Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Tính Toán Chỉ Số Oee Trong Sản Xuất / 2023 # Top 19 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Tính Toán Chỉ Số Oee Trong Sản Xuất / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Tính Toán Chỉ Số Oee Trong Sản Xuất / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chỉ số OEE thể hiện mức độ hiệu quả của thiết bị theo tỷ lệ %. Hiệu quả của một thiết bị được đánh giá dựa trên một cách tổng thể của cả 3 yếu tố : thời gian, chất lượng, và tốc độ vận hành.

OEE là gì

Khái niệm OEE được sử dụng hiệu quả trong trường hợp là thước đo điểm chuẩn hoặc là thước đo điểm cơ sở.

Khi được dùng làm điểm chuẩn: OEE được dùng để so sánh hiệu quả của thiết bị sản xuất với các tiêu chuẩn công nghiệp hoặc giữa các ca làm việc trên cùng một thiết bị.

Khi được dùng như điểm cơ sở: OEE theo dõi hiệu suất sử dụng theo thời gian của một thiết bị trong quá trình sản xuất nhằm giúp loại bỏ sự lãng phí.

Phương pháp này phức tạp hơn nhưng chúng lại được nhiều người chọn lựa để đo đếm hiệu quả của thiết bị. Chúng thể hiện rất rõ 3 yếu: Hữu dụng (Availability), Hiệu suất (Performance) và Chất lượng (Chất lượng).

Hệ thống giám sát sản xuất

Tỉ lệ vận hành xét đến các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sử dụng của máy móc, bao gồm tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất theo dự kiến trong một khoảng thời gian đáng kể (thường là một vài phút hoặc lâu hơn) như dừng không có kế hoạch (chẳng hạn như lỗi thiết bị và thiếu hụt nguyên liệu) và việc dừng có kế hoạch (như thời gian chuyển đổi).

Nó được tính bằng công thức:

Tỉ lệ vận hành tính theo thời gian = (Thời gian vận hành lý thuyết – Thời gian dừng máy) : Thời gian vận hành lý thuyết

Tỷ lệ Hiệu suất tính đến yếu tố mất/giảm hiệu suất, bao gồm tất cả các yếu tố khiến thiết bị sản xuất hoạt động ở tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa có thể khi chạy (bao gồm cả Chu kỳ chậm và Quãng dừng nhỏ).

Nó được tính bằng công thức:

Tỷ lệ Hiệu suất = (Thời gian chu kỳ lý tưởng × Tổng sản phẩm) : Thời gian chạy máy

Thời gian chu kỳ lý tưởng là thời gian chu kỳ nhanh nhất mà quá trình của sản xuất có thể đạt được trong điều kiện tối ưu. Do đó, khi nó được nhân với Tổng sản phẩm (Total Count), kết quả sẽ là Thời gian sản xuất Net tức là thời gian nhanh nhất về mặt lý thuyết để sản xuất tổng số sản phẩm theo kế hoạch.

Tỷ lệ hiệu suất có tính đến bất cứ điều gì khiến quá trình sản xuất diễn ra với tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa có thể (bao gồm cả Chu kỳ chậm và Quãng dừng ngắn). Tỷ lệ hiệu suất thường không nên lớn hơn 100%. Nếu đúng như vậy, điều đó có nghĩa Thời gian chu kỳ lý tưởng được đặt không chính xác (quá cao).

Tỷ lệ chất lượng dùng để xét đến yếu tố chất lượng sản phẩm không đảm bảo, không đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, bao gồm cả các sản phẩm được làm lại sau này.

Nó được tính bằng công thức:

Tỷ lệ Chất lượng = Tổng sản phẩm chất lượng : Tổng số sản phẩm đã thực hiện

Nói một cách đơn giản nhất, khái niệm OEE là tỷ lệ của Thời gian Sản xuất Hiệu quả so với Thời gian Sản xuất theo Kế hoạch. Trên thực tế, điểm số được tính như sau:

OEE = Tỷ lệ vận hành × Tỷ lệ hiệu suất × Tỷ lệ chất lượng(Availability x Performance x Quality)

Như vậy, chỉ số OEE tính đến tất cả các tổn thất (Dừng mất thời gian, giảm tốc độ và giảm chất lượng) trong quá trình vận hành máy móc, tạo nên một thước đo thời gian sản xuất thực sự hiệu quả.

Điểm OEE cung cấp một cái nhìn rất có giá trị về quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Nó vẽ nên một bức tranh chính xác về hiệu quả sản xuất. Và, nó giúp doanh nghiệp dễ dàng theo dõi các cải tiến tại quá trình sản xuất theo thời gian.

Điểm OEE không cung cấp là bất kỳ thông tin chi tiết nào về nguyên nhân cơ bản của năng suất bị mất. Đây là vai trò của Tính hữu dụng, Hiệu suất và Chất lượng. Chỉ cần dựa vào công thức này, doanh nghiệp cũng có thể nhìn thấy hiệu quả trong sản xuất như thế nào (Chỉ số OEE) và các vấn đề khác trong doanh nghiệp như Tính Hữu dụng, hiệu suất và chất lượng ảnh hưởng như thế nào đến các khoản tổn thất.

Giải pháp IoT là gì

Máy móc là một khoản đầu tư lớn mà các công ty luôn muốn thực hiện các chiến lược để đạt được lợi tức đầu tư tối đa. Doanh nghiệp có thể chứng minh được giá trị của khoản đầu tư vào hệ thống máy móc thiết bị thông qua số liệu OEE được đo đạc. Vào thời gian đầu trong quá trình sản xuất; hiệu quả sử dụng các thiết bị sẽ chỉ đóng góp một phần nhỏ trong lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình phát triển sản xuất; khi quy mô và các khoản đầu tư vào máy móc nhiều lên; các lãng phí hay tổn thất trong sản xuất thiết bị càng giảm; sẽ giúp doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn.

Đối với hoạt động sản xuất, việc cắt giảm tổn thất trong sản xuất sẽ đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu dây chuyền sản xuất thiếu hiệu quả; doanh nghiệp cần các quy trình và phương pháp cần thiết; để giúp tối đa hóa cơ sở vật chất. Dựa trên các thông tin nhận được qua chỉ số OEE; các nhà quản lý và phân tích có thể xác định bất kỳ ràng buộc hoặc đình trệ nào trong sản xuất.

Chỉ số OEE cho phép doanh nghiệp hình dung hiệu suất sản xuất một cách dễ dàng. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng các công thức tính toán; và quan sát bất kỳ tổn thất sản xuất nào. Từng yếu tố của sản xuất như tính hữu dụng; tính hiệu quả và chất lượng sẽ được thể hiện rõ ràng; qua các con sổ được tính toán chi tiết. Nó cho phép doanh nghiệp có thể nhận thấy tình trạng sản xuất hiện tại; và các lĩnh vực mà cơ sở cần cải thiện kịp thời.

Doanh nghiệp không thể cải thiện hoạt động sản xuất mà theo kiểu dò dẫm tìm đường. Đó là lý do tại sao sử dụng dữ liệu trực tiếp về trạng thái thiết bị; có thể hỗ trợ các nhà sản xuất vận hành hiệu quả dây chuyền; máy móc thiết bị nhằm giảm thời gian dừng không có kế hoạch; và tăng tốc độ sản xuất trước hoặc sau thời gian dừng có kế hoạch. Các phân tích về mối tương quan giữa hiệu suất; và tổn thất hiệu suất thể hiện cả khả năng thực hiện bảo trì trong tương lai; giúp tiết kệ chi phí đầu tư cho trang thiết bị sản xuất.

Hiệu suất thực tế của máy móc tương quan trực tiếp với việc hiểu liệu máy có hoạt động hiệu quả hay không. Nó cũng dự báo được khả năng thay thế các thiết bị máy móc doanh nghiệp có thể phải thực hiện trong tương lai. Với chỉ số OEE, cơ sở sản xuất có thể thực hiện các hoạt động chi bảo trì phòng ngừa; bảo dưỡng; sửa chữa lỗi máy kịp thời; giảm thiểu nguy cơ mất mát lớn hơn về sau.

Phương Pháp Jit – Sản Xuất Chỉ Trong Thời Gian / 2023

Published by admin

Lịch sử

Just-in-time (JIT) được gọi là sản xuất just-in-time hoặc Toyota hệ thống sản xuất (TPS), là một phương pháp chủ yếu nhằm giảm thời gian trong hệ thống sản xuất cũng như thời gian đáp ứng từ các nhà cung cấp và khách hàng. Nguồn gốc và sự phát triển của nó là ở Nhật Bản, phần lớn là vào những năm 1960 và 1970 và đặc biệt là tại Toyota.

Các thuật ngữ thay thế cho sản xuất JIT đã được sử dụng. Sự lựa chọn của Motorola là sản xuất chu kỳ ngắn (SCM). IBM là ngành sản xuất dòng chảy liên tục (CFM), và sản xuất dòng nhu cầu (DFM), một thuật ngữ được lưu truyền từ nhà tư vấn John Constanza tại Viện Công nghệ của ông ở Colorado. Vẫn còn một sự thay thế khác được đề cập bởi Goddard, người nói rằng “Hệ thống sản xuất Toyota thường được gọi nhầm là” Hệ thống Kanban”, và chỉ ra rằng kanban chỉ là một yếu tố của sản xuất JIT.

Nhưng việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ sản xuất JIT trong suốt những năm 1980 đã phai nhạt nhanh chóng trong những năm 1990, khi thuật ngữ sản xuất tinh gọn mới được thành lập là “một tên gần đây hơn cho JIT “. Chỉ là một minh chứng cho tính phổ biến của hai thuật ngữ, hệ thống sản xuất Toyota đã và đang được sử dụng rộng rãi như một từ đồng nghĩa cho cả JIT và sản xuất tinh gọn.

Sự phát triển ở Nhật Bản

Những lý do chính xác để áp dụng JIT tại Nhật Bản vẫn chưa rõ ràng. Plenert đã đưa ra bốn lý do diễn giải ở đây. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản gây dựng lại nền công nghiệp nước nhà, nhưng đứng trước rất nhiều khó khăn::

Việc thiếu tiền mặt của Nhật Bản khiến ngành công nghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn

Nhật Bản thiếu không gian để xây dựng các nhà máy lớn chứa hàng tồn kho.

Các hòn đảo Nhật Bản đã (và đang) thiếu tài nguyên thiên nhiên để xây dựng sản phẩm.

Nhật Bản có tỷ lệ thất nghiệp cao, điều đó có nghĩa là các phương pháp hiệu quả lao động không phải là một con đường rõ ràng dẫn đến thành công công nghiệp.

Sự phát triển tại bờ Tây

Tin tức về JIT đã đến bờ Tây vào năm 1977 trong hai bài báo bằng tiếng Anh: một bài gọi phương pháp này là “hệ thống Ohno”, sau Taiichi Ohno , người đã phát triển nó trong Toyota. Bài báo khác, của các tác giả Toyota trong một tạp chí quốc tế, đã cung cấp thêm chi tiết. Cuối cùng, những điều đó và sự công khai khác đã được chuyển thành các triển khai, bắt đầu từ năm 1980 và sau đó nhanh chóng nhân lên trong toàn ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ và các nước phát triển khác.

Một sự kiện cuối năm 1980 là một hội nghị tại Detroit tại thành lập năm 1979 trong Hiệp hội sản xuất và kiểm soát hàng tồn kho của Mỹ (APICS) để tìm kiếm những tiến bộ trong sản xuất. Diễn giả chính, Fujio Cho (sau này là chủ tịch của Toyota Motor Corp), trong việc giải thích hệ thống Toyota, đã tác động tới khán giả, và dẫn đến việc chuyển các bánh răng của RMG từ những thứ như tự động hóa sang JIT. Tại sự kiện đã xảy ra sự xung đột nhận thức giữa chế độ JIT mới và lập kế hoạch tài nguyên sản xuất (MRP II), một hệ thống lập kế hoạch và kiểm soát sản xuất dựa trên phần mềm máy tính đã trở nên nổi bật trong công nghiệp trong những năm 1960 và 1970.

Just In Time là gì?

Just In Time (JIT) là một khái niệm trong sản xuất hiện đại. Tóm lược ngắn gọn nhất của JIT là: “Đúng sản phẩm –  đúng số lượng –  đúng nơi –  đúng thời điểm”.

Trong JIT, các quy trình không tạo ra giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ. Và như vậy, hệ thống chỉ sản xuất ra những cái mà khách hàng muốn.

Nói cách khác, JIT là hệ thống điều hành sản xuất trong đó các luồng nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm lưu hành trong quá trình sản xuất và phân phối được lập kế hoạch chi tiết nhất trong từng bước, sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi quy trình hiện thời chấm dứt. Qua đó, không có hạng mục nào trong quá trình sản xuất rơi vào tình trạng để không, chờ xử lý, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vận hành.

JIT còn được áp dụng trong cả suốt quy trình cho đến bán hàng. Số lượng hàng bán và luồng hàng điều động sẽ gần khớp với số lượng hàng sản xuất ra, tránh tồn đọng vốn và tồn kho hàng không cần thiết. Có những công ty đã có lượng hàng tồn gần như bằng không.

Hệ thống JIT cho phép hệ thống vận hành hiệu quả nhất, tránh lãng phí không cần thiết.

Just in time hướng tới mục tiêu:

– Tồn kho bằng không.

– Thời gian chờ đợi bằng không.

– Chi phí phát sinh bằng không.

Những năm 1930, Hãng ô tô Ford (Hoa kì) lần đầu tiên áp dụng hệ thống dây chuyền để lắp ráp xe, một dạng sơ khai của phương pháp Just in time (JIT). Đến những năm 1970, Hãng ô tô Toyota (Nhật bản) hoàn thiện phương pháp trên và nâng thành lý thuyết Just in time – JIT.

Hãng ô tô Nhật bản Toyota đã phát triển hệ thống dây chuyền sản xuất của Ford, phát huy ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của hai hình thái sản xuất trên. Đội ngũ công nhân có tay nghề thuần thục được trang bị hệ thống máy móc linh hoạt, đa năng, có khả năng sản xuất theo nhiều mức công suất với nhiều loại sản phẩm trên cùng một dây chuyền.

Bí quyết thành công của Toyota:

– Sản xuất tức thời – Just in time.

– Cải tiến liên tục – Kaizen.

– Luồng một sản phẩm – One pieceflow.

– Tự kiểm lỗi – Jikoda.

– Bình chuẩn hóa – Heijunka.

Tư duy luồng một sản phẩm

Sản phẩm có chất lượng: Mỗi công nhân tại từng công đoạn chính là người kiểm tra bán sản phẩm từ công đoạn trước chuyển qua. Đạt yêu cầu họ mới thực hiện công đoạn của mình. Sản phẩm có lỗi, họ loại ra khỏi dây chuyền và ấn nút báo cho toàn hệ thống để điều chỉnh lại kế hoạch.Họ đóng vai khách hàng khi nhận sản phẩm từ công đoạn trước chuyển sang và là người bị kiểm tra tại công đoạn sau.

Linh hoạt: Bất cứ thay đổi nhu cầu nào của khách hàng về sản phẩm đều có thể đáp ứng được ngay.

Tạo năng suất cao: Thực hiện luồng một sản phẩm rất ít có loại công việc không tạo ra giá trị gia tăng. Ví dụ tình trạng nguyên vật liệu bị chuyển đi chuyển lại giữa các bộ phận (như cách truyền thống). Đây là năng suất thực tạo nên giá trị gia tăng cho sản phẩm.Số lượng sản phẩm thực hiện theo bộ phận (tư duy truyền thống) có thể rất cao, nhưng nếu sản phẩm được sản xuất quá nhiều, dư thừa, tồn kho lớn. Tốn thời gian tìm sản phẩm hỏng để sửa chữa. Đó là một sự lãng phí rất lớn.

Tăng diện tích hữu ích: Vật tư, bán thành phẩm được chuyển theo qui trình sản xuất từng công đoạn. Điều đó giúp không tốn diện tích kho bãi dự trữ.

An toàn lao động cao: Sử dụng từng lô hàng nhỏ một nên không cần một quy trình an toàn đặc biệt nào.

Nâng cao nhuệ khí cho người lao động: Họ nhận thấy ngay kết quả lao động của mình, mãn nguyện với công việc.

Giảm chi phí lưu kho: Giảm chi phí vốn đầu tư kho bãi, chi phí xử lí hàng lỗi mốt tồn kho.

Nhược điểm:Toàn bộ dây chuyền ngừng hoạt động khi có một công đoạn trong dây chuyền ngừng hoạt động.

 Ưu điểm:Ngoài các ưu điểm luồng một sản phẩm buộc người ta phải tư duy và cải tiến không ngừng. Họ chấp nhận ngừng sản xuất để tìm ra nguyên nhân của vấn đề và buộc nhóm phải giải quyết nhằm đạt chất lượng tốt ngay từ đầu.

Nếu bạn xem tiêu chuẩn là những gì tốt nhất bạn làm hôm nay nhưng sẽ được cải thiện vào ngày mai, bạn sẽ tiến xa. Nếu bạn coi tiêu chuẩn là giới hạn, bạn sẽ ngừng tiến bộ.

Công việc chuẩn: thời gian chuẩn, trình tự chuẩn và tồn kho chuẩn. Từ đó ấn định nghiệp vụ chuẩn.

Thách thức khi thực hiện:

– Lập luồng một sản phẩm một cách hình thức. Để các thiết bị gần nhau, phương thức vẫn là sản xuất hàng loạt.

– Lập luồng một sản phẩm: khi có khó khăn, không tìm nguyên nhân khắc phục mà trở lại với cách làm truyền thống.

Điều kiện áp dụng Just in time

Áp dụng hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất có tính chất lặp đi lặp lại.

Đặc trưng quan trọng của mô hình Just in time: áp dụng những lô hàng nhỏ với quy mô sản xuất gần như nhau, tiếp nhận vật tư trong suốt quá trình sản xuất tốt hơn là sản xuất những lô hàng lớn rồi để tồn kho, ứ đọng vốn. Nó cũng giúp dễ kiểm tra chất lượng, giảm thiệt hại khi có sai sót.

Luồng “hàng hóa” lưu hành trong quá trình sản xuất và phân phối được lập chi tiết cho từng bước sao cho công đoạn tiếp theo thực hiện được ngay sau khi công đoạn trước hoàn thành. Không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi sản phẩm đầu vào.

Mỗi công đoạn chỉ làm một số lượng sản phẩm / bán thành phẩm đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo cần tới. Người công nhân ở quy trình tiếp theo chính là khách hàng của quy trình trước đó.

Họ có trách nhiệm kiểm tra, nghiệm thu bán sản phẩm được chuyển đến trước khi thực hiện công việc của mình. Sản phẩm không đạt yêu cầu sẽ bị loại bỏ ra khỏi dây chuyền và báo cho toàn Hệ thống để điều chỉnh kế hoạch kịp thời.

Sử dụng mô hình Just in time đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp. Tăng cường phân công lao động xã hội thông qua hợp tác với các Công ty liên kết.

Muốn Just in time thành công, Doanh nghiệp cần kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp: áp dụng dây chuyền luồng một sản phẩm (sản phẩm được chuyển theo quy trình sản xuất chứ không theo bộ phận chuyên môn nhằm giảm thiểu chi phí vận chuyển), khả năng tự kiểm lỗi (công đoạn sau kiểm tra, nghiệm thu công đoạn trước), bình chuẩn hóa (phân bổ công việc đều mỗi ngày, không có ngày quá bận, ngày ít việc).

Lợi ích khi áp dụng Just in time

Giảm tối đa hiện tượng tồn kho, giảm diện tích kho bãi.

Tăng chất lượng sản phẩm, giảm phế liệu, sản phẩm lỗi.

Tăng năng suất nhờ giảm thời gian chờ đợi.

Linh hoạt trong thay đổi quy trình sản xuất, thay đổi mẫu mã sản phẩm.

Công nhân được tham gia sâu trong việc cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.Giảm lao động gián tiếp.

Giảm áp lực của khách hàng

Just in time tro​ng nền kinh tế hiện nay:

Những bất ổn thị trường thường gặp

Khủng hoảng kinh tế làm giảm khả năng chi trả của khách hàng.

Cạnh tranh khốc liệt, nhiều sản phẩm thay thế có tích năng khác biệt. Khách hàng từ bỏ thói quen sử dụng sản phẩm cũ truyền thống.

Chiến tranh khu vực ảnh hưởng tới nguồn cung nhiên liệu, vật tư, nguyên liệu.

Chi phí chuyển đổi dây chuyền thiết bị cho sản phẩm mới quá lớn làm tăng giá thành sản phẩm và làm chậm thời gian đưa sản phẩm ra thị trường.

Toàn cầu hóa dẫn tới tạo biến động về văn hóa, lối sống, tập quán, thói quen,… nhiều dân tộc.

Tư duy mới để áp dụng hiệu quả Just in time

Các Công ty nhỏ, linh hoạt sẽ có ưu thế hơn các Công ty lớn

Công ty lớn có bộ máy điều hành công kềnh, quan liêu, thiếu linh hoạt. Khó thay đổi dây chuyền công nghệ do chi phí chuyển đổi lớn.

Giải pháp: Các Công ty lớn có xu hướng chuyển sang mở rộng hợp tác với các Công ty liên kết địa phương để sản xuất, cung ứng các phụ tùng linh kiện trong chuỗi tạo giá trị sản phẩm. Vừa giảm giá thành để sản phẩm cạnh tranh hơn, vừa có thể linh hoạt thay đổi quy trình khi muốn tạo sản phẩm mới.

VD:

Hãng Honda Việt nam đã thuê các Công ty tư nhân Việt nam sản xuất chân chống, vành xe, xích, líp theo tiêu chuẩn thiết kế Honda. Khi thị hiếu khách hàng thay đổi, Honda không mất nhiều chi phí thay đổi dây chuyền mới.

Categorised in: Chuyên Mục

This post was written by admin

Các Phương Pháp Tính Chỉ Số / 2023

Phản ánh sự biến động của từng đơn vị, hiện tượng cá biệt.

Chỉ số cá thể về chỉ tiêu chất lượng

Trong đó: p 1, p 0: trị số của chỉ tiêu chất lượng của từng phần tử ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc.

Chỉ số này dùng để phản ánh sự biến động về giá cả của từng hiện tượng kinh tế – xã hội.

Chỉ số cá thể về chỉ tiêu khối lượng

Trong đó: q 1, q 0: trị số của chỉ tiêu khối lượng của từng phần tử ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc.

Chỉ số này dùng để phản ánh sự biến động về lượng hàng hoá tiêu thụ của từng mặt hàng.

VD: Trong khi xem xét sự phát triển của ngành công nghiệp ở Việt Nam, ta có bảng số liệu sau:

Tuy nhiên, trong thực tế, khi dùng phương pháp chỉ số để phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội, người ta ít sử dụng phương pháp tính chỉ số cá thể. Do có rất nhiều các nhân tố khác nhau cùng ảnh hưởng đến sự phát triển của một hiện tượng kinh tế – xã hội, vì vậy, nếu dùng chỉ số cá thể thì không thể thấy rõ được mức độ tác động của từng nhân tố đến hiện tượng kinh tế – xã hội đó. Do vậy, người ta thường xuyên sử dụng phương pháp tính chỉ số chung.

Chỉ số chung được tính theo hai phương pháp khác nhau: phương pháp chỉ số tổng hợp và phương pháp chỉ số bình quân.

Phương pháp chỉ số tổng hợp

Phản ánh sự biến động chung của nhiều đơn vị, hiện tượng cá biệt.

Nguyên tắc tính chỉ số tổng hợp:

Khi tính chỉ số tổng hợp, phải chuyển các nhân tố khác nhau của cùng một hiện tượng phức tạp về dạng đồng nhất để có thể tổng hợp và tiến hành so sánh.

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó đến sự phát triển của một hiện tượng kinh tế – xã hội thì phải cố định các nhân tố còn lại. Nhân tố cố định đó đóng vai trò là quyền số của chỉ số.

Chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu chất lượng

Để tính chỉ số tổng hợp về chất lượng (giá cả), chúng ta không thể cộng từng giá của từng mặt hàng khác nhau. VD: trong ngành công nghiệp có rất nhiều các mặt hàng khác nhau như: may mặc, sắt, thép… Nếu có giá cả của từng loại mặt hàng của các ngành trên, ta không thểtính trung bình cộng giản đơn của các chỉ số đơn về giá cả và cách tính đó không xét được đến lượng hàng hoá tiêu thụ khác nhau của từng mặt hàng và lượng hàng hoá đó lại có ảnh hưởng trực tiếp đến biến động chung giá cả khác nhau.

Vì vậy, để nghiên cứu biến động của giá cả, phải cố định lượng hàng hoá tiêu thụ ở một thời kỳ nhất định và việc cố định nhân tố này gọi là quyền số của chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu chất lượng (giá cả).

Nếu chọn chỉ tiêu khối lượng kỳ góc (q 0) làm quyền số, ta có công thức:

Đây là công thức do nhà kinh tế học người Đức tên là Laspeyres đề xuất năm 1864 nên được gọi là chỉ số giá cả của Laspeyres.

Nếu chọn quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ kỳ nghiên cứu:

Công thức này do nhà kinh tế học người Đức là Pasches đề xuất năm 1874, nên được gọi là chỉ số giá cả của Pascher.

Hai công thức (1) và (2) có điểm khác nhau là việc chọn quyền số. Do quyền số khác nhau dẫn đến kết quả tính toán và ý nghĩa kinh tế khác nhau. Trong thực tế, bằng kinh nghiệm lâu năm, ở Việt Nam thường áp dụng công thức chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu chất lượng (giá cả) của Pascher.

Khi giữa công thức (1) và (2) có sự khác biệt đáng kể, ta có thể dùng công thức do nhà kinh tế học Fisher đề xuất năm 1921:

Xuất phát từ việc chỉ số tổng hợp của Laspeyres và Pascher không có tính nghịch đảo và liên hoàn, vì vậy Pisher đã đưa ra công thức (3) thực chất là trung bình nhân của hai chỉ số trên.

Chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu khối lượng

Nguyên tắc tính:

Phải cố định giá ở một thời kỳ nhất định; đây chính là quyền số của chỉ số tổng hợp về khối lượng

Nếu chọn chỉ tiêu chất lượng kỳ gốc (p 0) làm quyền số; ta có công thức:

Công thức (4) gọi là chỉ số tổng hợp về khối lượng của Laspeyres.

Nếu chọn chỉ tiêu chất lượng kỳ nghiên cứu (p 1) làm quyền số, ta có công thức:

Công thức (5) gọi là chỉ số tổng hợp về khối lượng của Pascher.

Xuất phát từ ý nghĩa kinh tế thực tế của lượng chênh lệch tuyệt đối Δpq(q), trong nghiên cứu thống kê ở Việt Nam thường chọn công thức (5) để tính chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu khối lượng hàng hoá tiêu thụ nói riêng và chỉ tiêu khối lượng nói chung.

Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng công thức chỉ số tổng hợp về khối lượng của Fisher:

Công thức (6) được dùng phổ biến ở các nước kinh tế thị trường. Tuy nhiên, do hạn chế về vấn đề tính toán lượng chênh lệch tuyệt đối và do yêu cầu liên kết giữa các chỉ số với mục đích phân tích nhân tố không được thực hiện được nên chỉ số này ít được sử dụng trong phân tích nhân tố.

Phương pháp chỉ số bình quân

Bản chất của chỉ số tổng hợp là trung bình gia quyền chỉ số cá thể trong đó quyền số có thể là p 0q 0 hoặc p 1q 1. Phương pháp chỉ số bình quân cho ta kết quả tính toán và ý nghĩa kinh tế hoàn toàn giống với chỉ số tổng hợp.

Như vậy tương ứng với các chỉ số tổng hợp có các chỉ số bình quân.

Chỉ số bình quân cộng

Được dùng để tính chỉ số chung về chỉ tiêu khối lượng:

Chỉ số bình quân điều hoà:

Được dùng để tính chỉ số chung về chỉ tiêu chất lượng.

Tính Giá Thành Sản Xuất Theo Phương Pháp Hệ Số Dễ Hiểu Nhất / 2023

Tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số như thế nào? Điều kiện áp dụng tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số? Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành của tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số? Trình tự tính giá thành và ví dụ cụ thể của tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số.

Trên thực tế, Kế Toán căn cứ vào đặc điểm sản xuất của Công ty, để lựa chọn một trong các phương pháp tính giá thành sản xuất sau:

Tính giá thành sản xuất theo phương pháp giản đơn hay còn gọi là trực tiếp.

Tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số.

Tính giá thành sản xuất theo phương pháp tỷ lệ.

Tính giá thành sản xuất theo phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ.

Tính giá thành sản xuất theo phương pháp phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm, phương pháp phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm.

Tính giá thành sản xuất theo phương pháp theo đơn đặt hàng và phương pháp liên hợp.

Trong bài viết này mời các bạn cùng Kế Toán Hà Nội nghiên cứu cách tính giá thành sản phẩm theo phương pháp hệ số.

Để áp dụng cách tính giá thành theo phương pháp hệ số doanh nghiệp phải có đặc điểm sản xuất sau: Trong cùng một quá trình sản xuất, cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm mà được tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất

Các lĩnh vực (Doanh nghiệp) sản xuất thường áp dụng cách tính giá thành theo phương pháp hệ số như: May mặc, hoá chất, cơ khí, chế tạo, điện cơ, tăng gia chăn nuôi…

Vậy “Hệ số quy đổi sản phẩm của từng loại sản phẩm” được xây dựng như thế nào?.

“Hệ số quy đổi sản phẩm của từng loại sản phẩm” thường được xây dựng dựa vào mức tiêu hao về nguyên vật liệu hoặc chi phí nhân công hoặc giá bán của từng sản phẩm… .

Cách làm là: DN chọn một sản phẩm tiêu biểu làm sản phẩm chuẩn và có hệ số là 1, từ đó tính ra hệ số quy đổi của các sản phẩm còn lại. Sau khi xây dựng được “Hệ số quy đổi của từng loại sản phẩm“, kế toán Tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số như sau:

Bước 1: Tính giá thành đơn vị sản phẩm tiêu chuẩn.

Muốn tính được giá thành đơn vị của sản phẩm tiêu chuẩn thì phải làm qua các bước sau:

– Đầu tiên phải tổng cộng chi phí của quá trình sản xuất để xác định tổng giá thành chung cho các loại sản phẩm thu được đồng thời (gọi là “Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm”), theo công thức:

– Sau đó quy đổi sản lượng thực tế từng loại sản phẩm ra sản lượng sản phẩm chuẩn để tính tổng số sản phẩm chuẩn:

+ Quy đổi từng loại sản phẩm thành sản phẩm chuẩn theo ” Hệ số quy đổi sản phẩm” của từng loại, theo công thức:

+ Tính tổng số sản phẩm chuẩn: Bằng cách tổng cộng các “Số sản phẩm chuẩn của từng loại sản phẩm” lại với nhau.

Sau khi xác định được giá thành đơn vị của sản phẩm tiêu chuẩn thì chuyển sang bước 2, như sau:

Bước 2: Xác định giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm:

Theo cách tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số thì giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm được xác định theo công thức sau:

Thực hiện xong bước 2 ta chuyển sang bước 3, như sau:

Bước 3: Xác định tổng giá thành từng loại sản phẩm:

Theo cách tính giá thành sản xuất theo phương pháp hệ số thì tổng giá thành từng loại sản phẩm được xác định theo công thức sau:

Tại Công ty sản xuất Phan Nam cùng một loại nguyên liệu trên cùng một dây chuyền sản xuất cho ra nhiều loại Thành phẩm khác nhau: Thành phẩm A, Thành phẩm B và thành phẩm C.

Giá bán loại Thành phẩm A là 200.000 VNĐ/ TP.

Giá bán loại Thành phẩm B là 250.000 VNĐ/ TP.

Giá bán loại Thành phẩm C là 300.000 VNĐ/ TP.

* Trong tháng kế toán, tính toán được như sau:

Số lượng Thành phẩm A hoàn thành nhập kho: 2 000 TP

Số lượng Thành phẩm B hoàn thành nhập kho: 3 000 TP

Số lượng Thành phẩm C hoàn thành nhập kho: 4 000 TP.

* Kế toán tập hợp chi phí và số liệu kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ như sau:

Giả sử Công ty chọn Thành phẩm A là sản phẩm tiêu chuẩn với hệ số quy đổi là 1.

Giả sử Công ty xây dựng hệ số quy đổi theo giá bán.

Vì Hệ số quy đổi Thành phẩm A xây dựng là 1 với giá bán Thành phẩm A là 200.000 VNĐ/TP nên:

⇒ Hệ số quy đổi Thành phẩm B = 250.000 VNĐ: 200.000 VNĐ = 1,25

⇒ Hệ số quy đổi Thành phẩm C = 300.000 VNĐ: 200.000 VNĐ = 1,5.

BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH TỪNG LOẠI SẢN PHẨM

Đơn vị tính: Số lượng – TP; Giá trị – 1000 đ

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Tính Toán Chỉ Số Oee Trong Sản Xuất / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!