Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Và Phát Triển Từ Vựng Cho Học Sinh Lớp 6 / 2023 # Top 21 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Và Phát Triển Từ Vựng Cho Học Sinh Lớp 6 / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Và Phát Triển Từ Vựng Cho Học Sinh Lớp 6 / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VÀ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG CHO HỌC SINH LỚP 6” Người viết: NGUYỄN THANH NAM Đơn vị: THCS Long Đức I/ NHẬN ĐỊNH VẤN ĐỀ: Trong lịch sử của loài người kiến thức là kho tàn quí (giá) báo, cho nên con người đã không ngừng tìm tòi học hỏi để tiếp cận văn minh hiện đại trên thế giới. Qua phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngũ, tiếng Anh ngày nay được sử dụng gần như phổ biến trên toàn thế giới và mang ý nghĩa quốc tế rất lớn trong quan hệ ngoại giao giửa các nước với nhau. Do đó công việc giảng dạy “tiếng Anh” đối với HS lớp đầu cấp của bậc THCS vô cùng quan trọng. Là một giáo viên giảng dạy tôi luôn nhận thức rõ động cơ thúc đẩy sự phát triển của đất nước là nâng cao chất lượng giáo dục theo su hướng chung của đất nước. Và qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: “Việc giảng dạy Ngoại ngữ là một vấn đề không đơn giản”. Nó đòi hỏi người giáo viên không chỉ có phương pháp chuyên môn mà phải không ngừng học tập nâng cao trình độ và phải luôn tích cực tìm ra các phương páhp mới để việc dạy và học Ngoại ngữ đạt kết quả cao hơn. Nhưng truyền thụ kiến thức như thế nào để các em HS dể hiểu bài và tiếp thu bài một cách nhanh chóng? Làm thế nào để các em yêu thích khi học Ngoại ngữ? Và làm thế nào để GS thấy được tầm quan trọng của tiếng Anh hiện nay? Về thực chất tiếng Anh là một trong những môn học khó nhất ở trong trường phổ thông. Vì nó hoàn toàn xa lạ và mới mẽ, khác hẳn tiếng mẹ đẻ (trong trường phổ thông) của chúng ta, đặt biệt là đối với các em HS lớp 6. Do đó các em rất bở ngỡ một số em còn tỏ ra sợ sệt khi học bộ môn này. Phần lớn HS ở trường THCS Long Đức là học sinh thuộc vùng sâu, vùng xa đến học trường chúng tôi nên việc học môn tiếng Anh có phần khó khăn hơn cụ thể là việc học “Từ vựng” tiếng Anh . Hơn thế nửa, các em có thói quen học từ vựng riêng lẻ và khả năng vạn dụng tiếng Anh trong giao tiếp còn hạn chế nên vốn từ vựng của các em ngày càng “chết” dần. Đó chính là nổi bâng khuăn của những giáo viên dạy Ngoại ngữ nói chung vàbản thân tôi nói riêng. Từ thực tế, và qua quá trình dạy học chương trình thay sách mới ở trường THCS Long Đức, bản thân tôi tự rút ra được một vài kinh nghiệm để dạy và giúp HS khối 6 học tốt từ vựng khắc sâu và tích lũy, phát triển dần từ vựng, nhằm mục đích vận dụng tốt kiến thức ngôn ngữ đã học vào thực tiễn giao tiếp. II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: A/ Dạy từ vựng: Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng biét để giao tiếp bằng tiếng Anh thì điều kiện trước tiên là phải có vốn từ vựng. Vì nó là cơ sở ban đầu hình thành câu văn. Do đó có học thuộc từ thì mới giúp các em thực hiện tốt trong giao tiếp tiếng Anh. Vậy giáo viên nên sử dụng phương pháp để các em luôn quan tâm và thích học tiếng Anh cũng như học thuộc từ vựng? Qua thực tế giảng dạy và học hỏi ở đồng nghiệp bản thân tôi rút ra được một số phương pháp thiết thực nhất giúp các em dể dàng hiểu bài và thuộc từ vựng như sau: 1/ Phương pháp dạy từ vựng cụ thể: a/ Dùng tranh ảnh hay vật thật: Theo tôi phương pháp giúp HS hiểu nhanh và khắc sâu được từ vựng là phương pháp giảng dạy bằng tranh ảnh hay đồ vật thật. Vì giáo cụ trực quan đóng một vai trò rất quan trọng trong tiết dạy. Vì nó luôn luôn hổ trợ cho lời giảng của giáo viên nhằm gây hứng thú và tập trung sự theo dõi của HS vào vấn đề đang được trình bày. Đồng thời nó còn có tác dụng phát triển tư duy của HS, giúp các em tích cực hơn rong học tập như là: -Tranh ảnh: Khi giới thiệu các từ “teacher” (giáo viên) trong câu: “Is this your teacher”? (Đây là giáo viên của bạn phải không?) SGK Unit 2 on page 27. Tôi đưa bức tranh lên mời em đứng lên phát biểu ý kiến trong lớp học, lập tức các em sẽ hiểu ngay nghĩa từ “teacher”. Tương tự cũng bằng phương pháp này tôi dạy các từ vựng khác như Danh từ, Tính từ, Động từ. . . Bên cạnh đó tôi có thể cho học sinh đem ra những vật thật có sẳn ở tại lớp để ra trước mặt. Ví dụ: Giới thiệu từ “pen” tôi lấy từ trong túi tôi ra 1 cây viết mực và nói: What is this? HS nói đó là cây viết và đưa ra cấu trúc: It is a pen, sau đó tôi đưa tiếp vật khác, như là: Cây thướt , cục tẩy, bảng đen. . .Nếu không có vật thật thì thay thế bằng những bức tranh vẽ riêng một vật nào đó: Ví dụ: giới thiệu từ “close” trong câu “close your book” tôi hỏi hãy nhìn vào động tác của thầy, thầy đang làm gì? Tôi hỏi “What am I doing?” Và sách trên bàn tôi đang mở ra và tôi lập tức xếp sách lại ngay, HS thấy tôi đang đóng sách lại HS hiểu ngay từ “close” Ví dụ: Giới thiệu tính từ, từ “tall” “short” và tôi đưa tranh lên vẽ một cậu bé cao thật cao và một cậu bé lùn thật lùn. Và chỉ vào người lùn và kết hợp hành động tay và hỏi “Is he short?” HS nhận ra người lùn và biết ngay nghĩa từ “short” ngược lại từ “tall” Ở mẩu câu 2: listen and repeat. Unit 9 The Body (class 6) dùng màu sắc của đồ vật, tôi vẽ hình tròn và tô màu lên chúng, để gới thiệu các từ vựng mới như: “Whit, yellow, brown, red, black, bluc” (Màu trắng, vàng, nâu, đỏ, đen, xanh) HS chia để nhận ra màu sắc tốt hơn. Qua tiết học đó (Năm học 2002 – 2003) Tôi cảm nhận rằng các em học rất sinh động, hiểu và nhớ từ vựng lâu hơn. b/ Dùng tranh vẽ đơn giản trên bảng kết hợp với điệu bộï và giọng nói của GV: Ngoài việc giới thiệu từ bằng tranh hay đồ vật thật, đôi khi vẽ lên bảng và kết hợp điệu bộ hay giọng nói của mình để minh họa từ mới giúp HS hiểu một cách trực tiếp mà không qua khâu dịch ra Tiếng Việt . Cụ thể: Khi giới thiệu: “to sing” (hát) trong câu “Ngoc son is singing” (Ngọc sơn đang hát) Lúc đó tôi minh họa hình sưu tầm hoặc vẽ hình “Ngọc sơn” đang trình diễn lên bảng và tôi cũng làm điêu bộ như đang hát thì học sinh sẽ hiểu ngay nghĩa từ tiếng việt của từ “to sing” mà không cần dịch. Tuy nhiên không phải lúc nào củng dạy từ vựng bằng phương pháp sử dụng giáo cụ trực quan. Do vậy đối với các từ vựng trừu tượng thì tôi có dùng phương pháp nào? 2/ Phương pháp trừu tượng: Theo tôi, có 2 loại phương pháp dạy từ vựng trừu tượng: a/ Sử dụng ngữ cảnh: Với mục đích duy nhất là làm sao cho các em học tố bộ môn Ngoại ngữ nên tô đã kết hợp nhiều phương pháp mới như sử dụng ngữ cảnh để giải nghĩa của từ, giúp Hs quen dần với phương pháp này để rèn luyện cho việc rèn luyện tốc độ đọc, hiểu sau này. Bằng việcdựa vào ngữ cảnh đoán nghĩa của từ, các em sẽ đọc nhanh và hứng thú vì không phải ngừng lại nhiều để tra tự điển những từ có thể đoán được. Sau đây là một số cách gợi ý sử dụng ngữ cảnh để gới thiệu từ cho HS: * Dùng cách giải thích hoặc định nghĩa đơn giản: Ví dụ: – That is any father and that is my mo ther – Those are my parents. ( Đó là cha của tôi, và đó là mẹ của tôi) (Đóù là cha, mẹ của tôi) * Dùng từ đồng nghĩa hay phản nghĩa: – Ví dụ 1: Your sister is beautifill but my brether is ugli (Chị gái của bạn thì đẹp nhưng anh trai của tôi thì xấu xí) – Ví dụ 2: Miss Lien is tall and Lan is tall (Cô liên thì cao và Lan thì cao) We live in my Xuyen. Our country is my Xuyen (chúng tôi sống ở Mỹ Xuyên. Quê của chúng tôi là Mỹ Xuyên.) + Nhìn chung sử dụng phương pháp này tương đối khá cho phương pháp mới ( Có thể làm nhóm tốt để đoán nghĩa của từ vì nó đòi hỏi phải có vốn từ nhất định. Nhưng nó có tác dụng phát huy dược tính tư duy của Hs, đặt biệt là rèn luyện dần thối quen cho các em khi học bài “ Dialogue” (Hội thoại) hay giới thiêu từ mới từ bài: “ Dialogue” reading, listening, writng. 2/ Dạy từ vựng thông qua các bài hát tiếng Anh nho nhỏ hay các câu danh ngôn, thành ngữ: Để giúp các em bớt căng thẳng sau tiết học, đôi khi xem một số bài hát tiếng Anh nhỏ hoặc các câu danh ngôn, thành ngữ có nội dung giáo dục phù hợp sẽ giúp các em thư giản, phấn khởi và tiếp tục tiếp thu bài ở các tiết học tiếp theo. Cụ thể: -Các bài hát: “Hello teacher”, “Happy birthday” “The ABC sing’. . .và một số thành ngữ, tục ngữ khác như: “You are never too old to learn” (Học không bao giờ muộn) All things are diffieeft before they are easy (Vạn sự khởi đầu nan) “ Lost time is never toun again” (Đánh mất thời gian thì không bao gời tìm lại được) + Nhìn chung vui học là điều rất cần thiết. Tuy nhiên cần có sự lựa chọn thì mới có tác dụng giúp Hs hiểu sâu thêm từ đã học, phát triển thêm vốn từ của các em, đặt biệt là phải mang tính giáo dục các em B/ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG CHO HỌC SINH: Muốn thực hành giao tiếp bằng tiếng Anh lưu loát, không chỉ nắm vững ngữ pháp là đủ mà cần phải có một số lượng từ vựng phong phú. Thế nên ngoài việc dạy từ vựng trong SGK , tôi luôn cũng cố và phát triển thêm vốn từ cho HS – Không riêng đối với HS khá giỏi mà kể cả HS yếu.Qua đó tôi đã tự cũng cố lại kiến thức của mình để làm nền tảng cho các năm học về sau. Vì vậy, trước khi phát triển từ vựng mới, vốn từ cho HS tôi thường cũng cố vốn từ cho các em với nhiều hình thức khác nhau: 1/ Trò chơi viết từ: ( Đối với HS khá, giỏi tôi chia lớp ra làm 2 nhóm A và B và bảng cũng được chia ra làm 2 phần. Hai nhóm sẽ bóc thăm xem nhóm nào lên viết trước. Nếu nhóm A lên bảng viết từ bên phải bảng của mình thì nhóm B, 1 em sẽ viết liền sao cho: Ví dụ: A B Book That Tell This Rular Is How Room Close Pen Và cứ tiếp tục như thế, số lượng từ của 2 nhóm sẽ tăng dần cho đến khi nhóm nào ‘bí” thì thua. 2/ Trò chơi viết từ bắt đầu theo chữ cái qui định: (đối với Hs trung bình) Tôi chia lớp ra làm hai nhóm A và B bảng cũng được chia làm hai phần. Mỗi nhóm cử một đại diện lên ghi các từ vựng mà mình biết theo chữ cái đã qui định: Ví dụ: Viết bằng chữ “ B” A B Book Board Bench Beautifful Brother Behird Big Bank Brush Bus Và cứ tiếp tục như thế cho đến khi nhóm nào “Bí” thì thua. 3/ Trò chơi hỏi, đáp: Lớp được chia làm 2 nhóm thay phien nhau, nhóm 1 hỏi nhóm 2 trả lời và ngược lại. Câu hỏi và trả lời được viết lên bảng và có giới hạn thời gian nên nhóm nào quá “Chậm” hay “bị” thì thua và bị “phạt” và nhóm “thắng” thì được “ thưởng” khen nhóm thua cần phải khen thưởng cho nhóm thắng một món quà nho nhỏ để khích lệ tinh thần học tập. III/ KẾT LUẬN: Qua quá trình học và dạy Ngoại ngữ tôi rút ra được hai phbương pháp sau để làm tăng số lượng từ : a/ Phương pháp thụ động: b/ Phương pháp tích cực: Đối với phương pháp thụ động thì chỉ cần HS ngày ngày tiếp nhận một số ít kiến thức. Có thể các em cố đọc để nhớ, hiểu nội dung và gặp từ khó thì tra tự điển để nhớ. Nhưng nếu gom góp một ngày một ít thì số lượng từ cũng sẽ phong phú hơn. Do đó phương pháp này chỉ yêu cầu có sử dụng rộng rãi, dưới nhiều hình thức và chỉ cần HS đọc những quyển sách báo phù hợp với trình độ của các em như: Những truyện dịch song ngữ: “Elementary stories For Repoduction 2 hoặc cung cấp cho các em một số bài hát mới hay những câu thành ngữ nhằm mục đích phát triển từ vựng cho HS. “A friend in need is a friend in deed” (Gian nguy mới biết bạn hiền) “Slow and stendy win the races” (Chậm và chắc sẽ thắng cuộc) * Kết quả chung: Qua quá trình thực hiện các phương pháp trên, tôi thu được kết quả khá khả quan – Lớp học sinh động – Học sinh dễ tiếp thu bài mới – Học sinh học thuộc từø dễ hơn và không “sợ” bộ môn tiếng Anh – Một số học sinh rất ham học và luôn mạnh dạn vận dụng kiến thức đã học vào trong giao tiếp bằng tiếng Anh Cụ thể: Kết quả từ đầu năm tới nay ở khối 6 đạt kết quả như sau: Sỉ số 149 học sinh ở 4 lớp: 63, 64, 73, 74. Giỏi: 40 HS Kha:ù 55 HS TB: 25 HS Yếu: 19 HS Kém: 10 HS Nhìn chung qua một học kỳ vận dụng sáng kiến vào phương pháp giảng dạy mặc dù kết quả đạt chưa cao lắm nhưng đó là đều phấn khởi cho thầy trò chúng tôi tiếp tục cố gắng để đạt kết quả ngày một cao hơn. Qua quá trình áp dụng các phương pháp trên trong giảng dạy ngoại ngữ, tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm sau: 1/- Giáo viên nên đầu tư vào đồ dùng dạy học vì giáo cụ trực quan sẽ đem lại kết quả khả quan hơn trong tiết dạy, đặc biệt là bộ môn tiếng Anh. 2/- Giáo viên nên giúp học sinh củng cố kiến thức, phát triển từ vựng và vận dụng các từ đã học vào giao tiếp thực tế. Ý kiến của Ban thi đua: Ưu: – Có đầu tư viết sáng kiến – Đưa ra được các biện pháp phát triển từ vựng cho học sinh – Có minh họa Hạn chế: – Cần hướng dẫn cho học sinh cách học từ vựng ở nhà Xếp loại: Khá Long Đức, ngày 07 tháng 12 năm 2003 Người viết Nguyễn Thanh Nam

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Cá Thể Hóa Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 5 / 2023

PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA ===================== SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁ THỂ HÓA MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Chức vụ : Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Điện Biên 1 SKKN thuộc lĩnh vực: Toán THANH HÓA NĂM 2017 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA ===================== SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁ THỂ HÓA MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Chức vụ : Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Điện Biên 1 SKKN thuộc lĩnh vực: Toán MỤC LỤC Trang 1. PHẦN MỞ ĐẦU 1 2. PHẦN NỘI DUNG 2 2.1. Cơ sở lí luận 2 2.2. Thực trạng vấn đề 2 2.3. Các biện pháp dạy học cá thể hóa môn Toán cho học sinh lớp 5 3 2.4. Hiệu quả của việc vận dụng các biện pháp dạy học cá thể hóa 15 Môn Toán cho học sinh lớp 5 3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 17 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài Trong những năm gần đây, ngành GD-ĐT đã có nhiều chủ trương đẩy mạnh hoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức với nhiều biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục từ vùng có điều kiện thuận lợi đến vùng sâu, vùng xa. Xuất phát từ yêu cầu của đổi mới giáo dục nước nhà, vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học nhằm đào tạo một lớp người lao động mới phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là đồi hỏi bức thiết của xã hội. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, những con người tự chủ, năng động, sáng tạo phù hợp với thời kì đổi mới nhất thiết phải đổi mới giáo dục cụ thể là đổi mới PPDH. Phải lựa chọn PPDH sao cho đạt được mục tiêu “Dạy người khác muốn học; dạy người khác biết học; dạy người khác kiên trì học tập và dạy người khác học tập có kết quả”. Thực hiện yêu cầu trên, ngành giáo dục nước ta đă và đang tiến hành đổi mới PPDH mà dạy học theo hướng cá thể hóa học sinh được coi là một quan điểm sư phạm tiên tiến. Thực trạng dạy học hiện nay ở trường Tiểu học, phần lớn giáo viên đều nhận thấy dạy học cá thể hóa là việc hết sức cần thiết vì trong một lớp hiện nay khả năng tiếp thu và trình độ của HS không đồng đều. Đặc biệt với môn Toán là môn học có vị trí quan trọng trong nhà trường. Tuy nhiên việc dạy theo xu hướng này không dễ dàng, nhất là ở những lớp có sĩ số HS đông. Yêu cầu đặt ra cho các nhà giáo tâm huyết là phải tìm ra các giải pháp tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp với khả năng tư duy của từng học sinh, có như vậy mới phát huy hết năng lực của các em, chất lượng dạy và học cũng từ đó mà được nâng lên. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp dạy học cá thể hóa môn Toán cho học sinh lớp 5.” 1. 2. Mục đích nghiên cứu: Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học toán cho tất cả đối tượng HS lớp 5. 1. 3. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp dạy học cá thể hóa môn toán cho học sinh lớp 5. 1. 4. Các phương pháp nghiên cứu: – Phương pháp đọc sách và tài liệu – Phương pháp trò chuyện – Phương pháp quan sát khách quan – Phương pháp thăm dò – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục 2. NỘI DUNG 2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN Dạy học cá thể hóa là phương pháp giảng dạy yêu cầu người giáo viên phải quan tâm tới từng đối tượng HS, dạy cho từng cá nhân chứ không phải dạy theo số đông. Muốn vậy, GV phải nắm được năng lực tiếp nhận và cả đặc điểm tâm sinh lý của từng em. Bởi vì mỗi con người không ai giống ai mà có những đặc điểm khác nhau. Việc kết hợp giữa giáo dục đối tượng “đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng” với giáo dục đối tượng “năng khiếu” trong dạy học ở trường phổ thông cần được tiến hành theo các tư tưởng chủ đạo sau: Trong việc dạy học phải biết lấy trình độ phát triển chung và điều kiện chung của HS trong lớp làm nền tảng, phải hướng vào những yêu cầu thật cơ bản. Người giáo viên phải biết lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù hợp với trình độ và điều kiện chung của lớp. Sử dụng những biện pháp phân hoá đưa đối tượng HS ở mức độ dưới chuẩn kiến thức, kĩ năng lên trình độ chung. Trong cùng một giờ dạy, GV có thể bổ sung những kiến thức ngoài chuẩn kiến thức, kĩ năng cho đối tượng HS năng khiếu sau khi đă hoàn thành xong những yêu cầu cơ bản của giờ học. Yêu cầu xã hội đối với HS vừa có sự giống nhau về những đặc điểm cơ bản của người lao động trong cùng một xã hội, vừa có sự khác nhau về trình độ nhận thức, khuynh hướng nghề nghiệp và tài năng của từng người… HS trong cùng một lớp học vừa có sự giống nhau vừa có sự khác nhau về trình độ phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các học sinh có thể có tác động khác nhau đối với quá trình dạy học. Sự giống nhau và khác nhau về yêu cầu xã hội và về trình độ phát triển nhân cách từng người đ̣òi hỏi một quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp phân hoá nội tại. Để đảm bảo giờ dạy học cá thể hoá đạt hiệu quả tối đa thì sự hiểu biết của người thầy về từng HS là hết sức quan trọng. Dạy học phân hoá cần được xây dựng thành một kế hoạch lâu dài, có hệ thống, có mục tiêu. 2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁ THỂ HÓA Việc dạy học cá thể hóa HS ở trường Tiểu học Điện Biên 1 luôn được sự quan tâm của Ban giám hiệu, sự chỉ đạo sát sao các hoạt động chuyên môn Phần lớn học sinh chăm ngoan, đi học đều và đúng giờ, nhiều em có năng khiếu trong học tập. Phụ huynh đều quan tâm đến việc học của học sinh. Nhà trường có đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề, hết lòng vì học sinh thân yêu. Nhà trường trang bị đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học để phục vụ công tác giảng dạy. Tuy vậy, việc dạy học cá thể hóa học sinh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định. – Thời gian cho một tiết học chỉ có 35 phút, đối tượng học sinh không đồng đều do vậy còn có những khó khăn trong việc dạy học cá biệt hóa. – GV dạy học cả ngày nên thời gian dành để nghiên cứu bài dạy phù hợp với từng đối tượng cũng khó vì dạy học cá thể hóa học sinh cần có sự chuẩn bị bài rất chu đáo. – Giáo viên tiểu học phải dạy nhiều môn nên thời gian chuyên sâu cho từng môn còn ít. – Thời lượng dành cho các tiết thực hành của học sinh khối 5 rất ít (chỉ còn 1 tiết thực hành trong một tuần) . – Một số học sinh khả năng chú ý trong tiết học chưa cao. Một số em cảm thấy mỏi mệt khi tham gia học tập. – Khả năng tư duy sáng tạo của các em còn nhiều hạn chế. 2.3. CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁ THỂ HÓA MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 2.3.1. Giáo viên cần nắm vững đối tượng học sinh trong lớp Để thực hiện việc dạy học cá thể hóa cho học sinh đạt hiệu quả, việc nắm và phân hóa đối tượng học sinh trong lớp là việc làm vô cùng cần thiết. Bởi có phân hóa được học sinh thì người giáo viên mới có thể chọn hệ thống phương pháp, hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp với các đối tượng. Việc này giúp cho học sinh hứng thú trong học tập, hiệu quả của giờ học từ đó được nâng lên. Để nắm rõ được các đối tượng HS trong lớp, GV tìm hiểu đối tượng thông qua các cách: – Ngay từ đầu năm học, khi mới nhận lớp, giáo viên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp năm trước để biết đặc điểm, lực học của từng em. Đồng thời tìm hiểu trình độ học sinh còn được giáo viên thực hiện qua việc tìm hiểu kết quả học tập năm học trước. – Quan sát việc học tập của HS trong các giờ học, qua việc học bài và chuẩn bị bài ở nhà. GV cần thường xuyên chấm bài trên lớp. – Tăng cường hỏi – đáp trong các giờ học, ngoài giờ học. Thông qua hệ thống câu hỏi mở để phát hiện học sinh hoàn thành tốt nội dung môn toán. – Trao đổi với phụ huynh về việc học của HS ở nhà. – Trao đổi với học sinh trong ban cán sự lớp, trao đổi với HS khác trong lớp. – Ra đề kiểm tra với 4 mức độ theo thông tư 22 để phân hóa học sinh. Nội dung đề ra với 4 mức độ với tỉ lệ khoảng: + 30% đến 40% ở mức 1 (nhận biết, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng đã học) + 20% đến 30% ở mức 2 (hiểu kiến thức, kĩ năng đã học, trình bày, giải thích được kiến thức theo cách hiểu của cá nhân) . + 20 % ở mức 3 (biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để làm bài). + 10% đến 20% ở mức 4 (vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học một cách sáng tạo). Việc nắm vững đối tượng học sinh trong lớp đã được giáo viên coi là một nhiệm vụ và thực hiện nghiêm túc, chính vì vậy giáo viên đã dễ dàng thực hiện dạy học cá thể hóa trong môn toán. 2.3.2.Tổ chức dạy học cá thể hóa học sinh ở các tiết chính khóa. * Đối với dạng bài xây dựng kiến thức mới: Dạy học theo hướng đổi mới, ngay trong tiết học chính khóa, học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên. Để tổ chức dạy học theo hướng dạy học cá thể hóa học sinh, GV cần nghiên cứu kĩ chương trình toán lớp 5. Từ việc nắm chương trình, giáo viên nắm được mục tiêu cần đạt của cả năm học, của từng chương, từng bài. Dạng bài dạy kiến thức mới có vai trò cung cấp kiến thức cho học sinh. Đối với dạng bài này, giáo viên cần: – Nắm vững mục tiêu tiết học. Lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho mỗi hoạt động dạy học. +  Hướng dẫn học sinh tự phát hiện vấn đề của bài học bằng việc học cá nhân, huy động những hiểu biết của cá nhân. Lập mối liên hệ giữa vấn đề mới phát hiện với các kiến thức đã biết, từ đó tìm cách giải quyết vấn đề. + Hướng dẫn học sinh hoạt động nhóm để tìm ra kiến thức hay cũng có thể tìm ra kiến thức mới trên cơ sở là hệ thống câu hỏi gợi ý, quan sát kênh hình trong sách giáo khoa,…Việc thành lập các nhóm học tập để tiếp thu kiến thức mới cũng có thể chia nhóm ngẫu nhiên hoặc chia nhóm cùng trình độ,… -  Trân trọng, khuyến khích mọi cách giải quyết của HS, giúp các em lựa chọn cách giải quyết hợp lí nhất. – Tổ chức cho HS thực hành, vận dụng kiến thức mới học để học sinh được “học qua làm”, góp phần giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới, bằng cách sử dụng các bài tập trong SGK để tổ chức cho HS tự làm bài theo năng lực của mình. – Dự kiến hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh + Đối với đối tượng học sinh hoàn thành tốt môn toán: Hệ thống câu hỏi của giáo viên không đưa ra nhiều, câu hỏi chỉ mang tính chất gợi ý.   Sau khi đã nắm vững lí thuyết, khuyến khích học sinh tự vận dụng để giải các bài tập. + Đối với học sinh ở mức độ hoàn thành bài và hoàn thành còn chậm trong tiết học: Hệ thống câu hỏi phải được chẻ nhỏ ra, các câu hỏi mang tính cụ thể. Đối tượng này thường rụt rè nên giáo viên năng động viên khi học sinh có sự tiến bộ cho dù là nhỏ. Sau khi nắm vững lí thuyết, đến phần thực hành thì giáo viên cần yêu cầu nhắc lại lí thuyết trước khi làm mỗi bài tập để học sinh nhớ và vận dụng được. – Học sinh chuẩn bị tốt cho tiết học kiến thức mới ở nhà. Học sinh tiểu học hiện nay không phải làm bài tập về nhà. Song việc này không đồng nghĩa với việc làm bài tập ở nhà mà là, việc làm này giúp học sinh tăng khả năng tự học và luôn tự tin vào bản thân. Việc chuẩn bị bài ở nhà, giáo viên yêu cầu các đối tượng học sinh như sau: + Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt, giáo viên yêu cầu học sinh tự đọc sách giáo khoa, tìm cách thực hiện các ví dụ (ở phần bài mới) và trả lời được câu hỏi: “Vì sao lại làm được như thế?”. + Đối với HS ở mức độ hoàn thành nội dung môn toán: Học sinh đọc sách giáo khoa, bước đầu hiểu được vấn đề và nếu chưa hiểu thì có thể tham khảo ý kiến người trong gia đình. Ví dụ: Dạy dạng bài hình thành kiến thức mới: Cộng hai số thập phân (Tiết 48– Môn Toán – Lớp 5) Mục tiêu tiết dạy: Học sinh biết: – Cộng hai số thập phân. – Giải bài toán với phép cộng các số thập phân. Phần xây dựng bài mới gồm hai ví dụ: Ví dụ 1: Đường gấp khúc ABC có đoạn thẳng AB dài 1,84m và đoạn thẳng BC dài 2,45m. Hỏi đường gấp khúc đó dài bao nhiêu mét? Ví dụ 2: 15,9 + 8,75 = ? Để chuẩn bị tốt cho tiết dạy học kiến thức mới, giáo viên tiến hành dạy học cá thể hóa như sau: 1,25 m = ….. cm ; 34,7m = …. cm – GV chia lớp thành nhóm HS ngẫu nhiên theo bàn (2 bàn chia vào 1 nhóm). – Học sinh sẽ thực hiện như sau: + Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt, các em sẽ dựa vào kiến thức bài cũ vừa được kiểm tra (đổi đơn vị đo độ dài) để đổi đơn vị đo từ mét ra xăng-ti-mét sau đó cộng như cộng hai số tự nhiên (đơn vị là xăng-ti-mét). Cuối cùng là đổi kết quả từ xăng-ti-mét ra mét: Đổi: 1,84m = 184 cm 2,45 m = 245 cm + 184 245 429(cm) 429 cm = 4,29 m. HS tìm được độ dài đường gấp khúc ABC là 4,29 m. + Để tìm được độ dài đường gấp khúc ABC, cần làm thế nào? (Thực hiện phép cộng: 1,84 m + 2,45 m = ? ) + Chúng ta đã biết cộng hai số thập phân chưa? (chưa biết) + Chúng ta đã biết cách cộng hai số tự nhiên chưa? (đã biết rồi). + Vậy có thể đổi số đo thập phân có đơn vị mét ví dụ 1 sang đơn vị nào để có thể thành số đo là số tự nhiên? (xăng-ti-mét hoặc mi-li-mét) + Với các số đo trong ví dụ 1, ta nên đổi từ mét sang xăng-ti-mét hay mi-li-mét thì thuận tiện hơn? Vì sao? (đổi thành xăng-ti-mét vì sẽ được số nhỏ hơn, dễ cộng hơn) Với hệ thống câu hỏi chẻ nhỏ như vậy, học sinh được đánh giá ở mức độ hoàn thành hoặc hoàn thành chậm sẽ có thể dễ dàng tự tìm ra kiến thức. Yêu cầu học sinh kết luận lại: 1,84 m + 2,45 m = 4,29m – Giáo viên chốt lại: 1,84 m + 2,45 m = 4,29m – Yêu cầu HS không đổi đơn vị đo, tìm cách cộng hai số thập phân 1,84 m + 2,45 m = ?m – Có thể gợi ý cho học sinh: Quan sát vị trí các dấu phẩy ở các số hạng và tổng để có thể đặt tính. Học sinh thực hiện và nêu cách làm, giáo viên điều chỉnh và kết luận về cách cộng hai số thập phân. + 184 + 1,84 245 2,45 429(cm) 4,29(m) 429cm = 4,29m Vận dụng GV hướng dẫn HS tìm cách thực hiện ví dụ 2 như sau: + HS làm bài cá nhân: đặt tính, tính kết quả. + HS trình bày bài trên bảng lớp. Như vậy với cách tổ chức dạy học chia nhóm và cá nhân, học sinh đã tự tìm ra kiến thức. Tiết học nhẹ nhàng, gây được hứng thú đạt hiệu quả cao. Học sinh tiếp thu còn chậm đã tự tin hơn rất nhiều. Đối tượng HS ở mức độ hoàn thành tốt có điều kiện thể hiện kiến thức của bản thân trong quá trình trao đổi, hướng dẫn cho bạn mình. * Đối với dạng bài luyện tập, luyện tâp chung, thực hành, ôn tập: Nếu như dạng bài dạy kiến thức mới có vai trò cung cấp kiến thức cho học sinh thì đối với dạng bài luyện tập, luyện tâp chung, thực hành, ôn tập lại có vai trò củng cố lại kiến thức đã học và rèn luyện các kĩ năng trong bài học, giúp tất cả các đối tượng HS khắc sâu kiến thức. Đối với dạng bài này, giáo viên cần: – Nắm vững mục tiêu tiết học và nắm được nội dung các bài tập luyện tập trong tiết học. Từ đó, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho mỗi hoạt động dạy học. – Tốc độ làm bài, giải quyết vấn đề của mỗi HS khác nhau. Vì thế, GV cần quan tâm dạy cá nhân. Bên cạnh đó, GV có thể tổ chức dạy theo nhóm ngẫu nhiên để HS hoàn thành tốt có thể giúp HS hoàn thành bài chậm hoặc nhóm HS cùng trình độ để HS hoàn thành tốt có điều kiện mở rộng kiến thức còn HS hoàn thành bài chậm nắm bài tốt hơn. – Giúp HS tự phát hiện ra mối liên hệ giữa bài tập và các kiến thức đã học, từ đó lựa chọn, sử dụng những kiến thức thích hợp để giải bài tập. – Giúp HS tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng em, không dạy học “đồng loạt”, “bình quân”. Khi tổ chức cho HS làm bài, chữa bài GV cần quan tâm đến từng đối tượng HS. Ví dụ: Dạy dạng bài: Luyện tập ( tiết 135 – Môn Toán – lớp 5) Mục tiêu tiết day: Học sinh biết: – Biết tính thời gian của một chuyển động đều. – Biết quan hệ giữa thời gian, vận tốc và quãng đường. Ở tiết học trước, HS đã được học về quy tắc và công thức tính thời gian của một chuyển động đều. Tiết học này giúp HS củng cố lại kiến thức đã học qua việc luyện tập các bài tập theo yêu cầu của Chuẩn kiến thức, kĩ năng. (Bài tập 1, 2, 3). * Bài 1 và bài 3: Bài 1: Viết số thích hợp vào ô trống: S (km) 261 78 165 96 V ( km/giờ ) 60 39 27,5 40 T ( giờ ) Bài 3: Vận tốc bay của một con chim đại bàng là 96 km/giờ. Tính thời gian để con đại bàng đó bay được quãng đường 72 km. Để chuẩn bị tốt cho tiết dạy , giáo viên tiến hành dạy học cá thể hóa như sau: – GV cho HS làm bài cá nhân: + Đối với HS hoàn thành tốt : GV cho HS tự làm bài cá nhân. + Đối với HS hoàn thành bài và hoàn thành chậm: GV đưa ra các câu hỏi giúp HS nhớ lại kiến thức cũ để vận dụng làm bài. Chẳng hạn: + Để tính thời gian của một chuyển động đều cần làm thế nào? ( lấy quãng đường chia cho vận tốc) + Các đơn vị đo của hai đại lượng đã biết hợp lí chưa? (hợp lí vì vận tốc có đơn vị là km/giờ, quãng đường có đơn vị là km) …………….. – HS làm bài cá nhân xong, GV cho HS chữa bài trên bảng lớp. Qua việc thực hành bài tập này để giúp HS khắc sâu kiến thức đã học tính thời gian của một chuyển động đều . * Bài 2: Một con ốc sên bò với vận tốc 12cm/phút. Hỏi con ốc sên đó bò được quãng đường 1,08m trong bao lâu ? Yêu cầu của bài tập này là tính thời gian của một chuyển động đều khi biết quãng đường và vận tốc đi với đơn vị đo chưa cùng dạng (vận tốc của ốc sên tính theo đơn vị cm/phút, còn quãng đường tính theo đơn vị mét). Để hướng dẫn HS ở bài tập này, GV thực hiện như sau: – Đối tượng HS ở mức độ hoàn thành và hoàn thành chậm: HS dễ mắc lỗi sai phổ biến là không chú ý đến đơn vị đo của hai đại lượng đã biết nên kết quả bài tập sai. GV đưa ra các câu hỏi gợi ý cho HS. Chẳng hạn: + Hai đại lượng đã biết có đơn vị đo hợp lí chưa? ( chưa hợp lí vì vận tốc của ốc sên tính theo đơn vị cm/phút, còn quãng đường tính theo đơn vị mét) + Trước khi tìm thời gian của chuyển động, cần làm gì trước? (đổi quãng đường sang đơn vị xăng-ti-mét) + Vì sao lại đổi quãng đường sang đơn vị xăng-ti-mét ? ( vì vận tốc tính theo đơn vị cm/phút) + Muốn tìm thời gian con ốc sên bò, chúng ta cần làm thế nào? ( lấy quãng đường chia cho vận tốc ) Cụ thể: Đổi: 1,08 m = 108 cm Thời gian ốc sên bò là: 108 : 12 = 9 (phút ) Đáp số: 9 phút – Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt: HS thực hiện bài tập như trên và làm cách khác sáng tạo bằng cách thực hiện phép đối đơn vị vận tốc từ cm/phút sang đơn vị m/phút : lấy vận tốc theo đơn vị cm/phút chia cho 100. Cụ thể: Đổi 12cm/phút = 0,12 m/phút Thời gian ốc sên bò là: 1,08 : 0,12 = 9 (phút) GV yêu cầu đối tượng HS hoàn thành tốt làm thêm bài tập còn lại (bài 4). GV tổ chức cho HS trình bày cách làm và kết quả trước lớp: + Bài 4: Một con rái cá có thể bơi với vận tốc 420m/phút. Tính thời gian để rái cá bơi được quãng đường 10,5 km. Như vậy, với cách tổ chức dạy học như trên, HS được thực hành theo khả năng của từng em, giúp HS ở mức độ hoàn thành bài chậm và hoàn thành bài giải quyết các bài tập trong một tiết học, HS hoàn thành tốt làm thêm bài tập ở mức độ nâng cao. 2.3.2. Dạy học cá thể hóa thông qua việc hướng dẫn HS tự học ở nhà. Biện pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà là biện pháp GV định hướng cho HS nội dung bài tiếp theo và giúp HS củng cố và mở rộng thêm kiến thức, tạo cho HS thói quen ham học, góp phần giúp GV trong việc dạy học cá thể hóa. Tùy từng đối tượng HS, GV hướng dẫn HS tự học sao cho phù hợp bằng các biện pháp: – Đối với đối tượng HS ở mức độ hoàn thành và chưa hoàn thành: + Học thuộc các quy tắc, công thức toán. + Đọc sách, đọc Tạp chí Toán tuổi thơ, báo Chăm học, Đề thi Tìm kiếm tài năng Toán trẻ, Bộ đề thi Toán Quốc tế lứa tuổi tiểu học,… + Sưu tầm các bài tập cùng dạng đã học qua mạng internet hoặc sách tham khảo. – Đối với đối tượng HS hoàn thành tốt: GV

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Hình Học Lớp 8 / 2023

Hôn Hình học là phân môn gắn liền với thực tế cuộc sống, vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần cho học sinh liên hệ kiến thức đã học vào thực tế, sử dụng các kiến thức hình học vào các công việc thường ngày. Điều này làm cho học sinh khỏi phải trừu tượng khi học lý thuyết và các em có thể nhớ kiến thức lâu hơn.

Ví dụ: Khi học chương Tứ giác giáo viên hướng dẫn cho học sinh cắt thế nào để được chính xác các hình: hình thanh cân thì phải gấp một lần tờ giấy cắt hai đáy song song trước rồi cắt hai cạnh hai bên bằng nhau; cắt hình thoi thì phải gấp hai lần tờ giấy rồi cắt cạnh của nó vì hình thoi có hai đường chéo là trục đối xứng và bốn cạnh bằng nhau.

– Học xong chương II “Diện tích đa giác” giáo viên tổ chức một buổi thực hành chia lớp thành 4 tổ mỗi tổ đo một khu vực của khuôn viên trường sau đó tổng hợp lại để biết được diện tích của khuôn viên trường.

tự giác, chủ động và tích cực trong việc chiếm lĩnh tri thức. Đặc biệt với học sinh có biểu hiện chán học, khó tiếp thu hoặc không có tinh thần tiếp thu kiến thức sẽ khiến các em rơi vào tình trạng học sa sút. Bởi vậy người giáo viên phải dùng cái tâm của mình để giúp các em vượt qua trở ngại này vươn lên trong học tập. Và khi ấy người giáo viên thực sự dành cho các em một sự động viên, khích lệ kịp thời để tạo ra một bước đột phá trong học tập. Khi xác định được mục đích, ý nghĩa lớn lao của vấn đề này mới có thể xây dựng được phương pháp phù hợp nhất. Bởi vậy biện pháp tạo hứng thú cho học sinh học phân môn Hình học 8 là một nội dung có tính chất quan trọng và lâu dài đối với nhà trường nói chung và từng giáo viên nói riêng. Khi xây dựng đề tài này bản thân tôi hướng đến mục đích cụ thể như vậy nhằm triển khai có hiệu quả phương pháp mà mình đã tích lũy qua nhiều năm làm công tác giảng dạy môn Toán cho học sinh THCS. II. NỘI DUNG 1. Thực trạng vấn đề. Bám sát định hướng chung của ngành trong việc đổi mới phương pháp dạy học Toán ở trường THCS là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, khơi dậy và phát triển năng lực tự học, nhằm hình thành cho học sinh tư duy tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm say mê, hứng thú học tập cho các em. Đặc biệt những năm học gần đây toàn ngành đang thực hiện phong trào " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" thì việc tạo hứng thú học tập cho học sinh cũng chính là tạo cho các em có niềm tin trong học tập, khơi dậy trong các em ý thức " mỗi ngày đến trường là một ngày vui". Đó chính là cơ sở để khẳng định tạo hứng thú cho học sinh học tập nói chung, phân môn Hình học nói riêng trở thành một đòi hỏi đối với người làm công tác giảng dạy. 2. Nội dung, phương pháp thực hiện. a. Nội dung: Bản thân tôi là một giáo viên đã trực tiếp giảng dạy môn Toán 8 được 4 năm từ khi đổi mới chương trình SGK phổ thông, trong đó tất cả thời gian tôi dều giảng dạy tại trường THCS Chu Văn An tôi thấy rằng: -Trong trường THCS môn Toán là môn khoa học luôn được chú trọng cao và cũng là môn có nhiều khái niệm trừu tượng. Nhất là phân môn Hình học có nhiều khái niệm trừu tượng nhất, bởi khi thực hiện các bài làm đối với hình vẽ lại phải " mở rộng" các yếu tố như: vẽ thêm đường phụ để chứng minh, điểm, đường thẳng hay suy luận.... Kiến thức trong bài tập phong phú rất nhiều so với nội dung lí thuyết mới học. Bên cạnh đó yêu cầu bài học lại cao phải suy diễn chặt chẽ, lôgic. - Nếu phân môn Đại số các dạng bài tập thường có cách làm rất rõ ràng, chẳng hạn như: khi chia đa thức một biến đã sắp xếp, giải phương trình chứa ẩn ở mẫu thức, giải bài toán bằng cách lập phương trình thì SGK đưa ra các bước giải rất cụ thể ; thì phân môn Hình học lí thuyết vừa ít lại trừu tượng, các hướng đi cụ thể ít nên học sinh khó định hướng cách làm. Hơn nữa sự chênh lệch giữa kiến thức lí thuýêt với lượng bài tập và thời gian luyện tập lại quá lớn. Do đó rất khó khăn trong việc chữa bài tập cho học sinh làm ở nhà, chọn bài để hướng dẫn trên lớp sao cho đầy đủ kiến thức cơ bản mà SGK yêu cầu. Học sinh khó khăn trong việc lập luận, suy diễn lôgic đã tạo nên thái độ miễn cưỡng, chán nản ở các em. Từ đó nhiều em không nắm được kiến thức cơ bản, làm bài tập ở nhà cũng chỉ đối phó, lúng túng trong việc chọn và sử dụng dụng cụ để vẽ hình..... Điều này cho thấy giáo viên phải bỏ nhiều công sức để nghiên cứu, chọn lọc cho mình một cách soạn giảng tốt nhất để tạo hứng thú cho học sinh trong bài giảng. - Hơn nữa trường THCS Chu Văn An nằm trên địa bàn thuộc diện nghèo, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, điều kiện học tập chưa đầy đủ, nhiều em không có thời gian học ở nhà, nhiều gia đình chưa quan tâm đến việc học của con em, vấn đề xã hội hoá giáo dục chưa ngang tầm với giai đoạn hiện nay. Nên chất lượng học tập vẫn chưa được cao, số học sinh bị hỏng kiến thức còn nhiều, nhiều em còn có tâm lý sợ môn Hình học. Qua điều tra về mức độ hứng thú học môn Hình học của lớp 8A2 đầu năm cho thấy kết quả: Tổng số HS Số HS có hứng thú Số HS không có hứng thú SL % SL % 41 12 30 28 70 Qua kết quả khảo sát chất lượng đầu năm phân môn Hình học ở lớp 8A2 cụ thể như sau: TSHS KHá giỏi Trung bình Yếu kém SL % SL % SL % 40 8 20 12 30 20 50 b. Những giải pháp thực hiện. Trên cơ sở đó, tôi nghĩ giáo viên cần phải xây dựng được cho học sinh một sự hứng thú, kích thích tính tò mò, tự giác tìm hiểu về môn học. Bằng kinh nghiệm hiểu biết và tìm hiểu qua nhiều thông tin tôi có một số giải pháp như sau: Giải pháp 1:Tạo sự hấp dẫn cho học sinh khi tìm hiểu về kiến thức mới. - Với học sinh THCS ở lứa tuổi các em rất hiếu động, thích tò mò, khám phá và muốn được mọi người công nhận năng lực của mình, không thích bị áp đặt, phê bình. Điều này cho thấy khi truyền thụ kiến thức cho học sinh giáo viên phải lựa chọn những phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, kích thích được tính tò mì của các em để xuất hiện nhu cầu khám phá, từ đó các em có tâm lý để chinh phục kiến thức. Chẳng hạn: . C Khi dạy bài "Đường trung bình của tam giác" tôi đưa ra vấn để làm thế nào để gián tiếp đo khoảng cách giữa hai điểm B, C ở hai bên bờ ao. B . H Khi dạy bài "Đối xứng trục" vấn đề cần giải quyết là làm thế nào để cắt được một chữ H nhanh như tờ giấy hình chữ nhật. Khi dạy bài "Hình thoi" tôi hỏi vì sao các thanh sắt ở cửa xếp lại dễ dàng đầy vào, kéo ra được. Với bài " Diện tích hình thang" để học sinh nhớ công thức tôi cho các em ghi nhớ theo câu nói vần: "Muốn tính diện tích hình thang , đáy lớn đáy bé ta mang cộng vào, rồi đem nhân với chiều cao, chia đôi lấy nửa thế nào cũng ra". SABCD = - Mỗi kiểu bài đều có một đặc thù riêng và phương pháp dùng hình ảnh trực quan rất thích hợp đối với hình học: mô hình, vật thật, tranh vẽ là yếu tố không thể thiếu khi vào tiết dạy. Ngoài ra giáo viên nên tìm tòi những vật thật trong thực tế để tạo sự mới lạ và thú vị cho học sinh, như dạy bài đường thẳng song song cách đều tôi chỉ cho học sinh hình ảnh các song cửa sổ, các thanh rui mèn ở mái nhà, dạy bài diện tích đa giác tôi yêu cầu học sinh về nhà xem diện tích mảnh vườn nhà mình mấy m2 Vận dụng cách làm đó lớp học rất vui vẻ, học sinh tham gia xây dựng bài tích cực, đồng thời các em sẽ nhớ và vận dụng làm bài tập nhanh hơn và lâu hơn. - Trong mỗi tiết dạy tôi chủ động phân định đối tượng học sinh theo 3 cấp: khá giỏi, trung bình, yếu kém để giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng từ đó lôi cuốn tất cả các em cùng tham gia vào xây dựng bài học. Câu hỏi của giáo viên cũng cần phải gợi mở, dể hiểu để kích thích sự suy nghĩ của các em. Ví dụ: Khi xây dựng Đinh lý Ta-lét trong bài "Định lý Ta-lét trong tam giác". A B C B' C' Giáo viên treo bảng phụ ?3 Gợi ý: Vì các đường kẻ ngang là các đường thẳng song song cách đều nên các đoạn liên tiếp trên AB bằng nhau, các đoạn liên tiếp trên AC cũng bằng nhau. Giả sử lấy m làm đơn vị một đoạn chắn trên AB, n làm đơn vị một đoạn chắn trên AC. Hỏi học sinh kém đoạn AB' mấy đơn vị? Hỏi học sinh yếu tỉ số ; từ đó so sánh hai tỉ số Gọi học sinh trung bình só sánh hai trường hợp còn lại . Yêu cầu học sinh khá phát biểu thành định lý từ bài toán trên. Gọi học sinh giỏi nêu GT, KT. Làm như vậy trong một tiết học tôi huy động hết đối tượng học sinh vào xây dựng bài học. Giải pháp 2: Tạo không khi "học mà vui, vui để học" trong những tiết ôn tập. Chẳng hạn: Phần "Tứ giác" giáo viên chuẩn bị sơ đồ về mối liên hệ của các tứ giác trên bảng phụ kết hợp với các hiệu ứng trình chiếu trên giáo án điện tử thay đổi theo từng hình cho các em trả lời định nghĩa, tính chất, dấu hiệu nhận biết: Tứ giác Hình thang Thang vuông Hình bình hành Thang cân Chữ nhật H thoi H vuông - Tuy nhiên, sự hứng thú học phân môn hình học không chỉ được tạo ra trong tiết học mà còn phải kích thích cho học sinh trong thời gian học ở nhà. Chính vì vậy, đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy có thể phối hợp với những giáo viên dạy trong cùng phân môn ở các khối lớp tổ chức những chuyên đề tìm ra những cách giải nhanh, ngắn gọn cho một bài toán hoặc sáng tạo ra những thiết bị, mô hình ứng dụng của hình học Những tình huống phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, giúp các em tin tưởng và yêu thích môn học. Giải pháp 3: Tạo hứng thú cho học sinh khi áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Hôn Hình học là phân môn gắn liền với thực tế cuộc sống, vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần cho học sinh liên hệ kiến thức đã học vào thực tế, sử dụng các kiến thức hình học vào các công việc thường ngày. Điều này làm cho học sinh khỏi phải trừu tượng khi học lý thuyết và các em có thể nhớ kiến thức lâu hơn. Ví dụ: Khi học chương Tứ giác giáo viên hướng dẫn cho học sinh cắt thế nào để được chính xác các hình: hình thanh cân thì phải gấp một lần tờ giấy cắt hai đáy song song trước rồi cắt hai cạnh hai bên bằng nhau; cắt hình thoi thì phải gấp hai lần tờ giấy rồi cắt cạnh của nó vì hình thoi có hai đường chéo là trục đối xứng và bốn cạnh bằng nhau. - Học xong chương II "Diện tích đa giác" giáo viên tổ chức một buổi thực hành chia lớp thành 4 tổ mỗi tổ đo một khu vực của khuôn viên trường sau đó tổng hợp lại để biết được diện tích của khuôn viên trường. Giải pháp 4: Tạo không khí nhẹ nhàng, sôi nổi cho học sinh khi giải bài tập. C A B K O x y 1 2 3 4 E Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài tập 54 trang 96 SGK tôi phân tích theo sơ đồ: B, C đối xứng nhau qua O Ý B, O, C thẳng hàng và OB = OC Ý Ô1 + Ô2 + Ô3 + Ô3 = 1800 và OB = OC = OA Ý Ô2 + Ô2 = 900, rOAB cân, rOAC cân. - Khi giải bài tập giáo viên cho học sinh hoạt động theo nhóm từ 4 đến 6 người, tuỳ yêu cầu của bài toán, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc chủ định, được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau. Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần, trong nhóm phân công mỗi người một việc, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, giúp đỡ nhau giải quyết vấn đề trong không khí thi đua với các nhóm khác. Nhóm cử ra một người đại diện trình bày trước lớp. Ví dụ: Trong giờ luyện tập cuối chương "Tứ giác" giáo viên đưa ra bài tập 89, trang 111 SGK. Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm theo 4 trình độ yếu kém, trung bình, khá, giỏi. Phân công nhiệm vụ nhóm yếu kém làm câu a), nhóm trung bình làm câu b), nhóm khá làm câu c), nhóm giỏi làm câu d). Sau đó giáo viên gọi bất kỳ một đại diện nào của nhóm báo cáo kết quả. - Đối với phân môn hình học việc chọn lọc và phân loại bài tập là rất quan trọng, vì vậy giáo viên có thể chia bài tập ra làm nhiều dạng: bài tập cơ bản áp dụng ngay công thức, định nghĩa, định lý vừa học giúp học sinh có niềm tin và khắc sâu kiến thức; dạng bài tập thực tế cho thấy tính thực tiễn của toán học; dạng bài tập suy luận tổng hợp đòi hỏi học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ, hứng thú khám phá nhằm củng cố lại kiến thức của phần học hay chương đó. - Khi làm được điều này nó thuận lợi rất nhiều khi giao và hướng dẫn bài tậo về nhà cho các em, từ đó các em có thể làm những bài tập tương tự. Giải pháp 5:Tạo động lực, hứng thú cho học sinh khi vẽ hình. - Học phân môn Hình học thì một yếu tố rất quan trọng là học sinh phải biết vẽ hình. Thế nhưng vẽ ra sao? Yếu tố nào trước? Yếu tố nào sau? Ký hiệu như thế nào? Khi vẽ thì cần dụng cụ gì?... Điều này học sinh cần có một quá trình rèn luyện lâu dài dưới sự chỉ dẫn của giáo viên ngay từ khi các em làm quen kiến thức mới. - Khi vẽ hình cần xác định cho học sinh vừa đọc vừa vẽ, cần bổ sung các yếu tố phụ và biết biểu diễn các ngôn ngữ sang ký hiệu hình học. - Để thực hiện những điều đó giáo viên phải lựa chọn cách vẽ để hướng dẫn học sinh vẽ hình. Cụ thể: + Rèn cho học sinh có thói quen ký hiệu trên hình vẽ các trường hợp: Điểm, các đoạn thẳng bằng nhau, các góc bằng nhau, các trường hợp vuông góc, bổ sung các yếu tố phụ trên hình + Hướng dẫn học sinh cách sử dụng các dụng cụ: Êke: Vẽ góc vuông, hai đường thẳng song song Compa: Vẽ đường tròn, hình tròn, hai đoạn thẳng bằng nhau, Thước thẳng: Vẽ đường thẳng - Một yếu tố gây nhiều hứng thú nhất khi học hình học đó là sử dụng phấn màu khi trình bày hình vẽ trên bảng giáo viên nên sử dụng phấn màu hợp lý ở các điểm đặc biệt, đường đặc biệt giúp học sinh dễ phát hiện kiến thức từ hình vẽ. - Ở một số tiết giáo viên nên sử dụng phần mềm PowerPoint trình chiếu các bước vẽ hình cho học sinh quan sát. Ví dụ: Vẽ hình thoi là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau. Do vậy khi tôi yêu cầu nêu cách vẽ hình thoi thì học sinh đã phát hiện có thể dùng compa để vẽ bôn cung tròn có bán kính bằng nhau, giao điểm của bốn cung tròn đó chính là bốn đỉnh của hình thoi. Tôi đã chuẩn bị các bước dựng hình thoi và đặt toàn bộ phần dựng hình ở chế độ tự động (Automatic) cứ 1 giây thì hiện 1 đối tượng: R B C A D - Lấy hai điểm A, C bất kỳ - Vẽ cung tròn tâm A bán kính R và cung tròn tâm C có cùng bán kính. - Hai cung tròn trên cắt nhau tại hai điểm B và D. - Kẻ các đoạn thẳng AB, BC, CD, DA ta được hình thoi ABCD. Học sinh vừa quan sát vừa lắng nghe giáo viên giới thiệu lần lượt từng bước dựng hình thoi, từ đó có thể vẽ lại dựa vào vở của mình không mấy khó khăn. Tóm lại, các bài tập đều yêu cầu học sinh vẽ hình, nên khi vẽ các em phải đọc kỹ bài, đọc đến đâu vẽ đến đó, vẽ rõ ràng và dùng đúng dụng cụ vẽ, từ đó học sinh trả lời yêu cầu đề bài. Đặc biệt phải hình thành cho học sinh thói quen phân tích kỹ đề bài, định hướng vẽ và dự đoán các trường hợp xảy ra, không nên vẽhình đặc biệt, điểm đặc biệt. Chẳng hạn: + Cho tam giác ABC thì vẽ không nên vẽ cân, vuông hay đều. + Cho M là điểm nằm giữa AB thì không nên lấy tại trung điểm của AB. 3. Kết quả đạt được. Trong quá trình giảng dạy học kỳ I vừa qua khi áp dụng kinh nghiệp của mình để soạn giảng và vận dụng vào thực tế thì tôi thấy có sự thay đổi: - Học sinh đã có những thái độ học tập tích cực, thích thú hơn trong tiết học, chủ động nêu lên những thắc mắc, khó khăn về bộ môn với giáo viên, các em hưởng ứng rất nhiệt tình. Bên cạnh đó những bài tập giao về nhà đã được các em làm một cách nghiêm túc, tự giác học bài và nắm được các kiến thức cơ bản sau khi học xong mỗi bài. - Phần lớn chất lượng các bài kiểm tra đã được nâng lên, các em đều vẽ hình đúng, xác định hướng đi bài toán, số học sinh minh chứng lôgic và chặt chẽ được tăng. - Từ những bài học đa số các em đều vận dụng vào thực tiễn từ những kiến thức đã học: Đo đạc, cắt hình, xác định tính đối xứng của vật thể, Cuối học kỳ I điều tra mức độ hứng thú học môn Hình học lớp 8A2 kết quả là TSHT Số HS có hứng thú Số HS không có hứng thú SL % SL % 40 25 62,5 15 37,5 So với đầu học kỳ I số học sinh hứng thú học phân môn Hình học tăng 32,5%. Kết quả khảo sát học kỳ I chất lượng phân môn Hình học chưa thật sự như mong muốn tuy nhiên các em đã biết cách để làm một bài toán chứng minh hình học. Cụ thể: + Điểm trung bình môn ở học kỳ I kết quả đạt được như sau: TSHS Khá giỏi TB Yếu kém SL % SL % SL % 40 25 62,5 10 25 5 12,5 + Điểm trung bình môn cả năm kết quả đạt được như sau: TSHS Khá giỏi TB Yếu kém SL % SL % SL % 40 29 72,5 11 27,5 0 0 4. Khả năng ứng dụng của sáng kiến kinh nghiệm. Từ kết quả áp dụng trong thực tế giảng dạy Toán học của bản thân, tôi nhận thấy sáng kiến kinh nghiệm " Một số giải pháp giúp học sinh học tốt môn hình học lớp 8" có thể áp dụng với tất cả các đối tượng học sinh khối 8 trong các nhà trường phổ thông, với tất cả những người làm công tác giảng dạy Toán. III. KẾT LUẬN 1. Những kết luận trong quá trình nghiên cứu. Thực tiễn dạy học trong thời gian qua và việc áp dụng các giải pháp trên vào quá trình dạy học môn Toán nói chung và môn Hình học nói riêng tôi đã rút ra một số bài học cơ bản. -Mỗi giáo viên cần phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện để không ngừng trau dồi về kiến thức kỹ năng dạy học môn Hình học. - Thường xuyên đổi mới về cách soạn, cách giảng, đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, đa dạng hoá các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để lôi cuốn được học sinh vào quá trình học tập. - Cần quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém, giúp đỡ ân cần, nhẹ nhàng tạo niềm tin, hứng thú cho các em vào môn học. Sau nghiên cứu và triển khai vấn đề này bản thân tôi nhận thấy: Để giúp cho học sinh học tốt môn Hình học 8 thì giáo viên phải tạo hứng thú cho học sinh thông qua tìm hiểu kiến thức mới, thông qua các buổi thực hành, thông qua việc phân loại bài tập, hướng dẫn học sinh giải bài tập, qua việc vẽ hình Đồng thời phải luôn gần gũi, tìm hiểu những khó khăn, sở thích của học sinh để từ đó có những biện pháp phù hợp hơn. Bên cạnh đó cần có những thời lượng phù hợp áp dụng kiến thức hình học vào thực tiễn đời sống và để học sinh thấy được tính khoa học và giá trị thực tiễn của bộ môn. Do điều kiện và năng lực của bản thân tôi còn hạn chế, các tài liệu tham khảo chưa thật đầy đủ nên chắc chắn khi thực hiện đề tài còn những điều chưa hoàn thiện. Nhưng tôi mong rằng đề tài này ít nhiều cũng giúp học sinh có thêm động lực , sự say mê và nhất là thay đổi được thói quen học thụ động trong học phân môn hình học nói riêng và môn Toán nói chung. Bằng những kinh nghiệm rút ra sau nhiều năm giảng dạy ở trường THCS, nhất là những bài học

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Kỹ Năng Nghe Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Trung Học / 2023

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH SÓC TRĂNG TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN BẢY

Đề tài

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY KỸ NĂNG NGHE MÔN TIẾNG ANH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

Người thực hiện: SƠN KIM LỄ Môn giảng dạy: Tiếng Anh ( 24/ 05/ 2015 )

2

MỤC LỤC Trang A. ĐẶT VẤN ĐỀ: …………………………………………………………………………..3 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: …………………………………………………………… 3 II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: ………………………………………………………….4 III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: ……………………………………………………….4 IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: ………………………………………4 V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ……………………………………………………4 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: ……………………………………………………………5 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: ……………………………………………………………………5 1. Mục đích dạy học: ……………………………………………………………..5 2. Các yếu tố cơ bản trực tiếp tác động đến hiệu quả của tiết dạy nghe: …………5 II. THỰC TRẠNG DẠY NGHE MÔN TIẾNG ANH TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN BẢY: …………………………………………………………………………………………………….6 1. Ưu điểm: ……………………………………………………………………….6 2. Tồn tại: ………………………………………………………………………….7 III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC TẾ ĐỂ TIẾN HÀNH MỘT TIẾT DẠY NGHE ĐẠT HIỆU QUẢ:……………………………………………………………………………………………..9 1. Lập kế hoạch cho một tiết dạy nghe: ……………………………………………………..9 2. Thực hiện tốt tiến trình dạy nghe: ………………………………………………………..10 IV. BÀI GIẢNG MẪU: ……………………………………………………………………………………12 V. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI: …………………..17 C. KẾT LUẬN: ……………………………………………………………………………..18 I. NHỮNG NÉT CƠ BẢN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: …………………………18 II. NHŨNG KIẾN NGHỊ: …………………………………………………………………19

3

A. ĐẶT VẤN ĐỀ: I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Như chúng ta đã biết, mục tiêu của môn Tiếng Anh là nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những kiến thức kỹ năng cơ bản về tiếng Anh và những phẩm chất trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên những cấp bậc cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động. Vì vậy SGK Tiếng Anh THPT mới từ lớp 10 đến lớp 12 đều được biên soạn theo cùng một quan điểm xây dựng chương trình, đó là quan điểm chủ điểm (thematic approach) và đề cao các phương pháp học tập chủ động của học sinh. Cả bốn kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết được phối hợp thực hiện trong các hoạt động trên lớp. Một trong bốn kỹ năng mà người học tiếng Anh nói chung cũng như học sinh THPT nói riêng thường gặp những khó khăn nhất định trong quá trình học đó là kỹ năng Nghe. Trên thực tế để có được kỹ năng nghe tiếng Anh thì người học ngoại ngữ phải có quá trình luyện nghe thường xuyên, lâu dài với những hình thức và nội dung nghe khác nhau. Việc dạy và học nghe môn tiếng Anh tuy không còn mới mẻ nhưng rất khó đối với người học, đặc biệt là đối với giáo viên và hầu hết học sinh bậc THPT. Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ phần nào giúp giáo viên dần khắc phục những khó khăn để tiến hành dạy nghe môn tiếng Anh có hiệu quả hơn, học sinh tích cực hơn, chủ động hơn khi tiếp thu, lĩnh hội kiến thức của bài học. Đó cũng là lý do mà tôi chọn đề tài này cho nghiên cứu của mình. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Xã hội ngày càng phát triển, Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ được rất nhiều người theo học do nhu cầu giao tiếp, học tập và nghiên cứu. Vì vậy nhu cầu và phương tiện học tập môn tiếng Anh của người học ngày càng cao. Tuy nhiên, đối với học sinh bâc THPT vùng xa xôi nói chung và học sinh trường THPT Trần Văn Bảy nói riêng, ý thức về tầm quan trọng của bộ môn tiếng Anh chưa cao. Từ những thực tế trên, người giáo viên dạy tiếng Anh phải không ngừng tìm tòi, cải tiến phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, giúp các em từng bước nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn này. Trong chương trình sách giáo khoa tiếng Anh bậc THPT, nội dung bài dạy được trình bày theo 4 kỹ năng. Trong đó, kỹ năng Nghe là một trong những kỹ năng được chú trọng phát triển trong các phương pháp dạy ngoại ngữ mới. Kỹ năng Nghe có tầm

4

5

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1. Mục đích dạy học: Mục đích của việc dạy ngoại ngữ không phải là cung cấp cho học sinh kiến thức của ngôn ngữ đó, mà mục đích cuối cùng của việc dạy ngoại ngữ là dạy cho học sinh khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ đó. Khả năng giao tiếp của học sinh thể hiện qua các kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết. Kỹ năng nghe của học sinh được hình thành qua một quá trình học tập rèn luyện trong môi trường Anh ngữ. Ngoài việc học tập ở trường lớp, học sinh phải tự học tập và rèn luyện kỹ năng nghe thông qua các hình thức và các phương thức khác nhau. Kỹ năng nghe là khả năng sử dụng kiến thức ngôn ngữ vào mục đích nghe hiểu bằng tiếng Anh. 2. Các yếu tố cơ bản trực tiếp tác động đến hiệu quả của tiết dạy nghe: a. Giáo viên: – Với phương pháp dạy học mới, tích cực thì giáo viên đóng vai trò chỉ đạo, điều khiển học sinh trong giờ học. – Để tiến hành một tiết dạy nghe có hiệu quả thì giáo viên cần thực hiện tốt các yếu tố cơ bản sau: + Chọn và sử dụng linh hoạt các kỹ thuật dạy nghe phù hợp với từng nội dung bài dạy. + Tổ chức, điều khiển lớp học, phân bố thời gian hợp lý. + Sáng tạo ra các đồ dùng dạy học phù hợp phục vụ cho tiết dạy. + Sử dụng thành thạo các phương tiện, các thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ dạy nghe. + Truyền thụ kiến thức một cách truyền cảm, có logic nhằm lôi cuốn, hấp dẫn học sinh. b. Phương pháp, kỹ thuật dạy nghe: (Listening Techniques) – Phương pháp dạy nghe được hình thành bởi nội dung bài nghe. Nói cách khác, nội dung bài dạy nghe chi phối việc lựa chọn, vận dụng, phối hợp các phương pháp, kỹ thuật dạy nghe. – Mỗi kỹ thuật dạy học phù hợp với hình thức bài dạy cụ thể ( dạy ngữ pháp, dạy nói, dạy viết… ) c. Các phương tiện thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ cho viêc dạy nghe:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Và Phát Triển Từ Vựng Cho Học Sinh Lớp 6 / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!