Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém / 2023 # Top 15 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức các hoạt động tích cực cho người học, kích thích, thúc đẩy, hướng tư duy của người học vào vấn đề mà họ cần phải lĩnh hội. Từ đó khơi dậy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong tự thân của người học để phát huy khả năng tự học của họ. Đối với học sinh bậc THCS cũng vậy, các em là những đối tượng người học nhạy cảm việc đưa phương pháp học tập theo hướng đổi mới là cần thiết và thiết thực. Vậy làm gì để khơi dậy và kích thích nhu cầu tư duy, khả năng tư duy tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của môn học đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh? Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo. Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.  Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. II. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm chỉ gói gọn ở những đối tượng học sinh yếu kém năm học 2010 -2011 của trường THCS Phong Thạnh Tây – Giá Rai – Bạc Liêu. B. NỘI DUNG. I. THỰC TRẠNG Trường THCS Phong Thạnh Tây thuộc vùng nông thôn sâu của Huyện Giá Rai. Đa số học sinh đều chăm ngoan, vâng lời thầy cô, tích cực trong học tập. Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh thờ ơ với việc học và chưa xác định rõ mục đích của việc học tập là để làm gì dẫn đến kết quả học tập yếu kém. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm xong, lãnh đạo trường thường chia ra một lớp điểm sáng và một, hai lớp còn lại là học sinh yếu kém. Những đối tượng này không thích học phụ đạo nên rất khó khăn trong việc giảng dạy của giáo viên. Hiểu được vấn đề đó và dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Giá Rai lãnh đạo trường phân công những đồng chí giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình để dạy các lớp này. Năm học 2010-2011 tôi được phân công dạy môn Tiếng Anh khối 9 trong đó cũng có một lớp điểm sáng và một lớp học sinh yếu kém. Qua kết quả khảo sát đầu năm có đến 56,7% học sinh yếu-kém,Tôi đã tìm hiểu và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chỗ yếu của các em để từ đó tìm ra phương pháp phụ đạo cho phù hợp. Phần lớn các em cho biết không thích học phụ đạo sở dĩ đi học là do nhà trường bắt buột vì thời khóa biểu phụ đạo được xem như là buổi học chính khóa. Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tác phụ đạo học sinh yếu kém, tôi nhận thấy muốn nâng dần chất lượng học sinh yếu kém không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên. Sau đây tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập. II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Về phía học sinh: Học sinh là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do cá nhân học sinh trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân sau: – HS lười học: qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cặp sách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớp thì không chép bài vì lí do là không có đem tập học của môn đó. Còn một bộ phận không ít học sinh thì không xác định được mục đích của việc học, học để có điều kiện đi chơi, đến lớp thì lo chọc phá bạn bè, gọi đến thì không biết trả lời, đang giờ học thì xin ra ngoài để chơi. Theo sách giáo khoa hiện hành thì để dễ dàng tiếp thu bài, nhanh chóng lĩnh hội được tri thức thì người học phải biết tự tìm tòi, tự khám phá, có như thế thì khi vào lớp mới nhanh chóng tiếp thu và hiểu bài một cách sâu sắc được. Tuy nhiên, phần lớn học sinh hiện nay đều không nhận thức được điều đó. Học sinh chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học rồi về về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. 2. Về phía giáo viên: Học sinh học yếu không phải nguyên nhân toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò giỏi. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà ở đây đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là tốt với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác tôi nhận thấy, vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan tâm đến các đối tượng học sinh. Chưa tìm tòi nhiều phương dạy học mới kích thích tích tích cực chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời cho học sinh với thái độ cọc cằn làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ. – Gia đình không quan tâm: Một số gia đình có khả năng cho con đi học nhưng không quan tâm đến việc học hành của con em hàng ngày, không biết được thời gian học của các em bắt đầu lúc mấy giờ và kết thúc khi nào, thời khóa biểu hôm nay có mấy tiết gồm những môn gì? Không đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện học tập cho các em, họ cứ nghĩ học đến đâu hay đến đó, thích học thì cho học, chán thì cho nghỉ. – Do sức khỏe yếu: Một số em thể trạng yếu , không thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột đẽ mắc bệnh đẫn đến phải nghỉ học đến khi nào khỏi bệnh đi học lại dẫn đến tiếp thu không kịp bài. Hoặc một số em có bệnh bẩm sinh, trí tuệ kém thông minh cũng là nguyên nhân dẫn đến yếu kém. III. CÁC BIỆN PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh: – Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. – Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Giáo viên không nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi học sinh không ngoan, không chép bài vì làm như thế học sinh sẽ không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được gì. Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh giáo dục ý thức học tập của học sinh hoặc dùng một biện pháp giáo dục đó chứ đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học. – Bên cạnh đó, việc giáo dục ý thức học tập của học sinh cũng phụ thuộc rất lớn vào giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm là người gần gủi với học sinh, phải tìm hiểu đối từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của mình.       Ví dụ 1: Học sinh Nguyễn Văn B, học lớp 9A2, không thích học nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, kết quả là học sinh đó học tập kém.           Hướng giải quyết: Trước tiên, Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh. Từ đó giáo viên tìm hiểu được nguyên nhân và thường xuyên gần gủi, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh nhận thấy tầm quan trọng của việc học. Bên cạnh đó, giáo viên trao đổi với gia đình, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức của học sinh, khuyên nhủ gia đình không nên quá gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gủi giúp đở em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu. 2. Kèm cặp học sinh yếu kém: – Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ môn mình ở năm học trước để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng, có thể cho điểm tối đa để khích lệ tinh thần học tập cho các em. – Khi soạn giáo án phụ đạo cho các em phải chú ý đến những điểm kiến thức mà các em đã hỏng trong năm học trước và trong năm học này để dần bổ sung những kiến thức đó cho các em. Ví dụ: ở bộ môn Tiếng Anh, khi học đến lớp 8 các em đã được học thì quá khứ đơn nhưng khi giáo viên cho bài tập các em làm không đúng, lúc này giáo viên phải giải thích lại cách dùng của thì này và ghi lại công thức cho các em và cho nhiều ví dụ mẫu để cho các em hiễu rõ và có thể làm được. – Phải thường xuyên kiểm tra sĩ số: Để nắm được nguyên nhân các em nghỉ học, răn đe đối với các em nghỉ học nhiều lần trong các buổi phụ đạo không có lý do, động viên đối với những trường hợp nghỉ có lí do chính đáng, phải kết hợp với GVCN trong việc theo dõi tỉ lệ chuyên cần của các em. Vì có đi học đều mới có thể lĩnh hội được kiến thức. – Kiểm tra vở học của các em vào cuối buổi học: Một số em ý thức học chưa tốt thường không chép bài đầy đủ, khi nghe hiệu lệnh trống là gấp vỡ lại ra chơi. Giáo viên có thể nhắc nhở ngay từ đầu giờ khi vào lớp để các em theo dõi và ghi chép đầy đủ nhưng khi có một dấu hiệu nghi ngờ nào đó thì cuối buổi gọi em đó mang vỡ ghi chép lên xem, nếu em đó chưa hoàn thành thì cho chép bài lại giờ ra chơi. Có như thế các em mới chép bài đầy đủ. – Kiểm tra kiến thức cũ trước khi bổ sung kiến thức mới: Vào đầu giờ giáo viên nên hỏi lại kiến thức cũ đã học ở tiết trước và cho các em 1, 2 câu bài tập để áp dụng, nếu các em làm được thì mới dạy kiến thức khác. Hay cuối giờ dành khoảng 5 đến 10 phút cho các em kiểm tra giấy xem các em có lĩnh hội được bài giảng hôm nay không. Từ đó có hướng thích hợp để phụ đạo cho các em tốt hơn. IV. KẾT QUẢ: Học sinh yếu kém đầu năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 60 6 23,0 20 33,3 26 43,3 22 36,7 12 20,0 Học sinh yếu kém học kỳ I, năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 59 4 6,8 12 20,3 33 55,9 49 83,1 10 16,9 Học sinh yếu kém cuối năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 58 3 5,2 21 23,0 30 51,7 54 93,1 4 6,9 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: – Giáo viên phải nhiệt tình giảng dạy, kiểm tra bài học của các em thường xuyên trên lớp. – Có kế hoạch phụ đạo càng sớm càng tốt. – Sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, vận dụng nhiều phương pháp hay đa dạng để thu hút học sinh. – Ôn tập thật kỹ và phải có đề cương ôn thi cho học sinh trước khi làm bài kiểm tra , thi học kỳ. – Luôn là tấm gương tự học, sáng tạo để học sinh noi theo. Rèn cho học sinh tính hiếu học, cách học tập tốt, kiên trì vượt khó. – Làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của việc học tập và trở nên yêu thích môn học. – Phụ huynh nên quan tâm đến việc học của con em mình, nắm bắt được thời khóa biểu, thời gian học hàng ngày và phải thường xuyên liên hệ với GVCN hay GV bộ môn để nắm bắt được việc học của các em. II. KIẾN NGHỊ: – Nhà trường cần chỉ đạo và theo dõi chặt chẽ công tác phụ đạo học sinh yếu kém, chỉ đạo cho các bộ phận đoàn thể trong nhà trường thực hiện tốt việc giáo dục ý thức đạo đức, học tập cho các em. – Phát động nhiều phong trào thi đua học tập trong học sinh đồng thời tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh. – GVCN cần tăng cường công tác giáo dục ý thức học tâp của học sinh, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để kịp thời uốn nắn các em. – GV bộ môn phải tìm ra những biện pháp dạy có hiệu quả, thường xuyên theo dõi học lực của học sinh để so sánh và đánh giá mức tiến bộ của các em. Phong Thạnh Tây, ngày 20 tháng 5 năm 2011 HỘI ĐỒNG KHGD TRƯỜNG Người viết Huỳnh Thanh Tùng

Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Kém / 2023

Phân loại đối tượng 2,Biện pháp thứ hai: Tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh Sau khi khảo sát phân loại học sinh yếu kém, tôi đi sâu vào tìm hiểu hoàn cảnh học sinh. Có hs do hoàn cảnh gia đình cha mẹ lo bươn chải kiếm sống mà lơ là con cái; có hs cha mẹ đi làm ăn xa ở với ông bà  nên các em học sa sút, nắm được điểm này gv sẽ có cách phối hợp với cha mẹ hs để có cách kèm cặp các em 3.Biện pháp thứ ba: Rèn luyện kĩ năng học tập -Nắm được lý thuyết mới làm bài tập (Đặc biệt muốn làm được toán 3 hs phải thuộc bảng cửu chương) – Đọc kĩ đầu bài Đặc biệt, giáo viên cần đấu tranh kiên trì với những thói quen xấu của học sinh như: chưa học lý thuyết đã lao vào làm bài tập], không đọc kĩ đầu bài trước khi làm bài tập, vẽ hình cẩu thả, viết nháp lộn xộn,… 4,Biện pháp thứ tư: Rèn cho học sinh có thói quen tự giác học bài  và ôn luyện kiến thức cũ 6.Biện pháp thứ sáu : Luyện tập vừa sức

Đối với học sinh yếu kém, gv nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức và tăng cường luyện tập vừa sức.Trong những tiết học đồng loạt, việc luyện tập được thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với khả năng học sinh yếu kém. Vì vậy khi làm việc riêng với nhóm học sinh yếu kém, cần dành thời gian để các em tăng cường luyện tập vừa sức mình. Và lưu ý những điều sau đây:

-Đảm bảo học sinh hiểu đầu bài tập: Học sinh yếu kém nhiều khi vấp ngay từ bước đầu tiên, không hiểu bài toán nói gì đó đó không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy, giáo viên nên lưu ý giúp các em hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó.

– Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: Để hiểu một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nào đó, học sinh yếu kém cần những bài tập cùng thể loại và mức độ với số lượng nhiều hơn so với các em khá giỏi và trung bình. Phần gia tăng này được thực hiện trong những tiết làm việc riêng với nhóm học sinh yếu kém toán. Chẳng hạn giáo viên có thể ra cho học sinh rất nhiều bài tập cộng trừ nhân chia , tính giá trị biểu thức,…

Được bước theo những bậc thang vừa sức với mình, học sinh yếu kém sẽ đỡ bị hẫng, bị hụt, bị ngã từ đó có nhiều khả năng leo hết các nấc thang dành cho họ để chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mà chương trình yêu cầu. Những nấc thang đầu dù có thấp, những bước chuyển bậc dù có ngắn nhưng khi học sinh thành công sẽ tạo nên một yếu tố tâm lý rất quan trọng: các em sẽ tin vào bản thân, tin vào sức mình, từ đó có đủ nghị lực và quyết tâm vượt qua tình trạng yếu kém.

  7.Biện pháp thứ bảy:  Giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví dụ:    + Thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em.    + Dùng các phiếu thưởng có in các lời khen phù hợp với từng việc làm của các em như: “ Biết giúp đỡ người khác”, “ Thái độ nhiệt tình và tích cực”…    + Khen thưởng bút, vở qua mỗi lần thi định kì thấy em đó có tiến bộ rõ rệt nhằm khuyến khích em cố gắng hơn.    

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Và Phát Triển Từ Vựng Cho Học Sinh Lớp 6 / 2023

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VÀ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG CHO HỌC SINH LỚP 6” Người viết: NGUYỄN THANH NAM Đơn vị: THCS Long Đức I/ NHẬN ĐỊNH VẤN ĐỀ: Trong lịch sử của loài người kiến thức là kho tàn quí (giá) báo, cho nên con người đã không ngừng tìm tòi học hỏi để tiếp cận văn minh hiện đại trên thế giới. Qua phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngũ, tiếng Anh ngày nay được sử dụng gần như phổ biến trên toàn thế giới và mang ý nghĩa quốc tế rất lớn trong quan hệ ngoại giao giửa các nước với nhau. Do đó công việc giảng dạy “tiếng Anh” đối với HS lớp đầu cấp của bậc THCS vô cùng quan trọng. Là một giáo viên giảng dạy tôi luôn nhận thức rõ động cơ thúc đẩy sự phát triển của đất nước là nâng cao chất lượng giáo dục theo su hướng chung của đất nước. Và qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: “Việc giảng dạy Ngoại ngữ là một vấn đề không đơn giản”. Nó đòi hỏi người giáo viên không chỉ có phương pháp chuyên môn mà phải không ngừng học tập nâng cao trình độ và phải luôn tích cực tìm ra các phương páhp mới để việc dạy và học Ngoại ngữ đạt kết quả cao hơn. Nhưng truyền thụ kiến thức như thế nào để các em HS dể hiểu bài và tiếp thu bài một cách nhanh chóng? Làm thế nào để các em yêu thích khi học Ngoại ngữ? Và làm thế nào để GS thấy được tầm quan trọng của tiếng Anh hiện nay? Về thực chất tiếng Anh là một trong những môn học khó nhất ở trong trường phổ thông. Vì nó hoàn toàn xa lạ và mới mẽ, khác hẳn tiếng mẹ đẻ (trong trường phổ thông) của chúng ta, đặt biệt là đối với các em HS lớp 6. Do đó các em rất bở ngỡ một số em còn tỏ ra sợ sệt khi học bộ môn này. Phần lớn HS ở trường THCS Long Đức là học sinh thuộc vùng sâu, vùng xa đến học trường chúng tôi nên việc học môn tiếng Anh có phần khó khăn hơn cụ thể là việc học “Từ vựng” tiếng Anh . Hơn thế nửa, các em có thói quen học từ vựng riêng lẻ và khả năng vạn dụng tiếng Anh trong giao tiếp còn hạn chế nên vốn từ vựng của các em ngày càng “chết” dần. Đó chính là nổi bâng khuăn của những giáo viên dạy Ngoại ngữ nói chung vàbản thân tôi nói riêng. Từ thực tế, và qua quá trình dạy học chương trình thay sách mới ở trường THCS Long Đức, bản thân tôi tự rút ra được một vài kinh nghiệm để dạy và giúp HS khối 6 học tốt từ vựng khắc sâu và tích lũy, phát triển dần từ vựng, nhằm mục đích vận dụng tốt kiến thức ngôn ngữ đã học vào thực tiễn giao tiếp. II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: A/ Dạy từ vựng: Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng biét để giao tiếp bằng tiếng Anh thì điều kiện trước tiên là phải có vốn từ vựng. Vì nó là cơ sở ban đầu hình thành câu văn. Do đó có học thuộc từ thì mới giúp các em thực hiện tốt trong giao tiếp tiếng Anh. Vậy giáo viên nên sử dụng phương pháp để các em luôn quan tâm và thích học tiếng Anh cũng như học thuộc từ vựng? Qua thực tế giảng dạy và học hỏi ở đồng nghiệp bản thân tôi rút ra được một số phương pháp thiết thực nhất giúp các em dể dàng hiểu bài và thuộc từ vựng như sau: 1/ Phương pháp dạy từ vựng cụ thể: a/ Dùng tranh ảnh hay vật thật: Theo tôi phương pháp giúp HS hiểu nhanh và khắc sâu được từ vựng là phương pháp giảng dạy bằng tranh ảnh hay đồ vật thật. Vì giáo cụ trực quan đóng một vai trò rất quan trọng trong tiết dạy. Vì nó luôn luôn hổ trợ cho lời giảng của giáo viên nhằm gây hứng thú và tập trung sự theo dõi của HS vào vấn đề đang được trình bày. Đồng thời nó còn có tác dụng phát triển tư duy của HS, giúp các em tích cực hơn rong học tập như là: -Tranh ảnh: Khi giới thiệu các từ “teacher” (giáo viên) trong câu: “Is this your teacher”? (Đây là giáo viên của bạn phải không?) SGK Unit 2 on page 27. Tôi đưa bức tranh lên mời em đứng lên phát biểu ý kiến trong lớp học, lập tức các em sẽ hiểu ngay nghĩa từ “teacher”. Tương tự cũng bằng phương pháp này tôi dạy các từ vựng khác như Danh từ, Tính từ, Động từ. . . Bên cạnh đó tôi có thể cho học sinh đem ra những vật thật có sẳn ở tại lớp để ra trước mặt. Ví dụ: Giới thiệu từ “pen” tôi lấy từ trong túi tôi ra 1 cây viết mực và nói: What is this? HS nói đó là cây viết và đưa ra cấu trúc: It is a pen, sau đó tôi đưa tiếp vật khác, như là: Cây thướt , cục tẩy, bảng đen. . .Nếu không có vật thật thì thay thế bằng những bức tranh vẽ riêng một vật nào đó: Ví dụ: giới thiệu từ “close” trong câu “close your book” tôi hỏi hãy nhìn vào động tác của thầy, thầy đang làm gì? Tôi hỏi “What am I doing?” Và sách trên bàn tôi đang mở ra và tôi lập tức xếp sách lại ngay, HS thấy tôi đang đóng sách lại HS hiểu ngay từ “close” Ví dụ: Giới thiệu tính từ, từ “tall” “short” và tôi đưa tranh lên vẽ một cậu bé cao thật cao và một cậu bé lùn thật lùn. Và chỉ vào người lùn và kết hợp hành động tay và hỏi “Is he short?” HS nhận ra người lùn và biết ngay nghĩa từ “short” ngược lại từ “tall” Ở mẩu câu 2: listen and repeat. Unit 9 The Body (class 6) dùng màu sắc của đồ vật, tôi vẽ hình tròn và tô màu lên chúng, để gới thiệu các từ vựng mới như: “Whit, yellow, brown, red, black, bluc” (Màu trắng, vàng, nâu, đỏ, đen, xanh) HS chia để nhận ra màu sắc tốt hơn. Qua tiết học đó (Năm học 2002 – 2003) Tôi cảm nhận rằng các em học rất sinh động, hiểu và nhớ từ vựng lâu hơn. b/ Dùng tranh vẽ đơn giản trên bảng kết hợp với điệu bộï và giọng nói của GV: Ngoài việc giới thiệu từ bằng tranh hay đồ vật thật, đôi khi vẽ lên bảng và kết hợp điệu bộ hay giọng nói của mình để minh họa từ mới giúp HS hiểu một cách trực tiếp mà không qua khâu dịch ra Tiếng Việt . Cụ thể: Khi giới thiệu: “to sing” (hát) trong câu “Ngoc son is singing” (Ngọc sơn đang hát) Lúc đó tôi minh họa hình sưu tầm hoặc vẽ hình “Ngọc sơn” đang trình diễn lên bảng và tôi cũng làm điêu bộ như đang hát thì học sinh sẽ hiểu ngay nghĩa từ tiếng việt của từ “to sing” mà không cần dịch. Tuy nhiên không phải lúc nào củng dạy từ vựng bằng phương pháp sử dụng giáo cụ trực quan. Do vậy đối với các từ vựng trừu tượng thì tôi có dùng phương pháp nào? 2/ Phương pháp trừu tượng: Theo tôi, có 2 loại phương pháp dạy từ vựng trừu tượng: a/ Sử dụng ngữ cảnh: Với mục đích duy nhất là làm sao cho các em học tố bộ môn Ngoại ngữ nên tô đã kết hợp nhiều phương pháp mới như sử dụng ngữ cảnh để giải nghĩa của từ, giúp Hs quen dần với phương pháp này để rèn luyện cho việc rèn luyện tốc độ đọc, hiểu sau này. Bằng việcdựa vào ngữ cảnh đoán nghĩa của từ, các em sẽ đọc nhanh và hứng thú vì không phải ngừng lại nhiều để tra tự điển những từ có thể đoán được. Sau đây là một số cách gợi ý sử dụng ngữ cảnh để gới thiệu từ cho HS: * Dùng cách giải thích hoặc định nghĩa đơn giản: Ví dụ: – That is any father and that is my mo ther – Those are my parents. ( Đó là cha của tôi, và đó là mẹ của tôi) (Đóù là cha, mẹ của tôi) * Dùng từ đồng nghĩa hay phản nghĩa: – Ví dụ 1: Your sister is beautifill but my brether is ugli (Chị gái của bạn thì đẹp nhưng anh trai của tôi thì xấu xí) – Ví dụ 2: Miss Lien is tall and Lan is tall (Cô liên thì cao và Lan thì cao) We live in my Xuyen. Our country is my Xuyen (chúng tôi sống ở Mỹ Xuyên. Quê của chúng tôi là Mỹ Xuyên.) + Nhìn chung sử dụng phương pháp này tương đối khá cho phương pháp mới ( Có thể làm nhóm tốt để đoán nghĩa của từ vì nó đòi hỏi phải có vốn từ nhất định. Nhưng nó có tác dụng phát huy dược tính tư duy của Hs, đặt biệt là rèn luyện dần thối quen cho các em khi học bài “ Dialogue” (Hội thoại) hay giới thiêu từ mới từ bài: “ Dialogue” reading, listening, writng. 2/ Dạy từ vựng thông qua các bài hát tiếng Anh nho nhỏ hay các câu danh ngôn, thành ngữ: Để giúp các em bớt căng thẳng sau tiết học, đôi khi xem một số bài hát tiếng Anh nhỏ hoặc các câu danh ngôn, thành ngữ có nội dung giáo dục phù hợp sẽ giúp các em thư giản, phấn khởi và tiếp tục tiếp thu bài ở các tiết học tiếp theo. Cụ thể: -Các bài hát: “Hello teacher”, “Happy birthday” “The ABC sing’. . .và một số thành ngữ, tục ngữ khác như: “You are never too old to learn” (Học không bao giờ muộn) All things are diffieeft before they are easy (Vạn sự khởi đầu nan) “ Lost time is never toun again” (Đánh mất thời gian thì không bao gời tìm lại được) + Nhìn chung vui học là điều rất cần thiết. Tuy nhiên cần có sự lựa chọn thì mới có tác dụng giúp Hs hiểu sâu thêm từ đã học, phát triển thêm vốn từ của các em, đặt biệt là phải mang tính giáo dục các em B/ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG CHO HỌC SINH: Muốn thực hành giao tiếp bằng tiếng Anh lưu loát, không chỉ nắm vững ngữ pháp là đủ mà cần phải có một số lượng từ vựng phong phú. Thế nên ngoài việc dạy từ vựng trong SGK , tôi luôn cũng cố và phát triển thêm vốn từ cho HS – Không riêng đối với HS khá giỏi mà kể cả HS yếu.Qua đó tôi đã tự cũng cố lại kiến thức của mình để làm nền tảng cho các năm học về sau. Vì vậy, trước khi phát triển từ vựng mới, vốn từ cho HS tôi thường cũng cố vốn từ cho các em với nhiều hình thức khác nhau: 1/ Trò chơi viết từ: ( Đối với HS khá, giỏi tôi chia lớp ra làm 2 nhóm A và B và bảng cũng được chia ra làm 2 phần. Hai nhóm sẽ bóc thăm xem nhóm nào lên viết trước. Nếu nhóm A lên bảng viết từ bên phải bảng của mình thì nhóm B, 1 em sẽ viết liền sao cho: Ví dụ: A B Book That Tell This Rular Is How Room Close Pen Và cứ tiếp tục như thế, số lượng từ của 2 nhóm sẽ tăng dần cho đến khi nhóm nào ‘bí” thì thua. 2/ Trò chơi viết từ bắt đầu theo chữ cái qui định: (đối với Hs trung bình) Tôi chia lớp ra làm hai nhóm A và B bảng cũng được chia làm hai phần. Mỗi nhóm cử một đại diện lên ghi các từ vựng mà mình biết theo chữ cái đã qui định: Ví dụ: Viết bằng chữ “ B” A B Book Board Bench Beautifful Brother Behird Big Bank Brush Bus Và cứ tiếp tục như thế cho đến khi nhóm nào “Bí” thì thua. 3/ Trò chơi hỏi, đáp: Lớp được chia làm 2 nhóm thay phien nhau, nhóm 1 hỏi nhóm 2 trả lời và ngược lại. Câu hỏi và trả lời được viết lên bảng và có giới hạn thời gian nên nhóm nào quá “Chậm” hay “bị” thì thua và bị “phạt” và nhóm “thắng” thì được “ thưởng” khen nhóm thua cần phải khen thưởng cho nhóm thắng một món quà nho nhỏ để khích lệ tinh thần học tập. III/ KẾT LUẬN: Qua quá trình học và dạy Ngoại ngữ tôi rút ra được hai phbương pháp sau để làm tăng số lượng từ : a/ Phương pháp thụ động: b/ Phương pháp tích cực: Đối với phương pháp thụ động thì chỉ cần HS ngày ngày tiếp nhận một số ít kiến thức. Có thể các em cố đọc để nhớ, hiểu nội dung và gặp từ khó thì tra tự điển để nhớ. Nhưng nếu gom góp một ngày một ít thì số lượng từ cũng sẽ phong phú hơn. Do đó phương pháp này chỉ yêu cầu có sử dụng rộng rãi, dưới nhiều hình thức và chỉ cần HS đọc những quyển sách báo phù hợp với trình độ của các em như: Những truyện dịch song ngữ: “Elementary stories For Repoduction 2 hoặc cung cấp cho các em một số bài hát mới hay những câu thành ngữ nhằm mục đích phát triển từ vựng cho HS. “A friend in need is a friend in deed” (Gian nguy mới biết bạn hiền) “Slow and stendy win the races” (Chậm và chắc sẽ thắng cuộc) * Kết quả chung: Qua quá trình thực hiện các phương pháp trên, tôi thu được kết quả khá khả quan – Lớp học sinh động – Học sinh dễ tiếp thu bài mới – Học sinh học thuộc từø dễ hơn và không “sợ” bộ môn tiếng Anh – Một số học sinh rất ham học và luôn mạnh dạn vận dụng kiến thức đã học vào trong giao tiếp bằng tiếng Anh Cụ thể: Kết quả từ đầu năm tới nay ở khối 6 đạt kết quả như sau: Sỉ số 149 học sinh ở 4 lớp: 63, 64, 73, 74. Giỏi: 40 HS Kha:ù 55 HS TB: 25 HS Yếu: 19 HS Kém: 10 HS Nhìn chung qua một học kỳ vận dụng sáng kiến vào phương pháp giảng dạy mặc dù kết quả đạt chưa cao lắm nhưng đó là đều phấn khởi cho thầy trò chúng tôi tiếp tục cố gắng để đạt kết quả ngày một cao hơn. Qua quá trình áp dụng các phương pháp trên trong giảng dạy ngoại ngữ, tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm sau: 1/- Giáo viên nên đầu tư vào đồ dùng dạy học vì giáo cụ trực quan sẽ đem lại kết quả khả quan hơn trong tiết dạy, đặc biệt là bộ môn tiếng Anh. 2/- Giáo viên nên giúp học sinh củng cố kiến thức, phát triển từ vựng và vận dụng các từ đã học vào giao tiếp thực tế. Ý kiến của Ban thi đua: Ưu: – Có đầu tư viết sáng kiến – Đưa ra được các biện pháp phát triển từ vựng cho học sinh – Có minh họa Hạn chế: – Cần hướng dẫn cho học sinh cách học từ vựng ở nhà Xếp loại: Khá Long Đức, ngày 07 tháng 12 năm 2003 Người viết Nguyễn Thanh Nam

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A / 2023

quan tâm. Đối với môn thể dục ở tiểu học cũng được chú trọng đổi mới nhằm phù hợp với điều kiện hiện nay.Như chúng ta đã biết một trong những nguyên nhân làm cho kết quả học tập của học sinh giảm sút đó là sự căng thẳng, mất tập trung và thiếu minh mẫn trong học tập. Chính vì vậy để giúp các em có được một tinh thần thoải mái tập trung hơn trong học tập thì việc nâng cao chất lượng dạy học môn thể dục, đặc biệt ở khối lớp 4 là hết sức quan trọng và cần thiết, từ những vấn đề đó bản thân tôi đã nghiên cứu và viết ra sáng kiến: "Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn thể dục lớp 4 ở trường Tiểu học Thiện Mỹ A". 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: - Đề ra một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Thể Dục lớp 4 ở trường Tiểu Thiện Mỹ A. -Tìm hiểu cơ sở lý luận về mục tiêu đổi mới của môn học, đề xuất một số phương pháp dạy học tập trung nhiều vào việc phát huy tính tích cực của học sinh. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: a/ Đối tượng nghiên cứu. - Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Thể Dục lớp 4 ở trường Tiểu Học Thiện Mỹ A. b/Phạm vi nghiên cứu. - Học sinh lớp 4 ở trường Tiểu Học Tiểu Học Thiện Mỹ A. 4. Phương pháp nghiên cứu : - Phương pháp quan sát: Quan sát giờ lên lớp của các đồng nghiệp và thái độ học tập của học sinh ở tiết học môn Thể dục. - Phương pháp thực nghiệm: Bằng cách đưa vào giảng dạy thực nghiệm. - Phương pháp tập luyện: Sử dụng một số biện pháp nhằm hỗ trợ cho việc tập luyện động tác kĩ thuật. - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng hợp lại những kinh nghiệm thực tiễn, đề ra một số phương pháp. CHƯƠNG I : MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ HỌC SINH - BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC: 1.Một số đặc điểm tâm sinh lí học sinh. - Học sinh lớp 4 (9-10) là lứa tuổi đang có nhiều chuyển biến về tâm sinh lí và tư duy. Hành động của các em chuyển dần từ thụ động, giản đơn sang trạng thái tương đối chủ động và linh hoạt hơn. Lứa tuổi này, bước đầu các em đã có khả năng phân tích và tổng hợp đơn giản, biết tự điều chỉnh những hoạt động của bản thân nhưng ở mức độ không cao. HS đã có ý thức và khả năng tự quản tương đối tốt , biết phối hợp và giúp đỡ nhau trong học tập và rèn luyện , nhưng còn kém linh hoạt với những thay đổi trong sinh hoạt, tập luyện. - Ở lứa tuổ này cơ của các em có chứa nhiều nước, tỉ lệ các chất đạm, mở còn ít nên khi hoạt động chóng mệt mỏi, sức mạnh lứa tuổi này còn hạn chế, giới hạn sinh lí về khả chịu đựng mà các em có thể mang vác được tính theo lứa tuổi. 2. Biện pháp khắc phục VD: Dạy động tác nhảy dây kiểu chân trước chân sau, giáo viên nên sử dụng các động tác bổ trợ như: + Cho học sinh tập nhảy chân trước chân sau không kết hợp tay quay dây. + Tập nhảy chân trước chân sau có kết hợp tay quay dây không có dây. + Tập nhảy chân trước chân sau có kết hợp tay quay dây có dây. VD: Dạy động tác đi đều tôi thường sử dụng các động tác bổ trợ như: + Cho học sinh tập đánh tay sang phải sang trái. + Tập nâng đùi trái nâng đùi phải. + Kết hợp động tác đánh tay và nâng đùi đề hoàn chỉnh động tác đi đều. * Ngoài ra còn có một số động tác khó trong chương trình lớp 4 tôi thường phân đoạn động tác ra thành riêng lẻ để học sinh dễ tiếp thu động tác. Với học trò giáo viên là người gợi mở, động viên, cố vấn là trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh, vai trò của giáo viên không hề bị hạ thấp mà trái lại nó đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức, hứơng dẫn cho học sinh hoạt động độc lập. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng của vấn đề: Trong lúc viết chuyên đề thì bản thân tôi được sự quan tâm và giúp đỡ của tổ khối trưởng qua các tiết dự giờ của chuyên môn, các anh em đồng nghiệp động viên tinh thần, giáo viên nhiệt tình giảng dạy và chịu khó tìm tòi các phương pháp giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng học sinh. Bên cạnh những thuận lợi đó trong lúc viết chuyên đề thì tôi cũng gặp nhiều khó khăn: Một số các em học sinh đi học không đều hoặc đi theo cha mẹ làm thuê một thời gian mới quay vào lớp học làm cho các em mất kiến thức cơ bản, khi giáo viên phân tích động tác thì các em không hiểu và chưa nắm bắt được động tác, các em quá thụ động, chưa tích cực và chủ động trong tập luyện, trang phục TDTT của các em còn thiếu, chưa đồng đều vì gia đình của các em có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế dẫn đến việc tập luyện của các em thiếu tự tin, không được thoải mái khi tập luyện dẫn đến tình trạng tập không hết biên độ động tác do đó khi viết chuyên đề thì bản thân tôi tìm nhiều phương pháp và hình thức để giải quyết các vấn đề này và tôi đã viết ra sáng kiến 2. Các giải pháp tiến hành giải quyết vấn đề: a. Phát huy tính tích cực luyện tập cho học sinh: Để thực hiện được mục tiêu đổi mới của môn học, chương trình Thể Dục mới lấy mục tiêu rèn luyện sức khỏe thể lực cho học sinh là quan trọng nhất. Do đó phương pháp dạy học mới là tập chung nhiều vào việc phát huy tính tích cực của học sinh. Dành nhiều thời gian cho học sinh được luyện tập, hoạt động vui chơi. Chính vì vậy đổi mới phương pháp dạy học môn Thể Dục theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh bằng các biện pháp thi đua, thi đấu, biểu diễn dưới dạng các trò chơi. Khi dạy học cần nâng cao tính tự giác khả năng tự quản của học sinh để phát huy sự chủ động và học tập tích cực của các em, giáo viên cần phối hợp tổ chức tập luyện , tổ chức tự luyện tập và tự quản nhằm khai thác tính tự đánh giá của mỗi em, làm cho giờ học luôn nhẹ nhàng, sinh động và hấp dẫn. Mỗi giờ học giáo viên nên áp dụng hình thức tích cực hóa học sinh bằng cách áp dụng tối đa phương pháp trò chơi, dành nhiều thời gian cho học sinh tập luyện, hoạt động vui chơi và tham gia vào quá trình đánh giá nhận xét. Để thực hiện tốt phương pháp đổi mới giảng dạy, tất nhiên giáo viên cần có sự chuẩn bị trước về bài dạy, thiết bị, đồ dùng dạy học kể cả việc phải tập luyện trước các động tác kĩ thuật mới đạt được kết quả như mong muốn. Một số học sinh ở đây lại ở vùng nông thôn, phụ huynh đều làm nghề nông, một số ít làm thuê cuộc sống còn nhiều khó khăn nên chưa quan tâm lắm đến việc học của con em mình. Với tinh thần và trách nhiệm của một giáo viên tôi đã vận dụng những kinh nghiệm đã học hỏi được ở đồng nghiệp và qua quá trình đúc kết của bản thân, cũng như được dự các lớp chuyên môn, chuyên đề và qua tìm hiểu sách báo, tôi đã mạnh dạng áp dụng một số phương pháp đổi mới trong quá trình giảng dạy, giúp loại bỏ dần học sinh chán nản trong học tập, giúp các em ngày càng tích cực chủ động tiếp thu bài, mạnh dạng phát biểu từ đó chất lượng tiết dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh ngày càng một tốt hơn. Đầu năm học, sau khi kiểm tra chất lượng xong, tôi đã rút ra được nguyên nhân học yếu của các em là : + Các em không tự tin trong học tập. + Trong quá trình học các em thường xem và học các động tác của giáo viên và của bạn rồi sau đó thực hiện một cách thụ động máy móc . + Trong phần trò chơi các em chơi chưa tích cực, còn rụt rè. Do đó khả năng giúp học sinh thực hiện được yêu cầu cơ bản về học tập trên cơ sở thực hiện được quan hệ thầy trò, quan hệ trò với trò, vì học sinh là chủ thể nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học, vì học sinh không phải là đối tượng thụ động, chỉ biết lắng nghe giáo viên truyền đạt tri thức sẵn có trong sách giáo khoa một cách gò bó áp đặt hoặc thụ động tiếp thu những gì do giáo viên truyền đạt chỉ biết làm theo mẫu định sẵn, các em không hiểu nghĩa những việc làm không vận dụng được những kiến thức đã học để áp dụng vào bài làm mà các em phải được học tập tích cực bằng chính hành động của mình. Qua hoạt động học tập tự rèn luyện giáo viên là người hướng dẫn học sinh hoạt động nhằm giúp các em phát triển như : Tổ chức cho học sinh tập theo tổ, nhóm và hoạt động của lớp. Chẳng hạng như khi dạy một động tác mới, một trò chơi sau khi giáo viên làm mẫu thì học sinh cả lớp sẽ thực hiện, sau đó là đến từng tổ tự tập, tự hoạt động, giáo viên sẽ theo dõi uốn nắn, sửa chữa, nhưng nếu một tổ có nhiều em làm sai động tác thì sao có thể thực hiện tốt được. Nếu lúc đó giáo viên không được bình tỉnh, nóng nảy sẽ làm cho các em càng hốt hoảng, sợ sệt, không thực hiện đúng động tác được nữa. Vì thế tác phong lời nói của giáo viên phải nhẹ nhàng, chuẩn mực, ân cần, nhỏ nhẹ và tìm cách lấp dần những lổ hỏng tri thức của các em bằng cách giáo viên hướng dẫn và làm mẫu lại các động tác để học sinh làm theo, tất nhiên các động tác giáo viên thực hiện phải thật chậm cho học sinh quan sát, kết hợp với lời giải thích thực hiện từng động tác chính xác là em đó đã tiến bộ, lúc này giáo viên nên có lời khen ngợi dù các em đạt được thành công nhỏ vì nó sẽ khuyến khích, động viên các em cố gắng hơn và hăng hái hơn. Trong năm học này tôi đã áp dụng phương pháp trên nhầm đem lại sự hứng thú cho các em trong giờ học đã đạt được kết quả rất tốt từ những em rụt rè, nhút nhát thường làm sai động tác, không yêu thích môn thể dục nay đã tập thành thục tất cả các động tác đã học, tham gia tất cả các trò chơi vận động mà giáo viên đặt ra, tạo cho mỗi giờ học đều sinh động làm cho quan hệ thầy trò ngày càng gần gũi hơn. 2. Giáo dục thói quen luyện tập thường xuyên và có hệ thống: Đối với môn thể thao nói chung và môn thể dục lớp 4 nói riêng thì học sinh ở lứa tuổi này có những chuyển biến mạnh mẽ để hoàn thiện tâm sinh lý, phát triển tư duy và thể chất chuyển các hoạt động từ mang tính thụ động sang các hành động tương đối chủ động linh hoạt và có tính mục đích, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế nên các em rất hiếu động ưa hoạt động thích bắt chước làm theo điệu bộ hành vi của giáo viên, ở một số em có tính mạnh muốn bộc lộ năng khiếu vượt trội của mình, muốn thể hiện những năng khiếu sẵn có của mình cho bạn bè, thầy, cô biết. Môn Thể Dục với đặt trưng bộ môn " học mà chơi chơi mà học " lồng ghép đang xen vào nhau. Có thể khẳng định rằng đây là một môn học chung nhất ở bật tiểu học nó còn góp phần bảo vệ tăng cường sức khoẻ, phát triển các tố chất thể lực hình thành thói quen luyện tập thể dục và trang bị cho học sinh một số hiểu biết và kĩ năng cơ bản về đội hình đội ngũ và thể dục rèn luyện tư thế cơ bản, các trò chơi vận động và môn thể thao do giáo viên chọn đồng thời nó củng cố và làm giàu vốn kĩ năng vận động cơ bản cần thiết thường gặp trong đời sống hàng ngày như: Đi, chạy, nhảy, ném phù hợp với khả năng trình độ và đạt điểm tâm sinh lý lứa tuổi giới tính của các em. Thể dục là một môn năng khiếu tuy nhiên việc dạy Thể Dục không nhằm đào tạo các em trở thành vận động viên chuyên nghiệp. Qua môn Thể Dục các em được hoạt động được nhận thức qua các động tác, trò chơi và đặt biệt một số môn thể thao , tất cả những cái đó sẽ tạo thành một trình độ văn hóa thể dục tối thiểu để góp phần cùng các môn học khác giáo dục nhân cách làm cho nội dung học tập ở các trường phổ thông mang tính toàn diện làm thăng bằng hài hòa hoạt động học tập của các em. Đây là môn học thực hành, vì vậy phương pháp giảng dạy đối với các em cũng cần được chú ý thông qua các trò chơi vận động, nhưng phải phù hợp với nội dung bài học, qua đó giúp các em có khả năng hoạt động nhanh nhẹn, khéo léo, nhưng khi dạy trò chơi cần nghiên cứu kĩ nội dung trò chơi, địa điểm các phương tiện để tổ chức cho học sinh tập vui chơi, trò chơi mới giáo viên nên giải thích kèm theo chỉ dẫn trên hình vẽ, kết hợp cho cá nhân học sinh hoặc một nhóm lên làm mẫu, nên cho các em chơi thử 1-2 lần trước khi chơi chính thức, giáo viên nên cho học sinh thi đua với nhau giữa các tổ, sau đó giáo viên nhận xét đánh giá, tuyên dương đội thắng động viên đội thua, nhắc nhở các trường hợp chơi không tích cực Vd: Trò chơi "Chạy nhanh tiếp sức". + Giáo viên nêu tên trò chơi, giải thích cách chơi. + Chia đội chơi, cho học sinh chơi thử 1-2 lần. + Cho học sinh chơi chính thức có phân thắng thua, sau đó giáo viên nhận xét đánh giá trò chơi, tuyên dương đội thắng động viên đội thua, nhắc nhở các trường hợp chơi không tích cực. Nhưng nhìn chung mỗi phương pháp dạy đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng, do đó muốn nâng cao chất lượng học tập, giáo viên cần phải uyển chuyển xen kẻ các phương pháp lại với nhau, để nhằm đạt được mục đích giáo viên cần phải giúp cho học sinh hình thành kĩ năng, kỹ xảo để các em có hứng thú trong học tập. CHƯƠNG IV : KẾT QUẢ 1. Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm: * Thực nghiệm: Với các biện pháp phương pháp nêu trên, tôi đã giải quyết được một số nhược điểm của học sinh. Kết quả học tập của các em có tiến bộ hơn nhiều, phần lớn các em thực hiện hoàn thành theo yêu cầu và hoàn thành tốt cao hơn nhiều, các em tích cực học tập, không khí lớp học sôi nổi. Cụ thể các năm học2014-2015 vừa qua. * Kết quả đã thực nghiệm: Trong thời gian áp dụng những giải pháp tổ chức luyện tập động tác thể dục, cũng như chuẩn bị tốt về sân bãi, dụng cụ để tập luyện. Tôi thấy rằng học sinh luôn luôn yêu thích, ham học môn Thể dục hơn, tham gia luyện tập một cách tự giác và tích cực rèn luyện tố chất thể lực để phát triển tốt thể chất của các em học sinh ngày càng được nâng lên. Hơn nữa tính thật thà, tính trung thực, tính khiêm tốn của học sinh cũng được thể hiện rõ rệt. Qua đó các em đã biết vận dụng vào trong học tập, kết quả HS tự đánh giá, GV nhận xét theo TT 30 các em tham gia tập luyện tích cực và hứng thứ hơn. C/ Kết luận Và đề xuất 1. Ý nghĩa, hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: - Từ những vấn đề trên tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm là: Muốn tiết dạy đạt kết quả tốt, học sinh hiểu được bài thì phải có một phương pháp tốt - Trang bị cho học sinh một số hiểu biết về những kĩ năng cơ bản về bài thể dục phát triển chung cần thiết thường gặp trong đời sống. - Các em có tính nề nếp tập luyện thể dục thể thao, có ý thức giữ gìn sức khỏe của bản thân, có nếp sống lành mạnh, vui chơi giải trí có tổ chức và kỷ luật góp phần giáo dục đạo đức lối sống lành mạnh, hình thành nhân cách con người mới. - Nhằm phát triển thể lực, cơ thể, tạo sự hứng thú cho học sinh tập luyện, hình thành kỹ năng vận động, củng cố và nâng cao sức khỏe, có sự tác động trực tiếp tích cực đến việc rèn luyện sức khỏe và ý chí phẩm chất đạo đức cho người học. - Tăng thêm hiệu quả các bài tập thể dục về nhiều mặt, kể cả đến tác dụng thực tế lao động. - Có thói quen tổ chức nghỉ ngơi hợp lý, chuẩn bị thi đấu thuận lợi. - Làm cho người tập có cảm xúc tốt, sảng khoái, thú vị. - Trong quá trình giảng dạy và áp dụng một số biện pháp để uốn nắn sửa sai cho học sinh khi thực hiện động tác thể dục, bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau: + Chuẩn bị đầy đủ về tranh ảnh trực quan, đồ dùng dạy học như: còi, bóng, cầu, cờ, sân bãi.v.v Ôn lại kiến thức cũ, dạy học kiến thức mới, phối hợp hài hoà các phương pháp dạy học. + Trong giảng dạy bản thân tôi sử dụng cán sự lớp một cách linh hoạt, hiệu quả nhất. + Nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, sức khỏe của từng học sinh, giáo viên trực tiếp sửa sai uốn nắn điều chỉnh sai sót kịp thời, để tổ chức cho các em luyện tập đạt hiệu quả cao nhất. + Luôn luôn tuyên dương kịp thời những cái đúng, cái hay, cái đẹp của học sinh. + Sau mỗi tiết dạy giáo viên cần rút kinh nghiệm bổ sung những thiếu sót để tiết sau được hoàn thiện hơn. + Trong giờ học thể dục, học sinh thể hiện được tính tích cực, tính tự giác, luyện tập sôi nổi, hào hứng khi tham gia thi đua các bài tập thể dục, các em tập rất nhiệt tình, tính đồng đội của học sinh cũng được nâng lên. + Vận dụng được kiến thức học ở trong nhà trường vào cuộc sống hằng ngày, trong gia đình cũng như ngoài xã hội như: đi, đứng, chạy, nhảy, mang, vác * Từ những kinh nghiệm trên, bản thân tôi thấy học sinh trường Tiểu học Thiện Mỹ A ngày một ham thích, hăng hái và say mê tập luyện thể dục cũng như tham gia vào trò chơi đầy nhiệt tình và tự giác hơn, sức khỏe và tinh thần của các em tốt hơn. "Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể cường tráng" để góp phần phát triển đất nước ngày một phồn vinh - văn minh - thịnh vượng. 2. Ý kiến đề xuất: Để có điều kiện tập luyện môn Thể dục, phát triển tốt về thể chất, tôi có vài yêu cầu đến cấp trên: a/ Đối với BGH Trường. - Tổ chức thường xuyên phong trào thể dục thể thao để các em tham gia vui chơi trong năm học để có tinh thần tự tập ở nhà. - Ban giám hiệu phải quan tâm những học sinh nghèo khi đi học môn thể dục chưa có giày và chưa có đồng phục TDTD. b/ Đối với phòng giáo dục. - Đề nghị bộ phận thiết bị - đồ dùng dạy học cấp thêm một số đồ dùng dạy học cho phân môn Thể dục như: Tranh, ảnh, sàn bóng rỗ và một số dụng cụ phục vụ cho tập luyện và tổ chức trò chơi như: bóng, cầu, vòng, dây nhảy cá nhân, bóng ném Xin chân thành cảm ơn! Thiện mỹ, ngày 18 tháng 05 năm 2016. Người thực hiện Xác nhận của BGH LÝ CHANH ĐA Nhận xét của hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành giáo dục cấp trường.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!