Đề Xuất 12/2022 # Skkn Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trong Dạy Học Địa Lí Lớp 6 Ở Trường Thcs Hà Tân / 2023 # Top 16 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Skkn Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trong Dạy Học Địa Lí Lớp 6 Ở Trường Thcs Hà Tân / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Skkn Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trong Dạy Học Địa Lí Lớp 6 Ở Trường Thcs Hà Tân / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Lí do chọn đề tài: Nâng cao chất lượng dạy và học đã và đang là vấn đề bức thiết, được toàn xã hội quan tâm. Dạy và học phải đổi mới toàn diện về: nội dung, mục tiêu, phương pháp, phương tiện và các yêu cầu khác. Dạy học hiện nay là nhằm phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. Trong những năm gần đây, Nghị quyết Trung ương Đảng và các văn kiện của Nhà nước, của Bộ giáo dục và Đào tạo đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học. Trọng tâm của đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều, chủ yếu là bắt người học ghi nhớ kiến thức, sang lối dạy học tích cực có sự hướng dẫn, giúp đỡ của người dạy nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, tạo niềm vui và hứng thú trong học tập. Vậy làm thế nào để có một phương pháp giảng dạy linh hoạt, hấp dẫn người học, khơi gợi mong muốn học tập và tìm hiểu của người học. Qua thực tế giảng dạy ở trường Trung học cơ sở, tôi nhận thấy việc dạy học gắn liền với thực tiễn, sử dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp dạy học đáp ứng được những yêu cầu đó của người học. Ở bậc trung học cơ sở trong những năm qua, việc dạy học tích hợp, dạy học liên môn đã được thực hiện ở nhiều môn học như: Lịch sử, Địa lí, Hóa học, Sinh học, Giáo dục công dân.Trong đó, môn Địa lí là môn học gắn liền với các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội toàn cầu và vùng lãnh thổ. Vì vậy, môn Địa lí có nhiều thuận lợi để vận dụng kiến thức của những môn học khác vào giảng dạy. Việc dạy học liên môn góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nội dung bài học, giúp cho học sinh học bài với niềm say mê, hứng thú, giúp các em thấy yêu môn học hơn và không cảm thấy môn Địa lí là một môn khô khan, khó học. Với những lí do trên, từ thực tế giảng dạy môn Địa lí ở trường THCS Hà Tân- Huyện Hà Trung, tôi đã đúc rút được kinh nghiệm và mạnh dạn thử nghiệm đề tài: “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí lớp 6 ở trường THCS Hà Tân” 2. Mục đích nghiên cứu: Việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học chương trình Địa lí lớp 6 nhằm đạt được những mục đích sau: – Góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy và rèn luyện, bổ sung thêm kiến thức, kĩ năng cho giáo viên. – Làm đa dạng, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh chủ động học tập, khai thác kiến thức. – Góp phần tạo hứng thú môn học cho học sinh, đồng thời khắc sâu thêm kiến thức, phát huy tính tự giác, độc lập và sáng tạo của học sinh. -Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, hành vi và những thói quen lành mạnh, loại bỏ những thói quen tiêu cực, nhằm giải quyết những vấn đề mà xã hội đang quan tâm. 3. Đối tượng nghiên cứu: Để thực hiện đề tài trên, tôi chọn 2 lớp khối 6 trường THCS Hà Tân làm thí điểm. -Số lượng học sinh: 52 -Đặc điểm của học sinh: Các em học sinh đa phần là học sinh tiếp thu kiến thức còn chậm, rụt rè, ngại phát biểu. Vì vậy, khi chọn những đối tượng học sinh trên, tôi mong muốn với những đổi mới của mình về phương pháp sử dụng kiến thức liên môn sẽ làm tăng hứng thú của các em trong việc học tập Địa lí, giúp các em chủ động tìm tòi, khám phá, không còn e ngại đối với các môn xã hội như môn Địa lí 4. Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu nội dung này, tôi sử dụng một số phương pháp sau đây: – Phương pháp quan sát: Thường xuyên dự giờ của các đồng nghiệp nhằm quan sát và học hỏi thêm những kiến thức của các môn học khác cũng như cách vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy. – Phương pháp thực nghiệm: Đánh giá những kĩ năng của học sinh cũng như hiệu quả của phương pháp dạy học liên môn thông qua các bài tập, bài kiểm tra. II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học môn Địa lí nói riêng ở trường THCS. Đây được coi là một trong những phương pháp dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường. Dạy học liên môn là phương pháp tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các môn học với nhau, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có mối liên hệ với nhau. Ngay từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp trong việc xây dựng chương trình môn học. Dạy học liên môn đem lại nhiều hiệu quả cho cả người dạy lẫn người học. Dạy học có vận dụng kiến thức liên môn giúp cho giờ học sẽ trở nên sinh động hơn vì không chỉ có giáo viên trình bày mà học sinh cũng tham gia vào quá trình tiếp nhận kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực của học sinh. Dạy học liên môn cũng góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở học sinh, tạo cho học sinh thói quen tư duy độc lập, lập luận, tức là khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo. Sử dụng kiến thức liên môn được coi là nguồn tri thức quan trọng không thể thiếu trong dạy học Địa lí và được coi như tài liệu tham khảo. Mặt khác, sử dụng tốt kiến thức liên môn và gây hứng thú học tập cho học sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí nói riêng. Sử dụng kiến thức liên môn đảm bảo được tính toàn vẹn của kiến thức trên cơ sở sử dụng kiến thức của những môn học khác và ngược lại. Kiến thức liên môn còn giúp cho học sinh tránh được những lỗ hổng kiến thức khi tách rời các môn học khác. Nhờ đó, các em hiểu sâu sắc được kiến thức Địa lí và gây được hứng thú trong học tập cho học sinh, thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh đạt kết quả cao. Nếu hiểu được kiến thức thì các em sẽ hình thành được những kĩ năng như: phân tích, so sánh, nhận định, đánh giá và biết liên hệ kiến thức đã học vào cuộc sống. Như vậy, kiến thức liên môn là một nội dung rất quan trọng trong dạy học Địa lí nói riêng và dạy học ở trường trung học cơ sở nói chung. 2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN. Hiện nay, phần lớn giáo viên đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng quan điểm dạy học liên môn vào giảng dạy các môn học nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục. Qua các năm đổi mới phương pháp dạy học Địa lí, chất lượng dạy và học môn Địa lí đã không ngừng được nâng cao. Số lượng giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp ngày càng nhiều. Nhiều học sinh đã yêu thích môn Địa lí. Các giờ học Địa lí đã diễn ra sôi nổi, sinh động. Tuy vậy, việc dạy học Địa lí vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chất lượng dạy và học Địa lí vẫn chưa thật sự bền vững. Nhiều giờ học vẫn còn tẻ nhạt, học sinh vẫn chưa thật sự say mê, hứng thú. Thực trạng này theo tôi bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Thứ hai, về phía học sinh: Các em chịu áp lực nặng về việc ghi nhớ kiến thức, học không gắn với thực tiễn, với kiến thức của các môn học khác trong cùng cấp học. Thêm vào đó, tâm lí của đa số học sinh hiện nay là vẫn xem nhẹ môn Địa lí, coi đây chỉ là môn phụ. Do đó, dẫn đến lối học thụ động, ghi nhớ máy móc, nhàm chán, không yêu thích bộ môn. Để tìm hiểu thực trạng của vấn đề đang nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đối với học sinh các lớp 6A, 6B của trường THCS Hà Tân đầu năm học 2016 – 2017, trước khi tiến hành vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí. Kết quả như sau: Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 6A 26 1 3.8 7 27.0 14 53.8 4 15.4 0 0 6B 26 2 7.7 6 23.1 14 53.8 4 15.4 0 0 Những số liệu trên cho thấy chất lượng môn học chưa thật sự đáp ứng được mục tiêu giáo dục đề ra. Do vậy, bản thân tôi nhận thấy, việc đổi mới các phương pháp dạy học trên lớp phải gắn liền với việc tăng cường niềm say mê, hứng thú học tập của học sinh, giúp các em cố gắng đạt kết quả cao trong học tập. Trong đó, vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau trong dạy học Địa lí là phương pháp dạy học đem lại nhiều hiệu quả. Vì vậy, với đề tài này, không có tham vọng gì nhiều, tôi chỉ muốn đưa ra một số giải pháp cơ bản trong việc vận dụng kiến thức của một số bộ môn cụ thể để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học Địa lí 3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: 3.1 Cách vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí: Trong các bài học Địa lí, tùy vào từng bài học cụ thể, giáo viên có thể huy động nhiều kiến thức khác nhau của các bộ môn khác nhau vào dạy học nhưng phải đáp ứng được yêu cầu, mục đích đề ra. Các kiến thức của các môn học khác nhau có các tác dụng khác nhau. Việc sử dụng kiến thức của các môn học tự nhiên (Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học) để làm rõ tính chính xác của các quy luật, đi sâu vào bản chất của vấn đề mà giáo viên và học sinh đang nghiên cứu. Kiến thức của các môn học tự nhiên cũng giúp cho học sinh có được cái nhìn trực quan, khoa học về các vấn đề Địa lí, do đó mà các kiến thức Địa lí cũng được mô tả một cách sinh động hơn. Kiến thức về Văn học để tạo hứng thú học tập cũng như khơi gợi mong muốn tìm tòi, khám phá tri thức Địa lí cho học sinh thông qua các áng văn, vần thơ, qua các câu ca dao, tục ngữ. Sử dụng kiến thức môn Lịch sử nhằm tạo ra sự liên hoàn, tái hiện các hoàn cảnh Lịch sử của một giai đoạn, một đất nước để học sinh dễ dàng giải thích một sự vật, hiện tượng Địa lí nào đó. Vận dụng kiến thức môn Giáo dục công dân sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn những chủ trương, chính sách của Đảng, đồng thời để củng cố, kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh và khả năng vận dụng vào các tình huống cụ thể. Như vậy, kiến thức liên môn vừa có chức năng minh họa, vừa có chức năng là nguồn tri thức, nên trong dạy học Địa lí, giáo viên cần chú ý phát huy tốt các chức năng này. Vấn đề đặt ra là khi nào cần vận dụng kiến thức liên môn và vận dụng như thế nào để vừa tự nhiên, không miễn cưỡng, gượng ép, đảm bảo được đặc thù của bộ môn, vừa đảm bảo tính vừa sức, lồng ghép được các nội dung giáo dục vào trong các tiết dạy cụ thể để mang lại hiệu quả như mong muốn. Theo tôi, để việc vận dụng kiến thức liên môn có hiệu quả, giáo viên nên sử dụng theo ba cách sau: – Vận dụng kiến thức liên môn để vào bài, gây hứng thú học tập cho học sinh. Cách này có thể được thực hiện thông qua các đoạn văn, câu thơ, các câu chuyện lịch sử – Vận dụng kiến thức liên môn để minh họa hoặc giảng giải nội dung học tập. Khi dạy đến bài mới, kiến thức mới, ngoài phần nội dung mà sách giáo khoa trình bày, giáo viên có thể bổ sung thêm kiến thức của các môn học khác để mô tả hoặc làm rõ hơn các kiến thức Địa lí – Vận dụng kiến thức liên môn như một cơ sở để học sinh tìm tòi, khám phá kiến thức Địa lí dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bằng cách này, giáo viên sẽ hình thành và rèn luyện cho học sinh phương pháp học tập tư duy, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Nhìn chung, các bài học Địa lí trong chương trình Địa lí lớp 6 đều có thể vận dụng kiến thức của một hay nhiều môn học vào trong quá trình giảng dạy. Vấn đề là giáo viên cần biết kết hợp khéo léo, linh hoạt các cách vận dụng kiến thức liên môn như trên để bài học Địa lí trở nên phong phú, hấp dẫn, đạt được hiệu quả như mong muốn. 3.2 Những giải pháp cụ thể để vận dụng kiến thức liên môn trong chương trình Địa lí lớp 6. 3.2.1. Vận dụng kiến thức các môn khoa học tự nhiên: Môn Địa lí được xếp vào các môn khoa học xã hội. Tuy nhiên, khác so với các môn khoa học xã hội khác, môn Địa lí đòi hỏi học sinh phải có nhiều kĩ năng của các môn khoa học tự nhiên như: kĩ năng tính toán, đo đạc, định vị, so sánhNhiều kiến thức Địa lí cũng rất gần gũi với các môn khoa học tự nhiên như: kiến thức về Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học Bởi vậy Địa lí có mối quan hệ mật thiết với các môn khoa học tự nhiên. Các môn khoa học tự nhiên là những phép tính, những định luật, những phản ứng hóa học chính xác, giúp đi sâu tìm hiểu bản chất của sự vật và hiện tượng. Đồng thời bổ sung thêm những kiến thức Địa lí, giúp cho học sinh tìm hiểu và nhận định vấn đề chính xác, khách quan và khoa học hơn. Trong chương trình Địa lí lớp 6, học sinh được tìm hiểu các kiến thức về Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế xã hội, cũng như có rất nhiều kĩ năng mới mẻ mà học sinh sẽ được hình thành. Việc vận dụng kiến thức của các môn Toán, Lí, Hóa, Sinhsẽ giúp cho giáo viên truyền tải kiến thức chính xác hơn, đồng thời giúp cho quá trình tiếp nhận kiến thức của học sinh cũng chủ động, tích cực và dễ nhớ hơn. Có rất nhiều bài, nhiều mục, nhiều nội dung trong chương trình Địa lí lớp 6 có thể vận dụng được kiến thức của các môn khoa học tự nhiên. Cụ thể như sau: – Vận dụng kiến thức môn Toán: Kiến thức môn Toán đã được tích hợp trong nhiều môn học ở trường THCS nhằm nâng cao tính chính xác, khoa học, giúp học sinh dễ tiếp thu, tăng khả năng tư duy logic. Vận dụng kiến thức Toán học trong dạy học hiện nay đã trở thành xu thế phổ biến. Đối với môn Địa lí, kiến thức Toán học được cụ thể hóa ra thành các bài tập, bài thực hành, qua các kĩ năng tính toán, xử lí số liệu khi vẽ biểu đồ. Có nhiều bài tập trong chương trình Địa lí lớp 6 yêu cầu vận dụng kiến thức Toán học để giải quyết. Ví dụ ở bài 3 “ Tỉ lệ bản đồ” sau khi được học kiến thức ở trên lớp giáo viên yêu cầu học sinh vận dụng làm bài tập số 1 trong sách giáo khoa. Tỉ lệ bản đồ là 1: 2000 000 có nghĩa là 1cm trên bản đồ ứng với 2000 000cm hay ứng với 2km trên thực địa. Ví dụ ở bài 4 “ Phương hướng trên bản đồ. Kinh độ, vĩ độ và tọa độ địa lí” Dùng thước đo khoảng cách đường chim bay trên bản đồ từ trung tâm khách sạn Hải Vân đến khách sạn Thu Bồn là 5.5cm, từ khách sạn Hòa Bình đến sông Hàn là 4.0cm. Biết rằng tỉ lệ là 1:7500 .Vậy khoảng cách trên thực địa hai địa điểm trên là bao nhiêu mét? Bài giải Khoảng cách trên thực địa từ khách sạn Hải Vân đến Thu Bồn là: 5.5cm x 7500 =41 250cm = 412.5m Khoảng cách trên thực địa từ khách sạn Hòa Bình đến sông Hàn là: 4.0cm x7500 =30 000cm = 300m Bài 18 cách tính nhiệt độ trung bình tháng và trung bình năm? Giáo viên hướng dẫn học sing công thức tính: Nhiệt độ trung bình tháng = cộng trị số trung bình của nhiệt độ các ngày trong tháng rồi chia cho số ngày trong tháng Nhiệt độ trung bình năm = trị số trung bình cộng của các tháng trong năm rồi chia cho 12 tháng. – Vận dụng kiến thức môn Vật lí Môn Vật lí sẽ giúp cho giáo viên và học sinh tìm hiểu sâu hơn về các quy luật, bản chất của sự vật và hiện tượng địa lí. Tuy việc vận dụng cụ thể vào từng bài không nhiều, nhưng trong chương trình Địa lí lớp 6, giáo viên có thể tích hợp, lồng ghép các kiến thức Vật lí để khơi gợi mong muốn được tìm hiểu, khám phá tri thức của học sinh, hoặc để minh họa, khắc sâu hơn về một số đối tượng địa lí tự nhiên. Khi dạy bài 2 và bài 7 Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất, sau khi dạy xong về Hệ Mặt Trời, giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh: Lực nào giữ cho Trái Đất và các hành tinh chuyển động gần như tròn đều quanh Mặt Trời? Câu hỏi này sẽ kích thích khả năng tìm tòi, khám phá của học sinh. Và để cùng làm rõ câu hỏi trên, giáo viên hướng dẫn học sinh kết hợp các kiến thức Vật lí để tìm ra câu trả lời: Lực hấp dẫn giữa Mặt Trời và các hành tinh đã giữ cho Trái Đất và các hành tinh trong Hệ Mặt Trời chuyển động tròn đều xung quanh Mặt Trời. Trong bài 18-Thời tiết khí hậu và nhiệt độ không khí, giáo viên lại cần vận dụng kiến thức về nhiệt dung của đất và nước để làm rõ nguyên nhân hình thành gió biển và gió đất. Hãy giải thích tại sao mùa hạ ở những vùng gần biển không khí mát hơn trong đất liền, mùa đông những vùng gần biển không khí ấm hơn trong đất liền? Do đặc tính hấp thụ của đất và nước khác nhau. Mặt đất nóng lên nhanh và nguội nhanh hơn nước. Khi nước biển nóng lên thì bốc hơi, mà càng bốc hơi thì nhiệt độ càng giảm đi, vì hơi nước trong không khí hấp thụ bức xạ mặt trời làm giảm lượng bức xạ mặt trời tới mặt nước. Mặt khác có tới 60% nhiệt lượng trên các biển ở nhiệt đới chi cho việc bốc hơi nước. Do đó biển và đại dương nhiệt độ lên xuống chậm hơn trên đất liền. Kết quả là vào mùa hạ những miền gần biển có không khí mát hơn trên đất liền, ngược lại về mùa đông những miền gần biển ấm hơn trên đất liền vì những miền gần biển chịu ảnh hưởng của nhiệt độ không khí ở biển và đại dương. Vận dụng kiến thức môn Hóa học Kiến thức môn Hóa học có thể được vận dụng để minh họa hoặc làm rõ hơn kiến thức Địa lí. Ví dụ ở bài 13-phần địa hình cacxto và hang động, khi dạy về quá trình phong hóa hóa học, giáo viên dựa vào kiến thức môn Hóa học để mô tả thêm về quá trình hình thành các hang động ở núi đá vôi.. Cụ thể như sau: Sự xói mòn không phải cơ chế lực cơ học mà chủ yếu do khí điôxít cacbon (CO2) trong không khí hòa tan vào nước cộng với các ion dương của hyđrô (H+) tạo thành axít cacbonic. Axít cacbonic là thủ phạm chính trong quá trình ăn mòn đá vôi.Từ đó, giáo viên có thể khẳng định khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa là khu vực có quá trình phong hóa hóa học diễn ra mạnh mẽ nhất do có lượng nước dồi dào, nhiệt độ cao nên khả năng hòa tan CO2 vào nước rất lớn. Hay bài 15 Các mỏ khoáng sản giáo viên cần phân biệt cho học sinh đá với quặng. Đá được tạo nên chủ yếu từ 7 nguyên tố hóa học chính: ôxi, silic, nhôm, sắt, canxi,natri và kali. Thành phần và các nguyên tố hóa học tạo ra đá cũng khác nhau. Quặng được qui định hàm lượng giá trị công nghiệp của nguyên tố hóa học trong một khối lượng đá. – Vận dụng kiến thức môn Sinh học: Kiến thức môn Sinh học để bổ sung cho môn Địa lí tư

Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Khái Niệm Địa Lý Lớp 6 Ở Trường Thcs Ngọc Sơn / 2023

Thực tế giảng dạy đã cho tôi thấy rằng càng ở những học sinh nhỏ tuổi thì giáo viên càng phải vận dụng phương pháp mô tả nhiều hơn. Nhưng trong thực tế có rất nhiều giáo viên khi giảng dạy Địa lí còn coi thường phương pháp mô tả hoặc ngại mô tả. Vì m” tả được đối tượng Địa lí một cách sinh động thì đòi hỏi bản thân người giáo viên đó phải có khái niệm chính xác về đối tượng đó và giáo viên phải biết cách trình bày và diễn đạt bằng lời sao cho thật hấp dẫn, cuốn hút, hợp với trình độ của học sinh từ đó làm cho các em hình dung được đối tượng địa lí và tiếp nhận nó một cách đơn giản hơn.

Một điểm cần lưu ý nữa trong quá trình giảng dạy Địa lí là không chỉ giáo viên cần phải mô tả đối tượng Địa lí mà giáo viên cần tập cho học sinh biết mô tả đối tượng Địa lí để tăng cường tính chính xác và thực tế của các khái niệm địa lí. Trong quá trình mô tả, giáo viên cần phải chú ý và tìm ra được các thuộc tính cơ bản, các dấu hiệu bản chất của các sự vật và hiện tượng Địa lí.

inh từ 3 - 5 khái niệm chính và phụ là vừa. Khái niệm chính là những khái niệm mà học sinh cần nắm vững, giáo viên cần truyền thụ cho học sinh một cách chắc chắn và chính xác. Còn khái niệm phụ là những khái niệm mà học sinh cần nắm ở mức độ thấp hơn để làm cơ sở hiểu khái niệm chính hoặc để mở rộng sự hiểu biết về khái niệm chính. Những khái niệm phụ có thể còn được cñng cố ở những bài khác để trở thành khái niệm chính hoặc cũng có thể không được nhắc lại, học sinh có thể quên đi nhưng vẫn hiểu được do đã nắm vững các khái niệm chính. Do vậy nên khi dạy một bài học Địa lí thì giáo viên cần phải xác định rõ đâu là khái niệm chính, đâu là khái niệm phụ để trong quá trình truyền thụ kiến thức học sinh nắm vững được yêu cầu của bài và giáo viên cũng thực hiện được bài dạy đạt kết quả cao. Một vấn đề đặt ra ở đây là khi ở nhà thời gian học tập của học sinh miÒn nói nói chung và huyện Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn nói riêng sẽ không nhiều. Phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của con cái, học sinh còn ham chơi, lười học, chưa tự giác trong việc học tập, coi môn Địa lí chỉ là môn phụ... Vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên phải biết lựa chọn nội dung và phương pháp sao cho phù hợp nhất. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 1. Thực tiễn khảo sát trước khi áp dụng: Qua quá trình giảng dạy và tham gia dự giờ cùng với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp ở trong tổ chuyên môn, tôi nhận thấy việc giảng dạy Địa lí ở trường THCS trong địa bàn huyện, đặc biệt là ở trường THCS Ngọc Sơn chưa đạt được kết quả cao, vì chủ yếu giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Học sinh chưa làm quen và thích nghi được với cách học nhanh ở cấp 2, ghi chép chậm, chưa chủ động tiếp thu kiến thức và chưa biết kết hợp các giác quan trong quá trình học tập và lĩnh hội kiến thức (Tai nghe, mắt nhìn, tay ghi, đầu suy nghĩ ) Chính vì nguyên nhân trên dẫn đến tâm lý học sinh không hứng thú, say mê học tập, các em không thấy được vai trò, vị trí của mình trong quá trình giải quyết các đơn vị kiến thức, tiếp nhận các kiến thức một cách thụ động. Tổng số học sinh được khảo sát: 65 em ( Lớp 6A1 và 6A2 ) Số lượng, tỷ lệ Xếp loại Số lượng HS Tỉ lệ % Giỏi 4 6,2 Khá 17 26,2 Trung bình 35 53,8 Yếu 9 13,8 2. Nguyên nhân, thực trạng: Qua thực tiễn khảo sát chất lượng giảng dạy và học tập môn Địa lí lớp 6 ở trường THCS Ngọc Sơn, nguyên nhân dẫn đến kết quả giảng dạy môn Địa lý chưa đạt được hiệu quả cao vì trong quá trình giảng dạy giáo viên còn sử dụng nhiều phương pháp dạy học truyền thống( đọc - chép) học sinh phải ghi chép nhiều, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp thu và lĩnh hội kiến thức. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa có sự sáng tạo và chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp nên khi giảng dạy không sinh động và không gây được hứng thú cho học sinh, dẫn đến khả năng tiếp thu bài và ham thích môn học chưa được cao. Khi đảm nhận nhiệm vụ công tác giảng dạy tại trường THCS Ngọc Sơn tôi nhận thấy: Muốn giảng dạy Địa lí đạt kết quả cao thì giáo viên cần phải đưa ra được các phương pháp phù hợp nhằm giúp học sinh thu thập, tổng hợp và xử lí thông tin một cách chính xác, khoa học. Để hình thành và khắc sâu được khái niệm Địa lí cho học sinh lớp 6, tôi xin được đưa ra một số "Kinh nghiệm sử dụng phương pháp dạy học khái niệm Địa lí lớp 6 ở trường THCS Ngọc Sơn" của mình để các bạn đồng nghiệp tham khảo và góp ý kiến. 3. Phương pháp ¸p dụng: a. Phương pháp dùng lời: Từ trước đến nay, trong dạy học Địa lí phương pháp dùng lời (kết hợp với chữ viết) vẫn được coi là một trong những phương pháp chính để chỉ đạo học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng Địa lí, đặc biệt là khâu nắm kiến thức mới. Lời ở đây chủ yếu là lời của giáo viên để mô tả, giải thích các sự vật, hiện tượng Địa lí, phân tích các mối quan hệ nhân quả Địa lí. Khi sử dụng các phương pháp dùng lời như đàm thoại, giảng thuật, giảng giải... Giáo viên cần nêu ra các câu hỏi, các bài tập ngắn và yêu cầu học sinh quan sát. Từ đó tạo cho học sinh ý thức chủ động tiếp nhận kiến thức mới. * Ví dụ 1: Muốn hình thành cho học sinh khái niệm "Vĩ tuyến Bắc" và "Vĩ tuyến Nam", trước hết giáo viên phải cho học sinh tự nhớ lại khái niệm đường Xích đạo và sau đó giáo viên nêu ra câu hỏi: Thế nào là vĩ tuyến Bắc, vĩ tuyến Nam? Và kết hợp với phương pháp trực quan ( Cho HS quan sát quả địa cầu hoặc bản đồ ). Từ đó giúp HS dễ dàng hình thành khái niệm hơn. * Ví dụ 2: Muốn hình thành cho học sinh khái niệm "Núi" thì giáo viên phải cho học sinh biết được độ cao tuyệt đối của núi, các bộ phận của núi, hình dạng của núi từ đó học sinh sẽ rút ra được kiến thức cần ghi nhớ. * Ví dụ 3: Muốn hình thành cho học sinh khái niệm "Bình nguyên" thì giáo viên phải cho học sinh biết hình dạng, bề mặt và độ cao tuyệt đối của bình nguyên, kết hợp với phương pháp trực quan ( Cho HS quan sát mô hình Cao nguyên và Bình nguyên ). Từ đó học sinh sẽ rút ra được kiến thức cần ghi nhớ. b. Phương pháp tạo biểu tượng Địa lí cho học sinh: Như chúng ta đã biết, vốn hiểu biết của học sinh lớp 6 còn rất ít và hạn chế, những điều các em được thấy, được nghe hoàn toàn mới mẻ. Nhiều sự vật hiện tượng Địa lí tự nhiên các em vẫn thường gặp hàng ngày nhưng vì chưa chú ý quan sát, tìm hiểu nên không hình dung ra được, chưa nói gì đến các sự vật và hiện tượng xa lạ các em chưa nghe nói đến bao giờ. Chính vì vậy giáo viên phải chú trọng đến việc hình thành cho các em những biểu tượng về Địa lí và chủ động linh hoạt để tiếp nhận kiến thức. Điều thường xảy ra đối với nhiều học sinh học Địa lí là các em có thể biết rất nhiều thuộc tính cơ bản của các khái niệm, nhưng lại không hiểu bản chất của các khái niệm. * Ví dụ: Khi hình thành khái niệm "Bình nguyên hoặc Cao nguyên" thì trước hết giáo viên phải hướng dẫn các em quan sát mô hình Cao nguyên và Bình nguyên để học sinh biết được độ cao tuyệt đối, hình dạng và bề mặt địa hình của hai dạng địa hình này, nhưng chưa bao giờ các em có biểu tượng chính xác về chúng bởi vì nhiều em chưa được nhìn thấy chúng kể cả trên tranh ảnh và băng hình bao giờ. Những khái niệm được hình thành trên cơ sở như vậy thì có thể coi là chưa hoàn toàn chính xác và cũng không có giá trị nhiều về thực tế địa phương. Và còn nguyên nhân nữa làm cho các em yếu kém về kĩ năng đọc bản đồ, chính là vì các em không có đủ biểu tượng để hiểu hết ý nghĩa của các nước, các kí hiệu ghi trên bản đồ. Vậy thì trong quá trình giảng dạy Địa lí, việc quan sát trực tiếp sẽ có thể được thay bằng cách cho học sinh quan sát tranh ảnh, mô hình, băng hình, máy chiếu ... Tất nhiên với hình thức này thì nhận thức của học sinh sẽ kém sâu sắc hơn. Thực tế giảng dạy đã cho tôi thấy rằng càng ở những học sinh nhỏ tuổi thì giáo viên càng phải vận dụng phương pháp mô tả nhiều hơn. Nhưng trong thực tế có rất nhiều giáo viên khi giảng dạy Địa lí còn coi thường phương pháp mô tả hoặc ngại mô tả. Vì m" tả được đối tượng Địa lí một cách sinh động thì đòi hỏi bản thân người giáo viên đó phải có khái niệm chính xác về đối tượng đó và giáo viên phải biết cách trình bày và diễn đạt bằng lời sao cho thật hấp dẫn, cuốn hút, hợp với trình độ của học sinh từ đó làm cho các em hình dung được đối tượng địa lí và tiếp nhận nó một cách đơn giản hơn. Một điểm cần lưu ý nữa trong quá trình giảng dạy Địa lí là không chỉ giáo viên cần phải mô tả đối tượng Địa lí mà giáo viên cần tập cho học sinh biết mô tả đối tượng Địa lí để tăng cường tính chính xác và thực tế của các khái niệm địa lí. Trong quá trình mô tả, giáo viên cần phải chú ý và tìm ra được các thuộc tính cơ bản, các dấu hiệu bản chất của các sự vật và hiện tượng Địa lí. * Ví dụ 1: Khi mô tả về "Hồ" thì gi¸o viªn nên tìm ra các dấu hiệu bản chất cơ bản của hồ là: - Là vùng đất trũng. - Có chứa nước. - Nằm trong nội địa. Sau đó giáo viên liên kết các dấu hiệu bản chất đó lại với nhau để đi đến khái niệm. Do đó kết luận phải ngắn gọn, chính xác, khoa học. * Ví dụ 2: Khi khái niệm về "Xích đạo" thì phải nêu lên được: Xích đạo là vĩ tuyến lớn nhất và là vĩ tuyến gốc chia quả địa cầu thành hai nửa cầu bằng nhau. * Ví dụ 3: Khi khái niệm về "Hệ thống sông" thì giáo viên phải cho học sinh quan sát, mô tả được mô hình hệ thống sông, lưu vực sông, yêu cầu học sinh phải xác định được trên mô hình đâu là dòng sông chính, phụ lưu và chi lưu. Từ đó học sinh mới hiểu chính xác hơn về khái niệm "Hệ thống sông" c. Phương pháp định nghĩa: Định nghĩa là phương pháp, là cách thức thông thường nhất để làm sáng tỏ nội dung của khái niệm Địa lí. Định nghĩa là con đường ngắn nhất, dễ hiểu nhất để nêu lên được các dấu hiệu bản chất của các khái niệm Địa lí. * Ví dụ: Khái niệm về "bờ biển", giáo viên có thể định nghĩa: Là dãi đất tiếp xúc với mép nước biển và chịu tác động qua lại giữa biển và đất liền. Hoặc khái niệm về "đối lưu" thì giáo viên có thể định nghĩa: Là sự vận động của các chất lỏng hoặc các chất khí thành dòng lên xuống theo chiều thẳng đứng. d. Phương pháp so sánh: Là phương pháp nêu lên được sự giống và khác nhau về đặc tính, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng Địa lí. Nếu trong quá trình giảng dạy giáo viên biết sử dụng tốt phương pháp so sánh thì nhiều khái niệm Địa lí sẽ hình thành cho học sinh một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này thì buộc giáo viên phải nắm rõ được các đặc tính, đặc trưng thuộc về bản chất cơ bản của các sự vật hiện tượng Địa lí. * Ví dụ1: Khi hình thành khái niệm về "năm lịch", "năm thiên văn", "năm nhuận" thì giáo viên cần phải so sánh cho học sinh được: - Năm lịch: Là năm có 365 ngày chẵn. - Năm thiên văn: Là năm có 365 ngày 6 giờ. - Năm nhuận: Là năm có 366 ngày. * Ví dụ2: Khi hình thành khái niệm "bình nguyên" ( đồng bằng), "cao nguyên" và "đồi" thì giáo viên cần so sánh cho học sinh được: - Độ cao tuyệt đối và tương đối của mỗi dạng địa hình. - Bề mặt địa hình của mỗi dạng địa hình - Giá trị kinh tế của mỗi dạng địa hình. Từ đó học sinh sẽ dễ dàng hình thành được khái niệm về bình nguyên ( đồng bằng ), cao nguyên và đồi. e. Phương pháp giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề không chỉ thuộc phạm trù, phương pháp mà trở thành mục đích của việc dạy học được cụ thể hóa thành một thành tố của mục tiêu và năng lực giải quyết vấn đề. Đây chính là phương pháp quan trọng giúp học sinh chủ động, sáng tạo lĩnh hội kiến thức để hướng tới sự phát triển của xã hội tương lai. Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học đặt ra trước học sinh các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết đưa học sinh vào tình huống có vấn đề. Kích thích các em tự học, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề. Mấu chốt của việc dạy học giải quyết vấn đề là giáo viên phải tạo ra các tình huống có vấn đề phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. Tình huống mà giáo viên đưa ra không được quá dÔ hoặc quá khó. Vì như vậy sẽ không đưa lại sự ham muốn giải quyết vấn đề cho học sinh. * Ví dụ: Giáo viên muốn học sinh hiểu biết được khái niệm "nửa cầu Bắc", "nửa cầu Nam" thì giáo viên phải nêu vấn đề cho học sinh: Vì sao Trái đất được chia thành hai bán cầu? Từ câu hỏi này buộc học sinh phải nhớ lại khái niệm Đường xích đạo rồi từ đó mới trả lời được câu hỏi trên. g. Phương pháp tham quan: Để thực hiện tốt phương pháp dạy học tham quan trong nhà trường THCS, mỗi giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt tùy vào điều kiện cơ sở vật chất của từng nhà trường mà ứng dụng vào giảng dạy để nâng cao nhận thức về các sự vật hiện tượng Địa lí cho các em. Trong tiến trình giảng dạy giáo viên muốn học sinh nâng cao khả năng nhận thức về các môi trường địa lí bên ngoài và kích thích lòng say mê, hứng thú học hỏi của các em về môn Địa lí thì giáo viên nên cho học sinh đi thực tế, tham quan để các em được nhìn nhận và đánh giá các sự vật hiện tượng cụ thể hơn, dễ dàng hơn. * Ví dụ 1: Khi dạy khái niệm về "sông" giáo viên ngoài việc nêu ra các dấu hiệu bản chất của sông là : - Dòng chảy thường xuyên. - Tương đối ổn định. - Trên bề mặt lục địa. Giáo viên cần cho học sinh đi tham quan thực tế ở địa phương vì ë gÇn địa phương x· Ngäc S¬n có sông Cầu Chày chảy qua. Mặc dù đây là sông nhỏ nhưng qua thực tế học sinh cũng có thể hiểu và nắm được khái niệm sông một cách tốt hơn. Vì '' lí thuyết không bằng thực tiễn'' hay ''trăm nghe không bằng một thấy'' đúng như lời ông cha ta đã dạy. * Ví dụ 2: Khi dạy về khái niệm "ngoại lực" giáo viên ngoài việc nêu ra các dấu hiệu bản chất của ngoại lực là : - Lực sinh ra ở bên ngoài. - Trên bề mặt Trái đất. - Tác động của nó thiên về san bằng, hạ thấp địa hình. Giáo viên cần cho học sinh đi tham quan thực tế địa hình do tác động của ngoại lực ở địa phương Ngọc Sơn, vì gần trường có dạng địa hình do tác động của ngoại lực đó là do mưa hay dòng nước chảy. Mặc dù đây là dạng địa hình nhỏ trong phạm vi hẹp, nhưng qua thực tế học sinh sẽ hiểu được tác động của ngoại lực trong việc hình thành địa hình bề mặt Trái đất và dễ dàng tiếp thu kiến thức hơn. 4. Thực tiễn khảo sát sau khi dùng kinh nghiệm sử dụng phương pháp dạy học khái niệm Địa lí lớp 6: Sau khi áp dụng thành công kinh nghiệm sử dụng phương pháp dạy học khái niệm địa lí lớp 6 ở học kì I năm học 2013- 2014 kết quả đạt được rất khả quan. Tổng số học sinh được khảo sát khối 6 học kì I năm học 2013 - 2014 là 51 em ( Lớp 6A1 và 6A2 ). Kết quả đạt được là : Số lượng, tỷ lệ Xếp loại Số lượng HS Tỉ lệ % Giỏi 5 9,8 Khá 20 39,2 Trung bình 23 45,1 Yếu 3 5,9 Sau khi tiếp tục áp dụng kinh nghiệm dạy học này giữa kỳ II năm học 2013 - 2014 kết quả đạt được như sau: ( tổng số học sinh khối 6 được khảo sát ở giữa học kỳ II năm học 2013 - 2014 là 51 em ) Số lượng, tỷ lệ Xếp loại Số lượng HS Tỉ lệ % Giỏi 7 13,7 Khá 21 41,2 Trung bình 22 43,1 Yếu 1 2,0 Từ kết quả khảo sát trên cho ta thấy rõ ưu điểm của việc đưa ra "Kinh nghiệm sử dụng phương pháp dạy học khái niệm Địa lý lớp 6" mà tôi đã đề xuất ở trên. Với những kinh nghiệm này tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho giáo viên và học sinh. Không chỉ giáo viên cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng trong từng tiết dạy mà còn có điều kiện kiểm soát được hoạt động của lớp của học sinh. Giáo viên chỉ đóng vai trò chủ đạo, còn học sinh sẽ cảm thấy hứng thú, say mê, chủ động tiếp nhận kiến thức, từ đó các em hình thành được các khái niệm một cách dễ dàng. PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ , ĐỀ XUẤT 1. Kết luận: Căn cứ vào kết quả thực nghiệm giảng dạy khái niệm Địa lí cho học sinh lớp 6 ở trường THCS Ngọc Sơn, cùng với sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm. Trong lĩnh vực này thì tôi thấy rằng: Việc đưa ra kinh nghiệm sử dụng phương pháp dạy khái niệm Địa lí lớp 6 là một kinh nghiệm dạy học tích cực phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Các em hoàn toàn chủ động trong quá trình nhận thức, lĩnh hội kiến thức, giáo viên đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn học sinh hình thành khái niệm Địa lý. Vận dụng kinh nghiệm sử dụng phương pháp dạy học khái niệm Địa lí lớp 6 vào trong giảng dạy thì giáo viên có điều kiện quán xuyến lớp học được tốt hơn, đồng thời giáo viên dÔ dàng quan sát được năng lực nhận thức của học sinh để từ đó khuyến khích các em phát huy ưu điểm và giúp các em sửa chữa khuyết điểm. Sử dụng phương pháp dạy học khái niệm Địa lí lớp 6 vào trong giảng dạy sẽ giúp các em được quan sát, tiếp thu nhiều hơn các sự vật hiện tượng Địa lí, để từ đó các em có được các khái niệm Địa lí một cách chính xác hơn, khoa học hơn. Ngoài ra còn giúp cho các em hình thành các kỹ năng, kỹ xảo được tốt hơn. 2. Kiến nghị, đề xuất: Hàng năm nên tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn phương pháp dạy học tiên tiến cho giáo viên để không bị tụt hậu và trình độ nghiệp vụ được nâng cao hơn nữa. Vì tôi nghĩ xã hội thì luôn vận động và phát triển, người giáo viên muốn dạy tốt phải có trình độ phù hợp với xã hội hiện đại. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ngọc sơn, .... tháng 4 năm 2014 XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ HIỆU TRƯỞNG Phạm Ngọc Loan Ngọc sơn, 10 tháng 4 năm 2014 CAM KẾT KHÔNG COPY Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN Đỗ Mạnh Cường Ý kiến đánh giá, nhận xét của HĐKH Trường THCS Ngọc Sơn. ................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... ................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................................................................................................................................. ................................................................................................................................. Ý kiến đánh giá, nhận xét của HĐKH Phòng GD & ĐT Ngọc Lặc. .................................................................................................................................................................................................................................................................. .......................................................................................................................................................................................................................................

Skkn Vận Dụng Phương Pháp Thảo Luận Nhóm Trong Việc Giảng Dạy Môn Gdcd Ở Thpt / 2023

TRƯỜNG THPT THIỆU HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Người thực hiện: Thiều Thị Hà Tổ: Sử – Địa – GDCD (Thuộc lĩnh vực chuyên môn GDCD) Năm học 2018 – 2019 Mở đầu…Trang 2 Nội dung…Trang 3 Kết luận…Trang 10 I. Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Dạy học là một quá trình cung cấp tri thức và định hướng năng lực của học sinh. Tuy nhiên, việc học môn GDCD chỉ mang tính đối phó chứ không phải học vì đam mê hoặc học để thi Đại học. Để khắc phục khó khăn này đòi hỏi giáo viên cần tìm tòi những phương pháp, kỹ thuật dạy học kích thích được đam mê, sáng tạo của học sinh. 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở thực tiễn tôi chọn phương pháp nghiên cứu lý thuyết như là phương pháp giả thuyết ( phương pháp đề xuất và kiểm chứng giả thuyết), phương pháp nghiên cứu thực tiễn như phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thực nghiệm khoa học II. Nội dung 1. Cơ sở lí luận Phương pháp rất quan trọng trong quá trình dạy học, giúp người dạy chuyển tải kiến thức và người học lĩnh hội kiến thức. Không có một phương pháp hay kĩ thuật dạy học vạn năng, mà chỉ có sự kết hợp hài hòa giữa các phương pháp và kĩ thuật, khi nào sử dụng phương pháp hay kĩ thuật dạy học nào là cơ bản. Với chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn hiện nay thì đổi mới phương pháp dạy học để phát huy năng lực người học luôn được nói nhiều và được thầy cô nỗ lực thực hiệ trong giảng dạy. Là môn học mang tính ứng dụng xã hội cao, gắn liền với thực tiễn cuộc sống, gắn liền với tư tưởng, tình cảm hằng ngày của các em học sinh, phù hợp cho việc định hướng nghề nghiệp, học nghề, đại học, cao đẳng hay lao động, hoạt động xã hội, môn GDCD cung cấp cho học sinh những kiến thức, những phương pháp luận để xem xét, phân tích những hiện tượng tự nhiên và xã hội xảy ra xung quanh; trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về các giá trị của con người Việt Nam thời kì CNH, HĐH; những hiểu biết về chủ nghĩa xã hội, về nhà nước xã hội chủ nghĩa, về các định hướng phát triển kinh tế – xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, Nhà nước và xã hội. Với chuỗi kiến thức này rất cần được chuyển tải mềm mại và thuyết phục. Tăng cường sự tự nhận thức của học sinh để các em chủ động vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. “Chiến lược phát triển Giáo dục2001 – 2010” đã vạch ra phương hướng đổi mới giáo dục là “Đổi mới theo phương hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới; đồng thời thích ứng với các nhu cầu nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế – xã hội của đất nước” với những nội dung đổi mới chính như: đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục 2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.1.Thuậnlợi  -Xu hướng toàn cầu hóa, việc sử dụng công nghệ phổ cập là một thuận lợi để các em hoạt động nhóm, khai thác thông tin nhanh, phong phú. 2.2.Khó khăn  Một là, các em ở độ tuổi 16 đến 18 tuổi, đặc điểm tâm, sinh lí đang hoàn thiện, nhận thức chưa đầy đủ, vốn sống và sự hiểu biết còn hạn chế. Hai là, môn học chưa theo khối nào, mới chỉ 3 năm trở lại đây, là môn trong tổ hợp Khoa học xã hội thi tốt nghiệp THPT, mới có một vài khoa, ngành của một số trường dùng làm môn trong nhóm tổ hợp xét tuyển nên nhiều học sinh quan niệm còn lệch lạc, không chú ý nhiều đến môn học. Ba là, phương pháp dạy học mới nên không tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng , nội dung kiến thức của giáo viên và học sinh. Năm là, ngoài kĩ năng sư phạm truyền thống, giáo viên cần có thêm nhiều kĩ năng mềm khác. Bảy là, cách chọn nhóm trưởng: Nhóm trưởng thường do giáo viên chọn một học sinh khá trong nhóm chuyên trách, không có sự luân phiên giữa các thành viên trong nhóm.  Bước4: Giáo viên tổng kết các ý kiến.  2.3.2.Yêu cầusư phạm:  – Có nhiều cách chia nhóm, giáo viên có thể chia theo số điểm danh, theo tổ, theo vị trí ngồi . các nhóm  – Giáo viên nên chọn luân phiên từng học sinh làm nhóm trưởng, để đại diện cho  * Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:  – Giáo viên: Trước khi đến lớp cần chuẩn bị:  + Mục tiêu hoạt động nhóm của bài học này  + Nên chia lớp ra làm mấy nhóm?  + Hoạt động này cần bao nhiêu thời gian?  + Thiết bị cần dùng là những thiết bị gì?  -Học sinh:  + Thuộc bài cũ và chuẩn bị bài mới.  * Cách thực hiện : Để phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế, những điểm khó của  – Sự thành công của một tiết học phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy  + Ví dụ1: CON NGƯỜI LÀ CHỦ THỂ CỦA LỊCH SỬ, LÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI (tiết 1 GDCD lớp 10) b. Con người là chủ thể sáng tạo nên các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội. Cách thực hiện: chia học sinh làm 4 nhóm, mỗi nhóm một phương hướng để  NHÓM 1 – 3: Vì sao nói con người là chủ thể sáng tạo nên các giá trị vật chất của xã hội? Em hãy nêu một vài ví dụ.  NHÓM 2 – 4 :Tại sao nói con người là chủ thể sáng tạo ra các giá trị tinh thần của xã hội? Em hãy nêu một vài ví dụ. Cách thực hiện: chia học sinh làm 4 nhóm, mỗi nhóm một phương hướng để  Nhóm 1: Vì sao cần làm cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh  giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân?  Nhóm 2: Làm thế nào để kế thừa và phát huy những di sản và truyền thống văn  hóa của dân tộc? Kể tên một số di sản và truyền thống văn hóa của dân tộc?  Nhóm 3: Phải tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại như thế nào? Vì sao phải  tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại? Cho ví dụ?  Nhóm 4: Làm thế nào để nâng cao hiểu biết và mức hưởng thụ văn hóa, phát huy tiềm năng sáng tạo văn hóa của nhân dân? Ví dụ?  +Ví dụ 3: QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO (tiết 1, GDCD 12)  Cách thực hiện: chia học sinh làm 4 nhóm, mỗi nhóm một phương hướng để  Nhóm 1: Bình đẳng về chính trị giữa các dân tộc Việt Nam đều được thể hiện như thế nào? Ví dụ. Nhóm 2: Bình đẳng về kinh tế giữa các dân tộc Việt Nam đều được thể hiện như thế nào? Ví dụ . Nhóm 3: Bình đẳng về văn hoá, giáo dục giữa các dân tộc Việt Nam đều được thể hiện như thế nào? Ví dụ . Nhóm 4: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam có ý nghĩa như thế nào? + Chia nhóm theo sở trường: cách chia này thường được tiến hành trong các buổi học tập ngoại khoá hoặc trao đổi một vấn đề cần mở rộng, mỗi nhóm sẽ gồm các học sinh có cùng chung sở thích, hứng thú. Giáo viên sẽ giao nhiệm vụ cho các nhóm thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, có thể giao nhiệm vụ làm ở ngoài giờ học, phải quay phim, chụp hình 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. 2.4.1. Những kinh nghiệm rút ra: * Ưu điểm: – Đối với giáo viên: Chuẩn bị nội dung câu hỏi cho học sinh rõ ràng, ngắn gọn, có trọng tâm. Câu hỏi đã chuẩn bị ghi sẵn trên giấy khổ lớn cho từng nhóm và có hệ thống câu hỏi trên bảng phụ hoặc chiếu trên màn hình, có sự phân công cụ thể mà không bị nhầm lẫn. -Đối với học sinh: +Chuẩn bị đồ dùng hoạt động nhóm, phân công người viết bảng phụ ngắn gọn, rõ ràng, người trình bày rèn luyện kĩ năng dạn dĩ khi đứng trước tập thể. +Qua hoạt động nhóm giúp các em thói quen làm việc tập thể, mạnh dạn đưa ra ý kiến cá nhân, khả năng nhận xét, đánh giá về két quả làm việc nhóm bạn để rút ra bài học. Học sinh hứng thú với kiến thức mình làm chủ, được khắc sâu và tự nhận thức. *Hạn chế: -Với giáo viên: +Do thời gian có hạn nên khi kết luận có thể vội, có khi ham kiến thức, không kịp giờ. +Khi gọi đại diện nhóm lên trình bày thường gọi những em học sinh khá, những em còn lại thường nhút nhát, không trình bày vấn đề được. -Với học sinh: Nhiều em chưa mạnh dạn, đùn đẩy trách nhiệm cho nhóm trưởng trình bày và phát biểu ý kiến. 2.4.2. Kết quả đạt được: * Với học sinh: – Khoảng 60 % đến 70% ở lớp 10, 11, lớp 12 đến hơn 85% học sinh có khả năng trình bày, diễn đạt trước lớp, giúp phong trào học tập của các em tích cực chủ động, phát biểu sôi nổi trong giờ học. *Với giáo viên: – Hình thành được bài giảng chủ động, phù hợp với nội dung, kiểu bài lên lớp theo phương pháp dạy học mới. Bảng thống kê số lượng học sinh tham gia hoạt động nhóm hiệu quả và chưa hiệu quả: Lớp 10 Stt Lớp Sĩ sô Tỷ lệ Tỷ lệ 1 10 G 42 32 76,2% 10 23,8% 2 10 H 41 25 61% 16 39% 3 10 I 45 28 62,3 17 37,7 Lớp 11 Stt Lớp Sĩ sô Tỷ lệ Tỷ lệ 1 11I 42 30 71,5% 12 28,5% 2 11E 42 30 71,5% 12 28,5% 3 11D 41 30 73,2% 11 26,8% Lớp 12 Stt Lớp Sĩ sô Tỷ lệ Tỷ lệ 1 12A 42 36 92,9% 3 7,1% 2 12C 33 30 91% 3 9% 3 12E 45 40 88,9% 5 11,1% III. Kết luận 1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng SKKN của bản thân Qua thực tiễn giảng dạy bản thân tôi đã rút ra được những kinh nghiệm từ việc áp dụng

Skkn Vận Dụng Các Phương Pháp, Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Môn Hoá Học Phổ Thông / 2023

TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN HOÁ HỌC PHỔ THÔNG. Người thực hiện: Phạm Tuấn Hậu Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc môn: Hoá Học THANH HÓA NĂM 2017 MỤC LỤC 1. Mở đầu 3 1.1. Lí do chọn đề tài 3 1.2. Mục đích nghiên cứu 3 1.3. Đối tượng nghiên cứu 3 1.4. Phương pháp nghiên cứu 3 1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 3 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 4 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 4 2.2.1. Thực trạng chung về học sinh 4 2.2.2. Thực tế vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong nhà trường 4 2.3. Các SKKN hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.3.1. Vận dụng phiếu học tập kết hợp tổ chức hoạt động nhóm 5 2.3.2. Kỹ thuật khăn phủ bàn và hoạt động nhóm 8 2.3.3. Hoạt động nghiên cứu bài học chuyên sâu 8 2.3.4. Quan sát thí nghiệm, giải thích hiện tượng 9 2.3.5. Sử dụng hình ảnh, hoá chất, vật liệu trực quan 10 2.3.6. Tổ chức kiểm tra vấn đáp học sinh theo tương tác GV-HS, HS-HS 12 2.3.7. Tổ chức trò chơi ô chữ 14 2.3.8. Kỹ thuậy dạy học theo sơ đồ tư duy 16 2.3.9. Hoạt động dã ngoại tìm hiểu kiến thức thực tế 18 2.4. Hiệu quả của SKKN 19 2.4.1. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục 19 2.4.2. Hiệu quả của SKKN đối với bản thân, đồng nghiệp, nhà trường 19 3. Kết luận và kiến nghị 19 3.1. Kết luận 19 3.2. Kiến nghị 20 1. Mở đầu 1.1. Lý do chọn đề tài. Trong quá trình giảng dạy, người thầy luôn phải đặt ra cái đích, đó là giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo, tạo thái độ và động cơ học tập đúng đắn để học sinh có khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế của thời đại và giải quyết phù hợp các vấn đề nảy sinh. Đặc biệt và cơ bản nhất là thay đổi phương pháp giảng dạy. Thay đổi phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống sang phương pháp dạy – học tích cực, phát huy tính chủ động nghiên cứu tìm tòi kiến thức của học sinh. Làm thay đổi nhận thức về vai trò của thầy và trò trong quá trình dạy và học. Giáo viên đã được bồi dưỡng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực. Một số kỹ thuật dạy học mang tính hợp tác: Khăn phủ bàn; Các mảnh ghép; Sơ đồ KWL và Sơ đồ tư duy… Một số phương pháp dạy học: dạy học nêu vấn đề, dạy học hợp tác, học theo góc; học theo hợp đồng; học theo dự án… Để đa dạng hóa các hình thức dạy học, để khắc sâu kiến thức trong bộ não một cách lôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn trong bộ não của học sinh, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi luôn vận dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm tăng cường tính chủ động tích cực của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức. Giúp học sinh các kỹ năng làm việc theo nhóm, có sự phân công và hợp tác, cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. 1.2. Mục đích nghiên cứu. Nhằm vận dụng tốt nhất các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào bài giảng, tạo hứng thú, đam mê học tập và yêu thích môn hoá học cho học sinh. Thay đổi tư duy nhận thức của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiên thức. Giúp các em hình thành các kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm, làm việc với tính sáng tạo, chủ động và đam mê… 1.3. Đối tượng nghiên cứu. – Một số phương pháp dạy học tích cực như: sơ đồ tư duy, khăn phủ bàn, KWL,… – Tác dụng của các phương pháp kể trên đối với thái độ học tập của học sinh. – Kết quả đạt được sau thời gian dài vận dụng thường xuyên các phương pháp dạy học tích cực. 1.4. Phương pháp nghiên cứu. – Giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào từng bài dạy cụ thể và triển khai qua một quá trình lâu dài cả kì học, cả năm học với các bài, các khối lớp khác nhau. – Tổ chức hướng dẫn học sinh làm việc theo nhóm, hoàn thành các nhiệm vụ được giao đạt mục tiêu, chất lượng. – Định hướng cho học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức thông qua sự chủ động tích cực của bản thân đối với bài học, chương trình học. 1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm – Học sinh tham gia vào một quá trình học tập chủ động, tích cực và sáng tạo. – Khả năng hoạt động nhóm, phối hợp hiệu quả trong quá trình làm việc cùng nhau. – Sự phối kết hợp của các giáo viên trong bộ môn, trong trường. – Bước đầu cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDHTC nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 2.2.1. Thực trạng chung về học sinh Hiện nay do thay đổi nội dung và hình thức thi tốt nghiệp THPT QG và xét tuyển Đại học nên nhiều học sinh không còn lựa chọn môn Hoá học là môn học để thi theo ban KHTN. Vì vậy trong quá trình học, các em chỉ coi Hoá học là môn học chung, không có hứng thú học tập tốt. Từ đó, nhiều em học sinh chưa có thái độ học tập đúng. Nhiều em chưa chú ý trong giờ học, chưa học bài cũ và chuẩn bị bài học mới trước khi đến lớp. Trong giờ học, còn có học sinh không ghi bài, không chú ý lắng nghe, không đọc sách. Nhiều học sinh còn không đủ đồ dùng học tập như: sách vở, bút viết, máy tính cá nhân… do các em không có, đã mất hoặc cố tình không mang theo. Vì vậy dẫn đến kết quả học tập của học sinh chưa cao, chưa đồng đều.. 2.2.2. Thực tế vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong nhà trường Bằng sự nỗ lực chung của toàn nhà trường, đặc biệt là tinh thần làm việc hăng hái của giáo viên đã vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực trong từng giờ học. Các giáo viên đều đã được bồi dưỡng, tự học và sáng tạo trong từng tiết dạy cụ thể phù hợp với đặc điểm tình hình lớp mình dạy. Nhưng bên cạnh đó, nhiều giờ dạy vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn, do nhiều yếu tố cấu thành. + Sự chuẩn bị của giáo viên chưa chu đáo, chưa phù hợp với lớp mình dạy. + Học sinh chưa chủ động tích cực, chưa chuẩn bị kỹ bài học, chưa hiểu nội dung yêu cầu, chưa chuẩn bị trước khi đến lớp… + Sự phân phối thời gian trong hoạt động lên lớp chưa thích hợp. + Lựa chọn phương pháp chưa phù hợp với nội dung bài học. + Quản lí lớp chưa bao quát, sắp xếp và phân nhóm hoạt động không chú ý đến tâm lý của học sinh, chưa chú ý đến sự tương đồng năng lực làm việc của học sinh, hoặc phân công công việc trong mỗi nhóm học sinh… + Trang thiết bị hỗ trợ không đầy đủ và đồng bộ như bảng phụ, phiếu học tập, máy chiếu, bài giảng điện tử, thí nghiệm hoá chất… + Không gian phòng học chật hẹp, học sinh đông…dẫn tới sự hoạt động bị hạn chế, giáo viên không hỗ trợ tốt cho học sinh… + Một số giáo viên chưa thực sự hiểu cách thức tổ chức hoạt động của phương pháp dạy học tích cực, chưa định hướng đúng nội dung hoạt động; hoặc chưa nắm bắt đúng kỹ thuật dạy học tích cực nên hướng dẫn học sinh hoạt động không đạt hiệu quả như mong muỗn. + Sự hỗ trợ từ phía đồng nghiệp còn hạn chế + Khả năng sử dụng CNTT chưa thành thục, còn lúng túng, chưa khai thác vận dụng các phần mềm dạy học điện tử. 2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề. – Giáo viên bố trí phân nhóm theo đặc điểm thực tế không gian lớp học 40 học sinh như sau + Mỗi nhóm 4 học sinh ngồi hướng vào nhau. + Mỗi nhóm thực hiện một nội dung phiếu học tập (câu hỏi) + Thời gian khoảng 10 phút. + Sau khi kết thúc hoạt động,giáo viên thu phiếu học tập kiểm tra kết quả. +Giáo viên gọi đại diện 4 nhóm làm tốt nhất lên bảng trình bày nội dung đạt được. Ví dụ 1: Tiết 2 – Bài 1: ESTE (Hoá học 12) + Phiếu học tập nêu vấn đề Câu hỏi 1: Câu hỏi 1: Cho phương trình hoá học sau: CH3-COOH + CH3-CH2-OH CH3- COO-CH2- CH3 + H2O Hãy cho biết: a. Phản ứng trên thuộc loại phản ứng gì mà ta đã học ở lớp 11? b. Hai chất tham gia phản ứng thuộc loại hợp chất gì?tên gọi của nó? c. Đặc điểm, điều kiện của phản ứng xảy ra như thế nào? d. Sản phẩm của phản ứng thuộc loại hợp chất gì? có tên gọi là gì? + Phiếu học tập cung cấp thông tin Câu hỏi 2: Điền các từ hoặc cụm từ thích hợp vào dấu “…” sau cho phù hợp – Khi thay thế nhóm ..(1)..trong nhóm …(2)… của ..(3)..bằng nhóm ..(4).. thì ta được este. – Sản phẩm của phản ứng giữa ..(5).. và ..(6).. là este, nhưng ngược lại thì ..(7).. – Công thức cấu tạo tổng quát của este đơn chức là ..(8).. với điều kiện ..(9).. – Công thức phân tử chung của este no, đơn chức, mạch hở là ..(10).. + Phiếu yêu cầu rèn luyện kỹ năng Câu hỏi 3: Điền các thông tin vào bảng sau STT CTCT CTPT Tạo bởi axit Tạo bởi ancol Tên gọi 1 C2H4O2 2 Metylaxetat 3 CH3COOCH2C6H5 4 Etylaxetat 5 HCOOH C2H5OH 6 CH3CH2COOCH3 + Phiếu học tập để dạy kiến thức mới Câu hỏi 4: So sánh phản ứng thuỷ phân este trong môi trường axit và môi trường kiềm? STT Nội dung Thuỷ phân trong môi trường axit Thuỷ phân trong môi trường kiếm 1 Đặc điềm phản ứng 2 Điều kiện phản ứng 3 Sản phẩm 4 Ứng dụng của phản ứng Ví dụ 2: Bài luyện tập : Cấu tạo và tính chất của cacbohidrat (Hoá học 12) + Phiếu học tập cung cấp thông tin Câu hỏi 1: Điền các từ hoặc cụm từ vào trong dấu “…” a. Cacbohidrat được phân thành ..(1)..loại, gồm ..(2).. b. Glucozo và fructozo đều có CTPT là ..(3).. nhưng có CTCT khác nhau. Trong phân tử glucozo có ..(4)..nhóm chức ..(5).. liền kề và có..(6)..nhóm chức andehit. c. CTPT của saccarozo là ..(7).., phân tử được cấu tạo từ ..(8).. liên kết với nhau qua ..(13).. d. Tinh bột có 2 dạng mạch là amilozo và ..(9)..Còn xenlulozo có cấu trúc mạch dài, dạng sợi. Cả hai đều được tạo nên từ các gốc ..(10)..liên kết với nhau. + Phiêu học tập trả lời câu hỏi Câu hỏi 2: Giải thích vì sao quả nho lại rất tốt cho người đang bị ốm để ăn? Và vì sao mật ong lại ngọt hắc hơn đường mía? Câu hỏi 3: Giải thích vì sao cơm lại có tính dẻo và bông được dùng để dệt vải? Ví dụ 3: Tiết 56 – Bài: KIM LOẠI SẮT (Hoá học 12) – Giáo viên sử dụng các file video thí nghiệm (hoặc hình ảnh thí nghiệm), lần lượt trình chiếu cho học sinh quan sát. TN1: Sắt cháy trong khí Clo TN2: Sắt cháy trong khí Oxi TN3: Bột sắt tác dụng với bột lưu huỳnh TN4: Đinh sắt tác dụng với dung dịch HCl TN5: Đinh sắt tác dụng với dung dịch CuSO4 – Đồng thời học sinh sử dụng phiếu học tập sau để tiến hành hoạt động nhóm nghiên cứu bài học Quan sát các thí nghiệm, nêu hiện tượng và giải thích Thí nghiệm Hiện tượng Giải thích- viết ptpư Fe + Cl2 Fe + O2 Fe + S Fe + HCl Fe + CuSO4 Với kỹ thuật này, đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị tốt cả về phương pháp và nội dung kiến thức. Mỗi nhóm trình bày một vấn đề, mỗi cá nhân học sinh tự hoàn thành nhiệm vụ của mình, sau đó thống nhất trong nhóm. Sử dụng giấy A0 để thực hiện. Thời gian cho mỗi nhóm là tự 5 – 7 phút. Sau đó giáo viên yêu cầu các nhóm trình bày phần kiến thức của mình 1 Viết ý kiến cá nhân 4 Viết ý kiến cá nhân 2 Viết ý kiến cá nhân 3 Viết ý kiến cá nhân Ví dụ 1: Bài – HỢP CHẤT CỦA SẮT (Hoá học 12) Vấn đề 1: Trình bày các tính chất của hợp chất sắt (II)? Vấn đề 2: Trình bày tính chất hoá học của hợp chất sắt (III)? Vấn đề 3: So sánh tính chất hoá học của hợp chất sắt (II) và hợp chất sắt (III). Vấn đề 4: Viết các phương trình hoá học thực hiện sơ đồ chuyển hoá Ví dụ 2: Bài – AMINOAXIT (Hoá học 12) Vấn đề 1: Nêu đặc điểm cấu tạo của aminoaxit và của α-aminoaxit? Vấn đề 2: Vì sao aminoaxit có tính lưỡng tính? Viết phương trình hoá học minh hoạ? Vấn đề 3: Nhúng quỳ tím vào dung dịch Glyxin, Lysin và Axit Glutamic thì màu sắc của quỳ tím biến đổi thế nào? Giải thích? 2.3.3. Hoạt động nghiên cứu bài học – Giáo viên giao bài về nhà cho học sinh nghiên cứu trước khi học bài mới – Dựa trên kết quả bài làm của học sinh, giáo viên kết luận. Ví dụ 1: Bài – NƯỚC CỨNG (Hoá học 12) Người ta kiểm tra một nguồn nước thấy nồng độ một số ion như sau Ion Nồng độ (mol/l) Ca2+ 0,031 Mg2+ 0,028 Na+ 0,021 K+ 0,017 HCO3- 0,064 SO42- 0,035 Cl- 0,006 NO3- 0,005 a. Đây là nước có tính cứng gì? b. Tính khối lượng các nguyên tố Caxi, Magie có trong 1,0 lít nước này? c. Có thể làm mềm nước cứng này bằng những phương pháp nào? d. Cần bao nhiêu ml dung dịch Na2CO3 0,1M đủ để kết tủa hết các ion Ca2+ và Mg2+ trong 1,0 lít nước trên? e. Cần bao nhiêu ml dung dịch Ca(OH)2 0,1M đủ để kết tủa hết các ion Ca2+ và Mg2+ trong 1,0 lít nước trên? Ví dụ 2: Bài – AXIT SUNFURIC (Hoá học 10) Axit sunfuric được coi là axit mạnh và là chất oxi hoá mạnh. 1. lấy ví dụ viết phương trình hoá học của phản ứng chứng minh H2SO4 có tính axit mạnh. Tiến hành các thí nghiệm kiểm chứng 2. kim loại đồng (Cu) và kim loại sắt (Fe) phản ứng như thế nào với axit H2SO4 trong các trường hợp: loãng, đặc nguội, đặc nóng? 3. Giải thích vì sao đường trắng (đường saccarozo), giấy (thành phần chính là xenlulozo)…bị hoá than khi tiếp xúc với axit sunfuric đặc. Từ đó giải thích cách viết chữ bí mật bằng axit H2SO4 loãng trên giấy trắng. 2.3.4. Quan sát thí nghiệm, giải thích hiện tượng hoá học Ví dụ 1: Bài – ĂN MÒN KIM LOẠI (Hoá học 12) Hãy quan sát hình ảnh các thí nghiệm sau: TN 1: Để 1 đinh sắt trong ống nghiệm khô chứa CaO có đậy nút. TN 2: Để 1 đinh sắt trong ống nghiệm chứa nước cất không đậy nút. TN 3: Để 1 đinh sắt trong ống nghiệm dung dịch muối ăn không đậy nút. TN 4: Để 1 đinh sắt trong ống nghiệm chứa nước cất, sau đó thêm môt ít dầu nhờn và đậy nút. Nêu hiện tượng và giải thích? Ví dụ 2: Bài – PROTEIN Giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành 2 thí nghiệm -TN1: Cho lòng trắng trứng gà vào ống nghiệm, đun nóng nhẹ -TN2: Cho dd lòng trắng trứng vào ống nghiệm có chứa Cu(OH)2 Hãy quan sát, nêu hiện tượng và giải thích? Ví dụ 3: Bài – HỢP CHẤT CỦA NHÔM Giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành thí nghiệm sau – Cho dd AlCl3 vào 2 ống nghiệm (1) và (2) chứa dd NH3 – Cho thêm dung dịch NaOH dư vào ống nghiệm (1) – Cho thêm dung dịch HCl dư vào ống nghiệm (2). Hãy quan sát, nêu hiện tượng và giải thích? 2.3.5. Sử dụng hình ảnh, hoá chất, vật liệu trực quan – Yêu cầu học sinh chuẩn bị, sưu tầm…hoặc giáo viên cung cấp – Kết hợp máy chiếu, vi tính và bài giảng PowerPoint với các hiệu ứng chuyển động, xuất hiện… – Có thể phân nhóm cho học sinh chuẩn bị. Mỗi nhóm được yêu cẩu thực hiện một số chuẩn bị cụ thể cho từng bài. Giáo viên làm công tác theo dõi và kiểm chứng. Ví dụ 1: Chương 2 – Cacbohidrat (Hoá học 12) Từ một chùm nho, rau củ quả, mía, gạo, hồ tinh bột, mật ong, bông…chúng ta có thể khai thác nhiều kiến thức về glucozo, saccarozo, tinh bột, xenlulozo… Giáo viên khai thác các sản phẩm do học sinh mang tới, nói về nó. Và học sinh cũng vận dụng chúng để tìm tòi các kiến thức trong bài học. – Nguồn gốc của glucozo, fructozo, saccarozo…? – Tính chất của glucozo, fructozo, saccarozo…? – Ứng dụng của glucozo, fructozo, saccarozo…? Ví dụ 2: Bài – VẬT LIỆU POLIME (Hoá học 12) – Học sinh sưu tầm các vật liệu polime sẵn có trong đời sống và phân loại theo nhóm + Polime thiên nhiên: bông, dây mây, tre nứa, tơ tằm, cao su thiên nhiên… + Polime trùng hợp: PE, PVC, cao su tổng hợp + Polime trùng ngưng: tơ Nilon -6, nilon -6,6… – Các đồ dùng bằng vật liệu polime: ống nhựa, túi nilon, đĩa hát, thước nhựa, vỏ bọc dây điện… Ví dụ 3: Bài – HỢP CHẤT CỦA SẮT (Hoá học 12) Giáo viên cho học sinh quan sát các mẩu vật quặng sắt Quặng Manhetit Fe3O4 Hematit đỏ (Fe2O3) Sắt (II) hidroxit Fe(OH)2 Sự chuyển hoá Fe(OH)2 thành Fe(OH)3 Hematit nâu Xiderit (FeCO3) Sau khi học sinh quan sát, yêu cầu học sinh điền thông tin vào phiếu học tập sau Phân loại Hợp chất sắt (II) Hợp chất sắt (III) oxit hidroxit muối oxit Hidroxit muối FeO Fe(OH)2 FeCl2 FeSO4 Fe2O3 Fe(OH)3 FeCl3 Fe2(SO4)3 1. Tính chất vật lí Chất rắn, màu đen, không tan trong nước Chất rắn, màu trắng xanh, không tan Đa số đều tan, kết tinh dạng ngậm nước Chất rắn, nâu đỏ, không tan trong nước Chất rắn, nâu đỏ, không tan trong nước Đa số tan trong nước, kết tinh dạng ngậm nước 4. T/c HH đặc trưng Tính khử Fe2+ ® Fe3+ + 1e Tính oxi hóa Fe3+ + 1e ® Fe2+ Fe3+ + 3e ® Fe 2. Viết phương trình hóa học của các phản ứng xảy ra khi cho FeO, Fe(OH)2, Fe2O3 và Fe(OH)3 tác dụng với: a) dung dịch axit HCl. a) dung dịch axit HNO3 loãng Cho biết trong phản ứng nào thì hợp chất của sắt thể hiện tính bazo và phản ứng nào thể hiện tính khử? 2.3.6. Tổ chức kiểm tra vấn đáp học sinh theo tương tác giáo viên – học sinh và học sinh – học sinh Thông thường quá trình học bài của học sinh cần có kỹ năng ghi nhớ nhanh, chính xác và hệ thống. Nhưng với những đối tượng học sinh có học lực yếu thì thường là các em ngại ghi nhớ vì không có hệ thống logic, luôn thấy kiến thức rời rạc… Trong quá trình học, giáo viên nên hướng dẫn các em tự kiểm tra kiến thức ghi nhớ của mình, rèn kỹ năng nhớ, hiểu và vận dụng. Hình thức có thể tự vấn (tự minh kiểm tra mình), song vấn (hai học sinh kiểm tra lẫn nhau) và quá trình phổ biến trong giờ học là giáo viên kiểm tra. a. Giáo viên kiểm tra vấn đáp học sinh Ví dụ 1: Bài 1 – ESTE (Hoá học 12) Sau khi dạy xong phần khái niệm, danh pháp và tính chất vật lí, tôi tiến hành kiểm tra vấn đáp 2 học sinh với các câu hỏi – Em hãy cho biết CTPT tổng quát của este no, đơn chức, mạch hở? Lấy 3 ví dụ? – Este có mùi thơm và dễ bay hơi, lấy ví dụ chứng minh? – Đọc tên este có CTCT sau CH3-COO-CH3? – Este là sản phẩm của phản ứng giữa axit hữu cơ và ancol. Đúng hay sai?Vì sao? Ví dụ 2: Bài – AMIN (Hoá học 12) Sau khi dạy xong phần tính chất bazo của amin, tôi kiểm tra 2 học sinh – Nêu CTCT của amin có tên là Etylamin? – Gọi tên của amin có CTCT là CH3-NH-CH3? – Anilin có thể tan tốt trong nước lạnh, đúng hay sai? – Tất cả các amin đều làm quỳ tím ẩm hoá xanh, đúng hay sai? Vì sao? – So sánh tính bazo của metylamin, anilin và amoniac?… Với các câu hỏi đơn giản, nhằm tới đối tượng là học sinh có yếu, kém trong lớp. Với mức độ và thời gian vừa học xong, học sinh có thể ghi nhớ và trả lời đư

Bạn đang đọc nội dung bài viết Skkn Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trong Dạy Học Địa Lí Lớp 6 Ở Trường Thcs Hà Tân / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!