghiên cứu. Có thể gọi đây là phần yêu cầu ghi chép, thu hình cụ thể khi đi làm việc. Vì vậy các yêu cầu phải thật cụ thể, sao cho người đi quan sát có thể đo, đếm, ghi được bằng số bằng chữ có hoặc không (không mang tính chất nhận định cá nhân).Ví dụ:+ Bao nhiêu học sinh phát biểu ý kiến?+Thầy có thực hiện bước mở bài không? v.v…Tránh những câu hỏi không đếm được, ví dụ:+Học sinh có chú ý nghe giảng không?+Thầy giảng có nhiệt tình không?

4. Tiến hành quan sát

Trước khi tiến hành quan sát, chủ nhiệm đề tài cần tập huấn cho các thành v về cách quan sát và ghi chép. Ghi chép kết quả quan sát, có thể bằng các cách:

Ghi theo phiếu in sẵn

Ghi biên bản

Ghi nhật kí, theo thời gian, không gian, điều kiện và diễn biến của sự kiện.

Ghi âm, chụp ảnh, quay phim các sự kiện.

Sau khi quan sát xong cân phải kiểm tra lại kết quả quan sát bằng nhiều cách:

Trò chuyện vơí những người tham gia tình huống.

Quan sát lặp lại lần thứ hai nhiều lần nếu thấy cần thiết.

Sử dụng người có trình độ cao hơn quan sát lại để kiểm nghiệm lại kết quả.

Quan sát là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng giáo dục. Quan sát có thể tiến hành trong điều kiện tự nhiên với hoàn cảnh đang có thường ngày. Quan sát có thể thực hiện bằng cách tạo ra các tình huống khác thường, trong các hoạt động được tổ chức có định hướng, qua đó đối tượng tự bộc lộ bản chất rõ ràng hơn.

5. Xử lí

Tập hợp các phiếu quan sát, sắp xếp số liệu mã hóa, phân tích để đi đến một nhận định khoa học. (phần này được trình bày rõ ở phần phương pháp xử lý thông tin) Tóm lại phương pháp quan sát đối tượng giáo dục giúp ta có được những thông tin thực tiễn có giá trị. Quan sát cần được chuẩn bị cẩn thận, các tài liệu cần được xử lí khách quan.

Bài tập

1. Quan sát sân trường để đánh giá chủ trương của nhà trường và ý thức của học sinh về vệ sinh môi trường giáo dục.

2. Quan sát thầy (cô) giảng trong một tiết học để nhận xét các cách mà thầy (cô) thể hiện nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào bài học.

3. Quan sát một lớp học để có nhận xét về bầu không khí học tập của lớp ấy.

4. Quan sát để đánh giá sơ bộ chất lượng một buổi tự học của bạn mình (hoặc em mình, anh mình) ở kí túc xá (hoặc ở nhà).

5. Quan sát một buổi học của sinh viên một lớp học nào đó (hoặc lớp mình) để sơ bộ đánh giá kỉ cương học tập của lớp.

6. Quan sát việc học tập của sinh viên tại phòng đọc của thư viện để nhận xét về thư viện, về tình hình sinh viên sử dụng thư viện.

Chú ý: Cần tập trung vào nội dung của phiếu quan sát (tức là yêu cầu người quan sát ghi cái gì). Mỗi đề tài quan sát với mục đích trên, viết ít nhất bốn yêu cầu dưới dạng câu hỏi.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007

Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

“Like” us to know more!

Knowledge is power

Phương Pháp Quan Sát Dạy Môn Khoa Học Lớp 5 / 2023

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:– Bác Hồ đã từng dạy chúng ta: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Vì lẽ đó mà ngành giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta giao cho nhiệm vụ vô cùng quan trọng và rất vẻ vang đó là sự nghiệp trồng người.– Để thực hiện được mục tiêu của giáo dục Tiểu học và hướng học sinh phát triển toàn diện: Có đạo đức, có tri thức và có thể chất… Ngành giáo dục đã có những đổi mới về nội dung, chương trình cũng như phương pháp giảng dạy để góp phần cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.– Bên cạnh 02 môn Tiếng việt, Toán, môn Tự nhiên xã hội mà cụ thể là phân môn Khoa học chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Vì ngay từ lúc còn bé, thông qua học Khoa học ta đã ươm mầm cho trẻ tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, biết sống, tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh môi trường sống quanh trẻ. Qua đó, ta hình thành cho trẻ đầy đủ của một nhân cách của một con người mới – con người xã hội Chủ nghĩa: Năng động, sáng tạo, bản lĩnh, tài năng.– Để làm được điều đó, mỗi giáo viên chúng ta phải có những biện pháp, phương pháp dạy học như thế nào nhằm phát huy được tính tích cực, tự giác của các em, tiết học khoa học được thực hiện theo phương châm: “Nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả, tránh được tính chất nặng nề, áp đặt học sinh”. Đó chính là những trăn trở, suy nghĩ và qua quá trình dạy học tôi đạ rút ra được vài kinh nghiệm, phương pháp giúp các em tích cực học khoa học lớp 5 và cũng vì thế tôi đã chọn đề tài: ” SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT VÀO VIỆC GIẢNG DẠY MÔN KHOA HỌC LỚP 5″.B. NỘI DUNG:I/ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: – Việc sử dụng phương pháp quan sát trong học tập khoa học lớp 5 đã tạo ra cho giáo viên và học sinh rất nhiều thuận lợi lẫn khó khăn trong việc dạy và học.

1/ Thuận lợi: – Có khá đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ tốt cho tiết học với nhiều màu sắc, hình ảnh đẹp thu hút sự chú ý của học sinh. – Có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của các cấp trong việc thực hiện đổi mới giáo dục. – Học sinh Tiểu học rất thích quan sát, tìm hiểu về cuộc sống xung quanh, ham học hỏi, năng động. – Phương pháp quan sát được sử dụng có hiệu quả ở rất nhiều chương, nhiều bài của môn khoa học cụ thể: + Chương I: Con người và sức khỏe (Từ bài 01 đến bài 21)Phương pháp quan sát giúp học sinh nhận biết được đặc điểm của cơ thể người từ lúc sơ sinh đến lúc trưởng thành, biết được biểu hiện của một số bệnh thường gặp và cách phòng bệnh, phòng tránh bị xâm hại, phòng tránh tai nạn giao thông đường bộ thông qua tranh ảnh, SGK và thực hành thí nghiệm.+ Chương II: Vật chất và năng lượng ( Từ bài 22 đến nài 50)Quan sát giúp học sinh nêu được đặc điểm và ứng dụng của những đồ vật thường dùng trong cuộc sống. Qua đó, các em so sánh, tổng hợp, phân tích để phân biệt những chất, vật liệu làm ra các đồ dùng trong cuộc sống hằng ngày.+ Chương III: Thực vật và động vật ( Từ bài 51 đến bài 61)Quan sát giúp học sinh nhận biết được quá trình sinh sản và phát triển của thực vật, động vật cũng như sự sống của các loại động vật, thực vật mà giáo viên không phải giảng giải nhiều cho học sinh. + Chương IV: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên ( Từ bài 62 đến 70) Quan sát giúp học sinh biết được môi trường sống quanh trẻ, biết được những việc làm ảnh hưởng tốt xấu đến môi trường sống, biết được thực trạng môi trường sống hiện nay một cách dễ dàng.

2/ Khó Khăn: – Một số đồ dùng dạy học chưa phù hợp, chưa đáp ứng đầy đủ cũng như chưa mang lại hiệu quả cao cho tiết học. – Dù hầu hết học sinh Tiểu học rất thích quan sát mọi vật xung quanh song một số ít học sinh lại ngại suy nghĩ, tìm tòi, phân tích, tổng hợp để xử lý thông tin sau quan sát. – Một số em chưa trình bày được kết quả quan sát do khả năng diễn đạt của các em chưa được tốt lắm. – Cách hướng dẫn học sinh quan sát của giáo viên còn một số hạn chế nhất định. – Phương pháp quan sát vận dụng ở một số bài học cũng gặp phải

Sử Dụng Phương Pháp Quan Sát Giảng Dạy Môn Khoa Học Lớp 5”. / 2023

NỘI DUNG:

I/ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:

– Việc sử dụng phương pháp quan sát trong học tập khoa học lớp 5 đã tạo ra cho giáo viên và học sinh rất nhiều thuận lợi lẫn khó khăn trong việc dạy và học.

1/ Thuận lợi:

– Có khá đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ tốt cho tiết học với nhiều màu sắc, hình ảnh đẹp thu hút sự chú ý của học sinh.

– Có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của các cấp trong việc thực hiện đổi mới giáo dục.

– Học sinh Tiểu học rất thích quan sát, tìm hiểu về cuộc sống xung quanh, ham học hỏi, năng động.

– Phương pháp quan sát được sử dụng có hiệu quả ở rất nhiều chương, nhiều bài của môn khoa học cụ thể:

+ Chương I: Con người và sức khỏe (Từ bài 01 đến bài 21)

Phương pháp quan sát giúp học sinh nhận biết được đặc điểm của cơ thể người từ lúc sơ sinh đến lúc trưởng thành, biết được biểu hiện của một số bệnh thường gặp và cách phòng bệnh, phòng tránh bị xâm hại, phòng tránh tai nạn giao thông đường bộ thông qua tranh ảnh, SGK và thực hành thí nghiệm.

+ Chương II: Vật chất và năng lượng ( Từ bài 22 đến nài 50)

Quan sát giúp học sinh nêu được đặc điểm và ứng dụng của những đồ vật thường dùng trong cuộc sống. Qua đó, các em so sánh, tổng hợp, phân tích để phân biệt những chất, vật liệu làm ra các đồ dùng trong cuộc sống hằng ngày.

+ Chương III: Thực vật và động vật ( Từ bài 51 đến bài 61)

Quan sát giúp học sinh nhận biết được quá trình sinh sản và phát triển của thực vật, động vật cũng như sự sống của các loại động vật, thực vật mà giáo viên không phải giảng giải nhiều cho học sinh.

+ Chương IV: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên ( Từ bài 62 đến 70)

Quan sát giúp học sinh biết được môi trường sống quanh trẻ, biết được những việc làm ảnh hưởng tốt xấu đến môi trường sống, biết được thực trạng môi trường sống hiện nay một cách dễ dàng.

2/ Khó khăn:

– Một số đồ dùng dạy học chưa phù hợp, chưa đáp ứng đầy đủ cũng như chưa mang lại hiệu quả cao cho tiết học.

– Dù hầu hết học sinh Tiểu học rất thích quan sát mọi vật xung quanh song một số ít học sinh lại ngại suy nghĩ, tìm tòi, phân tích, tổng hợp để xử lý thông tin sau quan sát.

– Một số em chưa trình bày được kết quả quan sát do khả năng diễn đạt của các em chưa được tốt lắm.

– Cách hướng dẫn học sinh quan sát của giáo viên còn một số hạn chế nhất định.

– Phương pháp quan sát vận dụng ở một số bài học cũng gặp phải một số khó khăn, cụ thể như sau:

+ Bài 04: Cơ thể chúng ta được hình thành như thế nào?

Kiến thức về sự sinh sản ở người rất trừu tượng đối với học sinh lớp 5. do đó rất khó khăn cho học sinh để nêu được quá trình thụ tinh ở ngoài nếu các em chỉ được quan sát các hình ở SGK như hình: tinh trùng gặp trứng, sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử,…

II. NỘI DUNG VÀ ĐỀ TÀI:

1/ Cơ sở lý luận:

– Khoa học 5 là một môn học được xây dựng trên quan điểm tích hợp các nội dung của Khoa học tự nhiên (Vật lý, hóa học, sinh học) và khoa học về sức khỏe.

– Nội dung môn khoa học 5 được lựa chọn thích hợp gần gũi và có ý nghĩa với học sinh, giúp học sinh có thể vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống.

– Môn khoa học 5 giúp hình thành và phát triển các kỹ năng trong học tập cho học sinh như:

Kỹ năng quan sát, dự đoán, giải thích các sự vật, hiện tượng tự nhiên và kỹ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống.

– Thông qua quan sát sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng trên một cách hiệu quả.

– Quan sát là xem để thấy, nhìn để biết rõ được sự vật, hiện tượng nào đó rồi nhận định.

– Phương pháp quan sát là phương pháp dạy học sinh cách sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có mục đích các sự vật hiện tượng diễn ra trong tự nhiên và trong cuộc sống mà không có sự can thiệp nào vào quá trình diễn biến của sự vật, hiện tượng đó.

2/ Nội dung và biện pháp thực hiện:

– Như chúng ta đã biết muốn học tập có kết quả, giáo viên cần giúp trẻ sử dụng tối đa các giác quan khác nhau, đặc biệt là thị giác và thính giác đóng vai trò rất quan trọng trong việc học khoa học cũng như trong học tập và sinh hoạt hàng ngày.

– Xưa nay, người ta vẫn thường hay nói: “Tôi nghe và tôi quên, tôi nhìn và tôi nhớ, tôi làm và tôi hiểu”. Thật vậy, nếu chỉ được nghe, trong thoáng chóc ta sẽ quên ngay vấn đề được nghe (Nếu ta ghi nhớ vấn đề đó không chủ định) song nếu ta quan sát sự vật hiện tượng ta sẽ nhớ lâu hơn. Và ta sẽ thông suốt được vấn đề nếu ta vừa được quan sát vừa được thực hành.

– Do vậy, trong giáo dục học sinh, đặc biệt là học sinh Tiểu học đang phát triển về thể chất, tâm sinh lý, đặc điểm này làm cho các em mau nhớ, thậm chí nhớ lâu hơn và ngược lại cũng rất mau quên. Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cần thiết kế bài dạy, thiết kế các hoạt động học tập của các em theo quan điểm tích cực hóa hoạt động nhận thức của các em tức là giáo viên phải dạy học sinh biết cách học, dạy học sinh tự học. Mà phương pháp dạy học theo hướng tích cực có rất nhiều phương pháp và mỗi phương pháp lại có ưu điểm hạn chế riêng: Không có phương pháp dạy học nào là vạn năng nếu ta cô lập phương pháp đó với các phương pháp dạy học khác. Vì thế để phát huy các ưu điểm và khắc phục nhược điểm của từng phương pháp đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo lựa chọn và sử dụng các phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng môn, từng chương, từng bài, từng hoạt động học tập.

– Ở phạm vi đề tài này do nội dung đề tài và tiến trình tiết dạy là 02 phần có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau, do vậy khi sử dụng phương pháp quan sát tôi đã vận dụng như sau:

2.1 Xác định và lựa chọn đối tượng quan sát:

– Phương pháp quan sát là phương pháp dạy học chủ đạo trong quá trình giảng dạy khoa học 5. mà quan sát lại rất cần đối tượng quan sát. Đối tượng quan sát của khoa học 5 không chỉ là các sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội như: Tranh, ảnh, sơ đồ, mô hình,… mà còn là các hiện tượng tự nhiên ngoài xã hội, trong phòng thí nghiệm. Nói đến đối tượng quan sát tức ta đã nói đến trang thiết bị, đồ dùng dạy học. Trong thực tế giảng dạy có một số đồ dùng dạy học chưa phục vụ tốt cho tiết dạy. Do vậy, việc lực chọn đồ dùng dạy học – đối tượng quan sát cho học sinh trong học tập cũng là một vấn đề băn khoăn cho mỗi giáo viên.

– Do đó để giảng dạy có hiệu quả, giáo viên cần chú ý lựa chọn đồ dùng dạy học sao cho phù hợp và phát huy hết hiệu quả của quan sát. Các đồ dùng dạy học nào được cung cấp giúp tiết học đạt hiệu quả giáo viên cần hướng dẫn học sinh khai thác hết công suất của đồ dùng, những đồ dùng dạy học nào không phù hợp hoặc chưa đạt hiệu quả, giáo viên phải suy nghĩ sửa chữa và tự làm thêm để phục vụ cho học sinh khi quan sát. Cần lưu ý, đồ dùng dạy học giúp học sinh quan sát phải to, rõ, có màu sắc hình ảnh đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh.

+ Ví dụ: bài 36 : Hỗn hợp

– Đối tượng quan sát của học sinh trong bài này là các chất đơn giản trong cuộc sống sau đó, được đem trộn lẫn vào nhau để tạo thành hỗn hợp như sau: Hỗn hợp gia vị, hỗn hợp cám với gạo, gạo với nước… nhưng nếu giáo viên không cho học sinh quan sát để nhận biết từng chất, đặc điểm của từng chất thật trong khi thực hành thí nghiệm và quan sát kết quả thí nghiệm thì rất khó để học sinh biết được thế nào là hỗn hợp và kể tên các hỗn hợp mà học sinh biết. Vì những chất này rất gần gũi với học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh chuẩn bị theo nhóm mang đến lớp các vật giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị để các em cùng quan sát, làm thí nghiệm sẽ giúp các em đạt hiệu quả hơn là đọc thông qua tin quan sát tranh ở SGK.

2.2 Khéo léo gợi mở cho học sinh để mỗi em đều biết phân tích, suy nghĩ, tìm tòi, tổng hợp và xử lý thông tin sau quan sát:

Học sinh Tiểu học do đặc điểm tư duy của các em còn hạn chế nên một số ít học sinh rất ngại tư duy. Điều này thể hiện rõ ở việc một số em còn nhút nhát, chậm chạp khi phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin để rút ra kiến thức. Vì khả năng so sánh, phân tích tổng hợp của mỗi học sinh khác nhau sẽ khác nhau. Đặc biệt những học sinh trung bình, yếu khả năng này rất chậm và rất hạn chế.

– Do vậy, để phát huy tính tích cực của mỗi học sinh, giúp học sinh tự giác học tập và quan sát thông qua các câu hỏi gợi mở sát vấn đề quan sát và chỉ là người giúp đỡ học sinh khi cần.

– Hơn thế giáo viên có thể tập cho học sinh dự đoán kết quả quan sát theo ý riêng của từng cá nhân, rồi quan sát và ghi chép cụ thể kết quả quan sát qua các gợi ý từ hệ thống câu hỏi của giáo viên để đối chiếu dự đoán và rút ra kiến thức. Trong và sau khi quan sát học sinh sẽ được trao đổi với bạn trong nhóm, về vấn đề đang quan sát có thể đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi cho nhau. Qua quá trình học tập lẫn nhau trong nhóm sẽ dần làm cho học sinh tự tin hơn, có cơ hội để các em thể hiện tự phát triển đồng thời các em cũng được phân tích, so sánh, tổng hợp và xử lý thông tin đã thu nhập được để cùng tìm ra kiến thức.

Cụ thể: bài 60: Sự nuôi và dạy con của một số loài thú

+ Giáo viên đưa câu hỏi gợi ý cho học sinh.

– Hình 1a chụp cảnh gì? Hình 1b chụp cảnh gì?

– Hổ thường sinh sản vào mùa nào?

– Hổ mẹ đẻ mỗi lứa bao nhiêu con?

– Vì sao hổ mẹ không rời hổ con suốt tuần đầu sau khi sinh?

– Khi nào hổ mẹ dạy con săn mồi?

– Khi nào hổ con có thể sống độc lập?

+ Hay để học sinh có sự hứng thú nếu có thể tôi sẽ tìm và tổ chức cho học sinh xem một đoạn băng hình về sự sinh sản và nuôi dạy con của hổ.

Sau đó gợi ý cho học sinh những câu hỏi trên giúp học sinh phân tích, xử lý thông tin đã quan sát được rồi cho học sinh trình bày kết quả trước nhóm.

Học sinh nhận xét, bổ sung. Giáo viên chốt ý.

+ Ở sự sinh sản và nuôi dạy con của hươu giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động như ở sự sinh sản và nuôi dạy con của hổ.

2.3 Rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh với nhiều hình thức:

Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp rất quan trọng trong mọi con người chúng ta. Để giao tiếp thành công đòi hỏi mỗi chúng ta phải có nghệ thuật. Nghệ thuật giao tiếp được thể hiện rõ ở từng lời nói hay, trôi chảy, nhẹ nhàng, có ngữ điệu phù hợp kết hợp với cử chỉ nét mặt tươi vui, tự tin, điệu bộ thích hợp. Do vậy, ta cần có một vốn kiến thức dồi dào, phong phú và có hình thức khá năng động, duyên dáng. Song không phải ai cũng tạo được cho mình những tiêu chuẩn trên để giao tiếp đạt hiệu quả. Muốn làm được điều này đòi hỏi phải có một quá trình kiên trì tập luyện. Với học sinh Tiểu học, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của các em rất hạn chế, đặc biệt những học sinh chậm chạp, nhút nhát thì vấn đề giao tiếp lại khó rất nhiều lần. Vì thế, trong quá trình học sinh học tập ở trường, giáo viên cần chú ý và rèn luyện cho học sinh.

– Hoạt động giao tiếp của học sinh thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi:

Trong học tập, sinh hoạt, vui chơi, cuộc sống hằng ngày. Giáo viên có thể luyện tập cho học sinh bằng nhiều hình thức như: Giúp học sinh trao đổi, bàn bạc về một vấn đề nào đó trong bài học, học sinh hỏi đáp lẫn nhau, hỏi đáp giữa thầy và trò và ngược lại, hay tập cho học sinh nói trôi chảy một đoạn văn, đọc diễn cảm đoạn văn, bài văn…

– Với khoa học 5, qua phương pháp quan sát giáo viên cũng có thể giúp học sinh phát triển khả năng giao tiếp của mình qua việc học sinh trình bày kết quả sau quan sát. Cụ thể giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh học tập với nhau, học sinh sẽ vận dụng các kỹ năng đọc diễn cảm nói trôi chảy, lưu loát ở các môn học khác để được tự do trao đổi với nhau về những điều đã biết hoặc chưa biết. Chính sự tương tác lẫn nhau trong học tập như thế các em sẽ được học hỏi ở bạn: Những em giao tiếp tốt sẽ giúp những em ngại giao tiếp dần dần tự tin hơn và giao tiếp ngày càng có hiệu quả.

– Ngoài ra giáo viên cần phải gợi mở hướng dẫn học sinh giúp các em được nói nhiều hơn, lúc đầu có thể các em chỉ nói được một câu ngắn, cấu trúc câu chưa được rõ ràng, ngữ điệu chưa phù hợp song dần dần các em sẽ nói được câu dài hơn có cấu trúc ngữ pháp đúng, diễn đạt câu hay qua việc giáo viên thường gọi học sinh phát biểu xây dựng bài hay học sinh được tập trình bày một vấn đề nào đó,…

– Mặt khác, trong môi trường lớp học giáo viên cần tạo cho học sinh không khí học tập tự nhiên, thoải mái, có sự gần gũi thầy – trò để học sinh được tự tin hơn không nhút nhát trước đám đông. Có như thế học sinh nào cũng có thể nêu được suy nghĩ của mình và trao đổi với mọi người kết quả mà mình quan sát được và cũng vì vậy kỹ năng giao tiếp của các em sẽ phát triển tốt hơn.

III. KẾT QUẢ:

– Thông qua việc sử dụng phương pháp quan sát trong dạy phân môn khoa học 5, tôi nhận thấy hiệu quả học tập của các em cao hơn, các em nhớ lâu hơn những vấn đề, kiến thức cần tìm hiểu, tiếp thu. Tiết học khoa học nhẹ nhàng hơn, sinh động hơn, đầu óc của các em được thoải mái và hưng phấn hơn, các em ham thích học hơn, tích cực học tập hơn và giáo viên không phải nói nhiều, làm việc nhiều.

Cụ thể chất lượng học sinh lớp tôi (có 20 em trong đó có 08 em nữ) qua môn học này như sau:

Thời gian

Sỉ số HS

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Đầu năm học

20

6

14

/

Giữa học kỳ I

20

1

7

12

/

Cuối học kỳ I

20

2

8

10

/

Giữa học kỳ II

20

3

10

7

/

Cuối học kỳ II

20

8

5

7

/

IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy bản thân tôi đã đóng góp nhặt được một số kinh nghiệm hữu ích như sau:

1. Sử dụng phương pháp quan sát phải phối kết hợp khéo léo với các phương pháp dạy học khác.

2. Xây dựng môi trường học tập thân thiện, tạo sự tự tin, cởi mở cho học sinh.

3. Phải giúp và hướng dẫn học sinh trong và sau khi quan sát một cách khéo léo, cụ thể.

4. Chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học (Đối tượng quan sát) cho học sinh đẹp, đầy đủ, sinh động.

5. Tăng cường sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các học sinh để các em cùng được học tập, rèn luyện.

6. Tổ chức các hoạt động học tập, các hình thức quan sát phong phú, đa dạng, có hiệu quả.

Người viết

Nguyễn Thị Tuyết

Báo Cáo Phương Pháp Quan Sát / 2023

Published on

1. HỌC VIỆN BÁO CHÍ – TUYÊN TRUYỀN KHOA PHÁT THANH TRUYỀN HÌNHBẢN BÁO CÁO MÔN LAO ĐỘNG NHÀ BÁO Bài tập về phương pháp quan sát NỘI DUNG BẢN BÁO CÁO QUAN SÁT NGƯỜI ĐI BỘ KHÔNG CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG

3. 2. Kết quả của quá trình quan sát – Những con đường luôn đông đúc người qua lại, tấp nập xe cộ. – Có vạch dành cho người đi bộ và có cầu vượt cho người đi bộ – Vào những giờ cao điểm ở đó luôn là điểm nóng giao thông – Có giải phân cách giữa hai làn đường – Đối tượng tham gia đa phần là học sinh, sinh viên – Có đèn báo cho người đi bộ sang đường – Cảnh sát giao thông ở khá gầnLiệt kê – Người qua đường ngang nhiên vi phạm luật an toàn giao thông với nhiều hành vi: sang đường khi đèn báo còn đỏ; trèo qua giải phân cách; không đi trên cầu vượt cho người đi bộ mà leo qua; có vạch, lối đi riêng nhưng họ vẫn không chịu đi đúng phần đường của mình dù chỉ cách có vài bước….Chọn lọc hình Từ những quan sát trên có thể tổng hợp, chọn lọcảnh ra những hình ảnh tiêu biểu: – Qua đường sai nơi quy định, hơn thế còn trèo qua dải phân cách – Vạch cho người đi đường ngay bên cạnh nhưng vẫn không đi đúng – Đối tượng chính tham gia và vi phạm là giới trẻ, học sinh, sinh viên Sang đường khi đèn báo cho người đi bộ vẫn còn màu đỏ

5. ( người điều khiển xe đạp, xe máy…); phỏng vấn cảnh sát giao thông3. Tài kiệu tham khảo ***Theo điều 32, chương I_Những quy định chung trong Luật giaothông đường bộ được sửa đổi và bổ sung năm 2008 (theohttp://www.vra.gov.vn ): 1. Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trườnghợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mépđường. 2. Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi cóđèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đibộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn. 3. Trường hợp không có đèn tín hiệu, không cóvạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phảiquan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịutrách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường. 4. Người đi bộ không được vượt qua dải phân cách,không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vậtcồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người vàphương tiện tham gia giao thông đường bộ. *** Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thôngđường bộ số 34 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 20 – 5 tới đây (theo http://www.tienphong.vn )Ở nội thành những đô thị loại đặc biệt, chế tài của Nghị định mới sẽ cảnhcáo hoặc phạt tiền từ 40.000 đến 60.000 đồng với một trong các hành viđi bộ: Không đúng phần đường quy định; không chấp hành hiệu lệnhhoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường; không chấphành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, người kiểm soát giaothông.Phạt tiền từ 60.000 đến 80.000 đồng với các hành vi: Mang, vác vật cồngkềnh gây cản trở giao thông; vượt qua dải phân cách; đi qua đường khôngđúng nơi quy định hoặc không bảo đảm an toàn; đu, bám vào phương tiệnPhạt tiền từ 80.000 đến 120.000 đồng đối với người đi bộ đi vào đườngcao tốc, trừ người phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Quan Sát Khoa Học – Kipkis / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!