Đề Xuất 11/2022 # Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 # Top 18 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 11/2022 # Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủ

Tin tức

Tin mới

Sáng kiến về Giải pháp bồi dưỡng học sinh yếu, kém môn Toán

SÁNG KIẾN

MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH YẾU, KÉM

HỌC TỐT MÔN TOÁN THCS

I.Cơ sở chọn đề tài

1.Cơ sở lí luận

Học sinh yếu kém toán là những học sinh có kết quả về môn toán thường xuyên dưới mức trung bình. Do đó việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng cần thiết đối với những học sinh này tất yếu đòi hỏi tốn nhiều công sức và thời gian hơn so với những học sinh khác.

          Về mặt lí luận người thầy phải nắm vững các đặc điểm của học sinh yếu kém để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng học toán của học sinh.

2. Cơ sở thực tiễn

          Cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi toán việc giúp đỡ học sinh yếu kém phải được tiến hành ngay cả trong tiết dạy học đồng loạt bằng các biện pháp phân loại nội tại thích hợp. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học việc nâng cao hiệu suất giờ lên lớp để giúp đỡ học sinh yếu kém người thầy cần có sự giúp đỡ tách riêng đối với nhóm học sinh yếu kém ( thực hiện chủ yếu ngoài giờ chính khóa )

          Trên địa bàn mà trường tôi trực thuộc học sinh đa số là con em nông thôn, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc đầu tư về vật chất cũng như thời gian cho con cái học tập chưa cao, ngoài giờ đến lớp các em còn phải giúp đỡ bố mẹ các công việc gia đình, không có thời gian để tự học. Sự quan tâm kèm cập con cái của các phụ huynh còn hạn chế, ý thức học tập của một số em chưa cao, phương pháp học tập chưa phù hợp dẫn đến chất lượng học tập của học sinh còn yếu vì thế hầu hết các em sợ học môn toán.

          Là một giáo viên đã có hơn 20 năm gắn bó với nghề. Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em. Bỡi vậy trong quá trình giảng dạy tôi luôn học hỏi đồng nghiệp và tìm tòi những phương pháp thích hợp để giúp các em học sinh yếu kém yêu thích và học tốt môn toán với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường trung học cơ sở. Và qua thực tế dạy học tôi tìm tòi áp dụng một số giải pháp đem lại thành công. Vì thế tôi chọn đề tài: “ một vài kinh nghiệm giúp học sinh yếu kém học tốt môn toán trung học sơ sở “

          Thực trạng hiện nay cho thấy vấn đề học sinh yếu kém ở các bộ môn rất trầm trọng, trong đó môn toán không phải là ngoại lệ. Với vai trò qua trọng của bộ môn có tính quyết định đến chất lượng học tập của bộ môn khác. Hơn nữa chương trình toán trung hoc cơ sở là những viên gạch đặt nền móng đầu tiên cho cả quá trình học tập sau này. Xuất phát từ lòng thương yêu học sinh như con em của mình và lương tâm của một người thầy giáo. Tôi thực sự băn khoăn trăn trở trước những khó khăn chán nản của học sinh khi học môn toán. Với sự trao đổi góp ý của đồng nghiệp tôi đã thử nghiệm trên đối tượng học sinh lớp 8 ở trường tôi về phương pháp giúp đỡ học sinh yếu kém học tốt môn toán và thực tế đem lại kết quả khả quan, sự tiến bộ rõ rệt của học sinh là động lực thúc đẩy tôi hình thành bản sáng kiến này.

II.Nội dung sáng kiến.

1.Mục đích:

          Sở dĩ tôi chọn đề tài này là vì mong muốn tìm được một phương pháp tối ưu nhất để trong quỹ thời gian cho phép hoàn thành được một hệ thống chương trình quy định, nhằm lắp đầy các chổ hổng kiến thức và từng bước nâng cao thêm về mặt kỹ năng trong việc giải các bài tập toán cho học sinh. Từ đó phát huy khơi dậy khả năng sử dụng hiệu quả kiến thức vốn có của học sinh, đồng thời thu hút, lôi cuốn các em ham thích học môn toán, đáp ứng những yêu cầu về đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học hiện nay.

2.Nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện:

2.1:Khảo sát chất lượng học sinh về môn toán nhằm xác định đối tượng học sinh yếu kém.

Thông qua học bạ lớp dưới, thông qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra vấn đáp những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà các em đã được học. Qua đó giúp tôi nắm được những đối tượng học sinh yếu kém và những ”lỗ hổng” kiến thức của các em. Trên cơ sở đó tôi phân lớp thành nhiều nhóm gọi là nhóm ” tương đồng về kiến thức”. Rồi tìm hiểu nguyên nhân và lập kế hoạch khắc phục.

2.2: Phân loại đối tượng học sinh từ đó lựa chọn các biên pháp phù hợp và lập kế hoạch khắc phục hiện trạng học sinh yếu kém đó. Tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự yếu kém môn toán ở học sinh.

Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy có các nguyên nhân chủ yếu sau dẫn đến học sinh học yếu đó là: Học sinh có nhiều “lỗ hổng” về kiến thức cũng như về kỹ năng do:

* Nguyên nhân khách quan:

– Do kinh tế gia đình khó khăn nên điều kiện học tập thiếu thốn về cả vật chất cũng như thời gian, dẫn đến kết quả học tập theo đó bị hạn chế.

– Do học sinh có sự khủng hoảng nhất thời về mặt tinh thần trong cuộc sống dẫn đến sao nhãng việc học hành.

* Nguyên nhân chủ quan:

– Kiến thức bị hổng do học sinh lười học.

– Do khả năng tiếp thu chậm.

– Do thiếu phương pháp học tập phù hợp.

Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy tôi đã gặp rất nhiều khó khăn khi giảng dạy kiến thức mới trong điều kiện nền tảng kiến thức cũ rất yếu kém của học sinh. Đây là một nỗi đau hàng ngày gặm nhấm trái tim nghề nghiệp của tôi, thôi thúc tôi phải làm một điều gì đó để có thể giúp đỡ các em.Và tôi đã thay đổi cách nghĩ và cách làm trong công tác giảng dạy để giúp đỡ các em yếu, kém học tốt môn toán hơn qua các biện pháp cụ thể sau:

2.3: Các biện pháp khắc phục tình trạng yếu kém trong học sinh về môn toán.

2.3.1. Trước hết, tôi chú trọng khắc phục các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kết quả học tập của những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tinh thần trách nhiệm của một người thầy trên cương vị giáo viên chủ nhiệm.

Đối với những em do hoàn cảnh kinh tế gia đình quá khó khăn ví dụ như các em bị thiếu thốn sách vở đồ dùng học tập. Ngoài các buổi đến lớp các em phải đi mò cua, bắt ốc để phụ giúp kinh tế gia đình không có thời gian để học tập. Sau khi tìm hiểu biết được hoàn cảnh của các em tôi đã có ý kiến đề xuất lên ban lãnh đạo nhà trường có thể miễn giảm cho các em một phần nào các khoản đóng góp có thể được, giảm bớt gánh nặng về sự thiếu thốn vật chất cho các em. Ngoài ra tôi đã phát động các em học sinh trong lớp quyên góp một phần nào đó để giúp bạn có thể mua một số đồ dùng học tập như sách giáo khoa,bút vở,…Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các em đó trong học tập.

Với đối tượng học sinh gặp sự cố bất thường về tinh thần. Ví dụ như bố mẹ đi làm ăn kinh tế ở xa, hay những trường hợp có những cú sốc về tình cảm trong gia đình mà các em bị ảnh hưởng, có một số em phải ở với ông bà bị thiếu thốn về tình cảm và sự chăm sóc của bố mẹ,…Thông qua học sinh và phụ huynh tôi thường xuyên trò chuyện thân mật riêng với các em, động viên an ủi để các em có thể vượt qua cơn khủng hoảng về tinh thần, góp phần nào giúp các em trở lại trạng thái cân bằng về tình cảm và tập trung vào việc học tốt hơn.

Với đối tượng học sinh yếu kém do lười học. Tôi trực tiếp trò chuyện riêng với các em, phân tích cho chuyên môn, tôi tăng cường công tác kiểm tra việc học và làm bài về nhà, trong các giờ học tôi khuyến khích cho các em phát biểu, gọi các em lên bảng trình bày và có lời khen kịp thời, cho điểm khuyến khích, động viên các em, giúp các em tự tin và hứng thú học tập hơn.

Sau khi tạo được tâm thế thoải mái về tinh thần trong học sinh thì việc tiếp theo đóng vai trò quan trọng và quyết định. Đó chính là thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm giúp các học sinh yếu kém có điều kiện về mặt kiến thức để theo kịp yêu cầu chung của những tiết học trên lớp, tiến tới có thể hoà nhập vào việc dạy học đồng loạt.

2.3.2. Khắc phục các yếu tố chủ quan:

Trước hết cần đảm bảo cho học sinh có trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp. Để tiết học trên lớp có kết quả thường đòi hỏi những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kỹ năng sẵn có của học sinh. Đối với diện học sinh yếu kém thì thiếu hẳn tiền đề này. Vì thế cần giúp nhóm học sinh này có đủ tiền đề đảm bảo trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp đạt hiệu quả.

Trước hết, tôi nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, vạch rõ khối lượng tri thức và những kỹ năng cần thiết như những tiền đề xuất phát thông qua SGK, SGV, chuẩn chương trình,… Sau đó, phân tích những tri thức kỹ năng có sẵn ở học sinh ở mức độ nào (qua quá trình tìm hiểu, quan sát ở học sinh trên lớp, qua các bài kiểm tra,…) Tiếp đến, tôi tập trung vào việc tái hiện những tri thức và tái tạo những kỹ năng cần thiết một cách tường minh thông qua việc cho học sinh ôn tập những tri thức, kỹ năng trước khi dạy nội dung mới vào các buổi học ngoài giờ chính khoá.

Chẳng hạn: Ví dụ 1: Khi dạy bài phép cộng phân thức đại số, để học sinh học tốt bài này thì các em buộc tử, tìm mẫu thức chung, quy đồng mẫu thức, qui tắc “chuyển vế”, qui tắc “dấu ngoặc”. Trong hoạt động đó học sinh được ôn lại các kiến thức tương ứng trong cộng, trừ, nhân và chia phân thức,… thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập cụ thể để học sinh dễ hiểu hơn để thực hiện.

Đối với môn toán có một nguyên tắc quan trọng là không bao giờ được bỏ qua những kiến thức cơ bản: Có thể nói có nhiều bạn bào là: “khổ lắm nói mãi” nhưng điều này đôi khi không đơn giản như bạn nghĩ. Thật ra, toán học là môn logic, nếu không có nền tảng cơ bản bạn sẽ bị hổng kiến thức rất nhanh.

Như vậy, trước những bài tập cơ bản học sinh càng phải nắm rõ và làm trôi chảy, vì những bài tập cơ bản này cung cấp kiến thức nền để vận dụng các dạng bài sau.

Hãy thường xuyên luyện tập sao cho khi gặp những dạng bài tập cơ bản này ta có thể bắt tay vào làm ngay, tốt nhất là thực hiện theo cách cổ điển, đừng mất thời gian biến đổi hay nghĩ rằng tìm cách hay hơn, ngắn hơn đôi khi dẫn đến việc sai sót không đáng có.

Nên học theo sách giải bài tập là vì trong sách có hướng dẫn và đáp số sẵn, khi làm xong có thể đối chiếu ngay cách làm và kết quả để đánh giá khả năng làm bài tập của mình, nếu khó hiểu và bí quá thì có thể nhờ bạn bè và thầy cô hỗ trợ.      

2.4: Đúc kết kinh nghiệm trong công tác giảng dạy đối tượng học sinh yếu kém toán

Để thực hiện đề tài có hiệu quả cần:

– Nhà trường cần tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm để xác định đối tượng học sinh yếu kém.

– Có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu, kém kịp thời.

– Nâng cao chất lượng đại trà của các khối lớp bằng các buổi học ngoài giờ chính khoá và đặc biệt tăng cường các buổi phụ đạo cho học sinh yếu, kém.

– Tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường, giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm để tạo ra một sức mạnh tổng hợp.

– Phát động các đợt thi đua học tập trong công tác Đội. Tổ chức các câu lạc bộ giúp nhau học tập,…. Đặc biệt, cần quan tâm việc giao tiếp ứng xử tế nhị với các em học sinh yếu, kém này, tuyệt đối không để các em mặc cảm vì bản thân học yếu, kém.

3.Phương pháp:

          Đề tài này được hoàn thành trên phương pháp thống kê tổng hợp, quan sát phân tích nguyên nhân và phương pháp thực nghiệm sư phạm.

III.Phạm vi đối tượng nghiên cứu

          Kiến thức môn toán bậc trung học cơ sở như đã trình bày đóng vai trò nền tảng. Vì thế khắc phục tình trạng yếu kém môn toán ở bậc trung học cơ sở là vấn đề không chỉ của riêng một cá nhân giáo viên dạy toán nào. Tuy nhiên để đạt hiệu quả rõ ràng trong việc nghiên cứu và thể nghiệm trong đề tài này tôi chủ yếu tập trung đi sâu vào phương pháp dạy học toán cho học sinh yếu kém thuộc lớp 8 của trường vào các giờ học luyện tập, tự chọn, các buổi học phụ kèm, các giờ học ngoại khóa,… các bài toán được đề cập đến trong đề tài này thuộc phạm vi Sách giáo khoa, Sách bài tập đảm bảo tính vừa sức đôi với các em.

IV.Kết quả đạt được.

Qua việc nghiên cứu và thực tế giảng dạy cho thấy việc thực hiện đề tài thu được kết quả rõ nét, chất lượng môn toán hàng năm được nâng lên rõ rệt thể hiện qua sổ điểm. Hơn nữa chất lượng học sinh khá cũng tăng lên. Học sinh tỏ ra quan tâm yêu thích học toán hơn trước đây. Cụ thể:

Năm học

Khối lớp

Học kỳ 1

Học kỳ 2

Số học sinh đạt kết quả trên T bình

Số học sinh đạt kết quả yếu kém

Số học sinh đạt kết quả trên T bình

Số học sinh đạt kết quả yếu kém

2018-2019

Lớp 8/1

24

12

33

03

Lớp 8/2

25

10

32

03

2019-2020

Lớp 8/1

29

07

Lớp 8/2

30

05

V.Kết luận

Như vậy việc giúp đỡ học sinh yếu , kém học tốt môn toán là việc làm rất khó khăn lâu dài đòi hỏi giáo viên phải có tình thương, một chút hy sinh và tinh thần trách nhiệm. Việc sắp xếp thời gian thích hợp ngoài giờ lên lớp để bổ trợ kiến thức bị hổng cho học sinh yếu, kém đó là một khó khăn không phải ai cũng làm được. Mà phải có sự tận tâm hy sinh cao cả của người thầy tất cả vì tương lai các em. Do vậy rất cần đến sự chia sẻ từ phía lãnh đạo và các cấp ngành giáo dục. Mỗi người thầy có một cách làm riêng, song với cách làm nêu trên với thành công ban đầu thiết nghĩ đó là kết quả đáng phấn khởi đối với người thầy dạy toán. Việc làm này không dễ thành công trong ngày một ngày hai mà phải là sự cố gắng bền bỉ và tận tuỵ thì mới mong mang lại kết quả tốt. Với vốn kiến thức của mình còn hạn hẹp, bề dày kinh nghiệm còn khiêm tốn, nên không tránh khỏi những hạn chế khiếm khuyết. Vậy rất mong hội đồng xét duyệt góp ý, bổ sung để kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi ngày càng phong phú và hữu hiệu hơn./.

           Long Hòa, ngày 20 tháng 4 năm 2020                                                                                       

HIỆU TRƯỞNG                                          Người viết sáng kiến

                                                                                    Hồ Văn Giang

Tin khác

Kế hoạch chuyên môn 2020-2021

các giải pháp đổi mới PPDH nâng cao chất lượng 2019-2020

Kế hoạch khắc phục học sinh chưa đọc thông, viết thạo 19-20

Kế hoạch chuyên môn 2019-2020

kế hoạch họp chi bộ tháng 4

Quyết định thành lập Ban công tác xã hội trường học

Kế hoạch công tác xã hội trường học

quyết định ban hành quy tắc ứng xử

quy tắc ứng xử

Giải Pháp Giúp Học Sinh Yếu Kém Học Tốt Môn Toán / 2023

MỤC LỤC

TH                      Mục

Trang

A.Đặt vấn đề

I

Lý do chọn đề tài

1

II

Mục đích nhiệm vụ phương pháp nghiên cứu

2

III

Đối tượng phạm vi nghiên cứu, kế hoạch

3

IV

Đối tượng khảo sát thực nghiệm

3

B.Giải quyết vấn đề

I

Cơ sở lí luận

4

II

Thực trạng vấn đề nghiên cứu

4

III

Các giải pháp

4

IV

Kết quả thực nghiệm

15

C.Kết luận và kiến nghị

I

Kết luận

17

II

Đề xuất khuyến nghị

18

Tài liệu tham khảo

19

20

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.Về lý luận.

        Yêu cầu của công tác giảng dạy đó là trang bị cho học sinh kiến thức và xây dựng, hoàn thiện các phẩm chất đạo đức cho học sinh. Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh hay khả năng tiếp thu nhanh hay chậm của mỗi học sinh khác nhau sau một thời gian tạo ra các đối tượng học sinh là: khá-giỏi, trung bình, yếu kém.Mỗi đối tượng học sinh lại cần những phương pháp giáo dục riêng đòi hỏi người giáo viên phải xây dựng cho mình cách thức giáo dục thích hợp. Ở đề tài này, tôi sẽ đề cập đến cách học sinh yếu kém môn toán    

     Học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả về môn toán  thường xuyên dưới mức trung bình. Đối với diện học sinh này, giáo viên thường gặp rất nhiều khó khăn do càng là học sinh yếu kém thường lại là các học sinh cá biệt, vì một thời gian lâu dần các em chưa thể xây dựng cho mình phương pháp học tập thích hợp, dẫn đến tình trạng chán học , lười học. Do đó việc giúp đỡ  lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng cần thiết đối với những học sinh này tất yếu đòi hỏi tốn nhiều công sức và thời gian hơn so với những học sinh khác.

Về mặt lý luận, người thầy phải nắm vững các đặc điểm tâm sinh lí, cũng như năng lực tiếp thu kiến thức của học sinh yếu kém ,để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng yếu kém trong học toán của học sinh.

2. Thực tiễn.

        Cũng như việc bồi dưỡng học sinh giỏi toán, việc giúp đỡ học sinh yếu kém phải được tiến hành ngay cả trong những tiết dạy học đồng loạt bằng các biện pháp phân hoá nội tại thích hợp.

            Tuy nhiên, trong thực tế dạy học việc nâng cao hiệu suất giờ lên lớp để giúp đỡ học sinh yếu kém người thầy vẫn cần có sự giúp đỡ tách riêng đối với nhóm học sinh yếu kém (thực hiện chủ yếu ngoài giờ chính khoá).

             Lứa tuổi học sinh lớp 7 là khoảng thời gian mà học sinh có những biến đổi tâm lí rõ nét, các em đã mạnh dạn hơn trong các mối quan hệ bạn bè, có nhu cầu trong việc tìm hiểu thế giới bên ngoài,nếu bài học không thú vị, khó hiểu hoặc không phù hợp với trình độ rất dễ gây nên tình trạng chán học,lười học dẫn đến đạt kết quả kém trong học tập.

  Trên địa bàn  mà trường tôi trực thuộc, học sinh đa số là con em nông thôn, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc đầu tư về vật chất cũng như thời gian cho con cái học tập chưa cao, ngoài giờ đến lớp các em còn phải giúp đỡ bố mẹ các công việc gia đình, không có thời gian để tự học. Sự quan tâm kèm cặp con cái của phụ huynh còn hạn chế, hơn nữa hoàn cảnh gia đình  một số em do làm ăn không chăm lo con cái , thường không ở nhà kèm cặp. Ý thức học tập của một số em chưa cao, phương pháp học tập chưa phù hợp, dẫn đến chất lượng học tập của học sinh còn yếu vì thế  hầu hết các em sợ học môn toán.

3.Tính cấp thiết: 

       Trong quá trình giảng dạy đối tượng học sinh yếu kém là một trong những đối tượng thường hay gặp phải, đòi hỏi người thầy phải có những bước đi thích hợp nhanh chóng nhằm khắc phục những thiếu sót về mặt kiến thức, cũng như xây dựng cho học sinh phương pháp học tập ngay từ đầu năm để tránh xảy ra vấn đề bị tụt hậu về mặt kiến thức.

          Học sinh yếu kém môn toán ở khối lớp 7 thường gặp phải các vấn đề cơ bản là thiếu kĩ năng tính toán,kĩ năng vẽ hình và suy luận vấn đề một cách logic dẫn đến không thể giải các bài toán thuộc kiến thức chuẩn của bộ môn và bài kiểm tra đạt điểm thấp . 

          Trong việc áp dụng các biện pháp giáo dục,người thầy phải dựa trên sự phát triển của tâm sinh lí và lứa tuổi cũng như kiến thức chuẩn kĩ năng mà bộ giáo dục đã ban hành,cùng với hoàn cảnh thực tiễn địa phương và gia đình.

4.Lý do về mặt năng lực nghiên cứu:

         Qua quá trình giảng dạy, gặp nhiều đối tượng học sinh có những trình độ năng lực khác nhau. Tôi nhận thấy rằng,  học sinh yếu kém là một trong những vấn đề quan trọng mà nhiều giáo viên hay lúng túng hoặc có nhiều giáo viên đưa ra một số phương pháp giáo dục song kết quả thu được chưa đáp ứng được mong muốn.

Là một giáo viên  cũng đã trải qua rất nhiều khó khăn khi tiếp xúc với bộ môn toán thời còn đi học. Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em. Bởi vậy trong quá trình giảng dạy tôi luôn học hỏi đồng nghiệp và tìm tòi những phương pháp thích hợp để giúp các em học sinh yếu, kém yêu thích và học tốt môn toán.Với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường THCS  và qua thực tế dạy học tôi đã tìm tòi áp dụng một số giải pháp bước đầu đã đem lại thành công nhất định. Vì thế tôi chọn đề tài: “giải pháp giúp học sinh yếu kém học tốt môn toán ”.

II. MỤC ĐÍCH- NHIỆM VỤ – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

1. Mục đích:

Sở dĩ tôi chọn đề tài này là vì mong muốn tìm được một phương pháp tối ưu nhất, để trong quỹ thời gian cho phép hoàn thành được một hệ thống những phương pháp khoa học, nhằm lấp đầy các chỗ hổng kiến thức và từng  bước nâng cao thêm về mặt kỹ năng trong việc giải các bài tập Toán cho học sinh. Từ đó phát huy, khơi dậy khả năng sử dụng hiệu quả kiến thức vốn có của học sinh, đồng thời thu hút, lôi cuốn các em ham thích học môn toán, đáp ứng những yêu cầu về  đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học hiện nay.

2. Nhiệm vụ.

2.1. Khảo sát chất lượng học sinh về môn toán nhằm xác định đối tượng học sinh yếu kém.

2.2. Tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự yếu kém môn toán ở học sinh.

2.3. Phân loại đối tượng học sinh từ đó lựa chọn các biện pháp phù hợp và lập kế hoạch  khắc phục hiện trạng yếu kém đó.

2.4. Thực hiện kế hoạch khắc phục yếu kém trong học sinh về môn toán.

2.5. Đúc rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy đối tượng học sinh yếu kém toán.

3. Phương pháp.

Đề tài này được hoàn thành trên phương pháp thống kê tổng hợp, quan sát, phân tích nguyên nhân và phương pháp thực nghiệm sư phạm.

III. PHẠM VI – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU-KẾ HOẠCH

Kiến thức môn toán bậc THCS như đã trình bày đóng vai trò nền tảng. Vì thế khắc phục tình trạng yếu kém môn toán ở bậc THCS là vấn đề không chỉ của riêng một cá nhân giáo viên dạy toán nào.

Tuy nhiên, để đạt hiệu quả rõ ràng trong việc nghiên cứu và thể nghiệm trong đề tài này tôi chủ yếu tập trung đi sâu vào phương pháp dạy học toán cho học sinh yếu, kém thuộc lớp 7A của trường tôi đang công tác vào các giờ học luyện tập, tự chọn, các buổi học phụ kém, các giờ học ngoại khóa…..Các bài toán được đề cập đến trong đề tài thuộc phạm vi SGK, SBT đảm bảo tính vừa sức đối với các em.

Thời gian nghiên cứu là bắt đầu ngay từ khi tiếp nhận lớp ngay từ đầu năm học đến khi kết thúc năm học 2016-2017. Nghiên cứu trong một năm học

IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM:

 Học sinh  lớp 7A mà tôi đang giảng dạy.

Qua việc nghiên cứu và thực tế giảng dạy cho thấy việc thực hiện  đề tài  thu được những kết quả khả quan. Chất lượng môn Toán  được nâng lên rõ rệt thể hiện qua sổ điểm. Hơn nữa chất lượng học sinh khá cũng tăng lên. Học sinh tỏ ra quan tâm yêu thích học toán hơn trước đây.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Cơ sở lý luận

      Như đã đề cập ở trên học sinh yếu kém môn toán là học sinh có kết quả học tập môn toán thấp thể hiện qua sổ điểm, học bạ môn toán

      Lứa tuổi THCS là lứa tuổi có bước chuyển biến tâm lý lớn trong đời người, các em có nhu cầu tìm hiểu về thế giới xung quanh, bản chất của hiện tượng mà các em gặp phải, những kiến thức cần và đủ để áp dụng vào cuộc sống đối với môn toán đó là kĩ năng tính toán, suy diễn logic,trí tưởng tượng , khả năng giải quyết vấn dề đây là vấn đề đã được đề cấp rất nhiều trong các sách về giáo dục, tâm lí.

     Việc giáo dục và đào tạo học sinh là toàn diện. Người thầy không chỉ giáo dục học sinh về mặt kiến thức mà còn xây dựng cho các em phương pháp chiếm lĩnh lĩnh hội tri thức đồng thời hoàn thiện nhân cách,giúp các em hiểu biết về thế giới bên ngoài và bước vào cuộc sống với sự chuẩn bị tốt nhất.

     Học sinh được chia làm 3 đối tượng chủ yếu : khá-giỏi, trung bình, yếu_ kém. Việc phân chia như vậy dựa vào năng lực, kết quả học tập của học sinh, người thầy có thể có những phương pháp giáo dục cho từng đối tượng thích hợp.

II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

      Kết quả tìm hiểu vấn đề thông qua kết quả học tập lớp dưới, kiểm tra khảo sát đầu năm tôi cho làm thấy phần lớn học sinh lớp 7A ở diện yếu kém, số học sinh khá trung bình thấp: 60% học sinh thuộc diện yếu kém, chỉ có không đến 40% học sinh ở mức trung bình và khá, không có học sinh giỏi. Đây là vấn đề đáng báo động thúc đẩy tôi nghiên cứu vấn đề này.

III. CÁC GIẢI PHÁP

1. Khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh để tìm đối tượng yếu, kém.

Thông qua học bạ lớp dưới, thông qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm mà tôi cho, kiểm tra vấn đáp những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà các em đã được học thông qua kiểm tra bài cũ. Qua đó giúp tôi nắm được những  đối tượng học sinh yếu kém và những  ”lỗ hổng” kiến thức của các em. Trên cơ sở đó tôi phân lớp thành nhiều nhóm gọi là nhóm ” Tương đồng về kiến thức”. Rồi tìm hiểu nguyên nhân và lập kế  hoạch khắc phục.

2. Tìm hiểu và phân loại các nguyên nhân

Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy có các nguyên nhân chủ yếu sau dẫn đến học sinh học yếu đó là:

2.1 Học sinh có nhiều “lỗ hổng” về kiến thức cũng như kỹ năng do:

* Nguyên nhân khách quan:

– Do kinh tế gia đình khó khăn nên điều kiện học tập thiếu thốn về cả vật chất cũng như thời gian, dẫn đến kết quả học tập theo đó bị hạn chế.

– Do học sinh bị ảnh hưởng hoàn cảnh gia đình dẫn đến chán nản học tập.

-Do diễn biến tâm lí tuổi mới lớn.

* Nguyên nhân chủ quan:

– Kiến thức bị hổng do học sinh lười học, phụ huynh thiếu quan tâm kèm cặp.

2.2 Do khả năng tiếp thu chậm.

2.3 Do thiếu phương pháp học tập phù hợp.

2.4 Do giáo viên chưa thật sự tìm ra phương pháp dạy học thích hợp với đối tượng.

3. Lập kế hoạch  thực hiện (Xác định thời gian nội dung chương trình)

4. Thực hiện các biện pháp  khắc phục yếu, kém.

4.1. Trước hết, tôi chú trọng khắc phục các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kết quả học tập của những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tinh thần trách nhiệm của một người thầy giáo bộ môn toán.

4.1.1. Đối với những em do hoàn cảnh kinh tế gia đình quá khó khăn :

– Ví dụ như các em bị thiếu thốn sách vở đồ dùng học tập. Ngoài các buổi đến lớp các em phải làm phụ giúp kinh tế gia đình ảnh hưởng đến  thời gian để học tập. Sau khi tìm hiểu biết được hoàn cảnh của các em tôi kết hợp với giáo viên chủ nhiệm  đã có ý kiến đề xuất lên ban lãnh đạo nhà trường có thể miễn giảm cho các em một phần nào các khoản đóng góp có thể được, giảm bớt gánh nặng về sự thiếu thốn vật chất cho các em. Ngoài ra tôi cũng thường xuyên nói chuyện tâm sự với các em để động viên , khích lệ tinh thần vượt lên hoàn cảnh khó khăn để vươn tới thành công trong học tập.

4.1.2. Với đối tượng học sinh gặp sự cố bất thường về tinh thần.

– Ví dụ như bố mẹ đi làm ăn kinh tế ở xa, hay những trường hợp có những cú sốc về tình cảm trong gia đình mà các em bị ảnh hưởng, có một  số em phải ở với ông bà bị thiếu thốn về tình cảm và sự chăm sóc của bố mẹ…Thông qua học sinh và phụ huynh tôi  thường xuyên trò chuyện thân mật riêng với các em , động viên an ủi để các em có thể vượt qua cơn khủng hoảng về tinh thần, góp phần nào giúp các em trở lại trạng thái cân bằng về  tình  cảm và tập trung vào việc học tốt hơn.

4.1.3Đối với đối tượng nguyên nhân do diễn biến tâm lí:

  – Độ tuổi học lớp 7 là lứa tuổi có những biến động tâm lí , ở tuổi này các em đã có một thời gian học cùng nhau , làm quen với nhau , với các thầy cô giáo trong nhà trường đồng thời đã có sự phân biệt nam nữ trong các mối quan hệ.Vì vậy, tôi phải thường xuyên quan tâm giúp đỡ uốn nắn các em,giúp các em xây dựng tinh thần trong sáng phù hợp với lứa tuổi,tập trung vào học tập.  

4.1.4 Với đối tượng học sinh yếu kém do lười học.

4.1.5.Với đối tượng học sinh chưa xây dựng được phương pháp học tập thích hợp,tiếp thu chậm.

Trong khi dạy học tôi thường xuyên lồng ghép cách tiếp cận kiến thức, cách suy luận, tìm hiểu đề bài từ đó đưa ra phương pháp giải bài tập làm toán,đồng thời giải đáp thắc mắc của học sinh,hướng dẫn học sinh xây dựng phương pháp học tập phù hợp với khả năng của mình.

Sau khi tạo được tâm thế thoải mái về tinh thần trong học sinh thì việc tiếp theo đóng vai trò quan trọng và quyết định. Đó chính là thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm giúp các học sinh yếu kém có điều kiện về mặt kiến thức để theo kịp yêu cầu chung của những tiết học trên lớp, tiến tới có thể hoà nhập vào việc dạy học đồng loạt.

Qua kinh nghiệm giảng dạy tôi đã gặp rất nhiều khó khăn khi giảng dạy kiến thức mới trong điều kiện nền tảng kiến thức cũ rất yếu kém của học sinh. Đây là một nỗi niềm trăn trở day dứt hàng ngày gặm nhấm trái tim nghề nghiệp của tôi, thôi thúc tôi phải làm một điều gì đó để có thể giúp đỡ các em.Và tôi đã thay đổi cách  nghĩ  và  cách  làm trong công tác giảng dạy để giúp đỡ các em yếu, kém học tốt môn toán hơn qua các biện pháp cụ thể sau:

4.2. Khắc phục các yếu tố chủ quan:

4.2.1 Trước hết cần đảm bảo cho học sinh có trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp.

Để tiết học trên lớp có kết quả thường đòi hỏi  những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kỹ năng sẵn có của học sinh. Đối với diện học sinh yếu kém thì thiếu hẳn tiền đề này. Vì thế cần giúp nhóm học sinh này có đủ tiền đề dảm bảo trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp đạt hiệu quả.

Trước hết, tôi nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, vạch rõ khối lượng tri thức và những kỹ năng cần thiết như những tiền đề xuất phát thông qua SGK, SGV, chuẩn chương trình …

Sau đó, phân tích mức độ,năng lực  tri thức kỹ năng có sẵn ở học sinh ở trình độ  nào (qua quá trình tìm hiểu, quan sát ở học sinh trên lớp, qua các bài kiểm tra, …)

Tiếp đến, tôi tập trung vào việc tái hiện những tri thức và tái tạo những kỹ năng cần thiết một cách tường minh thông qua việc cho học sinh ôn tập những tri thức, kỹ năng trước khi dạy nội dung mới vào các buổi học ngoài giờ chính khoá.

Chẳng hạn:

Ví dụ 1:

Bài tập1:   Đổi các số thập phân sau ra phân số:

                                   0,6     v à    2,25

        HS:        ;      

Bài tập2:       Tính :  

Hỏi: Em có nhận xét gì về mẫu số của hai phân số?

 Muốn thực hiện phép cộng trên trước hết ta phải làm gì?

        (HS: Phải qui đồng mẫu các phân số)

                    

Hỏi: Tiếp theo cộng như thế nào?

        (HS: Tử cộng tử, giữ nguyên mẫu)

               

Hỏi: Nhắc lại cách cộng hai số nguyên?

       (HS: Nêu cách cộng hai số nguyên và tiến hành cộng)

                

Bài tập 3:        Tìm x, biết:   a)  

Hỏi: Vai trò của x trong phép toán trên?

       Vậy muốn tìm x ta làm thế nào?

Hoặc giáo viên có thể gợi ý cách 2 về quy tác chuyển vế

GV: Hãy nhắc lại qui tắc chuyển vế trong Z

       (HS: Nhắc lại qui tắc chuyển vế trong Z)

GV: Tương tự trong Q ta cũng có qui tắc chuyển vế

       (HS: Vận dụng qui tắc chuyển vế và thực hiện bài toán

              (Theo qui tắc chuyển vế)

            x                       

 Vậy:   

Tiếp đó tôi đưa ra thêm 1 ví dụ nữa nhằm hướng dẫn, luyện tập cho các em cách làm bài ( hướng dẫn thật chi tiết)

      b)     ( tương tự câu a áp dụng quy tắc chuyển vế)

  

                    

Sau khi làm các bài tập co bản trên có thể tiến hành hướng dẫn làm các bài tập nâng cao hơn nữa cho học sinh :

     Bài tập có thêm hệ số :

   

 GV :  thứ tự thực hiện phép tính trong dãy tính toán ?

       (nhấn mạnh yếu tố tìm kết quả của phép tính 2x)

 Sau khi học sinh làm thành thạo có thể nâng cao hơn khi cho các dạng bài tập tìm x:

Khi ra đề bài cần đảm bảo tính vừa sức kết hợp vừa có tính nâng cao để học sinh phải chủ động suy nghĩ, đảm bảo tính đa dạng tổng quát vận dụng nhiều kiến thức trong bài tập, ra bài tập vừa đủ không quá nhiều gây tâm lí e ngại khi làm bài.

-Như vậy trong buổi phụ đạo học sinh đã nắm được những kiến thức tiền đề của bài mới. Đảm bảo trình độ xuất phát cho tiết học chính khoá giúp các em tiếp thu bài một cách chủ động và hứng  thú  hơn, phát biểu xây dựng bài sôi nổi hơn. Hiệu quả giờ học được nâng lên rõ rệt.   

Cụ thể :

          Trong bài học mới  khi đưa  ra yêu cầu  thực hiện phép tính

                            -+  2,25.                      

Chỉ với gợi  ý  nhỏ: Mọi số hữu tỉ đều có thể viết được dưới dạng phân số  với  a,b  Z, b  0. Là học sinh phát hiện được hướng giải quyết vấn đề nhờ bài học phụ đạo đã nắm vững.

      *Rèn luyện tính chất giao hoán kết hợp :

     Ví dụ : Tính

Với các phép tính và số lượng thành phần ít trong phép tính giúp học sinh dễ dàng nhận ra cách thay đổi vị trí các hạng tử, để hực hiện phép tính một cách đơn giản và nhanh nhất.Sau ki thành thạo hơn ta có thể dưa ra các bài tập đòi hỏi tư duy nhiều hơn. Chẳng hạn :

Bài tập :a)

              b)

     Đối với tính chất phép nhân phân phối phép cộng: đây là một tính chất khó học sinh rất hay thường nhầm lẫn hoặc lung túng khi được yêu cầu áp dụng vào tính toán

Ví dụ : thực hiện phép tính một cách hợp lí

            

Học sinh thường mắc sai lầm khi tính toán như sau :

     

Vì vậy cần nhấn mạnh tính xuất hiện giữa các hạng tử

 Ví dụ 2:

      Trước khi dạy khái niệm “đường trung trực của đoạn thẳng” giáo viên cần cho học sinh ôn tập lại các kiến thức, kỹ năng cũ như trung điểm của đoạn thẳng, cách vẽ trung điểm của đoạn thẳng , vẽ đường thẳng vuông góc với đoạn thẳng cho trước qua một điểm cho trước đã được học ở lớp 6, rèn kỹ năng cho học sinh sử dụng thước và ê ke thành thạo thông qua các bài tập sau:

Bài tập 1

 Điền vào chỗ (…) trong phát biểu sau để có định nghĩa đúng.

          “Trung đểm của đoạn thẳng AB là …”

Bài tập 2

          Vẽ đoạn thẳng AB dài 4 cm. Vẽ điểm M là trung điểm của đoạn thẳng AB.

Bài tập 3

    Cho M là trung điểm của đoạn thẳng AB. Qua M vẽ đường thẳng xy vông góc với đoạn thẳng AB.

    Như vậy khi học sinh đã nắm được khái niệm và kỹ năng nói trên thì việc tiếp thu bài mới không  mấy khó khăn.

    Trong  thực hiện việc tạo tiền đề đảm bảo trình độ xuất phát cần chú ý:

     * Mỗi bài toán phải được thực hiện qua nhiều bước, hướng dẫn và yêu cầu cách thực hiện thành thạo từng bước một.

* Tổ chức phân dạng bài tập một cách khoa học, chi tiết, cung cấp cho học sinh các dạng bài tập một cách có hệ thống.

* Soạn thêm nhiều bài tập đơn giản và tương tự cho từng dạng để các em tự làm, qua đó các em được lặp lại nhiều lần, giúp các em dễ khắc sâu kiến thức.

    Sau khi kiến thức lớp dưới đã  được bù đắp và bằng cách hạ thấp yêu cầu đến mức tối thiểu ở các dạng bài tập tôi nhận thấy các em học sinh đã xích lại gần nhau hơn, tiếp thu bài mới  tốt  hơn, yêu thích học môn toán hơn.

    Ngoài ra do việc bố trí kiến thức,  lúc bình thường các em chủ yếu làm bài tập chỉ áp dụng một hay hai đơn vị kiến thức, cho nên khi gặp những bài toán yêu cầu kết hợp nhiều đơn vị kiến thức học sinh thường cảm thấy lúng túng, không biết bắt đầu trình bày từ đâu, như thế nào cái nao nói trước cái nào nói sau. Vì vậy trong quá trình giảng dạy của mình tôi thường xuyên đưa ra các bài tập ở dạng tổng hợp, hướng dẫn học sinh cách trình bày logic theo thứ tự thích hợp.

4.2.2. Thực hiện biện pháp lấp “lỗ hổng” về kiến thức và kỹ năng cho học sinh

     Qua tìm hiểu thực tế cho thấy:  Kiến thức có nhiều “lỗ hổng” là một “bệnh ” phổ biến của học sinh yếu kém toán. Vai trò của việc đảm bảo trình độ xuất phát là cần thiết nhưng chỉ để phục vụ cho nội dung sắp học . Còn việc lấp lỗ hổng về kiến thức kỹ năng là nhiệm vụ cần thiết nhưng mang tính tổng quát không  phụ thuộc ý đồ chuẩn bị cho một bài học cụ thể nào sắp tới.

    Trong quá trình dạy học người thầy cần quan tâm phát hiện những lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng của học sinh. Tìm ra những “lỗ hổng” điển hình đối với học sinh yếu kém mà ở trên lớp vì điều kiện thời gian chưa khắc phục được để có kế hoạch tiếp tục giúp đỡ.

        Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy ở học sinh yếu kém toán lớp 7 thường bị hổng kiến thức ở những mặt sau

*Đại số:        

          -Phần tập hợp số nguyên, các kỹ năng như thực hiện các phép tính trên số nguyên, quy đồng mẫu các phân số…. ở số học nguyên nhân của nó rất đơn giản ,và thường gây bất ngờ với rất nhiều giáo viên đó là các em phụ thuộc quá nhiều vào viêc sử dụng máy tính, dẫn đến khi tính toán rất hay nhầm lẫn sai xót. Tóm lại các em thiếu kỹ năng tính toán.

            - Nguyên nhân thứ hai là các em thiếu năng trình bày lời giải dẫn đến khi trình bày lời giải chưa logic hoặc khi trình bày lời giải do trình bày vắn tắt dẫn đến sai xót do chủ quan.

Ví dụ : khi thực hiện phép tính:

                      (sai do tính toán và trình bày vắn tắt mà chưa thành thạo trong tính toán)

     Hoặc

                 

ở đây học sinh ra đến kết luận bài toán nhưng lại không thực hiện nốt phép tính, bài toán là minh chứng cho việc học sinh chủ quan,cẩu thả trong khi làm bài.

*Hình học:      

       – Học sinh thường vẽ hình theo diễn đạt còn kém. các khái niệm về trung điểm của đoạn thẳng,tia phân giác của góc còn chưa nắm vững…thiếu kĩ năng vẽ hình

       – Chưa biết sử dụng kí hiệu toán học để thay thế lời nói trong khi giải bài tập hình

       Bởi thế tôi tập trung thời gian và sức lực cho việc bù đắp những lỗ hổng này cho các nhóm học sinh vào các buổi học phụ kém và cả giao bài về nhà.a

 Ở các buổi học phụ kém, tôi đã hệ thống hoá những kiến thức, kỹ năng còn hổng cho học sinh và đặc biệt chú ý đến hệ thống các bài tập chứa đựng nội dung kiến thức và kỹ năng cần bù đắp.

Chẳng hạn:

-Với nhóm học sinh yếu về kỹ năng cộng trừ số nguyên thì một mặt ở giờ học phụ kém tôi giúp các em nhớ lại cách thực hiện đồng thời cho các em thực hành nhiều lần với bài tập đơn giản vừa sức để các em mau chóng lấy lại được kiến thức và kỹ năng cơ bản. Mặt khác tôi giao bài tập về nhà và phân công học sinh khá kiểm tra giúp đỡ, hướng dẫn thêm cho nhóm.

Ở các nhóm khác tôi cũng tiến hành tương tự.

Ngoài ra, thông qua quá trình học lí thuyết và làm bài tập của học sinh tôi đã cố gắng tập cho học sinh có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của mình và biết cách tra cứu sách vở, tài liệu để tự mình lấp những “lỗ hổng” đó.

4.3 Giúp học sinh yếu kém luyện tập đảm bảo vừa sức

        Đối với học sinh yếu kém, thầy giáo nên đặt quan điểm đảm bảo tính vững chắc của kiến thức lên hàng đầu. Việc luyện tập theo trình độ chung sẽ không phù hợp với học sinh yếu kém, vì vậy nhóm này cần nhiều thời gian luyện tập hơn.

        Trước hết phải làm cho các em hiểu rõ đề bài: Đề bài cho biết cái gì? yêu cầu cái gì?

Nếu học sinh không hiểu đề bài thì không thể tiếp tục quá trình giải toán để đưa lại kết quả đúng được. Do đó giáo viên cần dành nhiều thì giờ giúp các em vượt qua được vấp váp đầu tiên này.

    Để rèn một kiến thức hay kỹ năng nào đó thì số lượng bài tập cùng mức độ cùng thể loại đối với các em yếu kém cần nhiều hơn bình thường, cùng mức độ . Do đó giáo viên cần chú ý gia tăng  số lượng bài tập cùng thể loại . Ngoài ra các bài tập phải được phân bậc với mức độ gần nhau (phân bậc mịn)

   Cụ thể:

        Khi dạy bài : “Cộng, trừ số hữu tỉ “. Phần bài tập về nhà cho đối  tượng  học  sinh yếu,  kém tôi ra các dạng như sau:

Bài 1:  Tính

     a)          ;           

     b)            ;       

Bài 2:  Tính

      a)           ;     

     b)        ;     

  Bài 3:  Tìm x, biết

      a)               ;     

      b)                ;    

   Thông thường khi ra bài tập cho đối tượng học sinh yếu , kém không nên ra quá nhiều và khó, các dạng bài tập phải vừa sức với các em đặc biệt là có kiểm tra, chấm, chữa và cho điểm để động viên, khuyến khích các em.

        Được bước đi theo từng bậc thang vừa sức với mình, các em yếu kém sẽ tự tin hơn, không còn cảm giác bị hụt hẫng và sợ ngã. Sự tự tin giúp các em có thể tự leo hết các nấc thang dành cho mình. Từ đó dần dần chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng cơ bản cần thiết. Các bậc thang dù có thấp song sự kiên trì và nghị lực mới là điều quan trọng giúp các em vượt qua tình trạng yếu kém hiện tại.

         Trong quá trình dạy học tôi cho rằng việc dạy nhiều bài tập chưa chắc đã hiệu quả hơn bằng việc dạy một số ít bài, có trọng tâm và dành nhiều thời gian nhất cho học sinh có thể tự làm được hiểu được bài, kết hợp với việc lồng ghép chơi các trò chơi toán họcgiúp học sinh không bị gò bó nhàm chán trong tiết học,

4.4. Giúp đỡ học sinh rèn luyện .kỹ năng học tập,có phương pháp học tập phù hợp.

        Một thực tế vẫn xảy ra thường xuyên là học sinh không biết cách học như thế nào cho có hiệu quả. Các em do không có kỹ năng học tập nên thường chưa học kỹ, thậm chí chưa hiểu lý thuyết đã lao vào làm bài tập, đọc chưa kỹ đề đã đặt bút vào làm bài, trong khi làm bài các em thường vẽ hình cẩu thả, viết nháp lộn xộn…Vì thế việc hướng dẫn các em phương pháp học cũng đóng vai trò hết sức quan trọng.

        Trước hết cần nói rõ yêu cầu sơ đẳng của việc học tập toán:

– Phải nắm vững lý thuyết trước khi làm bài tập.

      -Trước một bài tập cần đọc kỹ đầu bài, vẽ hình rõ ràng, viết nháp cẩn thận.

– Sau khi học xong một chương cần giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức (tốt nhất là bằng bảng hoặc bằng sơ đồ). Tóm tắt lý thuyết cơ bản và các công thức quan trọng cũng như cách giải một số dạng toán cơ bản và dán vào góc học tập.

Trong quá trình giảng dạy, tôi thường xuyên giới thiệu cho các em một số cách ghi nhớ kiến thức cơ bản : dùng sơ đồ tư duy dể ghi nhớ hoặc hệ thống hóa kiến thức. Hướng dẫn các em tự thiết lập cho mình cách học phù hợp với trình độ cũng như lối tư duy, cách sử dụng một số dụng cụ học tập hiệu quả nhanh chóng như : sử dụng máy tính cầm tay,sử dụng phần mềm vẽ hình sketpad, cách sử dụng thước compa sao cho hiệu quả.

IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

Quá trình thực hiện nêu trên đối với học sinh lớp 7 ở trường mà tôi đang giảng dạy đã đạt kết quả đáng lưu tâm.

  Khi năm học mới bắt đầu lớp có tới  60% học sinh yếu, kém. Nhưng với cách làm này cuối năm học  chỉ còn 5% học sinh học. yếu, không có học sinh học sinh học kém.

     Hơn thế nữa qua cách làm này, các em rất hứng thú và yêu thích môn toán hơn, tự tin hơn trong học tập.

    Bảng so sánh:

Kết quả kiểm tra 2016-2017

 

Học kì

Điểm dưới 4

Điểm từ 4đến dưới 5

Điểm trên 5

I

40%

40%

20%

II

5%

40%

55%

Biểu đồ điểm kiểm tra  2016-2017 :

             %

      55

      40               

      20

       5

    

                

      

                      Học kì I                Học kì II   

                  Điểm dưới 4

                 Điểm từ 4 đến dưới 5

                 Điểm trên 5

Kết quả học tập 2016-2017

 

Học kì

Kém

Yếu

Trung bình

Khá giỏi

I

0%

15%

45%

40%

II

0%

5%

45%

55%

Biểu đồ kết quả học tập 2016-2017:

         %

       55

      45

      40

     

       

       15

        5                

   

                           Học kì I         học kì II

       

   

                    Yếu

                 Trung bình

                  Khá giỏi

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. KẾT LUẬN

       Sau một thời gian áp dụng đề tài , rôi đã thu đuợc những kết quả khả quan và đạt được những mục tiêu nhất định ,học sinh thấy hứng thú , yêu thích môn học,khả năng học và tự học tiến bộ hơn. Cụ thể thông qua bài khảo sát mà cá nhân tôi thực hiện như sau

 

Học kì

Điểm dưới 4

Điểm từ 4đến dưới 5

Điểm trên 5

I

40%

45%

15%

II

5%

35%

60%

Biểu đồ điểm khảo sát   :

      60    %

      45

      40               

      35

      15

       5

    

                  

                       Học kì I                Học kì II   

               

                 Điểm dưới 4

                 Điểm từ 4 đến dưới 5

                 Điểm trên 5

Như vậy việc giúp đỡ học sinh yếu , kém học tốt môn toán là việc làm rất khó khăn lâu dài đòi hỏi giáo viên phải có tình thương, một chút hy sinh và tinh thần trách nhiệm.

 Việc sắp xếp thời gian thích hợp ngoài giờ lên lớp để bổ trợ kiến thức bị hổng cho học sinh yếu, kém đó là một khó khăn không phải ai cũng làm được. Mà phải có sự tận tâm hy sinh cao cả của người thầy tất cả vì tương lai các em. Do vậy rất cần đến sự chia sẻ từ phía lãnh đạo và các cấp ngành giáo dục.

         Mỗi người thầy có một cách làm riêng, song với cách làm nêu trên với thành công ban đầu thiết nghĩ đó là kết quả đáng phấn khởi đối với người thầy dạy toán. Việc làm này không dễ thành công trong ngày một ngày hai mà phải là sự cố gắng bền bỉ và tận tuỵ thì mới mong mang lại kết quả tốt.

         Với vốn kiến thức của mình còn hạn hẹp, bề dày kinh nghiệm còn khiêm tốn, nên không tránh khỏi những hạn chế khiếm khuýêt. Vậy rất mong hội đồng xét duyệt góp ý, `bổ sung để kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi ngày càng phong phú và hữu hiệu hơn.

II. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ       

Để thực hiện đề tài có hiệu quả cần:

  – Nhà trường cần tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm để  xác định đối tượng học sinh yếu kém.

– Có kế hoạch phụ kém kịp thời.      

– Nâng cao chất lượng đại trà của các khối lớp bằng các buổi học ngoài giờ chính khoá và đặc biệt tăng cường các buổi phụ đạo cho học sinh yếu kém.

– Tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường, giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm để tạo ra một sức mạnh tổng hợp.

  – Phát động các đợt thi đua học tập trong công tác Đội. Tổ chức các câu lạc bộ giúp nhau học tập….

Tài liệu tham khảo

1.Phan Đức Chính – Tôn Thân-SGK Toán 7 tập 1 – NXBGD

2.Phan Đức Chính – Tôn Thân-SGV Toán 7 tập 1 – NXBGD

3.  Hoàng Ngọc Diệp- Thiết kế bài giảng Toán 7 tập 1,2- NXBHN

     4. Nhóm tác giả: Lê Văn Hồng – Phạm Đức Quang – Nguyễn Thế Thạch – Nguyễn Duy Thuận – Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS  chu kì III ( 2004 – 2007), NXB Giáo dục, 2007.

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Nội dung viết tắt

Ý nghĩa

THCS

Trung học cơ sở

SBT

Sách bài tập

SGK

Sách giáo khoa

SGV

Sách giáo viên

Z

Tập hợp số nguyên

Thuộc

NXB

Nhà xuất bản

Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán 8 / 2023

:

Bồi dưỡng học sinh giỏi toán 8

Nguyễn Quốc Tuấn

Nguyen Quoc Tuan

3

Resensi

 Với 21 chuyên đề thường xuyên gặp trong những kỳ thi tuyển chọn học sinh giỏi lớp 8 trên toàn quốc. Chúng tôi đã chắc lọc lại và hệ thống thành một quyển sách với đầy đủ những phương pháp để giải những loại toán này. Do đó, quyển sách mà các bạn đang cầm trên tay sẽ giúp cho bạn đọc và đặc biệt là những bạn học sinh khá giỏi. Để nâng cao những kỹ năng và kiến thức toán học trong chương trình toán trung học cơ sở.

Mục đích của chúng tôi khi viết quyển sách này là giúp cho bạn đọc tinh thần tự học. Nên nó được trình bày thành những mục cũng như những dạng toán đặc trưng. Không những vậy, nó được trình bày khá đẹp mắt cho các em học sinh. Tạo thành những điểm nhấn trong khi tự học đặc biệt những học sinh học những loại toán và dạng toán lạ so với chương trình học trung học cơ sở.

Cũng trong quyển sách này, chúng tôi đã chủ động giới thiệu đến bạn đọc những phương pháp và những cách giải mang tính trừu tượng trong một số dạng toán. Nhưng nó vẫn đảm bảo được hệ thống nội dung và phù hợp với các em học sinh. Có thể những bài toán về số học và những dạng toán về  phép lũy thừa cũng mang hình bóng của những kiến thức mà tất cả chúng ta đều học ở chương trình toán tiếp theo. Tuy nhiên, trên phương diện luyện thi học sinh giỏi và trong khi thi học sinh giỏi. Chúng ta vẫn hoàn toàn có thể sử dụng được. Khi chúng ta thêm một vài bước biến đổi đơn thuần.

Cũng trong tài liệu này, chúng tôi đã kết xuất những bài toán trong các kỳ thi tuyển sinh học sinh giỏi của những nguồn uy tín trên toàn quốc và trên thế giới. Tất nhiên nó cũng được chúng tôi hệ thông vào những chuyên đề và những dạng toán đã phân loại.

Thực tế tập tài liệu này được chúng tôi kết xuất để chạy trực tuyến trên gian hàng trực tuyến. Do đó, nó được thiết kế vừa phải cho sự tiện dụng cả về đọc sách lẫn giá cả. Nên các em học sinh, quý vị phụ huynh lẫn các giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng và học tập một cách dễ dàng nhất có thể.

Do đây là một trong những tài liệu phát triển đầu tay. Nên tác giả rất mong nhận được sự phản hồi tích cực từ phía độc giả. Mọi sự đóng góp xin quý vị gửi về địa chỉ email: quoctuansp@gmail.com Hoặc các bạn có thể mua bản trực tuyến này theo số điện thoại: 090.567.1232 

CHUYÊN ĐỀ 1 – PHÂN TÍCH ĐA THỨC THÀNH NHÂN TỬ

CHUYÊN ĐỀ 2: HOÁN VỊ, TỔ HỢP

CHUYÊN ĐỀ 3 – LUỸ THỪA BẬC N CỦA MỘT NHỊ THỨC

CHUYÊN ĐỀ 4 – CÁC BÀI TOÁN VỀ SỰ CHIA HẾT CỦA SỐ NGUYÊN

CHUYÊN ĐỀ 5 – SỐ CHÍNH PHƯƠNG

CHUYÊN ĐỀ 6 – CÁC BÀI TOÁN VỀ ĐỊNH LÍ TA-LÉT

CHUYÊN ĐỀ 7  – CÁC BÀI TOÁN SỬ DỤNG ĐỊNH LÍ TALÉT VÀ TÍNH CHẤT ĐƯỜNG PHÂN GIÁC

CHUYÊN ĐỀ 8 – CHỮ SỐ TẬN CÙNG

CHUYÊN ĐỀ 9 – ĐỒNG DƯ

CHUYÊN ĐỀ 10  – TÍNH CHIA HẾT ĐỐI VỚI ĐA THỨC

CHUYÊN ĐỀ 11 – CÁC BÀI TOÁN VỀ BIỂU THỨC HỮU TỈ

CHUYÊN ĐỀ 12 – CÁC BÀI TOÁN VỀ BIỂU THỨC

CHUYÊN ĐỀ  13 – CÁC BÀI TOÁN VỀ TAM GIÁC ĐỒNG DẠNG

CHUYÊN ĐỀ 14  – PHƯƠNG TRÌNH BẬC CAO

CHUYÊN ĐỀ 1 5 – SỬ DỤNG CÔNG THỨC  DIỆN TÍCH ĐỂ THIẾT LẬP QUAN HỆ ĐỘ DÀI CỦA CÁC ĐOẠN THẲNG

CHUYÊN ĐỀ 16 – BẤT ĐẲNG THỨC

CHUYÊN ĐỀ 17 – VẼ ĐƯỜNG THẲNG SONG SONG ĐỂ TẠO THÀNH CÁC CẶP ĐOẠN THẲNG TỶ LỆ

CHUYÊN ĐỀ 18 – BỔ ĐỀ HÌNH THANG VÀ CHÙM ĐƯỜNG THẲNG ĐỒNG QUY

CHUYÊN ĐỀ 19 – TÌM GIÁ TRỊ LỚN NHẤT, NHỎ NHẤT CỦA MỘT BIỂU THỨC

CHUYÊN ĐỀ 20 – PHƯƠNG TRÌNH NGHIỆM NGUYÊN

CHUYÊN ĐỀ 21- GIẢI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH

Pratinjau buku ini

»

5 Phương Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán Lớp 11 / 2023

Chương trình toán lớp 11 gồm có những nội dung gì?

Tương tự với chương trình môn toán cơ bản, chương trình toán lớp 11 cũng gồm hai phần lớn đó là đại số và hình học.

Nội dung hình học lớp 11: phần hình học lớp 11 gồm phép dời hình, phép đồng dạng trong mặt phẳng, đường thẳng, mặt phẳng, vectơ quan hệ song song, quan hệ vuông góc trong không gian. Hình học 11 đòi hỏi học sinh cần có khả năng tư duy, tưởng tượng trong không gian.

5 phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi toán lớp 11

Luôn nắm chắc định nghĩa, công thức

Với những môn học tự nhiên như Toán thì định nghĩa, công thức là rất quan trọng. Bạn cần nắm chắc những kiến thức cơ bản này để có thể ứng dụng vào giải bài tập. Cách tốt nhất để ghi nhớ công thức là tự tổng hợp, ghi chép nhiều lần và trước khi giải bài tập, luôn tự trả lời câu hỏi “Bài tập này cần áp dụng những công thức nào?”

Mặc dù những điều thầy cô dạy trên lớp học sinh đều có thể xem lại trong sách giáo khoa, tuy nhiên sự khác nhau giữa học sinh giỏi toán và không giỏi toán nằm ở cách ghi chép, tổng hợp kiến thức. Điều quan trọng là bạn biết lọc ra các thông tin cần thiết để ghi nhớ, trong đó có các bước giải bài tập, cách tư duy nhanh, các mẹo làm bài…

Tự giác học và làm nhiều bài tập

Để nâng cao khả năng của mình thì bạn cần có tinh thần tự giác ôn luyện. Đôi khi thời gian học trên lớp khá ít, chưa đủ để bạn hiểu sâu và vận dụng tốt, vì vậy ở nhà bạn có thể tìm kiếm các bài toán cơ bản và nâng cao để ôn luyện, tạo phản xạ khi tiếp cận với các bài toán. Việc này sẽ giúp bạn nắm bắt kiến thức tốt, nhớ lâu các bước làm bài, thao tác bấm máy tính và vẽ hình nhanh, không bị bỡ ngỡ trước các bài toán khó trong kiểm tra, thi cử.

Chọn những cuốn sách bồi dưỡng học sinh giỏi toán lớp 11 phù hợp

Quá trình học tập, ôn thi không thể thiếu những cuốn sách tham khảo, giúp học sinh bổ sung kiến thức nâng cao, ôn tập kiến thức theo chuyên đề. Bạn hãy chọn những cuốn sách bồi dưỡng học sinh giỏi toán lớp 11 được biên soạn được bởi đội ngũ tác giả uy tín và xuất bản bởi các đơn vị lớn.

Đừng quên đọc phần giới thiệu sách để biết nội dung sách có phù hợp với mục đích học tập của bạn hay không. Hiện nay trên thị trường có khá nhiều đầu sách bồi dưỡng học sinh giỏi toán 11. Một số cuốn tổng hợp kiến thức cốt lõi nhất và đưa ra các dạng bài tập theo chuyên đề, một số cuốn đưa ra các bài tập nâng cao để học sinh thử sức.

Nhiều học sinh nghĩ rằng đề thi toán THPT quốc gia chỉ giới hạn trong kiến thức lớp 12 nên lơ là môn toán lớp 11. Thực tế nhiều kiến thức toán 11 như giải tích, tổ hợp xác suất vấn nằm trong giới hạn đề thi và là nền tảng để học tốt toán 12, vì vậy bạn đừng bỏ qua bất cứ nội dung nào. Bên cạnh đó học sinh lớp 11 nên tham khảo cấu trúc đề thi, thời gian thi, cách ôn thi từ sớm để không bị bỡ ngỡ nếu kì thi THPT quốc gia có thay đổi bất ngờ.

Sách bồi dưỡng học sinh giỏi Toán lớp 11

Sách tham khảo toán 11 có lối viết khoa học, sinh động và cách trình bày mới mẻ nhưng vẫn bám sát chương trình của bộ GD&ĐT và đề thi THPT quốc gia những năm gần đây. Các bài toán ví dụ được chọn lọc từ sách giáo viên toán lớp 11, sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó theo bốn cấp độ nhận thức để học sinh có thể tiếp cận môn toán một cách tự nhiên, tạo cảm hứng khi học.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!