Đề Xuất 12/2022 # Skkn Một Số Phương Pháp Và Kĩ Năng Dạy Bài Thực Hành Ở Bộ Môn Sinh Học 6 / 2023 # Top 14 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Skkn Một Số Phương Pháp Và Kĩ Năng Dạy Bài Thực Hành Ở Bộ Môn Sinh Học 6 / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Skkn Một Số Phương Pháp Và Kĩ Năng Dạy Bài Thực Hành Ở Bộ Môn Sinh Học 6 / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NỘI DUNG TRANG 1. Mở đầu 1 1.1. Lí do chọn đề tài 1 1.2. Mục đích nghiên cứu 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu 2 1.4. Phương pháp nghiên cứu 3 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3 2.1. Cơ sở lý luận của SKKN 3 2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 4 2.3. Các SKKN hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.3.1.Xây dựng kế hoạch cho các bài thực hành và các thí nghiệm trong cả năm học. 5 2.3.2. Thiết kế giáo án và tổ chức dạy học loại bài thực hành hoặc bài có thí nghiệm cho học sinh. 8 2.4. Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân , đồng nghiệp và nhà trường. 18 3. Kết luận và kiến nghị 19 3.1. Kết luận 19 3.2. Kiến nghị 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 DANH MỤC SKKN ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SKKN NGÀNH GD&ĐT CẤP HUYỆN, TỈNH VÀ CẤP CAO HƠN XẾP TỪ LOẠI C TRỞ LÊN. 22 1. Mở đầu 1.1. Lí do chọn đề tài. Thông qua bộ môn sinh học lớp 6 học sinh sẽ được học những kiến thức cơ bản, phổ thông và hoàn chỉnh về hình thái, cấu tạo, hoạt động sống (Trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản) trong mối quan hệ của thực vật với môi trường làm cơ sở cho các em tiếp tục học những kiến thức về di truyền ở sinh học lớp 9. Có thể nói cùng với những kiến thức về động vật, con người, kiến thức về thực vật ở sinh học lớp 6 cung cấp cho học sinh những tri thức cơ sở để học sinh có thể nắm được các kiến thức sinh học đại cương về mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường ( kiến thức sinh thái học), quy luật di truyền, biến dị ở các lớp trên. Những kiến thức về thực vật học sẽ làm cơ sở để học sinh hiểu các biện pháp kĩ thuật để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ở môn công nghệ lớp 7 và lớp 9. Cụ thể bộ môn sinh học lớp 6 ở trường THCS có nhiệm vụ: – Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, hệ thống về cơ thể thực vật và nhóm thực vật. – Hình thành kĩ năng bộ môn cho học sinh. – Rèn luyện năng lực tư duy độc lập cho HS. – Hình thành các phẩm chất nhân cách toàn diện như: + Bồi dưỡng thế giới quan + Giáo dục môi trường và giữ gìn sức khỏe + Giáo dục kĩ thuật tổng hợp, lao động sản xuất và hướng nghiệp + Giáo dục thẩm mĩ – Đảm bảo tính liên thông bộ môn giữa các lớp học và cấp học cho HS. Như vậy trong dạy học sinh học lớp 6 nếu giáo viên hoàn thành tốt các nhiệm vụ bộ môn sẽ góp phần tích cực vào việc đào tạo thế hệ trẻ có nhân cách phát triển toàn diện sau này, tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Để làm được điều đó đòi hỏi người giáo viên khi giảng dạy bộ môn sinh học lớp 6 phải biết vận dụng các phương pháp và kĩ năng dạy học bộ môn vào giảng dạy một cách hợp lí. Ở độ tuổi này ( 11-12 tuổi) các em rất hiếu động thích khám phá những điều mới lạ, thích bắt trước, đặc biệt bắt trước tìm hiểu những gì khơi gợi sự tò mò của các em. Nhưng đồng thời các em không có khả năng tập trung chú ý lâu vào một vấn đề nào đó, mà chóng chán. Do vậy giáo viên phải sử dụng các phương pháp dạy học thích hợp và đa dạng đặc biệt ưu tiên các phương pháp trực quan, thực hành. Tuy nhiên trong tình hình thực tế hiện nay ở các nhà trường THCS đa số giáo viên lại xem nhẹ và thường bỏ qua những tiết thực hành, những thí nghiệm vì những tiết thực hành và những thí nghiệm thường có nội dung khó, nhiều giáo viên thực hiện không thành công, khi thực hiện mất nhiều thời gian và đòi hỏi sự chuẩn bị công phu, tốn kém về vật chất nên giáo viên không muốn hoặc rất ngại tiến hành các bài dạy này mà thay vào đó là dạy học bằng tranh ảnh hoặc dạy lí thuyết cho học sinh dẫn đến các em tiếp thu kiến thức rất bị động và không nhớ lâu, đặc biệt khi học xong các em không có khả năng áp dụng vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất. Xuất phát từ tình hình đó bản thân tôi nhận thấy việc đưa ra đề tài nghiên cứu “ Một số phương pháp và kĩ năng dạy bài thực hành ở bộ môn sinh học 6” là cần thiết nên tôi đã xây dựng đề tài SKKN này nhằm giúp cho Giáo viên bộ môn sinh học nói riêng và giáo viên trong nhà trường THCS nói chung tham khảo để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy của bản thân và giúp học sinh khối 6 trong các nhà trường tiếp thu kiến thức chủ động hơn, biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống của bản thân mình. 1.2. Mục đích nghiên cứu. – Nghiên cứu đề tài SKKN này nhằm giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức chủ động hơn, ghi nhớ kiến thức lâu hơn và có khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống một cách tốt hơn. – Giáo dục cho các em lòng yêu thích môn học, ý thức bảo vệ cơ thể, bảo vệ thiên nhiên và đặc biệt là bảo vệ thực vật. – Giúp cho GV bộ môn sinh học thực hiện tốt hơn những bài thực hành và những thí nghiệm trong SGK của chương trình sinh học lớp 6 góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu một số bài thực hành và một số thí nghiệm có trong chương trình SGK sinh học lớp 6 ở trường THCS về: + Sự chuẩn bị của Giáo viên và học sinh trước khi làm thực hành trên lớp. + Cách tiến hành (Các bước) dạy bài thực hành và các bước tiến hành thí nghiệm. + Một số lưu ý cần thiết khi tiến hành thí nghiệm để thí nghiệm thành công. 1.4. Phương pháp nghiên cứu. – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập và xử lí thông tin. – Phương pháp sưu tầm tài liệu, thống kê và xử lý số liệu. – Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy học trực tiếp cho học sinh trong nhà trường. 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. Như ta đã biết đối tượng học sinh lớp 6 là đối tượng thích khám phá điều mới lạ. Do đó các phương pháp thực hành có tác dụng không chỉ giúp các em tự mình chiếm lĩnh các kiến thức thực vật học một cách vững chắc, sâu sắc hơn mà còn giúp các em rèn luyện kĩ năng bộ môn, gây hứng tú học tập bộ môn, chuẩn bị khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, giáo dục ý thức lao động, sáng tạo một cách có hiệu quả qua môn học. Các phương pháp thực hành có thể được vận dụng vào dạy học các kiến thức về hình thái, giải phẫu, sinh lí, sinh thái thực vật. các phương pháp thực hành có thể được vận dụng khi dạy học sinh học 6 là thực hành xác định mẫu vật, thực hành quan sát, thực hành thí nghiệm. Có thể làm thực hành trên lớp hoặc hướng dẫn học sinh làm thực hành ở nhà, ở vườn trường và ghi chép lại kết quả để từ đó phân tích, tổng hợp, khái quát hóa hình thành và phát triển các khái niệm thực vật học. Phương pháp thực hành cũng có thể được áp dụng trong các hoạt động ngoại khóa của tất cả các học sinh trong lớp hoặc của các em trong câu lạc bộ sinh học với nhiều tên gọi khác nhau như: “ Hội những nhà khoa học trẻ yêu thiên nhiên”, Hội bảo vệ thiên nhiên trẻ”. Hình thức hoạt động này giúp các em mở rộng, đào sâu kiến thức, đặc biệt góp phần giáo dục cho các em yêu thích bộ môn và lòng yêu thiên nhiên. (Trích giáo trình phương pháp dạy học sinh học ở trung học cơ sở – Nhà xuất bản đại học sư phạm) Để vận dụng phương pháp thực hành có hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị chu đáo mẫu vật, tiến hành làm thử, có quy trình tổ chức cho học sinh thực hành hợp lí, dự kiến những tình huống xẩy ra để có thể giải đáp cho học sinh hoặc tìm các giải pháp cụ thể giúp cho công tác thực hành của học sinh có kết quả. Việc chuẩn bị các mẫu vật có thể giao cho học sinh hoặc nhóm học sinh chuẩn bị, nhưng giáo viên cần kiểm tra sự chuẩn bị của các em để kịp thời bổ sung nếu cần thiết. * Quy trình áp dụng phương pháp thực hành: – Chuẩn bị mẫu vật: Có thể giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị mẫu vật ở nhà trong tiết học trước, giáo viên làm thử trước khi lên lớp. – Hướng dẫn học sinh làm thực hành. – Trong khi học sinh thực hành giáo viên theo dõi, sửa chữa, uốn nắn các thao tác thực hành cho học sinh, hoặc trả lời, hướng dẫn thêm cho những học sinh chưa nắm được công việc của mình. – Dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh rút ra kết luận khoa học. Giáo viên có thể cho học sinh vẽ, lập biểu đồ, sơ đồ, bảng thống kê, để biểu diễn kết quả thực hành.( Giáo viên có thể cho học sinh phán đoán hoặc dự báo kết quả trong các tình huống khi thực hành và kiểm tra các phán đoán, dự đoán đó khi làm thực hành hoặc khi thực hành xong). Dùng phương pháp thực hành có nhiều ưu điểm nhưng giáo viên cần chú ý đến công tác tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh vì lứa tuổi này học sinh rất hiếu động. Tuy vậy nên tránh khuynh hướng quá khắt khe làm cho giờ dạy mất đi sự sinh động vốn có của một giờ thực hành. Trong chương trình sinh học 6 không có tiết thực hành riêng để củng cố kiến thức mà chỉ có các bài thực hành và các thí nghiệm nhằm mục tiêu hình thành kiến thức mới. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. * Kết quả khảo sát thực trạng trước khi áp dụng SKKN: Nội dung khảo sát Hình thức khảo sát Số lượng HS Tỉ lệ – Khả năng tiếp thu kiến thức qua các bài thực hành môn sinh học 6. Dự giờ đồng nghiệp 20/58 34,4% – Mức độ yêu thích môn học. Dùng phiếu 25/58 43,1% – Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống. Hoạt động ngoại khóa và hỏi đáp. 17/58 29,3% – Ý thức bảo vệ thực vật trong sân trường, ở gia đình và nơi công cộng. Quan sát thực tế hoạt động của học sinh và tìm hiểu qua đồng nghiệp, phụ huynh, 41/58 70,7% * Những khó khăn nhận thấy khi khảo sát thực trạng cần phải giải quyết và khắc phục: – Đa số học sinh không yêu thích môn học do phải học nhiều lí thuyết, giáo viên ít dạy các tiết thực hành nên không gây được hứng thú cho các em và các em có suy nghĩ sinh học là môn phụ ở trường THCS. – Học sinh không có hứng thú với bộ môn nên khi học bộ môn thường ngại, nhác học, không chịu khó tìm tòi, không phát biểu ý kiến mà thường ỉ lại cho giáo viên. – Lứa tuổi các em còn nhỏ chưa ý thức được vấn đề bảo vệ môi trường sống xung quanh, chưa hình thành thói quen bảo vệ thiên nhiên nói chung và thực vật nói riêng. – Các em không được thực hành và làm thí nghiệm nhiều nên kĩ năng thực hành không có dẫn đến khi gặp vấn đề nào đó trong cuộc sống đòi hỏi phải thực hiện những thao tác thực hành thì các em rất lúng túng không biết áp dụng như thế nào. – Đa số học sinh không biết cách sử dụng các dụng cụ thí nghiệm có sẵn trong phòng thiết bị do các em ít được tiếp xúc, đặc biệt là những thí nghiệm có nội dung khó. – Nhiều giáo viên bộ môn phải dạy nhiều tiết trên lớp nên không có thời gian để lập kế hoạch riêng cho dạng bài thực hành và thí nghiệm nên khi bước vào tiết dạy nhiều thí nghiệm đòi hỏi phải làm trước thường không thực hiện được. Có giáo viên ngại va chạm hay tiếp xúc với dụng cụ thực hành, đặc biệt là hóa chất nên đôi khi bỏ qua luôn các thí nghiệm trong bài. 2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề. Một số biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề: 2.3.1. Xây dựng kế hoạch cho các bài thực hành và các thí nghiệm trong cả năm học. Trong chương trình sinh học 6 có những bài thực hành hay thí nghiệm cần thời gian để làm trước cả tháng, nửa tháng hoặc 1 tuần nên ngay từ đầu năm học giáo viên cần thiết phải xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng bài thực hành cụ thể tránh tình trạng đến sát ngày dạy mới làm sẽ không kịp thời gian, không thành công trong quá trình tiến hành, ngoài ra một số dụng cụ thực hành không còn sử dụng được hoặc kém chất lượng giáo viên cũng cần phải xem trước để nắm bắt tình hình trước khi tiến hành thực hành và thí nghiệm. Việc lập kế hoạch cho bài thực hành thí nghiệm giúp cho GV chủ động hơn trong quá trình tiến hành dạy học, giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, rèn luyện những thao tác, những kĩ năng thực hành để từ đó hình thành cho các em khả năng nghiên cứu khoa học thúc đẩy niềm đam mê môn học và có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên. Mẫu kế hoạch chuẩn bị cho các bài thực hành hoặc bài có nội dung thực hành ( Kế hoạch thực hành): TT Bài số ( Tiết theo PPCT ) Nội dung thực hành hoặc thí nghiệm Chuẩn bị và tiến hành thí nghiệm của GV và HS Thời gian chuẩn bị trước khi tiến hành bài học 1 Bài 5 ( Tiết: 5) Kính lúp, kính hiển vi và cách sử dụng. GV: – Kính lúp, kính hiển vi HS: – Một vài bông hoa. 1 ngày 2 Bài 6 ( Tiết: 6) Quan sát tế bào thực vật GV: – Kính hiển vi – Đồ mổ, tiêu bản, la men, đĩa kính, giấy thấm… HS: 1 cây hành và 1 quả cà chua 1 ngày 3 Bài 7 ( Tiết: 7) Quan sát hình dạng tế bào qua tiêu bản. GV: – Kính hiển vi – Tiêu bản: Lát cắt ngang thân cây, lá cây, rễ cây. 1 ngày 4 Bài 9 ( Tiết: 9) Quan sát các loại rễ, các miền của rễ. GV: – Kính lúp, khay nhựa, chậu trồng cây. HS: – Một số cây rễ cọc và cây rễ chùm. 1 ngày 5 Bài 11 (Tiết:11) Thí nghiệm chứng minh nhu cầu nước của cây HS: – Chuẩn bị và làm thí nghiệm ở nhà: Phơi mỗi loại 100g một số loại củ, quả, hạt đến khô rồi cân lại ghi vào phiếu. 7 ngày 6 Bài 14 (Tiết:15) Thí nghiệm ngắt ngọn cây đậu HS: – Làm thí nghiệm ở nhà: Gieo hạt đậu vào 2 chậu, chọn 6 cây phát triển đều ( Mỗi chậu 3 cây), ngắt ngọn 3 cây trong một chậu, chậu còn lại không ngắt ngọn, chăm sóc 2 chậu trong 2 tuần đo chiều cao các cây ở 2 chậu ghi vào phiếu. 14 ngày 7 Bài 17 (Tiết 18) Thí nghiệm chứng minh sự vận chuyển các chất trong thân HS: – Làm thí nghiệm ở nhà: 2 cốc thủy tinh, một cốc đựng nước trắng và một cốc nước có pha mực đỏ, cắm 2 bông hoa huệ trắng sau hai ngày đem đến lớp quan sát. 2 ngày 8 Bài 20 (Tiết 23) Quan sát cấu tạo trong của phiến lá GV: – Kính hiển vi, tiêu bản lát cắt ngang phiến lá, mô hình cấu tạo phiến lá. 1 ngày 9 Bài 21 (Tiết 24) Thí nghiệm chứng minh lá cây chế tạo tinh bột khi cá ánh sáng và thí nghiệm chứng minh lá cây nhả ra khí oxi khi chế tạo tinh bột. GV: – Dung dịch iôt, đèn cồn, chuông thủy tinh, nước vôi trong, ống nghiệm… HS: – Tiến hành ở nhà: + Trồng cây khoai lang vào chậu và tiến hành bịt băng giấy đen một phần lá cây như hướng dẫn. + Úp cây rong đuôi chó vào ống nghiệm rồi thực hiện như hướng dẫn. 1 ngày 7 ngày 1 ngày 10 Bài 24 (Tiết 28) Thí nghiệm xác định phần lớn nước vào cây đi đâu HS: Tiến hành ở nhà rồi đem đến lớp ( trồng 2 cây vào 2 chậu) – Túi bóng trắng 2 ngày. 11 Bài 26 (Tiết 30) Quan sát sự tạo thành cây mới từ thân, lá, rễ. HS: Tiến hành ở nhà + Vùi củ gừng, củ khoai lang vào đất ẩm. Đặt lá cây thuốc bỏng, rau má nơi đất ẩm. 7 ngày 12 Bài 35 (Tiết 42) Thí nghiệm về những điều kiện cần cho hạt nảy mầm. HS: Tiến hành ở nhà Lấy 4 cốc thủy tinh đánh số 1,2 và 2 cốc số 3 + Cốc 1: Bỏ vào 10 hạt đỗ tốt, khô + Cốc 2: Bỏ vào 10 hạt đỗ tốt, khô và cho ngập nước. + Cốc 3: Bỏ bông ẩm xuống dưới rồi cho 10 hạt đỗ tốt, khô lên trên.( Làm 2 cốc) trong đó 1 cốc để ngoài nhiệt độ thường, 1 cốc cho vào thùng đá. 7 ngày 13 Bài 38 (Tiết 46) Thực hành quan sát cấu tạo của cây rêu GV: Khay nhựa, kính lúp, kim mũi mác HS: Cây rêu tường và một số cây rêu khác. 1 ngày … … … … 2.3.2. Thiết kế giáo án và tổ chức dạy học loại bài thực hành hoặc bài có thí nghiệm cho học sinh. Bài 6 ( Tiết 6): THỰC HÀNH QUAN SÁT TẾ BÀO THỰC VẬT I. MỤC TIÊU : 1. Kiến thức: – HS biết làm tiêu bản hiển vi tạm thời tế bào thực vật . – Hiểu và phân biệt được các dụng cụ thực hành: kim nhọn, kim mũi mác, đồ mổ, … – Quan sát được các vật mẫu dưới kính hiển vi. 2. Kỹ năng: – Rèn luyện kĩ năng sử dụng kính hiển vi và các dụng cụ thực hành. – Rèn luyện kĩ năng vẽ hình sau khi quan sát được. 3. Thái độ: – Có ý thức giữ gìn dụng cụ sau khi sử dụng . – Giáo dục lòng yêu thích bộ môn và ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên. 4. Năng lực, phẩm chất * Năng lực – Năng lực tự học – Năng lực giải quyết vấn đề – Năng lực hợp tác – Năng lực sáng tạo – Năng lực sử dụng công nghệ thông tin – Năng lực nghiên cứu * Phẩm chất – Yêu gia đình, quê hương, đất nước – Tự lập, tự tin, tự chủ – Có trách nhiệm với bản thân cộng đồng đất nước, con người. II . PHƯƠNG PHÁP , PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC : – Phương pháp: Trực quan, thực hành, vấn đáp. – Phương tiện: phấn, bảng, SGK, sách chuẩn KTKN, dụng cụ thí nghiệm. III. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH: 1. Giáo viên: – Dụng cụ: 4 kinh hiển vi, 8 lam kính, 8 lamen (vật, thị kính: 5 x 10), lọ đựng nước cất, 2 ống nhỏ giọt, giấy thấm, 4 khay nhựa, 4 kim mủi mác, 4 kim nhọn. – Vật mẫu: củ hành trắng tươi, quả cà chua chín. – Bảng phụ ghi nội dung tóm tắc các bước tiến hành. 2. Học sinh: – Chuẩn bị theo nhóm vật mẫu: củ hành trắng, quả cà chua chín. IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: 1. Kiểm tra bài cũ : (3 phút) – Câu hỏi 1: Hãy nêu các bước sử dụng kính lúp ? – Câu hỏi 2: Các bước sử dụng kính hiển vi ? 2. Dạy bài mới : * Mở bài: ( 2 Phút) Các tế bào thực vật thường có kích thước rất nhỏ, khi muốn quan sát ta cần phải sử dụng các dụng cụ hổ trợ như kính hiển vi. Và khi muốn quan sát vật mẫu ta cần phải chuẩn bị tiêu bản tạm thời vậy cách làm tiêu bản tạm thời đó như thế nào ta cùng nghiên cứu bài thực hành hôm nay. * Giáo viên: – Nêu yêu cầu của bài thực hành: Qua bài thực hành này các em sẽ: + Biết cách làm một tiêu bản hiển vi tạm thời ( Tế bào biểu bì vảy hành hoặc tế bào thịt quả cà chua). + Biết sử dụng kính hiển vi. + Tập vẽ hình đã quan sát được. – Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh. * Phát triển bài: phân công nhóm: Nhóm 1, 2 làm tiêu bản biểu bì vảy hành trước. nhóm 3, 4 làm tiêu bản tế bào thịt quả cà chua. a. Hoạt động 1: Quan sát tế bào dưới kính hiển vi: – Mục tiêu: HS làm được tiêu bản tạm thời và quan sát được dưới kính hiển vi. – Thời gian: 20 phút – Hình thức tiến hành HĐ: Thực hành theo nhóm – ĐVĐ: Cách làm tiêu bản và quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi như thế nào? Hoạt động của GV và HS Ghi bảng GV: Phân dụng cụ cho các nhóm. Treo bảng phụ nội dung các bước tiến hành thí nghiệm và cách hướng dẫn quan sát lên bảng. – Yêu cầu học sinh đọc kỹ các bước tiến hành và thực hiện quan sát tiêu bản. – Quan sát sự thực hiện của các nhóm. GV: Lưu ý cho HS cách làm tiêu bản * Lưu ý: – Đ

Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Địa Lý / 2023

GIỚI THIỆU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ 1. Dạy học nhóm

Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn. Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ. mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.Dạy học nhóm không phải một phương pháp dạy học cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học. Tuỳ theo nhiệm vụ cần giải quyết trong nhóm mà có những phương pháp làm việc khác nhau được sử dụng. 1. Dạy học nhóm

Ưu điểm và nhược điểm của dạy học nhóm Ưu điểm: Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của HS; Phát triển năng lực cộng tác làm việc; Phát triển năng lực giao tiếp; Hỗ trợ qúa trình học tập mang tính xã hội; Tăng cường sự tự tin cho HS;Phát triển năng lực phương pháp; Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hoá; Tăng cường kết quả học tập.

1. Dạy học nhóm

Nhược điểm: Dạy học nhóm đòi hỏi thời gian nhiều; Công việc nhóm không phải bao giờ cũng mang lại kết quả mong muốn; Trong các nhóm chưa được luyện tập dễ xảy ra hỗn loạn.Trong một tập thể, dù nhỏ vẫn luôn có những cá thể ỷ lại, hoặc rụt rè, nhút nhát 1. Dạy học nhóm

Những chỉ dẫn đối với giáo viênNếu muốn thành công với dạy học nhóm thì người GV phải nắm vững phương pháp thực hiện. Dạy học nhóm đòi hỏi GV phải có năng lực lập kế hoạch và tổ chức, còn HS phải có sự hiểu biết về phương pháp, được luyện tập và thông thạo cách học này. Khi lập kế hoạch, công việc nhóm phải được phản ánh trong toàn bộ quá trình dạy học. Ví dụ cần phải suy nghĩ xem cần sự hướng dẫn của GV như thế nào để các nhóm có thể làm việc một cách hiệu quả. Điều kiện để HS đạt được thành công trong học tập cũng là phải nắm vững các kĩ thuật làm việc cơ bản. Thành công của nhóm còn phụ thuộc vào việc đề ra các yêu cầu công việc một cách rõ ràng và phù hợp. 1. Dạy học nhóm

Một số chú ý trong khi thực hiện dạy học nhóm:Cần luyện tập cho HS quy tắc làm việc nhóm.Trao đổi về tiến trình làm việc nhóm.Luyện tập về kĩ thuật làm việc nhóm.Duy trì trật tự cần thiết trong làm việc nhóm.GV quan sát, hỗ trợ các nhóm HS Giúp ổn định các nhóm làm việc khi cần thiết. 2. Kĩ thuật XYZ

Trong giảng dạy Địa lí kĩ thuật này thường được sử dụng đối với các vấn đề nêu ưu điểm, nhược điểm hoặc đánh giá thuận lợi khó khăn của một nguồn lực nào đó trong phát triển kinh tế -xã hội,… Ví dụ: Mỗi HS nêu lên 3 đặc điểm tốt của lao động nước ta, 3 hạn chế của nguồn lao động và 3 giải pháp để sử dụng nguồn lao động hợp lí (Địa lí 9).6. Lược đồ tư duy

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (problem solving method), hay dạy học dựa trên vấn đề (problem based learning), hoặc dạy học đặt và giải quyết vấn đề (problem posing and solving) là phương pháp, trong đó giáo viên đặt ra trước học sinh một (hay hệ thống) vấn đề nhận thức, chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề, sau đó giáo viên phối hợp cùng học sinh (hoặc hướng dẫn, điều khiển học sinh) giải quyết vấn đề, đi đến những kết luận cần thiết của nội dung học tập. Đây là phương pháp được xem xét nhiều về mặt tính chất hoạt động của học sinh và của giáo viên.8. Giải quyết vấn đề

trình tự tiến hành :a) Đặt vấn đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề Đặt vấn đề là đặt ra trước học sinh một câu hỏi. Tuy nhiên, đó không phải là câu hỏi thông thường như trong đàm thoại, mà phải là câu hỏi có vấn đề. Nghĩa là, câu hỏi phải chứa đựng: – Một mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, -ngiữa cái đã biết và cái chưa biết cần phải khám phá, nhận thức, – giữa vốn kiến thức khoa học đã có và vốn kiến thức thực tiễn đa dạng 8. Giải quyết vấn đề

Ví dụ: “Hàng ngày ta thấy Mặt Trời chuyển động, còn Trái Đất đứng yên. Bài học hôm nay chúng ta sẽ học về chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời” (Địa 6), “Vì sao, ở nước ta hiện nay, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm, nhưng dân số vẫn tăng nhanh?” (Địa 9), “Thường ở nơi đông dân, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn trong phát triển, thế nhưng tại sao đồng bằng sông Hồng là vùng đông dân, nhưng vẫn là vùng có trình độ phát triển cao so với trung bình của cả nước?” (Địa 9).8. Giải quyết vấn đề

Một sự lựa chọn. Ví dụ: “Kiên Giang là tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượng khai thác hải sản là do có nhiều tàu đánh cá nhất, do nằm gần các ngư trường giàu có nhất, do có khí hậu thuận lợi để khai thác quanh năm, do tất cả các nguyên nhân trên. Trong số đó, nguyên nhân nào đúng nhất?” (Địa 9)Một nghịch lí, một sự kiện bất ngờ, một điều gì không bình thường so với cách hiểu cũ của học sinh và đôi khi ban đầu thoạt nghe, tưởng chừng nh­ư vô lí làm học sinh ngạc nhiên. Ví dụ: học sinh đã biết thiên tai gây ra nhiều hậu quả xấu cho con người, nhưng tại sao ở Đồng bằng sông Cửu Long phải “sống chung với lũ?”, ở Duyên hải miền Trung lại chủ trương “sống chung với thiên tai?” (Địa 9)8. Giải quyết vấn đề

Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lý: trong đó học sinh tiếp nhận mâu thuẫn khách quan (một khó khăn gặp phải trên bước đường nhận thức) như là mâu thuẫn chủ quan (mâu thuẫn nội tại của bản thân) bị day dứt bởi chính mâu thuẫn đó và có ham muốn giải quyết.Để vấn đề trở thành tình huống đối với học sinh, câu hỏi đặt vấn đề phải l­ưu ý các điểm sau:– Trong thành phần câu hỏi, phải có phần học sinh đã biết, phần kiến thức cũ và phần học sinh chư­a biết, phần kiến thức mới. Hai phần này phải có mối quan hệ với nhau, trong đó phần học sinh chưa biết là phần chính của câu hỏi, học sinh phải có nhiệm vụ tìm tòi, khám phá. Ví dụ: “Thường những nơi ở gần biển thì khí hậu điều hoà, có m­­ưa nhiều. Nhưng tại sao Phan Rang ở sát biển mà lượng m­ưa rất ít?”.8. Giải quyết vấn đề

Nội dung câu hỏi phải thật sự kích thích, gây hứng thú nhận thức đối với học sinh. Trong rất nhiều trường hợp, câu hỏi gắn với các vấn đề thực tế gần gũi, thường lôi cuốn hứng thú học sinh nhiều hơn.Câu hỏi phải vừa sức học sinh. Các em có thể giải quyết được, hoặc hiểu được cách giải quyết dựa vào việc huy động vốn tri thức sẵn có của mình bằng hoạt động tư­­ duy. Trong câu hỏi nên hàm chứa phương hướng giải quyết vấn đề, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết và tạo điều kiện tìm ra con đường giải quyết đúng.8. Giải quyết vấn đềb) Giải quyết vấn đề – Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra– Thu thập và xử lí thông tin theo hướng các giả thuyết đã đề xuấtc) Kết luận– Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết– Phát biểu kết luận

Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực / 2023

Bước 2 : Tổ chức hoạt động học tập theo gócGiới thiệu bài học và các góc học tậpHS được lựa chọn góc theo sở thíchHS được học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (VD 10 – 15′ tại mỗi góc) để đảm bảo học sâu– Tổ chức trao đổi/chia sẻ (thực hiện linh hoạt)141. Tính phù hợpNhiệm vụ và cách tổ chức hoạt động học tập thực sự là phương tiện để đạt mục tiêu, tạo ra giá trị mới chứ không chỉ là hình thức.Nhiệm vụ giàu ý nghĩa, thiết thực, mang tính kích thích, thúc đẩy đối với HS.Tiêu chí học theo góc152. Sự tham giaNhiệm vụ và cách tổ chức dạy học mang lại hoạt động trí tuệ ở mức độ cao. HS tham gia vào hoạt động một cách chủ động, tích cực.Biết áp dụng kiến thức vào thực tế.Tiêu chí học theo góc163. Tương tác và sự đa dạngTương tác giữa GV và HS, HS với HS được thúc đẩy đúng mức.Tạo cơ hội cho HS áp dụng những kinh nghiệm đã có.Tiêu chí học theo góc17M?t s? luu ýChọn nội dung bài học phù hợp với đặc trưng của Học theo gócCó thể tổ chức 2 góc, 3 hoặc 4 góc tùy theo điều kiện và nội dung của bài họcChuẩn bị đầy đủ các thiết bị, tư liệu phù hợp với nhiệm vụ học tập của mỗi gócHS được chọn góc xuất phát và thực hiện nhiệm vụ luân phiên qua các góc đảm bảo học sâu và học thoải mái.18Học theo góc (tiếp theo)Môi trường học tập với cấu trúc được xác định cụ thể.Kích thích HS tích cực học thông qua hoạt động.Đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động.Mục đích là để học sinh được thực hành, khám phá và trải nghiệm qua mỗi hoạt động.19Ví dụ: 4 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo các phong cách khác nhau và sử dụng các phương tiện/đồ dùng học tập khác nhau. 20

2.3. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:– Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp– Kích thích sự tham gia tích cực của HS: Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).212.2. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”Vòng 1Vòng 211111122222233333322Ví dụ Chủ đề: Câu tiếng Việt* Vòng 1: Nhiệm vụ 1: Thế nào là câu đơn? Nêu và phân tích VD minh họa Nhiệm vụ 2: Thế nào là câu ghép? Nêu và phân tích VD minh họa Nhiệm vụ 3: Thế nào là câu phức? Nêu và phân tích VD minh họa

* Vòng 2: Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích VD minh hoạ23

VÒNG 1Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, …

Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, …)

Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao

Mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhómVÒNG 2Hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1 người từ nhóm 3 …)

Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau

Sau khi chia sẻ thông tin vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết

Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép”24Thiết kế nhiệm vụ “Các Mảnh ghép” Lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp Xác định một nhiệm vụ phức hợp để giải quyết ở vòng 2 dựa trên kết quả các nhiệm vụ khác nhau đã được thực hiện ở vòng 1Xác định những yếu tố cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp (kiến thức, kĩ năng, thông tin, chiến lược)Xác định các nhiệm vụ mang tính chuẩn bị (thực hiện ở vòng 1). Xác định các yếu tố hỗ trợ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 225Thành viên & nhiệm vụ các thành viên trong nhóm262.4. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm:– Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực– Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS– Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS272.3. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”124328

– Sáng tạo hơn Tiết kiệm thời gian Ghi nhớ tốt hơn Nhìn thấy bức tranh tổng thể Tổ chức và phân loại– … 38Cách tiến hành

Thiết kế trích đoạn kế hoạch DH áp dụng một số kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác và trình bày kết quả

Một Số Chú Ý Về Cập Nhật Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Tin Học / 2023

Tóm tắt: Công nghệ thông tin là môn học gắn bó vô cùng chặt chẽ với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật, cả phần cứng lẫn phần mềm. Trong khi đó, sự phát triển với tốc độ cao của khoa học công nghệ dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về nội dung và phương pháp tiếp cận môn học. Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn, bài viết này tập trung chủ yếu vào những thay đổi cần cập nhật trong việc giảng dạy và học tập môn học.

Đặt vấn đề: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của môn Tin học đại cương bậc đại học là đào tạo sinh viên sử dụng thành thạo máy tính trên Hệ điều hành Windows và phần mềm Tin học văn phòng Microsoft Office. Mỗi khi có sự thay đổi của Hệ điều hành Windows cũng như phần mềm Tin học văn phòng Microsoft Office, môn học cần phải cập nhật để nội dung môn học đảm bảo tính hiện đại, sát với sự đổi mới của khoa học công nghệ. Để hiểu rõ hơn ta tìm hiểu qua về lịch sử hình thành và phát triển của nó từ đó để xác định nhiệm vụ cập nhật môn học.

I. Lich sử hình thành và phát triển Hệ điều hành Windows và phần mềm Tin học văn phòng Microsoft Office

1. Lịch sử 30 năm hình thành và phát triển của Hệ điều hành Microsoft

Một máy tính muốn sử dụng được cần phải cài một Hệ Điều Hành (HĐH). Để cài được HĐH nào còn phụ thuộc vào cấu hình phần cứng. Hiện nay có rất nhiều HĐH để chúng ta sử dụng nhưng tập trung vào 3 mảng lớn nhất là Windows, Mac OS và Linux, trong đó HĐH Windows có thị phần lớn nhất chính. Vì vậy, bài viết chỉ tập trung trình bày HĐH Windows của hãng Microsoft .

Windows 1.0: Phát hành ra thị trường vào tháng 11 năm 1985 giao diện đồ họa người dùng (GUI) thay cho giao diện dòng lệnh của DOS.

Windows 2.0: Phiên bản thứ hai của Windows được phát hành năm 1987. Phiên bản mới này đã bổ sung thêm các cửa sổ có khả năng xếp chồng nhau và cho phép tối thiểu hóa các cửa sổ để chuyển qua lại trong desktop bằng chuột.

Windows 3.0: Phát hành năm 1990. Đây là phiên bản hệ điều hành đa nhiệm đích thực đầu tiên.

Windows 3.1: Windows 3.1, phát hành năm 1992.Một điểm mới trong Windows 3.1 là bộ bảo vệ màn hình (screensaver) và hoạt động kéo và thả.

Windows NT: Phiên bản chính thức được phát hành vào năm 1993, là một hệ điều hành 32-bit đúng nghĩa được thiết kế cho các tổ chức có kết nối mạng.

Windows 95: Được giới thiệu vào ngày 24/4/1995, Windows 95 lần đầu tiên được tích hợp giao diện người dùng với Start menu cùng với cùng với các nút thu nhỏ, phóng lớn cửa sổ mà chúng ta vẫn hay dùng trên các ứng dụng ngày nay. Những bước tiến vượt bậc này đã nhanh chóng đưa Windows 95 trở thành hệ điều hành phổ biến nhất thế giới vào lúc đó.

Windows 98: Được lấy tên năm phát hành của nó (1998). Những cải thiện ở đây như sự hỗ trợ cho USB, chia sẻ kết nối mạng và hệ thống file FAT32.

Windows Me: Microsoft phát hành phiên bản Windows Millennium edition Microsoft đã nâng cấp các tính năng Internet và multimedia của Windows 98, bổ sung thêm ứng dụng Windows Movie Maker, giới thiệu tiện ích System Restore.

Windows 2000: Windows 2000 thuộc dòng Windows NT và hoạt động ổn định trên cả máy tính để bàn lẫn máy chủ. Đây cũng là phiên bản đầu tiên chính thức sử dụng định dạng đĩa cứng NTFS và mã hoá dữ liệu cấp thấp.

Windows XP: Ra đời 2001. Windows XP kế thừa và làm cho nó trở nên hoàn hảo, đẹp đẽ, dễ sử dụng hơn bao giờ hết. Và Microsoft đã đúng, tầm ảnh hưởng của hệ điều hành này là quá lớn, ngay cả khi đã được hãng cho về hưu vào 8/4/2014. Đây là hệ điều hành phổ biến lớn thứ 3 trên thế giới.

Windows Vista: Được giới thiệu chính thức vào năm 2007 cho giao diện Aero trong suốt thực sự rất hấp dẫn.

Windows 7: Ra đời vào năm 2009 đây là hệ điều hành được yêu thích và phổ biến nhất thế giới.

Windows 8: Microsoft nhận ra sự phổ biến của các thiết bị cảm ứng, hãng đã nhanh chóng tung ra Windows 8 vào ngày 26/10/2012, bỏ đi nút Start Menu “huyền thoại” cùng quá nhiều thay đổi khác khiến người dùng khó có thể chấp nhận được hệ điều hành này.

Windows 8.1: Nút Start đã trở lại, giao diện và các tùy chọn được tinh chỉnh nhằm thân thiện với điều khiển bằng chuột và bàn phím.

Windows 10: Được chính thức giới thiệu ngày 29/7/2015.

Một số hình ảnh Logo của HĐH Microsoft Windows qua các thời kỳ phát triển

2. Lịch sử 30 năm hình thành và phát triển của bộ sản phẩm phần mềm văn phòng của hãng Microsoft Office.

Microsoft Office là một bộ phần mềm văn phòng dành cho máy tính cá nhân, máy chủ và là các dịch vụ chạy trên hệ điều hành Microsoft Windows. Phiên bản Word đầu tiên chạy trên hệ điều hành MS-DOS ra đời 1983. Microsoft Office viết bộ Office 1.0 được giới thiệu lần đầu vào tháng 10 năm 1990, Phiên bản đầu tiên chạy trên Windows được tiếp thị như tên của một gói các ứng dụng, bao gồm Microsoft Word 1.1, Microsoft Excel 2.0 và Microsoft Powerpoint 2.0 được đóng gói cho bản HĐH Windows 3.0. Bộ công cụ văn phòng nổi tiếng Microsoft Office đã mở ra một kỷ nguyên làm việc trên máy tính hiệu quả hơn cho tới ngày nay.

Các gói cập nhật tiếp theo Office 1.5 cập nhật Excel 3.0. Office 1.6 thêm Microsoft Mail. Gói Office 3.0 gồm Word 2.0, Excel 4.0 Powerpoint 3.0 và Mail 3.0- Đây là phiên bản đầu tiên đóng gói CD-ROM, các phiên bản trước đều đóng gói trên đĩa mềm.

Microsoft Office phiên bản 4.3. Phát hành 1993 Năm 1995, Microsoft Office ra đời với phiên bản đầu tiên là Office 95.

Office 97 thêm công cụ Internet, bổ xung tự động hoá các tác vụ phổ dụng.

Vào năm 2000, ra mắt phiên bản Office 2000 là phiên bản cuối cùng cho Windows 95.

Đến năm 2001, khi Windows XP ra mắt, Microsoft ra mắt phiên bản Microsoft Office XP.

Năm 2003, ra mắt phiên bản Office 2003, giống phiên bản Office XP nhưng có những thay đổi đặc biệt phù hợp cho người dùng.

Năm 2007, ra mắt phiên bản Office 2007, có sự thay đổi lớn về giao diện lẫn tính năng, khi chọn văn bản thì có “Mini Toolbar” giúp định dạng đoạn văn bản đó nhanh chóng.

Năm 2010, Office 2010 có thay đổi đặc biệt thay thế bản 2007, chạy ổn định dễ sử dụng. Hệ thống menu mới cung cấp thông tin chi tiết của file. Đây là phiên bản đầu tiên dành cho FAT 64 bit.

Năm 2013 và năm 2016, bản Office 2013 và 2016 có những tính năng mới giúp sử dụng đơn giản , trực quan hơn. Hai phiên bản trên có giao diện đơn giản, nhưng có tương đồng về tính năng.Microsoft Office 2016. Ra đời năm 2015.

Một số hình ảnh Logo của Microsoft Office qua các thời kỳ phát triển

II. Thực trạng việc sử dụng Hệ điều hành Microsoft Windows và bộ sản phẩm tin học văn phòng Microsoft Office.

1. Đối với hệ điều hành Microsoft Windows (hoặc đơn giản gọi là Windows)

Ta biết rằng mỗi khi một sản phẩm phần mềm mới ra đời, người dùng muốn sử dụng sản phẩm mới đó cần đáp ứng đòi hỏi của nó như: Yêu cầu phần cứng, yêu cầu phần mềm, yêu cầu tài chính…. Điều đặc biệt đối với hệ điều hành là khi cài hệ điều hành mới cần cài lại các phần mềm ứng dụng theo nó, và để cài còn phải chú ý hàng loạt phần mềm ứng dụng đang sử dụng có thích ứng với hệ điều hành mới không?… Chính vì vậy nâng cấp hệ điều hành là việc gặp nhiều khó khăn, và trong thực tế tồn tại nhiều HĐH khác nhau.

Điều đặc biệt là Microsoft chính thức ngừng hỗ trợ Windows XP sau ngày 8/4/2014, nếu tiếp tục sử dụng Windows XP máy tính sẽ vẫn hoạt động nhưng có thể dễ gặp rủi ro về bảo mật và bị nhiều virus hơn, Internet Explorer 8 cũng không còn được hỗ trợ có thể khiến máy tính gặp phải các mối đe dọa khác, song vẫn còn rất nhiều người vẫn sử dụng hệ điều hành này vì nhiều lý do như thích giao diện đơn giản và quen thuộc, cấu hình máy tính hạn chế hay không muốn mất thời gian nâng cấp…

Theo công ty nghiên cứu thị trường Mỹ Net Applications, các máy tính sử dụng Windows XP hiện chiếm 11% lượng máy tính toàn cầu, tương đương 12% thị phần các phiên bản của Windows. Nếu quy chiếu theo con số 1,5 tỉ máy tính sử dụng Windows mà Microsoft công bố thì lượng máy tính vẫn đang dùng Windows XP là khoảng 181 triệu. Sau khi bị khai tử 2 năm, hệ điều hành Windows XP vẫn được sử dụng ở 181 triệu máy tính trên toàn thế giới.

Theo PC World, Windows XP hiện giữ vững vị trí thứ 4 trong các phiên bản Windows được sử dụng nhiều nhất. Phiên bản thông dụng nhất hiện nay là Windows 7 với khoảng 861 triệu người dùng, xếp sau là Windows 10 (235 triệu) và Windows 8/8.1 (199 triệu). Trong tương lai gần người sử dụng Win 10 tăng lên nhanh vì phần cứng được hỗ trợ tốt nhất, thêm nữa máy tính được trang bị bộ xử lý Intel Skylake trên Windows 7 hay 8.1 sẽ chỉ nhận được các bản vá bảo mật đến ngày 17 tháng 7 năm 2017. Và khi hết thời hạn này, nếu muốn nhận được nhiều hỗ trợ hơn, phải nâng cấp lên Windows 10.

2. Đối với bộ sản phẩm tin học văn phòng Microsoft Office.

Hệ phần mềm ứng dụng Tin học văn phòng là ứng dụng được cài đặt tương đối thoải mái trên các hệ điều hành, việc nâng cấp theo phần mềm mới đơn giản hơn rất nhiều so với hệ điều hành, tuỳ theo nhu cầu cá nhân hoặc theo yêu cầu cơ quan xí nghiệp sẽ sử dụng Office 2003, 2007…..2016. và tất cả các sản phẩm trên đều có thể cùng song hành trên một máy tính. Hiện tại các hệ Office ra đời sau chiếm ưu thế. Trong khuôn khổ sự kiện BUILD 2016, Microsoft đã công bố số liệu về lượng người dùng phần mềm Microsoft Office trên toàn thế giới. Microsoft là công cụ văn phòng đa năng nhiều người dùng nhất. Bảng số liệu thống kê của Microsoft cho thấy, 1,2 tỷ người dùng sử dụng đủ loại thiết bị từ PC tới smartphone chạy Android, iOS hoặc Windows.

III. Những tác động của sự phát triển HĐH và Hệ phần mềm ứng dụng Tin học văn phòng đến việc cập nhật nội dung và phương pháp giảng dạy môn Tin học đại cương.

1. Những tác động chính tới việc thay đổi nội dung đào tạo môn Tin học đại cương:

Qua phần lịch sử phát triển của HĐH và Hệ phần mềm Tin học văn phòng ta thấy sự phát triển với tốc độ cao trung bình cứ 3 năm lại cho ra đời sản phẩm mới của HĐH cũng như Hệ phần mềm Tin học văn phòng, với tốc độ này nó ảnh hưởng trực tiếp đến giảng dạy và học tập bộ môn.

+ Dạy môn học dựa trên phần mềm mà bản thân phần mềm thay đổi dẫn đến việc đào tạo của bộ môn cũng phải thay đổi theo.

+ Do liên tục ra đời các sản phẩm mới dẫn đến trong thực tế tồn tại nhiều sản phần mềm khác nhau người dạy buộc phải lựa chọn phần mềm nào để giảng dạy sao cho đáp ứng được mục tiêu của môn học đáp ứng được yêu cầu của xã hội.

2. Sự cần thiết phải cập nhật đổi nội dung và phương pháp giảng dạy môn Tin học đại cương:

Đỗ Quang Vinh (chủ biên) (2010), Tin học đại cương, xuất bản lần 3, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

http://www.pcworld.com.vn/

Phần mềm Hệ điều hành Microsoft Windows và phần mềm Microsoft Office

Bạn đang đọc nội dung bài viết Skkn Một Số Phương Pháp Và Kĩ Năng Dạy Bài Thực Hành Ở Bộ Môn Sinh Học 6 / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!