Đề Xuất 5/2022 # Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay # Top Like

Xem 11,187

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay mới nhất ngày 21/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 11,187 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư
  • Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    A. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài.

    Sau hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu

    như kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín Việt

    Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

    Tuy nhiên, với xuất phát điểm từ nông nghiệp nên nền kinh tế nước ta có

    quy mô nhỏ, quá trình hòa nhập quốc tế đang gặp phải nhiề khó khăn.Vì vậy,để

    khắc phục thực trạng yếu kém và phát huy thế mạnh hiện có nước ta đã thực hiện

    quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

    Để thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nước ta đã huy

    động các yếu tố phát triển với nhiều lĩnh vực khác nhau.Trong đó, việc vận dụng

    các quy luật kinh tế mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư đã và đang là một

    hướng áp dụng có hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng

    XHCN ở nước ta hiện nay.

    Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theo như

    V.I.Lênin nhận xét thì ” Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết

    kinh tế của Mác “.Gí trị thặng dư đã mang lại những bước phát triển cho nước ta

    trong giai đoạn hiện nay.Tính tất yếu khách quan về việc vận dụng giá trị thặng

    dư vào Việt Nam đã được thông qua trong các văn kiện Đại hội của Đảng nhưng

    trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại các thành kiến với các thành phần

    kinh tế tư nhann, tư bản coi thành phần kinh tế này là bốc lột và nhận thức này

    không chỉ xảy ra với một số cán bộ là Đảng viên làm công tác quản lý mà còn

    xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta.

    Trong bối cảnh đó, việc học tập và nghiên cứu môn kinh tế chính trị mà đặc

    biệt là học thuyết giá trị thặng dư sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong

    quá trình phát triển các thành phần kinh tế cũng nư quá trình vận dụng giá trị

    thặng dư vào công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.Với

    mong muốn có thể khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    1

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    lý luận và cuộc sống và góp phần hình thành tư duy kinh tế mới, tạo điều kiện

    thuận lợi nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiếp hóa – hiện đại hóa.

    Với những lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài: ” Phương pháp sản xuất giá

    trị thặng dư và quá trình vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở

    nước ta hiện nay ” làm tiểu luận.

    2. Mục đích nghiên cứu.

    – Nhằm nâng cao hiểu biết về học thuyết giá trị thặng dư.

    – Khẳng định tầm quan trọng của việc vận dụng giá trị thặng dư vào công

    cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

    3. Đối tượng nghiên cứu.

    – Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và quá trình vận dụng vào công

    cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

    4. Phương pháp nghiên cứu.

    – Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng xem xét các quá trình kinh tế

    trong mối liên hệ tác động qua lại, luôn vận động, phát triển không ngừng và gắn

    điều kiện lịch sử cụ thể.

    – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: thu thập, phân tích, xử lý và tổng hợp

    tài liệu, so sánh, lôgic – lịch sử, trừu tượng hóa khoa học.

    5. Cấu trúc của đề tài.

    – Ngoài phần mở đầu và phần tài liệu tham khảo thì đè tài gồm có hai

    chương.

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ, PHƯƠNG

    PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT ĐỐI VÀ GIÁ TRỊ THẶNG

    DƯ TƯƠNG ĐỐI.

    Chương 2: PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT

    ĐỐI VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TƯƠNG ĐỐI ĐƯỢC VẬN DỤNG VÀO

    CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN

    NAY.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    2

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    B. NỘI DUNG

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ,

    PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT ĐỐI

    VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TƯƠNG ĐỐI.

    1.1. Quan điểm về giá trị thặng dư.

    Học thuyết về giá trị thặng dư là một trong những phát kiến lớn nhất mà

    Mác đã đóng góp cho nhân loại và những giá trị đó nó vẫn tồn tại cho đến ngày

    nay.Tuy nhiên, lịch sử nhân loại không ngừng phát triển theo dòng thác của thời

    gian, xu thế phát triển đó gắn với những thách thức và cơ hội không lường

    trước.Vì vây, học thuyết về giá trị thặng dư cần có quá trình nghiên cứu và tìm

    hiểu để có thể áp dụng vào hoàn cảnh mới hiện nay.

    Trước Mác, ngay cả những nhà kinh tế tư bản lỗi lạc như Ricarđo cũng

    không thể giả thích được vì sao trao đổi hàng hóa theo đúng quy luật mà nhà tư

    bản vẫn thu được lợi nhuận.Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất

    hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác đã chứng minh một cách khoa

    học rằng trong quá trình sản xuất hàng hóa lao động cụ thể của công nhân chuyển

    giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động

    trừu tượng của người đó thêm vào sản phẩm một giá trị mới lớn hơn sức lao động

    của mình.Khoản lớn hơn đó, tức là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao

    động , C.Mác gọi đó là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt.

    Khi nói đến rư bản người ta thường liên tưởng đến tiền, đến tư liệu sản xuất,

    nhưng không phải như vậy, mà tư bản là quan hệ sản xuất hàng hóa, là mối quan

    hệ sản xuất giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân làm thuê, tư bản là giá trị

    tạo ra giá trị thặng dư bằng cách bốc lột lao động không công của công nhân làm

    thuê.Vì vậy,điều này lý giải mục đích của giai cấp tư bản chính là giá trị thặng

    dư.Nhưng để sản xuất ra giá trị thặng dư trước hết, nhà tư bản phải sản xuất ra

    hàng hó có giá trị sử dụng vì giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là

    vật mang giá trị và giá trị thặng dư.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    3

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Đây cũng là quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tư liệu

    sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư. Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được

    kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong quá trình sản

    xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân lao động làm

    thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao

    động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần

    lớn hơn đó là giá trị thặng dư.

    Khi thu được giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ chia nó làm nhiều phần, sử dụng

    vào những mục đích khác nhau, trong đó một phần rất lớn dùng mua tư liệu sản

    xuất, để tái mở rộng sản xuất nhằm đem lại nhiều giá trị thặng dư hơn.

    1.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư

    tương đối

    1.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư có được

    nhờ kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong điều

    kiện năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không

    thay đổi.

    Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu của

    chủ nghĩa tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao động

    thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường thủ

    công. Đó là sự gia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.

    Bởi phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài

    ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động,

    giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu là không thay đổi.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và

    4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình độ bóc lột của nhà tư bản là

    100%. Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian

    tất yếu không thay đổi, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên, trình độ bóc lột tăng

    lên đạt 150% (m’ = 150%)

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    4

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài

    ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các

    nhà tư bản. Nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định. Giới hạn trên của

    ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định. Dưới chủ

    nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại

    trong cơ thể sống của con người. Vì vậy, ngoài thời gian người công nhân làm

    việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp, người công nhân đòi hỏi còn phải có thời

    gian để ăn uống nghỉ ngơi nhằm tái sản xuất ra sức lao động. Mặt khác, sức lao

    động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi

    hỏi còn phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn

    giáo của mình. Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh

    đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày. Giới hạn dưới của

    ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao

    động thăng dư bằng không. Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn

    thời gian lao động tất yếu nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh

    thần của người lao động.

    Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh

    vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    1.2.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối gặp

    phải thì nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    vào sản xuất.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư có được

    nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu chủ yếu bằng cách tăng năng suất lao

    động trong những ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt nhờ đó, mà hạ thấp giá trị

    sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu, thời gian lao động thặng dư

    tăng lên trong điều kiện độ dài ngày lao động và cường độ không thay đổi.

    Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao

    động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân.

    Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    5

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì

    các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất

    lao động, bó lột giá trị thặng dư tương đối. Giá trị thặng dư tương đối là giá trị

    thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao

    năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thăng dư lên ngay

    trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ. Vì giá trị sức lao động được

    quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao

    động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh

    hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động. Điều đó chỉ được thực hiện bằng

    cách tăng năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và

    các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian lao động tất

    yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó tỷ suất giá trị thặng dư là 100%.

    Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động không thay đổi, thời gian lao

    động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thời gian lao động thặng

    dư đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng lên là 166%. (Đồng nghĩa

    với trình độ bóc lột tăng lên).

    Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất

    lao động tăng lên nhanh chóng. Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các công cụ

    thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực tiếp sử dụng

    bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi

    lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế đó. Vì thế, việc sử

    dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị tư liệu

    sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động

    tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá

    trị thặng dư hơn. Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng

    cao do các cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công

    nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử

    loài người, nó khác với cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các

    nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không đơn thuần về công cụ sản xuất như

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    6

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    cách mạng khoa học, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người

    bước sang một nền văn minh mới – nền văn minh trí tuệ.

    Một dạng của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch, đây là

    cái đích hướng tới của các nhà tư bản. Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng

    dư thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp

    hơn giá trị xã hội của nó. Xét trong từng trường hợp giá trị thặng dư siêu ngạch là

    hiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ đó đã được phổ biến rộng rãi,

    nhưng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một hiện tượng thường xuyên. Theo

    đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là kì vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh

    nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất

    lao động, làm cho năng suất xã hội tăng lên nhanh chóng. C.Mác gọi giá trị thặng

    dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị

    thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng

    suất lao động.

    1.2.3 Mối quan hệ giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Trên cơ sở nghiên cứu hai phương pháp sản xuất trong giá trị thặng dư ta

    thấy thực ra, hai phương pháp giá trị thặng dư không hề bị tách rời nhau, mà chỉ

    trong mỗi thời kì khác nhau sự vận dụng hai phương pháp là nhiều hay ít mà thôi,

    trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản thì phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối

    được sử dụng nhiều hơn so với phương pháp giá trị thặng dư tương đối, còn trong

    thời kì sau của chủ nghĩa tư bản thì ngược lại.

    Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc nhà tư bản kết hợp tốt hai phương pháp

    sản xuất giá trị thặng dư đã tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư

    bản, bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày

    càng nhiều sức lao động làm thuê. Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao động

    chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường độ lao động

    của người công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên

    khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục buộc người

    công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho cường độ lao động tăng

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    7

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    lên, năng suất lao động tăng, ngoài ra nền sản xuất hiện đại áp dụng tự động hoá

    cao cường độ lao động người công nhân tăng lên với hình thức mới đó là cường

    độ lao động thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp, tạo ra sản phẩm

    chứa nhiều chất xám có giá trị lớn.

    Vì vậy, sản xuất tư bản chủ nghĩa trong diều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh

    vi của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất

    giá trị thặng dư tương đối.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    8

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Chương 2: PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

    TUYỆT ĐỐI VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TƯƠNG ĐỐI ĐƯỢC

    VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA

    HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

    2.1 Quan điểm của Đảng về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vận dụng

    vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa.

    Hoà cùng với xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, đất nước

    chúng ta cũng đang song song thực hiện nhiệm vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

    Trên con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Việt Nam có rất nhiều mục tiêu

    phải đạt được, nhiều nhiệm vụ phải hoàn thành. Với xuất phát điểm là một nước

    nông nghiệp lạc hậu, chúng ta gặp khá nhiều khó khăn bởi sự nghèo nàn về cơ sở

    vật chất, sự yếu kém trong công nghệ sản xuất, năng suất lao động thấp, . Trong

    khi đó Chủ nghĩa xã hội nhắm tới việc xây dựng một xã hội giàu mạnh, công

    bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì thế xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho Chủ

    nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản của đất nước ta. Tuy nhiên, để đẩy nhanh việc tạo

    dựng nền tảng đó cần có phương tiện, cách thức thực hiện hữu hiệu, đó là Công

    nghiệp hoá và Hiện đại hoá.

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khoá

    VII của Đảng ta (1994) là: ” quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt

    động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động

    thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công

    nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của

    công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội

    cao”. Và tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường

    lối đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp

    có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến

    bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    9

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công

    bằng, văn minh”.

    Tại Đại hội này, Đảng ta cũng xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2022

    đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” và một trong những biện

    pháp để thực hiện là tiếp tục áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào

    các lĩnh vực kinh tế ở nước ta. Vai trò của Công nghiệp hoá và hiện đại hoá tỏ ra

    hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng đổi mới toàn diện đất nước, cho

    nên Nhà nước ta cần hoạch định chiến lược, bước đi rõ ràng để tiến hành công

    nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng con đường tối ưu. Sau 20 năm đổi mới, chúng ta

    cần nhìn lại những điều đã và đang làm được cũng như những tồn tại cần giải

    quyết trong từng ngành cụ thể để có được cách nhìn nhận đúng đắn, thấy được

    những tồn tại yếu kém còn mắc phải cũng như có những biện pháp khắc phục

    nhằm đạt được mục tiêu cao đẹp của đát nước.

    2.2 Thực trạng của quá trình vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng

    dư vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

    2.2.1 Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay.

    Học thuyết giá trị thặng dư của Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương

    thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phát hiện giá trị thặng dư làm nổ ra cuộc cách

    mạng thực sự trong toàn bộ khoa học kinh tế, vũ trang cho giai cấp vô sản thứ vũ

    khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Ngày nay, từ quan niệm

    đổi mới về chủ nghĩa xã hội, học thuyết này còn có ý nghĩa quan trọng trong sự

    nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở nước

    ta, việc nghiên cứu, khai thác và học tập những di sản lý luận của Mác trở thành

    việc làm cần thiết trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã

    hội chủ nghĩa.

    Hướng khai thác lý luận giá trị thặng dư tập trung vào những nội dung sau

    đây:

    Một là, Khai thác những di sản lý luận trong học thuyết này về nền kinh tế

    hàng hoá.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    10

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu

    nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Cho nên,

    chính Mác chứ không phải ai khác, là một trong những người nghiên cứu sâu sắc

    về kinh tế thị trường. Thực chất của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng

    hoá phát triển ở trình độ cao. Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều

    thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo

    định hướng xã hội chủ nghĩa và hiện nay gọi là kinh tế thị trường định hướng xã

    hội chủ nghĩa. Mặc dù nền kinh tế thị trường ở nước ta có tính đặc thù của nó,

    song đã là sản xuất hàng hoá thì ở đâu cũng đều có những đặc tính phổ biến,

    cũng phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư. Điều khác nhau chỉ là trong những

    quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã hội

    khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất

    tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu những phạm trù, công cụ và việc sử dụng chúng

    trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ di sản lý luận của

    Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn.

    Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã phát triển nền kinh tế thị trường,

    qua thị trường, giai cấp tư sản mới mua được tư liệu sản xuất và sức lao động,

    mới bán được hàng hoá và do đó bóc lột được giá trị thặng dư do người lao động

    tạo ra. Trong nền kinh tế thị trường, dưới tác động của các quy luật kinh tế, trong

    đó có quy luật giá trị thặng dư, các nhà tư bản-các doanh nghiệp đã không ngừng

    ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng

    suất lao động, tích cực hợp lý hoá quá trình sản xuất, tiết kiệm các yếu tố đầu

    vào, tìm hiểu nhu cầu thị trường… để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Các tiềm năng về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý sản xuất kinh

    doanh… được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ, từ đó làm cho nền kinh tế trở nên

    năng động. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

    nước ta, trong khu vực kinh tế nhà nước và tập thể, chúng ta cần vận dụng các

    phương pháp sản xuất giá trị thặng dư mà các nhà tư bản đã sử dụng để phát triển

    sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với thực hiện phân

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    11

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    phối theo lao động và hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh

    thần cho người lao động.

    Hai là, làm rõ hơn bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản ngay trong thành

    phần kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay. Qua nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư,

    chúng ta phải khẳng định rằng, sự giàu có của nhà tư bản là kết quả của sự bóc

    lột giá trị thặng dư. Có người cho rằng, nhà tư bản thu nhiều lợi nhuận là do lao

    động quản lý, lao động khoa học – kỹ thuật của nhà tư bản. Thực tế, trong thời kỳ

    đầu của chủ nghĩa tư bản, nhiều nhà tư bản đồng thời là giám đốc, thậm chí còn

    là cán bộ khoa học kỹ thuật nữa. Những chức năng quản lý và khoa học kỹ thuật

    ấy thuộc phạm trù lao động, không thuộc phạm trù tư bản. Nếu nhà tư bản kiểm

    cả chức năng quản lý và khoa học kỹ thuật thì trong thu nhập của nhà tư bản sẽ

    bao gồm giá trị mới do lao động quản lý và khoa học kỹ thuật tạo ra cộng với giá

    trị thặng dư chiếm đoạt không phải trả công.

    Khi phê phán luận điểm của nhà kinh tế chính trị học chúng tôi cho rằng lợi

    nhuận doanh nghiệp là tiền công trả cho lao động quản lý của nhà tư bản, C.Mác

    đã chỉ rõ: Chỉ cần dành ra một khoản thù lao nhỏ mọn là nhà tư bản có thể trút

    gánh nặng quản lý đó cho người giám đốc làm thuê nhưng nhà tư bản vẫn thu

    được lợi nhuận doanh nghiệp. Ở những vùng công nghiệp của nước Anh, sau mỗi

    lần khủng hoảng, một số khá nhiều những cựu chủ xưởng với một số tiền thù lao

    nhỏ nhặt đã đứng ra trông nom những nhà máy trước đây là của chính họ, trông

    nom với tư cách là những người quản lý, phục vụ cho những chủ mới, thường là

    chủ nợ của họ. Ngày nay, trong các công ty và xí nghiệp tư bản hiện đại, chức

    năng quan lý thường được giao cho các managers – những người làm thuê cao

    cấp, nhưng các chủ sở hữu tư bản vẫn thu những khối lượng lợi nhuận khổng lồ.

    Như vậy, khi quy mô kinh doanh ngày càng lớn, nhà tư bản đã hiện rõ sự bóc lột

    của mình đó là có một khoản lợi nhuận lớn nhưng không phải bỏ sức lao động

    mới có được mà chỉ cần là người sở hữu tư bản.

    Ba là, nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không phải là để kỳ thị thành

    phần kinh tế tư bản tư nhân mà để khuyến khích nó phát triển, bởi vì có hiểu rõ

    bản chất của nó mới có chính sách đúng đắn với nó. Chẳng hạn, hiểu rõ mục đích

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    12

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    và động cơ của sản xuất TBCN là thu càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, thì

    muốn khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển và thu hút vốn

    đầu tư từ nước ngoài chúng ta phải có chính sách như thế nào để họ thu được lợi

    nhuận thoả đáng, thậm chí cao hơn lợi nhuận thu được khi học đầu tư vào các

    nước láng giềng của ta. Mặt khác, phải có biện pháp điều tiết bớt sự chênh lệch

    quá đáng giữa người giàu và người nghèo, đồng thời có các chính sách xã hội để

    giảm bớt bất công.

    Bốn là, khai thác những luận điểm của Mác nói về qúa trình sản xuất, thực

    hiện, phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cùng những biện pháp,

    thủ đoạn nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà tư bản nhằm góp phần

    vào việc quản lý các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế nước

    ta sao cho vừa có thể khuyến khích phát triển, vừa hướng các thành phần kinh tế

    này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.

    Việc quản lý thành phần kinh tế tư nhân, cụ thể là bộ phận kinh tế tư bản tư

    nhân nhằm hạn chế việc bóc lột người lao động quá mức như kéo dài thời gian

    lao động vượt quá thời gian quy định của luật lao động mà không có sự thống

    nhất của người lao động, việc cắt xén tiền công, cắt xén các chế độ của người lao

    động như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn

    lao động. Việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư sẽ cho chúng ta thấy rằng

    chúng ta thừa nhận có sự bóc lột trong khu vực kinh tế tư nhân nhưng việc bóc

    lột này không thể như trong chế độ tư bản chủ nghĩa được mà người lao động cần

    phải được bảo vệ thông qua hệ thống pháp luật của Việt Nam. Thực tế, chúng ta

    cần phát triển kinh tế tư nhân để tạo nhiều việc làm, khai thác các tiềm năng về

    vốn, khoa học công nghệ, nhân lực cho phát triển sản xuất kinh doanh… nhưng

    người lao động vì thế cũng bị bóc lột. Nhà nước ta cũng đã có hệ thống luật pháp

    bảo vệ người lao động như: Luật lao động, Luật bảo hiểm, Quy định về tiền

    lương tối thiểu cho khu vực doanh nghiệp….nhưng vẫn chưa đầy đủ. Tuy nhiên,

    yếu kém nhất hiện nay trong bảo vệ người lao động là thiếu sự kiểm tra chặt chẽ

    và xử lý vi phạm nghiêm minh của các cơ quan chức năng đối với kinh tế tư bản

    tư nhân. Nhiều cuộc đình công, bãi công gần đây của công nhân nước ta ở các

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    13

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chỉ

    rõ điều này. Tại hội nghị “Tổng kết tình hình năm 2011 và triển khai nhiệm vụ

    năm 2012″, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho hay, từ năm 1995 đến nay,

    cả nước đã xảy ra hơn 4.100 cuộc đình công, trong đó chủ yếu ở các doanh

    nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản… với hơn

    3.100 cuộc, chiếm 75,4%. Tỷ lệ này đang có xu hướng tăng dần qua các năm,

    nhất là từ 2006. Năm 2011 đạt mức kỷ lục với 857 cuộc diễn ra trong vòng 11

    tháng. Con số này của năm 2010 là 422 vụ, năm 2009 là 218 vụ, năm 2008 là 720

    vụ…

    Nguyên nhân được Bộ xác định trước hết do một số chủ doanh nghiệp chưa

    chấp hành đúng quy định luật lao động như không ký hợp đồng, không đóng bảo

    hiểm xã hội, không giải quyết chế độ ngày nghỉ, bảng lương…Khắc phục được

    yếu kém này, chúng ta sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng thời đảm bảo lợi

    ích chính đáng của người lao động, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong

    nền kinh tế thị trường.

    Trong tương lai, khi mà sản xuất tư bản tư nhân đã phát triển tới trình độ

    cao, bản thân nó sẽ đòi hỏi phải có sự biến đổi cho phù hợp với trình độ xã hội

    hoá cao của LLSX, thì nhà nước sẽ hướng nó đi dần vào quỹ đạo của CNXH

    bằng những hình thức đa dạng của CNTB, trong đó có lợi ích của nhà tư bản vẫn

    được đảm bảo, chứ không bị xoá bỏ hay tước đoạt.

    Năm là, khai thác di sản của Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái sản

    xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã

    hội hoá sản xuất ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày

    càng lớn. Trên cơ sở những gì được coi là tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên,

    đặc biệt là về mặt tổ chức – kinh tế, vận dụng vào nền kinh tế nước ta thời kỳ quá

    độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định

    hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn, hiện đại

    sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư để thực hiện nhiệm vụ trung tâm của

    thời kỳ quá độ là CNH, HĐH nền kinh tế nhằm không ngừng nâng cao đời sống

    vật chất tinh thần của người lao động.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    14

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Như vậy hiện nay ở nước ta, mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói

    chung và lý luận giá trị thặng dư nói riêng có sự thay đổi. Nếu trước đây, mục

    đích nghiên cứu của kinh tế chính trị là để phê phán phương thức sản xuất

    TBCN, tìm ra bản chất bóc lột giá trị thặng dư của CNTB cổ điển và xu hướng

    thay thế CNTB bằng một xã hội tốt đẹp hơn, thì giờ đây, bên cạnh mục đích như

    trước, chúng ta còn có mục đích nghiên cứu, khai thác học thuyết giá trị thặng dư

    với tư cách là một hệ thống lý luận phong phú và sâu sắc về kinh tế thị trường

    nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội trong thời

    kỳ đổi mới.

    Qua phân tích một số vấn đề chủ yếu của lý luận giá trị thặng dư ở trên

    chúng ta vẫn tiếp tục khẳng định rằng học thuyết giá trị thặng dư – học thuyết về

    bản chất bóc lột và địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản vẫn là cơ sở phương pháp

    luận để nhận thức đúng chủ nghĩa tư bản hiện đại. Học thuyết đó còn là cơ sở lý

    luận cho sự vận dụng vào quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận

    động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội

    chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

    2.2.2 Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực.

    Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong

    thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào. Đây là

    nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược

    phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua

    ngày 16/2/2011. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn

    thấp và cần phải được cải thiện càng sớm càng tốt.

    Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ

    thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số

    đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái

    thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực

    chất lượng cao. Không thể nói đến nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo

    dục đại học còn thấp; kết cấu hạ tầng còn rất thấp kém; tỷ lệ lao động mới qua

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    15

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    đào tạo mới chỉ có từ 30 đến 40%; trình độ ngoại ngữ, khả năng sử dụng máy

    tính, công nghệ thông tin kém…

    Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo

    trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng

    cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số người từ 15 tuổi trở

    lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40%. Cơ

    cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại

    học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi

    trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB),

    Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc

    cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước

    khác. Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79

    điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn

    Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94… Cơ cấu phân

    bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối. Các ngành kỹ thuật – công nghệ,

    nông – lâm – ngư nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi đó các ngành xã hội

    luật, kinh tế, ngoại ngữ… lại quá cao. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng

    vừa thừa vừa thiếu nhân lực. Những lĩnh vực hiện đang thiếu lao động như: Kinh

    doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông,

    cơ khí chế tạo…

    Đẻ khắc phục được những nhược điểm và phát huy những ưu điểm về sử

    dụng và phát triển nguồn lao động ở hiện tại và trong tương lai hay tăng chất

    lượng của nguồn lao động như nâng cao trình độ học vấn của nhân nhất là phổ

    cập tiểu học, trung học cơ sở, mở trường dạy nghề, học phải gắn với thực

    hành. Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương: ” Xã hội hoá giáo dục nhằm đa dạng

    hoá các loại hình giáo dục, đào tạo với phương châm nhà nước và nhân dân

    cùng làm”. Với những chủ trương đó chất lượng nguồn lao động đã có những

    sự biến đổi so với trước đây và quá trình sử dụng nguồn lao động đã mang lại

    hiệu quả ngày càng cao trong những năm tiếp theo.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    16

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    17

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    35,81% năm 2001. Còn phân theo ngành của kinh tế ngoài quốc doanh và kinh

    tế có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ trọng vốn đầu tư

    dành cho công nghiệp và nông nghiệp không ngừng tăng lên, vốn đầu tư

    dành cho ngành dịch vụ giảm từ 45,83% năm 1999 xuống 44,04% năm 2001.

    Như vậy muốn tạo được chỗ đứng cho mình trên thị trường quốc tế chúng ta

    phải có những sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam. Vì thế phải phát

    triển công nghiệp, thu hút vốn đầu tư nhằm nâng cao sức mạnh cho công nghiệp.

    2.2.4. Áp dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất

    Theo lý luận giá trị thặng dư của Mác, máy móc không tạo ra giá trị thặng

    dư, nhưng nó tạo điều kiện để tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt

    của hàng hoá thấp hơn giá trị của thị trường, nhờ đó mà giá trị thặng dư tăng lên.

    Ngày nay, việc ứng dụng khoa học – kỹ thuật đã trở thành một nhu cầu

    không thể thiếu đối với nông nghiệp, đem lại giá trị kinh tế cao như sản xuất thu

    hoạch bảo quản chế biến…

    Đối với công nghiệp, nhất là trong ngành công nghệ thông tin, điện tử, viễn

    thông đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật của thế giới và đã thực

    hiện được đúng theo chủ trương “đi trước đón đầu” của Đảng ta. Với các lĩnh

    vực khác trong ngành công nghiệp, việc sử dụng các máy móc hiện đại vào sản

    xuất cũng được đẩy mạnh, góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp lên 12,9%

    (năm 2000).

    Đảng và Nhà nước ta đã biết áp dụng phù hợp những máy móc, khoa học

    công nghệ hiện đại cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế.

    Trên cơ sở nghiên cứu và ứng dụng học thuyết giá trị thặng dư đặc biệt là

    vấn đề áp dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất đã mang lại nhiều giá trị to

    lớn cho sự tăng trưởng của Việt Nam và đẩy mạnh hơn nữa quá trình công nghiệp

    hóa hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay.

    2.2.5 Vấn đề bốc lột trong sử dụng giá trị thặng dư ở nước ta.

    Ngày nay sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn, để thành công trong

    công việc kinh doanh, người chủ kinh doanh ngày nay không chỉ có đóng góp tài

    sản, tiền vốn mà còn đóng góp sức lao động của mình vào quá trình sản xuất.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    18

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    19

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Tập trung đầu tư cho công nghiệp, với mục tiêu lấy đó làm đà để phát triển

    các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, trong đó đặc biệt phải đầu tư cho

    ngành công nghiệp chế biến, cần phải chú ý đầu tư cho ngành công nghiệp chế

    biến nông – lâm sản, vì đây là chìa khoá, nhằm nâng cao giá trị, khả năng cạnh

    tranh của hàng hoá nông lâm sản trên thị trường thế giới.

    Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư này cần được coi là nhiệm vụ của tất cả các

    thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chứ không

    phải chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước hay một vài doanh nghiệp nhà nước.

    Cần gắn việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân.

    Thực hiện tự do di chuyển vốn giữa các ngành kinh tế, nhưng đồng thời Nhà

    nước phải đóng vai điều tiết đầu tư bằng những chính sách kinh tế vĩ mô (như

    thuế, và những ưu đãi, khuyến khích đối với những ngành cần đầu tư) nhằm đảm

    bảo việc chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư cũng như cơ cấu kinh tế theo định hướng

    phát triển kinh tế – xã hội.

    Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư và tập trung vào công nghiệp sẽ tạo ra

    những bước phát triển nhanh hơn,đưa nước ta trở thành một nước đại công

    nghiệp, hội nhập với toàn thế giới và thực hiện được mục tiêu công nghiệp hóa

    hiện đại hóa đất nước.

    2.3.2 Khuyến khích thu hút đầu tư

    Quá trình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ta thấy được việc thu hút đầu

    tư sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô sản xuất và thu được nhiều giá trị thặng dư.

    Để cải thiện môi trường kinh doanh trong nước cũng như thực hiện sự

    bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc thành

    phần kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực vay vốn ở các ngân hàng.

    Tiếp tục tiến hành cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu các thủ tục cho

    các doanh nghiệp, vì trong kinh doanh cơ hội tốt chỉ xuất hiện trong thời gian

    ngắn.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100