Đề Xuất 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nội Dung Dạy Các Yếu Tố Hình Học Ở Tiểu Học # Top 3 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nội Dung Dạy Các Yếu Tố Hình Học Ở Tiểu Học # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nội Dung Dạy Các Yếu Tố Hình Học Ở Tiểu Học mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

nhau tại 1 điểm M ngoài tam giác (hình 6). - Tam giác có 1 góc vuông thì 3 đường cao của tam giác cắt nhau tại 1 điểm đó là đỉnh (M') góc vuông của tam giác (hình 7). * Sau khi học sinh được học xong phần diện tích tam giác - đối với học sinh giỏi cần được nắm chắc hơn công thức S = a x h :2 để giải các toán hình học có nội dung phức tạp hơn. Vì từ công thức tính diện tích tam giác học sinh phải nhận biết tam giác có diện tích bằng nhau, hoặc không bằng nhau. a. Tam giác có diện tích bằng nhau rơi vào các trường hợp sau: - 2 tam giác chung đáy và có cùng độ dài đường cao (hình 8) - 2 tam giác chung đường cao có cùng độ dài đáy (hình 9). B C D A Hình 8 S ABC = S BDC Hình 9 C B A SABD = SACD b. Hoặc diện tích tam giác này gấp hoặc kém diện tích tam giác kia số lần phụ thuộc vào sự hơn hoặc kém nhau của độ dài đường cao hoặc độ dài của đáy tam giác. Hình 10 Hình 11 * Để hình thành cách vẽ hình thang hay hình tròn một cách cơ bản, người giáo viên dạy yếu tố hình học cần chú ý cho học sinh về cách vẽ. a. Hình thang: Chú ý vẽ 2 đáy trước vì 2 đáy phải song song. b. Hình tròn: Việc đầu tiên lấy tâm, việc thứ hai mở độ lớn compa, việc thứ 3 đặt đầu thì compa chếch về phía tay trái để quay compa theo chiều kim đồng hồ. Khi quay compa không được cầm tay vào 2 nhánh compa. Ví dụ: III. CĂN CỨ VÀO LÝ LUẬN THỰC TÉ NÊU RA NHẬN XÉT ĐỂ ĐÁNH GIÁ NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG HÌNH HỌC. III.1. Biểu tượng về điểm và đoạn thẳng Bước đầu học sinh nhận biết qua điểm một dấu châm tô đậm đoạn thẳng được giới thiệu qua việc căng một sợi dây, qua việc nối 2 điểm bằng thước thẳng. Đây chính là những hình ảnh đầu tiên để xây dựng về điểm và đoạn thẳng. Các biểu tượng này thường xuyên được củng cố bằng những bài tập khác nhau, nhằm giúp học sinh nhận biết điểm và đoạn thẳng qua việc thực hành đếm số điểm trong ngoài hình, đếm số đoạn thẳng trên một hình vẽ, tập vẽ đoạn thẳng qua 2 điểm cho trước, vẽ đoạn thẳng có độ dài cho trước. Khi lên lớp trên học sinh phải phân tích các yếu tố như: hình tam giác, hình vuong. Học sinh biết rằng mỗi cạnh của hình là một đoạn thẳng hai đầu nút của 2 cạnh là 2 điểm, là đỉnh của hình, 2 đoạn thảng nếu chung một đầu nút tạo thành góc. Tiến tới học sinh biết gọi tên các đoạn thẳng, các tam giác. * Điều tra thực trạng. Kiểm tra việc nhận biết yếu tố hình học của học sinh lớp 1 qua giờ dậy của đồng chí Đỗ Thị Bẩy - Trường Tiểu học Ninh Xá, Thuận Thành, Bắc Ninh Bài dạy: Hình vuông, hình tròn A. LƯỢC TRÌNH BÀI DẠY 1. Ổn định tổ chức 2. Kiểm tra bài cũ - Giáo viên: tay phải cầm 2 chiếc thước, tay trái cầm 3 que tính - Hỏi học sinh: Tay trái cô cầm số que nhiều hơn hay ít hơn số thước (nhiều hơn) - Giáo viên gọi học sinh nhận xét? - Giáo viên kết luận, tuyên dương, khen và cho điểm. 3. Bài mới a. Giới thiệu hình vuông: - Đồ dùng trực quan: 2 tấm bìa hình vuông - cho học sinh xem, mỗi làn giơ 1 hình vuông cô đều nói: "Đây là hình vuông". - Cho học sinh nhìn tấm bìa vuông mầu sắc, kích thước khác nhau rồi nhận xét: "Hình vuông" - Học sinh xem phần bài học trong sách học sinh (trang 7) trao đổi nhóm và nêu những vật nào có hình vuông (cái khăn mùi xoa, viên gạch hoa) b. Giới thiệu hình tròn: tương tự như phần a. 4. Thực hành - Cho học sinh làm các bài tập 1, 2, 3: Dùng bút chì màu khác nhau tô các hình vuông, hình tròn khác nhau. 5. Củng cố - Nêu lên các vật có hình vuông, hình tròn ở trong lớp trong nhà - Tìm hình tròn, hình vuông trong tranh vẽ sẵn, trong các đồ vật giáo viên đặt trên bàn. - Dùng bút chì vẽ theo các hình vuông, hình tròn trên giấy từ đồ vật có mặt vuông, mặt tròn. 6. Tổng kết dặn dò - Bài hôm nay cô dậy các em hình gì? - Về nhà tìm vật nào trong gia đình em có mặt hình tròn, hình vuông. b. Kết quả tiết dạy 1. Giáo viên truyền đạt kiến thức đúng, chính xác, có nhiều sáng tạo, có hệ thống câu hỏi sát học sinh. 2. Bước đầu học sinh đã hiểu và nắm được biểu tượng về hình vuông, hình tròn. 3. Giáo viên có đầy đủ đồ dùng giảng dạy, học sinh có đủ đồ dùng học tập nên đã gây được hứng thú học tập cho học sinh 4. Phần luyện tập tìm trong thực tế xung quanh các em còn chậm và khó khăn hoặc thi chỉ nhanh trên tranh vẽ còn hơi lúng túng. Việc vẽ hình chưa nhanh. Kết quả đạt: Số HS Giỏi Khá TB Yếu Đạt chung SL % SL % SL % SL % SL % 22 7 32,5 10 45 5 22,5 0 0 22 100 Qua bài dạy trên ta thấy: - Việc nhận biết các yếu tố hình học phụ thuộc vào nhiều phương pháp giảng dạy của giáo viên trong việc sử dụng đồ dùng trực quan. Không những phải có đủ, có nhiều mà còn phải đẹp, đủ màu sắc hấp dẫn. Học sinh phải có đủ đồ dùng học tập. Thông qua bài dạy người giáo viên chú ý. - Đồ dùng trực quan phải đẹp, phong phú - Rèn cho học sinh có thói quen áp dụng vào thực tế xung quanh. Tránh được sai lầm khi nhận biết hình. - Cần động viện, khen thưởng đúng lúc, kịp thời để tạo không khí sôi nổi trong học tập. III.2. Đường gấp khúc, đường thẳng, đường song song, đường vuông góc. Biểu tượng về đường gấp khúc được xây dựng qua biểu tượng đoạn thẳng "Đó là hình ảnh của nhiều đoạn thẳng không cùng nằm trong một đường thẳng" từng đôi một có chung một đầu nút. Giáo viên làm cho học sinh có biểu tượng đường gấp khúc qua trực quan, hình vẽ. Qua thực hành vẽ đường gấp khúc, tạo ra đường gấp khúc bằng cách xép que tính, xếp que diêm. Tiếp đó, học sinh thấy rằng các cạnh của một tam giác, một tứ giác tạo thành một đường gấp khúc khép kín (tuy nhiên giáo viên không nêu thuật ngữ này cho học sinh). Việc học đo độ dài đường gấp khúc là hình thức tốt để củng cố cho biểu tượng vừa là để chuẩn bị tốt cho việc học chu vi của một hình, biểu tượng về tia (nửa đường thẳng), học về đường thẳng được xây dựng từ biểu tượng đoạn thẳng kéo dài mãi về một phía ta được tia số; kéo dài đoạn thẳng về 2 phía ta được đường thẳng (hình 12a). A B Hình 12a Đồng thời làm cho học sinh biết rằng vẽ một đường thẳng khác với vẽ một đoạn thẳng. Đoạn thẳng có giới hạn, nên khi vẽ phải xác định được 2 điểm (hình 12b). Đoạn thẳng MN M N Hình 12b Biểu tượng về đường thẳng song song và đường thẳng vuông góc được giới thiệu qua hình ảnh: 2 mép bàn, 2 mép bảng (quy ước kéo dài mép bàn, mép bảng vô hạn). P Q Hình 12 c Đường thẳng P và Q không song song và cũng không vuông góc với nhau. Đường thẳng a song song với đường thẳng b (hình 12d) và đường thẳng c vuông góc với đường a và b. a b c Hình 12d A B D C Trên hình chữ nhật ABCD có cặp cạnh song song và các cặp canh vuông góc (hình 12c). Hình 12e (Ví dụ: Cạnh AB song song với cạnh DC AD song song với BC Cạnh AB và CD vuông góc với AD và BC) * Trên hình tam giác ABC, đường cao AH vuông góc với cạnh đáy BC (hình 12g) C B A Hình 12g Biểu tượng về đường thẳng song song và vuông góc giúp học sinh phân tích một số đặc điểm của các hình học và nhận biết chúng một cách chính xác hơn. Điều tra thực trạng Dự giờ đồng chí Phạm Thị Yến - lớp 12A - Trường Ninh Xá cùng giáo viên của tổ 2 + 3. Bài: ĐƯỜNG GẤP KHÚC - ĐỘ DÀI ĐƯỜNG GẤP KHÚC A. Lược trình bài dạy 1. Ổn định tổ chức. 2.Kiểm tra bài cũ: Học sinh chữa bài 2, 3, 4 Học sinh nhận xét - giáo viên đánh giá cho điểm 3. Bài mới a. Giáo viên giơ 1 que tính nói: đây là biểu tượng 1 đoạn thẳng Lấy 1 que tính nữa chắp nối vào que tính thứ nhất nói: đây là biểu tượng của đường gấp khúc Đường gấp khúc gồm mấy đoạn thẳng (2 đoạn) - Giáo viên vẽ tiếp 1 đường gấp khúc (gồm 3 đoạn) rồi hỏi: đường gấp khúc vừa vẽ gồm mấy đoạn thẳng, hãy chỉ ra mỗi đoạn 2cm 4cm 3cm b. Giáo viên cho đo độ dài mỗi đoạn của đường gấp khúc trên. (Chú ý cách đo - điểm đặt gốc 0 đúng đầu nút các đoạn thẳng). Hướng dẫn học sinh đo và tính: 2 + 4 + 4 = 9(cm) Giáo viên hỏi: muốn tính độ dài đường gấp khúc làm thế nào - Học sinh trả lời: muốn tính độ dài đường gấp khúc ta cộng độ dài của tất cả các đoạn thẳng trong đường gấp khúc. 4. Củng cố luyện tập. Học sinh mở sách học sinh, dùng thước có chia vạch cm để giải bài tập 1,3 (sách học sinh - trang 115). - Em ước lượng bằng mắt đi từ A đến B xem đường đi nào ngắn nhất - Thử lại bằng cách đo - Tính độ dài đường gấp khúc - Gọi học sinh lên bảng giải: * Đi theo đường thứ nhất 3 + 4 = 7 (cm) * Đi theo đường thứ 2: có độ dài là 5 cm - Toàn bộ độ dài đường gấp khúc là: 3 + 4 + 5 = 12 (cm) Bài tập 3: Tóm tắt đề: Giải Đoạn thẳng 2 dài là 16 - 9 = 7 (cm) 5. Tổng kết: Muốn tìm độ dài đường gấp khúc, làm thế nào? B. KẾT QUẢ BÀI DẠY. - Kiểm tra, đánh giá kết quả - Dùng phiếu kiểm tra: 30 phiếu Đề bài: Một đường gấp khúc gồm 2 đoạn thẳng, đoạn thứ nhất dài 9cm, đoạn thứ hai dài hơn đoạn thứ nhất 4cm. Tính độ dài đường gấp khúc đã cho. Kết quả đạt: Số HS Giỏi Khá TB Yếu Đạt chung SL % SL % SL % SL % SL % 30 10 33 12 39,6 6 20,8 2 6,6 28 93,4 Kết luận chung: - Đạt kết quả như trên vì người giáo viên đã vận dụng tốt các phương pháp dạy học mới, đã sử dụng tốt đồ dùng trực quan. - Học sinh hiểu bài sâu sắc, biết vận dụng làm bài tập. Tránh được sai lầm khi giải toán (đo đoạn thẳng) - Giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh tóm tắt đầu bài bằng sơ đồ đoạn thẳng để tìm ra cách giải nhanh nhất, ngắn gọn nhất. III.3. GÓC VÀ CÁC LOẠI GÓC Biểu tượng về góc ở cấp 1 được giới thiệu gắn liền với việc giới thiệu các yếu tố của các hình tam giác, tứ giác. Tam giác ABC có 3 đỉnh (đỉnh A, B, C), có 3 cạnh (AB, BC, CA),3 góc (góc A, B, C). - Thông qua việc giới thiệu đó học sinh bước đầu nhận thức được là góc được tạo bởi 2 cạnh của 1 tam giác xuất phát từ 1 đỉnh. - Góc được tạo bởi 2 tia: OA, OB (hình 13) - Học sinh được làm quen với các loại góc III.4. TAM GIÁC VÀ TỨ GIÁC Việc xây dựng biểu tượng các hình được tiến hành qua 2 giai đoạn a. Giai đoạn 1: ở lớp đầu cấp việc nhận biết hình dựa trên trực giác, phân biệt hình trên tổng thể. Giáo viên đưa ra 1 loạt hình có kích thứơc khác nhau được đăt ở các vị trí khác nhau như 2 hình sau: Biểu tượng này được củng cố trên các đồ vật hàng ngày như viên gạch hoa, cái khăn tay b. Giai đoạn 2: Học sinh quen với việc đo độ dài các cạnh, biết góc vuông, nhọn, tù. So sánh các góc, nhận biết hình dựa vào các góc. Hình chữ nhật có 4 góc vuông và 2 cặp đối song song và bằng nhau. Hình vuông có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau. Hình thang có 2 canh đối song song gọi là 2 đáy, hai cạnh còn lại gọi là 2 cạnh bên. Hình thang vuông có 1 cạnh bên vuông góc với đáy. Giới thiệu đường cao của tam giác khi học sinh đã hiểu về đường vuông góc. - Qua việc thực hành cho học sinh vẽ hình, vừa góp phần củng cố biểu tượng, vừa góp phần rèn luyện kỹ năng về vẽ hình cũng được xây dựng từng bước ở các lớp đầu cấp. Học sinh vẽ hình vuông, hình chữ nhật trên giấy, trên bảng con có kẻ vuong, ở các lớp cuối cấp, học sinh tự vẽ hình chính xác, đúng yêu cầu đúng quy định bằng thước kẻ, eke Chẳng hạn: Vẽ hình chữ nhật có chiều dài 5cm, chiều rộng 2cm 5cm 2cm III.5. HÌNH TRÒN VÀ ĐƯỜNG TRÒN Ngay từ lớp 1 học sinh đã được biết về hìn tròn và nhận hiết hình tròn qua trực giác, mô hình, các vật thể có dạng này Đến cuối cấp các em được giới thiệu thêm đường tròn, dùng compa để vẽ hình, phân biệt hình tròn và đường tròn, tâm, bán kính, đường kính số 3,14 và 4 số tính chất của chúng. Qua đố hiểu đường kính bằng 2 lần bán kính, biết cách vẽ hình tròn theo quy ứôc nhất định. Qua các bài tập tính thành thạo chu vi, diện tích hình tròn. Suy ra cách tính bán kính, đường kính. III.6. HÌNH HỘP CHỮ NHẬT, HÌNH LẬP PHƯƠNG, HÌNH TRỤ Ở cuối cấp học sinh được học 3 hình trong không gian 3 chiều đó là hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ. Phương pháp dạy vẫn là dựa trên mô hình trực quan qua thực hành đo đạc, phân tích các yếu tố: đỉnh, góc, cạnh, mặt, mặt đối diện, cạnh đối diện. Có 3 kích thước (dài, rộng, cao) ở hình hộp chữ nhật. Có 1 kích thước ở hình lập phương. Có 2 đáy là 2 hình tròn bằng nhau ở hình trụ. Để giúp học sinh thực hành vẽ đúng, đẹp cần chú ý cho học sinh cách vẽ: sử dụng hình chữ nhật, hình vuông, cạnh song song, góc bằng nhau Hình hộp chữ nhật (hình 14), hình lập phương, hình trụ Dự giờ thực nghiệm: Giờ đồng chí Nguyễn Hà lớp 5A. BÀI: DIỆN TÍCH HÌNH THANG a. Sơ lược bài dạy 1. Ổn định tổ chức 2. Kiểm tra bài cũ: - Thế nào nào hình thang? Vẽ hình? - Chữa bài số 4 (sách học sinh) 3. Bài mới a. Giáo viên giơ cho học sinh quan sát mô hình có hình thang ABCD - cắt hình theo đường AM (BM= MC) rồi quay hình 15a xuống vị trí như hình 15b. Sau khi quay hình a xuống vị trí a co tam giác AED Hỏi: Tính diện tích tam giác AED? Học sinh làm: SAED = AH x DE : 2 (1) Hỏi đáy nhỏ AB bây giờ chính là đoạn nào ở hình 15b. Học sinh: Là đoạn CE Hỏi: Đáy DE của tam giác chính là độ dài của cạnh nào hình thang ABCD. Học sinh: Là đoận CE Hỏi: Đáy DE của tam giác chính là độ dài của cạnh nào hình thang ABCD. Học sinh: Là tổng 2 đáy AB + DC Từ biểu thức (1) có thể viết. SADE = AH x (AB + DC) : 2. - Hỏi: - Nếu gọi đường cao hình thang AH là h - Gọi đáy lớn hình thang DC là a - Gọi đáy nhỏ hình thang AB là b Có cách tính diện tích hình tam giác AED hay đó chính là hình thang ABCD như thế nào? Học sinh: Shình thang = h x (a + b) :2 - Hỏi: h, a, b là các đoạn thẳng được dùng đơn vị đo thế nào? - Học sinh: Cùng đơn vị đo - Gọi 3 học sinh nhắc lại công thức trên b. Luyện tập Học sinh tính toán ra nháp, lên bảng trình bày Bài 1 (129) = 8cm ,đáy bé = 6cm, chiều cao = 5cxm Diện tích hình thang là: (8 + 6) x 5: 2 = 35m2 Bài 4 (30): Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề a = 129 m b = 85,5 m Thửa ruộng thu bao nhiêu kg thóc h = 306 dm 1a thu 62 kg thóc - Hỏi: Đơn vị đo đã cùng đơn vị đo chưa - Cho biết ta thu 1a thu được 62kg thóc, vậy diện tích hình thang phải tính ra đơn vị gì? (Đổi từ m2 ra a). Bài giải Đổi: Chiều cao là: 306 dm = 30,6m Diện tích thửa ruộng hình thang là (120 + 85,5) x 30,6 : 2 = 314,415 (m2) = 3,14451a Thửa ruộng thu hoạch số thóc là 3,14415 x 62 = 19,49373 (kg) Đáp số:19,49373 (kg) c. Củng cố, tổng kết - Muốn tính diện tích hình thang làm thế nào? - Viết công thức - Khi tính toán chú ý gì về đơn vị đo? d. Dặn dò: - Về nhà học thuộc quy tắc và công thức - Làm bài số 2, 3, 4 (130 - Sách giáo khoa) Kiểm tra sau tiết. Bài 1: Hình thang và hình thang vuông có gì khác nhau? Cách tính diện tích 2 hình thang có gì khác nhau không? Bài 2: Tính diện tích hình thang, biết: a = 15cm, b = 10 cm, c = 12 cm Kết quả đạt như sau Số HS Giỏi Khá TB Yếu Đạt chung SL % SL % SL % SL % SL % 28 7 26,5 10 35 10 35 1 3,5 27 96,5 Nguyên nhân đạt được kết quả như trên: - Giáo viên sử dụng mô hình trực quan thành thạo - Có hệ thống câu hỏi gợi mở sát đối tượng - Động viên kịp thời do đó đã gây được những hứng thú học tập cho học sinh. - Học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, vận dụng quy tắc, công thức đã học vào việc luyện giải bài tập có hiệu quả - đã tránh được một số sai lầm khi giải Toán có nội dung hình học (đổi ra cùng đơn vị đô). TIỂU KẾT Tóm lại, Toán có nội dung hình học ở chương trình Toán Tiểu học được hình htành ở các dạng: - Điểm và đoạn thẳng - Đường gấp khúc, đường thẳng, đường thẳng song song - Góc và các loại góc - Tam giác và tứ giác - Hình tròn, đường tròn, hình chữ nhật, hình vuông, hình lập phương, hình trụ. Qua một số tiết học, dự giờ thực nghiệm về việc dạy học: - Khái niệm hình vuông, hình tròn (lớp 1) - Đường gấp khúc, độ dài đường gấp khúc (lớp 2) - Diện tích hình thang (lớp 5) Dựa vào khảo sát thực tiễn ở các lớp 1, 2, 5 tôi đưa ra một số ý kiến như sua: 1. Phải coi trọng việc sử dụng đồ dùng trực quan, mô hình học để giảng dạy từ đó hướng dẫn học sinh xây dựng bài, xây dựng quy tắc, công thức tính toán. Phần luyện tập của học sinh những sai lầm thường mắc khi giải toán có nôi dung hình học - được nhắc nhở thực hiện trên phần đã học. 2. Vận dụng tốt, vận dụng sáng tạo không nên quá giám sát ép, cứng nhắnc phương pháp dạy học mới để học sinh được hoạt động thực hành nhiều trong việc học kiến thức mới cũng như trong quá trình luyện tập vận dụng quy tắc, công thức mới. Thực hiện được những việc trên thì chắc chắn việc dạy toán có nội dung hình học cũng như việc rèn luyện cho học sinh tránh được những sai lầm kh giải toán có nội dung hình học sẽ đạt hiệu quả tốt, góp phần nâng cao chất lượng học bộ môn toán ở bậc tiểu học. PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG I. KẾT QUẢ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU 1. Giúp đội ngũ giáo viên tiểu học dạy đạt kết quả cao hơn về toán có nội dung hình học, biết nhắc nhở học sinh tránh được những sai lầm dễ mắc phải khi giải toán có nội dung hình học. 2. Giáo viên (bản thân) tăng cường trau dồi nghiệp vụ chuyên môn, học tập và vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy vai trò tối đa tính tích cực của học sinh bằng cách chú ý cho học sinh học theo nhóm, học cá nhân, trao đổi,bàn luận về hoạt động để chiếm lĩnh chi thức mới, hoạt động thực hành trên phiếu học tập. 3. Tạo cho học sinh có hứng thú học tập hơn vì vai trò của các em trong giờ học luôn được giáo viên đề cập đến. Từ đó nâng cao hơn chất lượng giảng dạy cũng như việc học của thầy và trò. 4. Học sinh được thực hành nhiều nên việc nắm được kiến thức cơ bản của bài dạy đạt cao hơn. Các em nắm vững bản chất của vấn đề nên các em nhớ lâu bền nhơn. 5. Các em biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sóng như tính toán chu vi, diện tích, của một hình cụ thể nào đó. II. TỔNG KẾT VẤN ĐỀ CÓ TÍNH LÝ LUẬN. Để nâng cao hiệu quả dạy các yếu tố hình học ở tiểu học - tránh được những sai lầm của học sinh giáo viên cần: 1. Hiểu rỗi nhiệm vụ, mục đích dạy các yếu tố hình học. 3. Giáo viên phải vận dụng tốt, vận dụng một cách sáng tạo phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình giảng dạy. 4. Trong giảng dạy giáo viên phải thể hiện đúng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn của mình để làm sao cho học sinh hoạt động, tìm tòi, phát hiện rồi chiếm lĩnh kiến thức mới. 5. Giáo viên cần chú ý đến quá trình luyện tập thực hành của học sinh. Chú trọng đến việc sử dụng đồ dùng, mô hình trực quan trong các giờ dạy. III. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 1. Dạy các yếu tố hình học ở Tiểu học, người giáo viên cần phối hợp chặt chẽ quá trình hình thanh biểu tượng với việc rèn luyện kỹ năng và khai thác đúng mức các bước đi đó. Việc hình thành các biểu tượng: Điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình chữ nhật chủ yếu là mô tả, chưa phải là định nghĩa khái niệm chính xác. Học sinh phải dần dần nắm được các dấu hiệu bản chất và phân biệt được các đối tượng hình học dựa trên mô tả. Để đạt được mục đích đó học sinh không chỉ nghe giáo viên mô tả, không chỉ nhìn hình vẽ và mô tả hình hình học mà điều quan trọng là học sinh phải tự mình tham gia vào quá trình tạo ra các biểu tượng đó. 2. Dạy các yếu tố hình học ở tiểu học bằng cách tăng cường chức năng hoạt động trên mô hình hình học và thực hành tiết học. - Thông qua các thao tác và nhờ kinh nghiệm tích luỹ mà học sinh có thể nhận thấy đặc điểm của các hình cũng như biểu tượng về chu vi, diện tích, thể tích của một hình. - Dạy học các yếu tố hình học bằng cách bắt đầu tổ chức các hoạt động có tính thực nghiệm không chỉ phù hợp với quy luật, nhận thức của trẻ khi học hình học mà còn là cách rèn luyện các thao tác tư duy một cách tích cực nhất. Khi học sinh thao tác theo sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên đặc biệt là hoạt động gấp giấy, và ghép hình và vẽ, mỗi học sinh đều phải phối hợp vừa quan sát hình vẽ, mô hình và so sánh đồng thời tổng hợp để tạo ra biểu tượng mới. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI - Sách toán lớp 1, 2, 3, 4, 6 của Bộ giáo dục đào tạo - 2002 - Giáo dục tiểu học Bộ giáo dục - đào tạo tháng 5/1995 - phương pháp dạy môn toán ở tiểu học - trường ĐHSP Hà Nội I - 1995 - 100 bài toán về chu vi và diện tích các hình ở lớp 4 của Nguyến Ánh, Nguyễn Hùng. - Tập san giáo dục tiểu học MỤC LỤC Trang

Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Các Yếu Tố Hình Học Lớp 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM "Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy các yếu tố hình học lớp 3" I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do về tính cấp thiết. Bậc tiểu học là bậc học đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của người học sinh. Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên xã hội, hoạt động nhận thức, về hoạt động thực tiễn. Môn Tiếng Việt cũng như Toán nói riêng có vai trò là những môn quan trọng đặc biệt tạo cho học sinh có một tiền đề vững chắc để học lên các lớp trên, đồng thời đáp ứng yêu cầu của con người trong thời đại mới. Song để giúp học sinh học toán đạt kết quả khả quan hơn là một vấn đề không đơn giản. Vì vậy môn Toán cần được chú trọng ở bậc học Tiểu học, để phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Mặt khác môn Toán còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, góp phần giáo dục lòng tự tin, tinh thần ham hiểu biết, tính cẩn thận, tinh thần vượt khó và hợp tác, hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, ý chí vượt khó, ... Căn cứ vào Tài liệu "Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học" cho thấy môn Toán ở cấp tiểu học nhằm giúp học sinh: - Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số và số thập phân, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. - Hình thành những kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải toán có nhiều ứng dụng thực tế trong đời sống. - Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng (nói, viết) cách phát hiện và cách giải quyết vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng, chăm học và hứng thú học tập; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo. 2. Mục đích nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm. Tìm hiểu một số vấn đề về nội dung, phương pháp dạy các yếu tố hình học lớp 3 để tìm ra biện pháp giảng dạy phù hợp. 3. Kết quả cần đạt được. Tìm ra phương pháp giảng dạy và các biện pháp rèn luyện kĩ năng phù hợp để khắc phục những sai sót mà giáo viên và học sinh thường mắc nhằm nâng cao hiệu quả dạy yếu tố hình học cho học sinh lớp 3. 4. Đối tượng, phạm vi và kế hoạch nghiên cứu + Đối tượng: Nội dung, phương pháp dạy các yếu tố hình học lớp 3. + Phạm vi: Học sinh lớp 3A trường Tiểu học 1 Sông Đốc II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm: Trong chương trình toán ở lớp 3, cùng với mạch kiến thức số học, giải toán có lời văn thì dạy các yếu tố hình học là cơ hội tốt nhất để phát triển năng lực trí tuệ. Hình học không những thể hiện trong môn Toán mà còn được ứng dụng rộng rãi trong các môn học khác. Hình học trong Toán 3 gồm 3 nội dung: - Hình thành các biểu tượng hình học mới. + Giới thiệu góc vuông và góc không vuông. + Giới thiệu tâm, bán kính, đường kính của hình tròn. - Tính chu vi, diện tích một số hình học. + Giới thiệu diện tích của một hình. + Hình thành công thức, kĩ năng tính chu vi và diện tích hình chữ nhật, hình vuông. - Thực hành vẽ hình. + Vẽ góc vuông bằng thước thẳng và ê ke. + Vẽ đường tròn bẳng com pa. Đối với học sinh lớp 3 khi học các yếu tố hình học học sinh phải nhận biết các góc từ trực quan hình ảnh, vẽ được góc bằng thước thẳng và ê ke, nhận biết góc vuông, góc không vuông; nhận biết các yếu tố của hình (góc, cạnh và đỉnh) và đặc điểm của hình chữ nhật, hình vuông. - Dựa vào đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật, hình vuông hình thành cách tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông và bước đầu ứng dụng vào thực tế. - Phân biệt điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng. - Biết sử dụng com pa vẽ hình tròn và nắm được tâm, bán kính, đường kính, thực hành vẽ trí hình tròn. Cụ thể: * Biểu tượng về các hình hình học. - Nhận biết, gọi tên và nêu được một số đặc điểm của một số hình hình học: góc vuông, góc không vuông; hình chữ nhật (có 4 góc vuông, 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau); hình vuông (có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau); hình tròn ( tâm, đường kính, bán kính); nhận biết điểm ở giữa 2 điểm, trung điểm của một đoạn thẳng. *Tính chu vi, diện tích của hình hình học: - Biết tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc) - Biết tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc) * Thực hành vẽ hình: - Biết dùng ê ke để xác định góc vuông, góc không vuông. - Biết dùng thước thẳng để xác định trung điểm của một đoạn thẳng cho trước trong trường hợp đơn giản: đường thẳng vẽ trên giấy kẻ ô li, số đo độ dài đoạn thẳng là các số chẵn (2cm, 4cm, 6cm,) - Biết dùng com pa để vẽ hình tròn - Biết vẽ đường kính, bán kính của một hình tròn cho trước (có tâm xác định). Như vậy, muốn học sinh học tốt môn toán thì yếu tố quyết định là người thầy phải có phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đồng thời cần phát huy được tính tích cực của học sinh trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng chung. Giáo viên giúp học sinh tự phát hiện ra vấn đề của bài học để tự chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng được kiến thức mới, góp phần tạo hứng thú và lòng tự tin trong học tập đặc biệt là nội dung các yếu tố hình học ở lớp 3 trên cơ sở hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Nhận thức rõ vấn đề này tôi mạnh dạn tìm hiểu:"Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy các yếu tố hình học lớp 3" 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm: Thực trạng của việc dạy nội dung các yếu tố hình học ở lớp 3, qua quá trình giảng dạy, qua dự giờ thăm lớp bạn bè đồng nghiệp cùng với việc tìm hiểu nghiên cứu sách giáo khoa, sách bài soạn tôi thấy một số giờ giáo viên và học sinh còn lúng túng và bất cập ở một số điểm sau: + Về học sinh: - Tính thực tế của học sinh còn hạn chế. Ví dụ việc phát hiện những đồ vật có dạng hình học. - Phần thực hành của học sinh chưa đạt hiệu quả cao như vẽ chưa chính xác, chưa đúng và đẹp. Ví dụ vẽ hình tròn thường là học sinh vẽ chưa sắc nét, chưa chuẩn theo bán kính quy định. + Về giáo viên: Còn coi nhẹ kiến thức, chưa nghiên cứu thật kĩ bài dạy, chưa xác định thật rõ mục tiêu bài dạy ở mức độ cần truyền đạt tới đâu, giới hạn kiến thức ở mức độ nào? Đâu là kiến thức trọng tâm của bài dạy... Đôi lúc còn yêu cầu cao đối với học sinh (vượt ra ngoài trình độ chuẩn). Ví dụ: Một số giáo viên khi dạy biểu tượng về góc đã yêu cầu học sinh nắm định nghĩa về góc về miền trong của góc. Trong khi đó mục tiêu chỉ cần học sinh có biểu tượng về góc qua hỉnh ảnh hai kim đồng hồ tạo thành góc, từ đó nhận biết, nêu tên đúng góc vuông, góc không vuông; kiểm tra góc bằng ê ke. Hay khi dạy về hình tròn đã yêu cầu học sinh xác định khái niệm hình tròn, đường tròn mà thực tế ở lớp 3 chỉ giới thiệu hình tròn cùng với tâm, bán kính, đường kính của nó. Khi dạy còn phụ thuộc nhiều vào sách giáo viên và sách học sinh ở các tiết học mà thực tế cho ta thấy sách giáo viên chỉ là cái sườn chung gợi ý chính giúp giáo viên không truyền thụ sai mục đích tiết dạy mà thôi. Với loại bài luyện tập hoặc thực hành giáo viên còn coi nhẹ việc cho học sinh được tự hoạt động (Tự vẽ, xếp, ghép hình, tính toán tìm ra kết quả ), đôi khi vẫn còn áp đặt và làm thay học sinh. Qua tiến hành kiểm tra khảo sát học sinh. Ví dụ như dạy bài "Góc vuông, góc không vuông" ở lớp 3 kết quả như sau: Số HS được khảo sát Số HS hiểu và nhớ bài Số HS chưa hiểu bài 32 24 8 Nhìn vào kết quả trên tôi thấy chưa hài lòng. Tôi bắt đầu đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân vì sao và thấy vướng mắc ở những vấn đề sau: Quá trình hình thành biểu tượng ban đầu của một số hình khi giới thiệu qua vật mẫu chẳng hạn "góc vuông, góc không vuông" còn hạn chế còn cứng nhắc, yêu cầu cao. - Khi học sinh tìm những đồ vật xung quanh có dạng góc thường là học sinh không tìm được. - Mặt khác chưa gợi trí tò mò cho học sinh để học sinh tự khám phá kiến thức. Quá trình rèn luyện thực hành cho học sinh đôi lúc chỉ ở một vài dạng quen thuộc, chưa đa dạng phong phú, chưa chú ý tới rèn luyện trí tưởng tượng, phát triển vốn từ vựng về hình học cho học sinh. - Phương pháp dạy học tích cực cho học sinh chỉ mới dừng ở mức độ hình thức. Chưa phát huy tính sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn với một số bài cắt ghép hình thì giáo viên chỉ dừng lại ở một số cách đơn giản, chưa khai thác triệt để các cách, các phương án có thể để giải quyết bài toán. 3. Mô tả các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy các yếu tố hình học ở lớp 3 Khi dạy các các yếu tố hình học tôi đã cần quan tâm tới các vấn đề sau: Các biểu tượng về hình, các kĩ năng nhận dạng vẽ hình, rèn óc quan sát và trí tưởng tượng phát triển vốn từ vựng về hình học. Các yếu tố hình học có cấu trúc đồng tâm lôgic với nhau. Giáo viên phải có thuật ngữ toán học chính xác rõ ràng phù hợp với tư duy của học sinh làm cho học sinh tiếp thu bài dễ hơn, vận dụng kiến thức mới vào luyện tập linh hoạt hơn. Sau mỗi bài học, tôi cho học sinh được thực hành ngay trên phiếu học tập. Nội dung các bài tập sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra thực hành ngay trên phiếu còn phát huy được năng lực của học sinh khá giỏi vì khi làm bài tập trên phiếu học tập học sinh khá giỏi không phải chờ các bạn yếu cùng làm. Chính vì vậy việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học là nhu cầu cần thiết đối với giáo viên, giáo viên phải nắm bắt đúng kiến thức trọng tâm của tiết dạy, hiểu ý đồ sách giáo khoa để từ đó lựa chọn phương pháp dạy một cách linh hoạt có hiệu quả với nội dung thực tiễn của từng bài. Khi dạy các yếu tố hình học trong Toán 3 bản thân phải nắm vững các đặc điểm về nội dung: - Nội dung hình học trong Toán 3 tiếp tục củng cố và mở rộng các yếu tố hình học trong Toán 1 và Toán 2. Từ những kĩ năng ban đầu về hình dạng hình học (hình vuông, hình tròn, hình tam giác, điểm, đoạn thẳng, độ dài đoạn thẳng, điểm ở trong điểm ở ngoài một hình ở lớp 1 đến hình chữ nhật, hình tứ giác, đường thẳng, đường gấp khúc, chu vi hình tam giác, chu vi hình tứ giác ở lớp 2). Lớp 3 bước đầu làm quen với hình học định lượng (tính chu vi và diện tích của hình chữ nhật, hình vuông). Ở lớp 1, lớp 2 kiến thức hình học ở dạng khái quát (chẳng hạn hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình tứ giác,) ở lớp 3 đi sâu vào khai thác những yếu tố chi tiết, cụ thể về góc và cạnh làm nổi bật tính đặc trưng của mỗi loại hình đó (góc vuông, góc không vuông, chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật; Tâm, đường kính, bán kính của hình tròn) - Nội dung các yếu tố hình học trong chương trình Toán 3 được sắp xếp hợp lí, phù hợp với sự phát triển của trong giai đoạn học tập của học sinh cũng như các mạch kiến thức (số học, đại lượng và đo đại lượng, giải toán có lời văn) của Toán 3. Việc tri giác tổng thể, khái quát mang tính trực quan được trình bày nhiều ở lớp 1, lớp 2 đến lớp 3 được làm "nhẹ dần" đồng thời tăng dần việc tri giác cụ thể, chi tiết các yếu tố đặc trưng, đã góp phần hình thành tư duy lôgic, phát huy trí tưởng tượng sáng tạo của học sinh (như các yếu tố về góc, cạnh, đỉnh của một hình, trung điểm của đoạn thẳng; về tâm, đường kính, bán kính của hình tròn; về trang trí hình tròn.) Các bài toán định lượng trong nội dung yếu tố hình học (độ dài cạnh , chu vi, diện tích) được lựa chọn ứng với các mạch kiến thức số học, đại lượng, giải toán có lời văn. Khi dạy các yếu tố hình học ở lớp 3 giáo viên cần chú ý tới từng bài, từng tiết dạy sao cho thu hút được học sinh, gây được hứng thú cho các em trong tiết học giúp các em nắm bài tự nhiên thoải mái và chắc chắn. Qua vấn đề trên tôi rút ra một số phương pháp và cách thức tổ chức dạy học ở một số nội dung các yếu tố hình học ở lớp 3 như sau: - Dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Cần khai thác tính đặc trưng của việc hình thành khám phá kiến thức về nội dung yếu tố hình học đối với học sinh lớp 3 là thông qua con đường "thực nghiệm" bằng quan sát và đo đạc, so sánh, phân tích đơn giản rồi quy nạp, khái quát hoá. Trên cơ sở đó giáo viên cần lựa chọn cách dạy học phù hợp tạo ra những hoạt động học tập của học sinh đảm bảo tính tích cực cho từng đối tượng học sinh trong lớp cụ thể là: * Đối với các loại bài về khái niệm, biểu tượng hoặc nhận dạng các hình hình học mới có thể tổ chức dạy học bằng cách: + Khai thác từ tính trực quan tổng thể đến cụ thể chi tiết để nắm vững và sâu sắc hơn về khái niệm. Ví dụ: Hình vuông, hình chữ nhật: nhận dạng qua các yếu tố cạnh, góc, đo đạc, kiểm tra, hay khi dạy khái niệm diện tích và đo diện tích: đo rồi rút ra quy tắc tính, có thể liên hệ tới việc đếm số ô vuông trong các hình đã được học trước đó. + Sử dụng đồ dùng trực quan hoặc gắn với các đồ vật trong thực tế có hình dạng hình học phù hợp để học sinh có biểu tượng hình học và nhận biết được hình đó (khung ảnh, con tem, tờ giấy, có dạng hình chữ nhật; viên gạch bông, mặt quân súc sắc, khăn mùi soa có dạng hình vuông. Mặt đồng hồ treo tường, miệng rổ, miệng nón có dạng hình tròn, hình ảnh 2 kim đồng hồ, 2 cánh quạt trần tạo thành một góc; ê ke hoặc thước thợ mộc giúp học sinh làm quen với góc vuông) + Học sinh liên hệ được khái niệm, kiến thức đã học với khái niệm, kiến thức mới. (cách tính chu vi hình tứ giác ở lớp 2 đến cách tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông theo quy tắc ở lớp 3; khai thác khái niệm trung điểm của đoạn thẳng ở bài trước với tâm hình tròn - trung điểm của đường kính ở bài sau, sử dụng yếu tố góc vuông và đo độ dài đoạn thẳng để nhận biết hình chữ nhật, hình vuông,) + Cần phát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh khi củng cố hiểu biết về hình dạng các hình đã học thông qua việc quan sát, lựa chọn trong tập hợp gồm nhiều hình (hình chữ nhật, hình vuông, hình tam giác, hình tứ giác, hình tròn) hoặc hình có các góc vuông và góc không vuông. + Với bài luyện tập hoặc nội dung thực hành cần cho học sinh được tự động (tự do vẽ, xếp, ghép hình, tính toán tìm ra kết quả), tránh áp đặt hoặc làm thay học sinh. Một số bài tập luyện tập thực hành có tính chất làm mẫu, giáo viên cần sáng tạo thêm các bài tập khác phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể và tạo được hứng thú cho học sinh. Khi dạy học một số nội dung về khái niệm, biểu tượng hình học giáo viên cần có ngôn ngữ, xác định kiến thức cần chính xác, phong phú, giúp học sinh khai thác kiến thức một cách nhẹ nhàng. Ví dụ: Bài "Góc vuông, góc không vuông" tôi tiến hành như sau: Để có "biểu tượng, khái niệm" về góc giáo viên cho học sinh quan sát 2 kim đồng hồ lúc 3 giờ, 2 giờ, 5giờ, giáo viên giới thiệu: 2 kim đồng hồ ở mỗi hình trên tạo thành 1 góc. Như vậy từ hình ảnh 2 kim đồng hồ, học sinh có hình ảnh về góc. - Giáo viên giới thiệu và cho học sinh nhận dạng góc vuông và góc không vuông: A M C O B P N E D Góc vuông đỉnh O Góc không vuông đỉnh P Góc không vuông đỉnh E cạnh OA, OB cạnh PM, PN cạnh EC, ED - Giáo viên giới thiệu: Góc vuông đỉnh O, cạnh OA, OB. Từ đó học sinh nhận dạng được 2 góc còn lại là các góc không vuông, học sinh tự đọc tên góc. - Giáo viên chốt, nhấn mạnh kiến thức. - Học sinh lấy ví dụ một số đồ vật có dạng góc: (chóp nón, 2 cánh quạt trần, góc nhà) * Học sinh lấy ê ke - quan sát. Ê ke có hình gì? Giáo viên giới thiệu ê ke. - Học sinh nhận biết góc vuông và góc không vuông trên ê ke. - GV giới thiệu: Ê ke dùng để kiểm tra và vẽ góc vuông. - GV hướng dẫn cách sử dụng ê ke để đo và vẽ góc vuông. - HS thực hành dùng ê ke để đo, vẽ góc vuông trên ví dụ của GV Ở bài này giáo viên cần chú ý: Nội dung chưa đi sâu vào khái niệm góc (miền trong của góc, số đo của góc, kí hiệu của góc dạng AOB). - Học sinh dùng ê ke nhận biết các góc vuông trong hình và đánh dấu góc vuông: - Dùng ê ke vẽ góc vuông đỉnh M cạnh MC, MD C M C M M D C D D Khi dạy bài "Hình chữ nhật", để giúp học sinh nhận biết được các hình dựa theo đặc điểm về yếu tố cạnh và góc của hình. - Học sinh lấy hình chữ nhật (trong bộ đồ dùng) - Dùng ê ke kiểm tra các góc học sinh nhận biết được hình chữ nhật có 4 góc vuông. - Đo 2 cạnh dài, 2 cạnh ngắn của hình chữ nhật? - Nêu nhận xét: Độ dài 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau. - Giáo viên đưa hình mẫu - Học sinh kiểm tra trên hình mẫu của giáo viên và rút ra nhận xét Hình chữ nhật ABCD có: - 4 góc đỉnh A, B, C, D là các góc vuông. - 4 cạnh gồm 2 cạnh dài AB, CD, 2 cạnh ngắn BC, DA - 2 cạnh dài có độ dài bằng nhau 2 cạnh ngắn có độ dài bằng nhau B A C D - G: Đây là đặc điểm của hình chữ nhật ABCD. - Hình chữ nhật có đặc điểm gì? - Kết luận: Hình chữ nhật có 4 góc vuông, có 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau. - Học sinh vẽ hình chữ nhật trên mặt bảng kẻ ô. - Học sinh lấy ví dụ một số đồ vật có dạng hình chữ nhật? * Tôi tiến hành tương tự với bài "Hình vuông", tuy nhiên khi hình thành được đặc điểm của hình vuông giáo viên cho học sinh so sánh đặc điểm của hình vuông và đặc điểm của hình chữ nhật có gì giống và khác nhau? * Với bài: "Điểm ở giữa - Trung điểm của đoạn thẳng" Giáo viên giới thiệu điểm ở giữa thông qua trực quan (Hình vẽ 3 điểm như A, O, B theo thứ tự đó trên một đường thẳng) - Từ đó nêu "O là điểm ở giữa A và B" Giới thiệu "Trung điểm của đoạn thẳng" đã có tính "định nghĩa khái niệm" rõ hơn: M là trung điểm của đoạn thẳng AB khi: + M là điểm ở giữa A và B + Độ dài đoạn thẳng AM bằng độ dài đoạn thẳng MB 3cm 3cm O A B M B A M là trung điểm của đoạn thẳng AB O là điểm ở giữa 2 điểm A và B Khi học sinh đã có khái niệm, biểu tượng hình học giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng nhận dạng, phân biệt hình. Ở các lớp 1, 2 học sinh nhận dạng các hình qua trực giác tổng thể còn với lớp 3 mức độ đã được nâng lên theo đặc điểm về yếu tố cạnh, góc của hình như: "Hình chữ nhật có 4 góc vuông, 2 chiều dài bằng nhau, 2 chiều rộng bằng nhau"; "Hình tròn có tâm, đường kính, bán kính, độ dài bán kính bằng nửa độ dài đường kính." Như vậy với lớp 3 học sinh nhận biết hình qua cách " kiểm tra" hình dạng bằng ê ke, com pa, thước đo độ dài như: Nhận biết góc vuông, góc không vuông (bằng ê ke); nhận biết trung điểm của đoạn thẳng (đo bằng thước có chia vạch xăng - ti - mét); Nhận biết hình tròn (bằng com pa). Khi dạy kĩ năng nhận dạng hình tôi tiến hành theo các hình thức bài tập sau: + Nhận dạng hình theo yêu cầu: Với dạng bài tập này giáo viên tiến hành như sau: - Yêu cầu học sinh làm việc cá nhân thao tác trên hình : dùng ê ke, thước hay com pa đo, kiểm tra để nhận biết đúng yêu cầu. Giáo viên bao quát giúp đỡ học sinh - Học sinh nêu kết quả. - Học sinh giải thích cách lựa chọn: Có thể giải thích theo cách lựa chọn hình đúng hoặc giải thích theo hình sai Ví dụ: a Nêu tên đỉnh và các cạnh góc vuông; D b Nêu tên đỉnh và các cạnh góc không vuông; G I C C K B H A D E M Q N G X I P Như vậy ở bài này học sinh dùng ê ke đo từng góc sau đó học sinh đọc tên đỉnh và các cạnh góc vuông, góc không vuông. (Góc vuông đỉnh A cạnh AD, AC; góc vuông đỉnh D cạnh DM, DN). A B M N E G R S D C Q P I H U T - Ở bài này học sinh dùng ê ke và thước đo kiểm tra các góc và cạnh của mỗi hình, dựa vào đặc điểm về cạnh và góc của hình chữ nhật để nhận thấy các hình chữ nhật - Học sinh nêu tên các hình chữ nhật là MNPQ, RSTU - Tại sao 2 hình này là hình chữ nhật? (2 hình có 4 góc vuông và 2 cạnh dàI bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau) E G N A B P M C Q I H D Bài 1/111: Nêu tên các bán kính, đường kính có trong mỗi hình. P C I O B A N M O Q D + Dạng bài tập trắc nghiệm: Cho sẵn một số tình huống trong đó có 1 tình huống đúng, c

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém Môn Toán Thcs

Trung học cơ sở là một cấp học mang tính chất kế thừ kiến thức ở cấp tiểu học và đồng thời khởi đầu cho việc hình thành vốn kiến thức cơ bản cho học sinh làm nềnh tảng vững chắc, cho cấp học THPT và đại học, đặc biệt là môn Toán nó tạo mói quan hệ mật thiết giữa giữa các môn học tự nhiên trong nhà trường, là một trong bốn môn học mà hiện nay ngành đặc biệt quan tâm. Do đó cần có sự nhận thức rõ giá trị thực tiễn của môn Toán. Giúp cho học sinh vận dụng kiến thức đã học một cách sâu sắc làm nềnh tảng vững chắc cho các cấp học sau này.

các dụng cụ dạy học như tranh ảnh, thực hành, liên hệ thực tế, phân chia nhóm phải đảm bảo có đủ các đối tương như (Khá, giỏi, TB,Yếu,Kém) để có điều kiện trao đổi học tập lẫn nhau. Để giảng dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao thì người giáo viên gặp không ít khó khăn vướng mắc.

Học sinh đã làm quen với bộ môn như Toán và các môn khoa học tự nhiên. Hiện nay sách biên soạn có hình thức trình bày sinh động, hấp dẫn, ngôn ngữ trong sáng rõ ràng dễ hiểu, dưới mỗi đầu đề của mỗi bài, thường có các hình ảnh gắng liền với các câu hỏi hoạc câu phát biểu,câu suy đoán . nhầm kích thích ốc tò mò kiến thức khoa, thoi thúc học sinh tích cực tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Nhờ các câu hỏi này mà GV có thể tạo ra các tình huống có vấn đề lôi cuốn học sinh yếu kém vào tiết học một cách hứng thú, nhẹ nhàng, từ đó hình thành kiến thức mới như hình thành các khái niệm, tính chất định lý . một cách ngăn gọn cô động dễ hiểu, nhằm làm nềnh tảng cho việc vận dụng nghiên cứu các kiến thức cơ bản các lớp sau.

Để học sinh yếu kém học tốt GV phải gây được tình huống thu hút, say mê và hứng thú học tập. Muống làm được như thế thì GV định hướng giúp, hỗ trợ kiến thức cũ mà học sinh đã khuyết, hoặc những câu hỏi gợi mơ trên cơ sở tranh ảnh vật thật hoặc suy luận từ kiến thức cũ . để học sinh có cơ sở định hướng trao đổi tìm ra kiến thức mới, như tự tay vẽ hình, tính toán và rút ra kết luận, công việc này học sinh yếu còn gặp nhiều khó khăn.

Vì vậy nhiệm vụ cần thiết của GV là phải đầu tư nghiên cứu các phương pháp giảng dạy áp dụng phù hợp cho từng đối tượng học, đặc biệt là giáo viên tổ chức nhóm học tập, HS khá giỏi phụ đạo HS yếu kém, được như thế giúp ta từng bước nâng dần chất lượng hiệu quả giảng dạy và học tập của học sinh yếu kém ngày được nâng cao.

trường và cho ngành giáo dục của chúng ta. ! ... ************* I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Cơ sở khoa học của việc chọn đề tài. Trung học cơ sở là một cấp học mang tính chất kế thừ kiến thức ở cấp tiểu học và đồng thời khởi đầu cho việc hình thành vốn kiến thức cơ bản cho học sinh làm nềnh tảng vững chắc, cho cấp học THPT và đại học, đặc biệt là môn Toán nó tạo mói quan hệ mật thiết giữa giữa các môn học tự nhiên trong nhà trường, là một trong bốn môn học mà hiện nay ngành đặc biệt quan tâm. Do đó cần có sự nhận thức rõ giá trị thực tiễn của môn Toán. Giúp cho học sinh vận dụng kiến thức đã học một cách sâu sắc làm nềnh tảng vững chắc cho các cấp học sau này. các dụng cụ dạy học như tranh ảnh, thực hành, liên hệ thực tế, phân chia nhóm phải đảm bảo có đủ các đối tương như (Khá, giỏi, TB,Yếu,Kém) để có điều kiện trao đổi học tập lẫn nhau. Để giảng dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao thì người giáo viên gặp không ít khó khăn vướng mắc. Học sinh đã làm quen với bộ môn như Toán và các môn khoa học tự nhiên... Hiện nay sách biên soạn có hình thức trình bày sinh động, hấp dẫn, ngôn ngữ trong sáng rõ ràng dễ hiểu, dưới mỗi đầu đề của mỗi bài, thường có các hình ảnh gắng liền với các câu hỏi hoạc câu phát biểu,câu suy đoán ... nhầm kích thích ốc tò mò kiến thức khoa, thoi thúc học sinh tích cực tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Nhờ các câu hỏi này mà GV có thể tạo ra các tình huống có vấn đề lôi cuốn học sinh yếu kém vào tiết học một cách hứng thú, nhẹ nhàng, từ đó hình thành kiến thức mới như hình thành các khái niệm, tính chất định lý .... một cách ngăn gọn cô động dễ hiểu, nhằm làm nềnh tảng cho việc vận dụng nghiên cứu các kiến thức cơ bản các lớp sau. Để học sinh yếu kém học tốt GV phải gây được tình huống thu hút, say mê và hứng thú học tập. Muống làm được như thế thì GV định hướng giúp, hỗ trợ kiến thức cũ mà học sinh đã khuyết, hoặc những câu hỏi gợi mơ õtrên cơ sở tranh ảnh vật thật hoặc suy luận từ kiến thức cũ ... để học sinh có cơ sở định hướng trao đổi tìm ra kiến thức mới, như tự tay vẽ hình, tính toán và rút ra kết luận, công việc này học sinh yếu còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy nhiệm vụ cần thiết của GV là phải đầu tư nghiên cứu các phương pháp giảng dạy áp dụng phù hợp cho từng đối tượng học, đặc biệt là giáo viên tổ chức nhóm học tập, HS khá giỏi phụ đạo HS yếu kém, được như thế giúp ta từng bước nâng dần chất lượng hiệu quả giảng dạy và học tập của học sinh yếu kém ngày được nâng cao. 2.Cơ sở thực tiễn. sinh động hoặc thí nghiệm kiểm chứng để từ đó học sinh rút ra kiến thức và cách trình bài lập luận trên hệ thống kiến thức mang tính chất lôgíc, và nhiều bài tập mang tính chất kế thừa kiến thức cũ xây dựng kiến thức mới tạo ra một chuỗi hệ thống lôgíc về mặt khoa học... Vậy làm thế nào để sử dụng cụ phương tiện phục vụ cho việc truyền thụ kiến thức của gv cho HS yếu kém, việc lĩnh hội kiến thức , thu hút khả năng tìm tòi nghiên cứu của học sinh một cách có hiệu quả vẫn là một mối quan tâm hàng đầu , là điều kiện khó nhất của GV tìm phương pháp dạy học. Để đảm bảo việc giảng dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao. Đồi hỏi người giáo viên phải có vốn kiến thức vững vàng, chịu khó học hỏi ở đồng nghiệp, lắng nghe ý kiến góp ý chỉ đạo từ BGH, tổ trưởng, các giáo viên nhiều năm có kinh nghiệm. Về học sinh giáo viên phải tìm hiểu về tâm lý , hoàn cảnh gia đình, đối tượng học sinh, phải xem đây là một vấn đề nghiêm túc càn tìm ra những giải pháp cụ thể và áp dụng một cách đồng bộ, phù hợp với đối tượng yếu kém, nhầm nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy, cũng như kết quả học tập đạt chất lượng. II. NHỮNG HẠN CHẾ KHÓ KHĂN. 1. Về học sinh. Trường THPT Ninh Thạnh Lợi là trường vùng sâu, vùng xa so với các trường trong huyện, đường xá đi lại khó khăn, kênh gạch chằn chịt, phần đông là người dân tộc Khơme, đa số là học sinh nghèo nên ngoài giờ học, học sinh còn phải phụ giúp gia đình nhiều công việc nên thời gian tự học còn hạn chế, phần đông là trình độ dân trí thấp. Chính vì từ những yếu tố trên nên nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của học sinh. Qua nhiều năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa nhưng học sinh vẫn còn lúng túng trong việc tiếp thu kiến thức mới. Năm nay là năm tiếp tục thực hiện cuộc vận động của bộ GD&ĐT với 4 nội dung, trong đó thể hiện rõ ở hai nội dung đối với học sinh là " tránh tiêu cực trong thi cử và tránh tình trang học sinh không đủ điều kiện lên lớp" Do thực tại tiết dạy có 45 phút với một khối lượng kiến nhất định, đồng thời lớp học số lượng đông, có đủ các dạng học sinh, nên nếu giáo viên đầu tư nhiều cho các em học sinh yếu kém để am hiêu sâu và nắm rõ kiến thức, dẫn đến tiết dạy trái giáo án, không đảm bảo truyền tải hết nội dung kiến thức, đây là một khó khăn chung của giáo viên. 2. Về Giáo viên. Việc đào tạo giáo viên giảng dạy bậc THCS chưa đào tạo chuyên một môn day nhất, một giáo viên phải đảm nhiệm hai, ba môn. Nên việc đầu tư giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn hạn chế. Do tình hình thực tế của trường nên một số giáo viên chỉ tập huấn chương trình thay sách giáo khoa môn này và phải dạy môn khác không được tập huấn. Mặt dù chuyên môn đào tạo co,ù nhưng chưa được tập huấn dạy môn đó theo phương pháp mới, dẫn đến việc giảng dạy chưa đạt hiệu quả cao. Do một số giáo viên chưa chịu khó đầu tư nghiên cứu mài mò, tìm hiểu đối tượng học sinh học yếu kém, dẫn đến giáo viên rất ngại tổ chức cho học sinh học nhóm trong giờ học còn hạn chế. Giáo viên sợ không khống chế được thời gian, nên một số giáo viên còn mang hình thức áp đặt kiến thức cho học sinh khá giỏi,chưa quan tâm sâu đến học sinh yếu kém. Dẫn đến việc học tập của học sinh bị thù động và không phát huy được kả năng chịu khó trong học tập. Giáo viên bộ môn rất khó khăn được phối hợp gặp phụ huynh để trao đổi cụ thể về việc học tập của con em mình tại lớp, để từ đó có biện pháp phối hợp cho con em mình học tốt từ nhà đến trường, nên việc học tập của học sinh yếu kém chưa được nâng cao. 3. Về Gia đình. Đa số các gia đình phụ huyng có hoàn cảnh khó khăn và trình độ nhận thức của phụ huynh còn hạn chế nên phần lớn phụ huynh chỉ quan tâm theo cách riêng của mình, như tạo điều kiện cho con em mình đến trường lớp, nhưng có biện pháp theo dõi quá trình đi học và chua có biện pháp giúp đỡ con học ở nhà, chưa kiểm tra được khả năng tiếp thu của con em học ở trường cũng như chưa kiểm tra thời gian học hành của con em tại nhà. Dẫn đến chất lượng học tập không cao. Đây là những nguyên nhân không nhỏ trong việc giảng dạy của giáo viên ở nhà trường. Với sự đổ mới về chương trình sách giáo khoa hiện nay và sự nhận thức của phụ huynh còn có giới hạn nên không nắm được kịp thời về việc học tập của con em mình. Từ đó chấm nhận thực tế chăm sóc con mình theo một phía, còn lại là giao hẳn cho thầy (cô) giáo. Nhà Trường. Trường THPT Ninh Thạnh lợi đã tạo mọi điều kiện từ trang thiết bị đến cơ sở vật chất, chuyên môn nhầm tạo mọi điều kiện tốt nhất cho công tác giảng dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém đối với môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung. Các loại sách giáo khoa và sách tham khảo và các loại sách khác nhầm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy và học tập cho học sinh. Phòng thư viện luôn có người trực mỗi ngày nhầm tạo điều kiện học và tìm hiểu kiết thức tốt vung vén cho kiến thức cũ được vững chắc, bên cạnh đó nhà trường còn tạo điều kiện cho học sinh nghèo mượn sách giáo khoa và các sách khác để học tâp. Tuy nhiên phòng thư viện có người trực suốt nhưng lượt người tham gia đọc và tìm hiểu còn hạn chế, chưa tạo được tính chủ động lôi cuốn học sinh đọc để tìm hiểu và nâng coa kiến thức hiểu biết của học sinh. III. NHỮNG GIẢI PHÁP CỤ THỂ. Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Toán trong nhà trường, theo tôi để dạy tốt phụ đạo học sinh yếu kém học tiến bộ đạt hiệu quả cao, mỗi giáo viên cần phải hiểu rõ những nguyên nhân thiết thực cụ thể dẫn đến học sinh học yếu kém, để từ đó tìm ra những giải pháp cụ thể thiết thực dạy cho học sinh thuộc đối tượng này, Theo tôi để thực hiện tốt việc dạy phụ đạo học sinh yếu kém đạt hiệu quả cao, tôi xin đề xuất một số giải pháp mang tính thiết thực áp dụng cho đối tượng học sinh ở trường ta. Những giải pháp này đưa ra nhằm thông qua quý thầy (cô) cung nhau trao đổi góp ý. Về Học Sinh. Khách quan. Cần cho học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tâp đối với thực tế sau này khi đi vào công tác. Chỉ ra cho học sinh thấy giá trị của việc lao động trí ốc và lao động chân tay của một chuỗi dày tương lai sau này. Giá trị kiến thức môn toán. Giáo viên chỉ cho học sinh thấy giá trị thực của môn toán nó làm cơ sở giúp và hỗ trợ rất nhiều cho các môn khoa học tự nhiên khác như Lý, Hoá, Sinh, Địa ... Giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc tính toán đo đạc trong thực tế, đời sống hàng ngày... Tính tích cực chủ động trong học tập. Chuẩn bị tốt dụng cụ, kiến thức và xem kiến thức mới ở nhà trước khi lên lớp. Giáo Viên. Để dạy tốt phụ đạo học sinh yếu kém trong lớp học đại trà giáo viên cần định hướng nội dung, kỹ năng, phương pháp cụ thể. Chuẩn bị Giáo viên cho học sinh chuẩn bị tốt các dụng cụ, thiết bị, kiến thức bài cũ làm nềnh tảng vận dụng tìm ra kiến thức mới. khích lệ học tập của em đó đồng thời thúc đẩy được tính đoàn kết hỗ trợ giúp nhau trong học tập. Giáo viên phải nắm được tâm lý học sinh yếu kém, vì kiến thức bị hỏng không theo kịp kiến thức cùng các bạn dẫn đến ngày càng tráng nảng buôn thả, từ nguiyên nhân đó. Giáo viên phải có một tâm lý nhẹ nhàn, phóng thoán, không gò bó, không áp đặt, mọi tình huống luôn gợi mở, đồng thời ưu tiên các bài toán dễ hoặc câu hỏi dễ cho các em học sinh yếu kém làm hoặc trả lời và luôn gợi mỡ, nhắc lại các kiến thức cũ cho em phần bị hỏng nhầm lấp lại kiến thức đó dẫn đến làm được bài tập hoặc trả lời được câu hởi. Đặc biệt khi trả lời được cần tuyên dương trước lớp nhầm khích ngọn lửa học tập trong lòng em, đồng thời đẩy mạnh tư tưởng phấn đấu trong em. Giáo viên tạo ra các nhóm học tập dạy kèm nhau ở nhà ( phân bố các em nhà ở gần nhau) đồng thời đưa ra thi đua giữa các nhóm, nhín ít thời gian tổng kết tuyên dương nhóm đó sau tiết. Đây là một động lực mạnh thúc đẩy nhầm tạo được sự hoà nhã giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Tiến hành dạy. - Trước khi tiến hành giảng dạy bài mới giáo viên kiểm tra lại kiến thức cũ các em yếu kém của các nhóm đã chuẩn bị ở nhà(Kiến thức dặn dò ở tiết trước) để nhận xét so sánh và tuyên dương gây hưng phấn bước vào tiết học mới. Trong tiết dạy giáo viên chuẩn bị tốt các dụng cụ, tranh ảnh, hệ thống câu hỏi gợi mỡ sinh động dễ hiểu, cho từng đối tượng học sinh. Giáo viên phải phân bố được thời gian và định hướng trước tình huống học sinh trả lời để có hướng chủ động giải quyết, chỉ ra những sai, nhầm lẫn của học sinh, đặc biệt là cần tạo ra được tình huống nhẹ nhàn, gợi mỡ gây kích thích, hưng phấn trong học tập. Khi tổ chức các nhóm phải có đủ các đối tượng, khá,giỏi,yếu kém, để có điều kiện trao đổi hỗ trợ nhau cùng tiến bộ. Giáo viên khắc sâu kiến thức trọng tâm về cách học và lưu nhớ kiến thức dưới dạng tổng quát cơ bản làm nềnh tảng cho việc vận dụng học tập và làm bài tập ở nhà. Theo tôi để thực hiện dạy phụ đạo tốt và đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phải chịu khó đầu tư nghiên cứu từ nhiều vấn đề. Chọn lựa sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập và phát huy khả năng tự học. Hoạt động hoá việc học tập bằng những phương pháp dẫn dắt cho học sinh tự thân trãi nghiệm chiếm lĩnh tri thức, tận dụng ưu thế của từng phương pháp dạy học tích cực, chú trọng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thiết thực trọng tâm cơ bản cần truyền đạt. Tìm hiểu về đối tượng học sinh, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình để có biện pháp hỗ trợ. Cũng cố. Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi để khẳng định sự nhận thức, lỉnh hội kiến thức của học sinh, hoặc dưới dạng bài tập trắc nghiệm nhận dang. Hệ thống kiến thức dưới dạng ký hiệu toán học, từ đó học sinh phát biểu lại bằng lời, kiến thức được biểu diễn dưới dạng ký hiệu toán học là cơ sở trực tiếp trình bày một bài toán. Hướng dẫn về nhà. Đây cũng là một mục tiêu quan trọng giúp học sinh định hướng được việc học ở nhà và chuẩn bị bài trước ở nhà. Nhà trường. BGH luôn có kế hoạch bồi dưỡng giáo viên phù hợp đúng chuyên môn và có kế hoạch dự giờ thăm lớp rút kinh nghiệm, tạo điều kiện giúp đỡ hỗ trợ kiến thức kịp thời. Tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ kinh phí, động viên, khuyến khích giáo viên tự sáng kiến và làm đồ dùng dạy học phục vụ cho việc giảng dạy mang tính chất lâu dài và có hiệu quả, đảm bảo đúng, phù hợp với phương pháp dạy mới. Gia đình. Cần thường xuyên quan tâm việc học tập ở trường và bố trí thời gian học ở nhà của con em mình. Đi họp phu huynh theo định kỳ, theo dõi sổ liên lạc để trao đổi giáo viên và nắm bắt kịp thời việc học tập của con em mình. Cung cấp các dụng cụ sách vỡ đầy đủ để các em học tốt. IV. CÁC ĐIỀU KIỆN HỖ TRỢ CHO GIẢI PHÁP. Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở, mang tính chất đơn giản nhẹ nhàn. Chuẩn bị các dụng cụ, bảng phụ, tranh ảnh sinh động ... Chia nhóm học tập hợp lý ( có đủ các đối tượng giỏi, khá, TB, yếu, kém) để có điều kiện hỗ trợ cho nhau. Định hình bài tập trác nghiệm dạng nhận dạng đế thông hiểu. Dạng đơn giản và bài tập tự luận áp dụng mang tính chất kế thừa tương tự... Tổ chúc cho đôi bạn học tập hoặc các nhóm học ở nhà. Kết hợp trao đỗi thường xuyên giữa phụ huynh và nhà trường về việc học tập của học sinh để có biện pháp hỗ trợ giúp đỡ kịp thời. V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN. Qua quá trình thực thi sáng kiến kinh nghiệm này của tôi đưa vào áp dụng giảng dạy trực tiếp ở lớp có nhiều hiệu quả cụ thể như sau. Tôi đảm nhiệm môn toán 9D, 8AC/113em. Kết quả thi khảo sát đầu năm môn toán có tới : 109em/113 yếu kém. Đến nay kết quả học kỳ I: loại yếu kém còn 68em giảm 41 em, Giảm 37,61%. Tôi xin hứa sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để cuối năm hạn chế mức thấp nhất học sinh yếu kém bằng những phươngpháp trên. Cuối cùng tôi xin chúc BGH, Hội đồng thẩm định của trường, quý Thầy (Cô) đồng nghiệp vui vẽ dạy tốt. Ninh Thạnh Lợi : ngày 20 tháng 03 năm 2008 Người viết SKKN PHẠM QUANG SANG

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém

A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức các hoạt động tích cực cho người học, kích thích, thúc đẩy, hướng tư duy của người học vào vấn đề mà họ cần phải lĩnh hội. Từ đó khơi dậy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong tự thân của người học để phát huy khả năng tự học của họ. Đối với học sinh bậc THCS cũng vậy, các em là những đối tượng người học nhạy cảm việc đưa phương pháp học tập theo hướng đổi mới là cần thiết và thiết thực. Vậy làm gì để khơi dậy và kích thích nhu cầu tư duy, khả năng tư duy tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của môn học đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh? Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo. Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.  Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. II. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm chỉ gói gọn ở những đối tượng học sinh yếu kém năm học 2010 -2011 của trường THCS Phong Thạnh Tây – Giá Rai – Bạc Liêu. B. NỘI DUNG. I. THỰC TRẠNG Trường THCS Phong Thạnh Tây thuộc vùng nông thôn sâu của Huyện Giá Rai. Đa số học sinh đều chăm ngoan, vâng lời thầy cô, tích cực trong học tập. Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh thờ ơ với việc học và chưa xác định rõ mục đích của việc học tập là để làm gì dẫn đến kết quả học tập yếu kém. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm xong, lãnh đạo trường thường chia ra một lớp điểm sáng và một, hai lớp còn lại là học sinh yếu kém. Những đối tượng này không thích học phụ đạo nên rất khó khăn trong việc giảng dạy của giáo viên. Hiểu được vấn đề đó và dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Giá Rai lãnh đạo trường phân công những đồng chí giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình để dạy các lớp này. Năm học 2010-2011 tôi được phân công dạy môn Tiếng Anh khối 9 trong đó cũng có một lớp điểm sáng và một lớp học sinh yếu kém. Qua kết quả khảo sát đầu năm có đến 56,7% học sinh yếu-kém,Tôi đã tìm hiểu và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chỗ yếu của các em để từ đó tìm ra phương pháp phụ đạo cho phù hợp. Phần lớn các em cho biết không thích học phụ đạo sở dĩ đi học là do nhà trường bắt buột vì thời khóa biểu phụ đạo được xem như là buổi học chính khóa. Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tác phụ đạo học sinh yếu kém, tôi nhận thấy muốn nâng dần chất lượng học sinh yếu kém không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên. Sau đây tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập. II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Về phía học sinh: Học sinh là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do cá nhân học sinh trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân sau: – HS lười học: qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cặp sách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớp thì không chép bài vì lí do là không có đem tập học của môn đó. Còn một bộ phận không ít học sinh thì không xác định được mục đích của việc học, học để có điều kiện đi chơi, đến lớp thì lo chọc phá bạn bè, gọi đến thì không biết trả lời, đang giờ học thì xin ra ngoài để chơi. Theo sách giáo khoa hiện hành thì để dễ dàng tiếp thu bài, nhanh chóng lĩnh hội được tri thức thì người học phải biết tự tìm tòi, tự khám phá, có như thế thì khi vào lớp mới nhanh chóng tiếp thu và hiểu bài một cách sâu sắc được. Tuy nhiên, phần lớn học sinh hiện nay đều không nhận thức được điều đó. Học sinh chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học rồi về về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. 2. Về phía giáo viên: Học sinh học yếu không phải nguyên nhân toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò giỏi. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà ở đây đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là tốt với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác tôi nhận thấy, vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan tâm đến các đối tượng học sinh. Chưa tìm tòi nhiều phương dạy học mới kích thích tích tích cực chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời cho học sinh với thái độ cọc cằn làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ. – Gia đình không quan tâm: Một số gia đình có khả năng cho con đi học nhưng không quan tâm đến việc học hành của con em hàng ngày, không biết được thời gian học của các em bắt đầu lúc mấy giờ và kết thúc khi nào, thời khóa biểu hôm nay có mấy tiết gồm những môn gì? Không đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện học tập cho các em, họ cứ nghĩ học đến đâu hay đến đó, thích học thì cho học, chán thì cho nghỉ. – Do sức khỏe yếu: Một số em thể trạng yếu , không thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột đẽ mắc bệnh đẫn đến phải nghỉ học đến khi nào khỏi bệnh đi học lại dẫn đến tiếp thu không kịp bài. Hoặc một số em có bệnh bẩm sinh, trí tuệ kém thông minh cũng là nguyên nhân dẫn đến yếu kém. III. CÁC BIỆN PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh: – Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. – Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Giáo viên không nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi học sinh không ngoan, không chép bài vì làm như thế học sinh sẽ không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được gì. Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh giáo dục ý thức học tập của học sinh hoặc dùng một biện pháp giáo dục đó chứ đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học. – Bên cạnh đó, việc giáo dục ý thức học tập của học sinh cũng phụ thuộc rất lớn vào giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm là người gần gủi với học sinh, phải tìm hiểu đối từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của mình.       Ví dụ 1: Học sinh Nguyễn Văn B, học lớp 9A2, không thích học nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, kết quả là học sinh đó học tập kém.           Hướng giải quyết: Trước tiên, Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh. Từ đó giáo viên tìm hiểu được nguyên nhân và thường xuyên gần gủi, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh nhận thấy tầm quan trọng của việc học. Bên cạnh đó, giáo viên trao đổi với gia đình, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức của học sinh, khuyên nhủ gia đình không nên quá gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gủi giúp đở em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu. 2. Kèm cặp học sinh yếu kém: – Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ môn mình ở năm học trước để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng, có thể cho điểm tối đa để khích lệ tinh thần học tập cho các em. – Khi soạn giáo án phụ đạo cho các em phải chú ý đến những điểm kiến thức mà các em đã hỏng trong năm học trước và trong năm học này để dần bổ sung những kiến thức đó cho các em. Ví dụ: ở bộ môn Tiếng Anh, khi học đến lớp 8 các em đã được học thì quá khứ đơn nhưng khi giáo viên cho bài tập các em làm không đúng, lúc này giáo viên phải giải thích lại cách dùng của thì này và ghi lại công thức cho các em và cho nhiều ví dụ mẫu để cho các em hiễu rõ và có thể làm được. – Phải thường xuyên kiểm tra sĩ số: Để nắm được nguyên nhân các em nghỉ học, răn đe đối với các em nghỉ học nhiều lần trong các buổi phụ đạo không có lý do, động viên đối với những trường hợp nghỉ có lí do chính đáng, phải kết hợp với GVCN trong việc theo dõi tỉ lệ chuyên cần của các em. Vì có đi học đều mới có thể lĩnh hội được kiến thức. – Kiểm tra vở học của các em vào cuối buổi học: Một số em ý thức học chưa tốt thường không chép bài đầy đủ, khi nghe hiệu lệnh trống là gấp vỡ lại ra chơi. Giáo viên có thể nhắc nhở ngay từ đầu giờ khi vào lớp để các em theo dõi và ghi chép đầy đủ nhưng khi có một dấu hiệu nghi ngờ nào đó thì cuối buổi gọi em đó mang vỡ ghi chép lên xem, nếu em đó chưa hoàn thành thì cho chép bài lại giờ ra chơi. Có như thế các em mới chép bài đầy đủ. – Kiểm tra kiến thức cũ trước khi bổ sung kiến thức mới: Vào đầu giờ giáo viên nên hỏi lại kiến thức cũ đã học ở tiết trước và cho các em 1, 2 câu bài tập để áp dụng, nếu các em làm được thì mới dạy kiến thức khác. Hay cuối giờ dành khoảng 5 đến 10 phút cho các em kiểm tra giấy xem các em có lĩnh hội được bài giảng hôm nay không. Từ đó có hướng thích hợp để phụ đạo cho các em tốt hơn. IV. KẾT QUẢ: Học sinh yếu kém đầu năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 60 6 23,0 20 33,3 26 43,3 22 36,7 12 20,0 Học sinh yếu kém học kỳ I, năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 59 4 6,8 12 20,3 33 55,9 49 83,1 10 16,9 Học sinh yếu kém cuối năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 58 3 5,2 21 23,0 30 51,7 54 93,1 4 6,9 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: – Giáo viên phải nhiệt tình giảng dạy, kiểm tra bài học của các em thường xuyên trên lớp. – Có kế hoạch phụ đạo càng sớm càng tốt. – Sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, vận dụng nhiều phương pháp hay đa dạng để thu hút học sinh. – Ôn tập thật kỹ và phải có đề cương ôn thi cho học sinh trước khi làm bài kiểm tra , thi học kỳ. – Luôn là tấm gương tự học, sáng tạo để học sinh noi theo. Rèn cho học sinh tính hiếu học, cách học tập tốt, kiên trì vượt khó. – Làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của việc học tập và trở nên yêu thích môn học. – Phụ huynh nên quan tâm đến việc học của con em mình, nắm bắt được thời khóa biểu, thời gian học hàng ngày và phải thường xuyên liên hệ với GVCN hay GV bộ môn để nắm bắt được việc học của các em. II. KIẾN NGHỊ: – Nhà trường cần chỉ đạo và theo dõi chặt chẽ công tác phụ đạo học sinh yếu kém, chỉ đạo cho các bộ phận đoàn thể trong nhà trường thực hiện tốt việc giáo dục ý thức đạo đức, học tập cho các em. – Phát động nhiều phong trào thi đua học tập trong học sinh đồng thời tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh. – GVCN cần tăng cường công tác giáo dục ý thức học tâp của học sinh, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để kịp thời uốn nắn các em. – GV bộ môn phải tìm ra những biện pháp dạy có hiệu quả, thường xuyên theo dõi học lực của học sinh để so sánh và đánh giá mức tiến bộ của các em. Phong Thạnh Tây, ngày 20 tháng 5 năm 2011 HỘI ĐỒNG KHGD TRƯỜNG Người viết Huỳnh Thanh Tùng

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nội Dung Dạy Các Yếu Tố Hình Học Ở Tiểu Học trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!