Đề Xuất 5/2022 # So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại # Top Like

Xem 9,306

Cập nhật nội dung chi tiết về So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 9,306 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Cho Tôi Biết Những Sự Khác Nhau Giữa Nền Văn Minh Phương Đông Và Nền Văn Minh Phương Tây?
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Đặc Trưng Giữa Ẩm Thực Phương Tây Và Phương Đông Để Thấu Hiểu Thực Khách
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Tấm Pin Điện Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly
  • Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Protein Dạng Sợi Là Gì? Phân Loại, Tính Chất Và Cấu Trúc Của Protein
  • MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài:

    Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ thứ XIII – VI trước công nguyên do

    kết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và chân tây và do tư duy nhân

    loại đã phát triển ở trình độ cao – trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu

    tượng hoá. Sự ra đời của triết học gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh

    cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ ở phương Đông, Hy Lạp ở phương Tây. Đây

    được coi là nhũng cái nôi của triết học nhân loại. Nhìn chung, dù ở phương

    Đông hay phương Tây, triết học cổ đại đều được coi là đỉnh cao của trí tuệ, là

    sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới.

    Đại diện tiêu biểu cho triết học phương Đông cổ đại là triết học Trung

    Quốc và Ấn Độ cổ đại. Đây đồng thời là chiếc nôi cho sự phát triển triết học ở

    cả phương Đông và phương Tây. Trong quá trình đi sâu giải quyết vấn đề cơ

    bản của triết học, triết học phương Đông đặt trọng tâm nghiên cứu những vấn

    đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, vấn đề con người và xây dựng con

    người, xây dựng một xã hội lý tưởng và con đường trị quốc.

    Bên cạnh đó, ở phương Tây thời cổ đại với nền triết học Hy Lạp cổ đại

    từ khi ra đời đã đạt những thành tựu rực rỡ và sau này được các triết gia đánh

    giá rất cao Ăngghen đã nhận xét: “Từ các hình thức muôn vẻ của triết học Hy

    Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau

    này” (C.Mac và Ph.Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQGHN, 1994, tập 20, tr491).

    Triết học Hy Lạp cổ đại chủ yếu bàn về các vấn đề bản thể luận, nhận thức

    luận, đề cao con người và coi con người là chủ thể, chinh phục tự nhiên và

    làm chủ tự nhiên.

    Như vậy, có thể thấy triết học phương Đông và phương Tây cổ đại đều

    mang những nét chung nhất định của triết học thời cổ đại. Nhưng bên cạnh

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    2

    đó, da rất nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là nguyên nhân kinh tế, xã

    hội nên giữa triết học phương Đông và phương tây cổ đại cũng có những nét

    rất khác biệt rất rõ về đối tượng, qui mô, tư tưởng về nhận thức, tư tưởng biện

    chứng, vấn đề con người, sự phân chia các trường phái triết học và tiến trình

    phát triển, hệ thống thuật ngữ. Sự khác biệt trong triết học tạo cơ sở cho

    những khác biệt trong xã hội, văn hoá của phương Đông và phương Tây.

    Xuất phát từ những lí do nêu trên nên em đã chọn đề tài: “So sánh sự

    khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại”

    làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.

    2. Thực trạng đề tài:

    Triết học phương Đông và triết học phương Tây ra đời gần như cùng

    thời điểm, nhưng giữa chúng có những sự khác nhau căn bản. Những khác

    biệt này bắt nguồn từ sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử

    văn hóa, xã hội; sự khác nhau về quan niệm sống, cách sống của người

    phương đông và phương tây…

    Việc tìm hiểu sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học

    phương Tây thời cổ đại cũng đã được đề cập ở các mức độ và quy mô khác

    nhau. Vì vậy đề tài chỉ tập trung vào phân tích, so sánh sự khác nhau giữa hai

    nền triết học ở một số khía cạnh: đối tượng, qui mô, tư tưởng về nhận thức, tư

    tưởng biện chứng, vấn đề con người, sự phân chia các trường phái triết học và

    tiến trình phát triển, hệ thống thuật ngữ.

    3. Mục đích nghiên cứu:

    Đề tài nhằm mục đích so sánh để tìm ra những điểm khác nhau giữa

    triết học phương Đông và phương Tây cổ đại. Nhằm giúp chúng ta hình dung

    được rõ nét bộ mặt của hai nền triết học được xem như là cái nôi triết học

    nhân loại, đồng thời chỉ ra được mặt tích cực, hạn chế, một quan hệ giữa triết

    học phương Đông và phương Tây, đánh giá thoả đáng vị trí của chúng trong

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    3

    lịch sử triết học. Qua đó, hình thành cho ta phương pháp luận và nhận thức

    đúng đắn khi nghiên cứu về lịch sử triết học. Do vậy, đây cũng chính là vấn

    đề được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    Để nghiên cứu vấn đề này một cách sâu sắc và toàn diện, em đã sử

    dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh dựa trên lập trường

    của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học

    Mác – Lênin.

    5. Kết cấu tiểu luận:

    Trong khuôn khổ của một bài tiểu luân, với mục đích khái quát nhất

    vấn đề thấy rỗ được điểm khác biệt giữa triết học phương Đông và phương

    Tây cổ đại, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của tiểu luận được

    em trình bày theo hai ý chính như sau:

    1. Khái quát chung về triết học phương Đông và phương Tây.

    2. Những điểm khác nhau giữa triết học phương Đông và phương Tây

    thời cổ đại.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    4

    NỘI DUNG

    Chương 1:

    KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

    Từ xa xưa, con người đã muốn khám phá về thế giới và bản thân mình.

    Khi khoa học còn chưa phát triển và trí tuệ con người còn hạn chế, công cụ để

    nhận thức thế giới của họ lúc đầu là huyền thoại và thần thoại, tức là giải tích

    các hiện tượng tự nhiên bằng các yếu tố thần thoại. Nhưng từ khi xã hội

    chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế xã hội nguyên thủy, sự giải thích thế giới bằng

    huyền thoại, thần thoại không còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết ngày càng cao

    của con người. Một công cụ nhận thức mới của loài người xuất hiện, đó là

    triết học.

    Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ VIII – VI trước Công nguyên gắn

    liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy

    Lạp. Đó là kết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay,

    cùng với sự phát triển ở trình độ cao (trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá,

    trừu tượng hoá) của tư duy nhân loại.

    Có rất nhiều quan niệm khác nhau về triết học. “Triết” theo nghĩa chữ

    Hán là trí – sự hiểu biết của con người, là truy tìm bản chất của đối tượng

    trong quá trình nhận thức thế giới. “Triết” theo nghĩa tiếng Ấn Độ là

    “Darshna”, là sự suy ngẫm con đường đến chân lí, là sự hiểu biết nói chung

    “Triết học” theo tiếng Hy Lạp là “Philosophya” – sự ham mê hiểu biết cộng

    với sự thông thái. Như vậy, dù là Trung Quốc, Ấn Độ hay Hy Lạp, dù ở

    phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu

    biết chung, sự nhận thức chung của con người về thế giới.

    Do nghiên cứu những qui luật chung nhất của thế giới nên triết học với

    tư cách là một khoa học đề cập tới nhiều vấn đề. Trong những vấn đề ấy, nổi

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    5

    lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Vấn đề cơ bản của

    triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi giữa tư duy với tồn tại, giữa ý

    thức với vật chất, giữa tinh thần và tự nhiên thì cái nào có trước cái nào có

    sau; và cái nào có vai trò quyết định đối với cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu

    hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trong lịch sử

    triết học, có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm trí đối lập nhau khi giải

    quyết vấn đề cơ bản của triết học. Đây chính là tiêu chuẩn để phân biệt lập

    trường tư tưởng của các nhà triết học, hình thành nên các trường phái triết học

    khác nhau. Đi sâu giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học

    phương Đông và phương Tây thời cổ đại có nhiều quan điểm không giống

    nhau. Điều này đã một phần tạo nên sự khác biệt giữa triết học phương Đông

    và phương Tây nói chung và thời cổ đại nói riêng.

    Dù lịch sử triết học là quá trình hình thành, biến đổi, tác động và ảnh

    hưởng lẫn nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học nhưng nó có tính quy

    luật. Sự hình thành và phát triển triết học có những đặc điểm chung như sau:

    Thứ nhất, tư tưởng triết học là một hình thái ý thức xã hội được hình

    thành và phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội trong một giai đoạn lịch sử xã

    hội nhất định là sự phản ánh của tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại

    xã hội. Như vậy, sự phát triển của lịch sử triết học gắn liền với điều kiện tự

    nhiên, kinh tế – xã hội, gắn với sự biến đổi, thay thế nhau giữa các chế độ xã

    hội… Điều này hình thành nên tính giai cấp trong triết học. Từ đó, tạo nên sự

    khác nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học, giữa triết học phương Đông và

    phương Tây.

    Thứ hai, lịch sử triết học là quá trình thống nhất và đấu tranh của hai

    trường phái triết học duy vật và duy tâm, hai phương pháp biện chứng và siêu

    hình.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    6

    Thứ ba, lịch sử triết học luôn gắn bó chặt chẽ không thể tách rời với các

    thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cùng với các thành tựu khoa

    học tự nhiên và khoa học xã hội cùng sự thâm nhập tác động, ảnh hưởng lẫn

    nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học cùng sự tác động của các hình thái ý

    thức xã hội khác như: Tôn giáo, chính trị, nghệ thuật, văn hoá,…

    Thứ tư, chiến tranh là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự biến

    đổi của tư tưởng triết học.

    * Tóm lại:

    Triết học là một khoa học bao gồm hệ thống tri thức lí luận chung nhất

    về thế giới của con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

    Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự qui

    định của tồn tại xã hội. Đồng thời, triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng

    tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự qui định của cơ sở hạ tầng. Đây

    cũng là nét chung của triết học mọi thời đại cũng như triết học phương Đông

    và triết học phương Tây cổ đại.

    Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hoá, bối cảnh

    lịch sử, khác nhau nên triết học phương Đông và phương Tây cổ đại có những

    nét đặc thù, riêng biệt, tạo nên thiên hướng riêng của nó. Dựa vào phần khái

    quát chung làm cơ sở nền tảng, sự khác nhau giữa triết học phương Đông và

    triết học phương Tây thời cổ đại được phân tích cụ thể ở mục tiếp theo.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    7

    Chương 2:

    NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

    VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ ĐẠI

    2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội của phương Đông và

    phương Tây thời cổ đại.

    Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu

    sự chi phối của tồn tại xã hội. Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã

    hội và văn hoá của phương Đông và phương Tây chính la cơ sở qui định sự

    khác biệt giữa triết học phương Đông và triết học phương Đông và phương

    Tây.

    2.1.1. Về điều kiện tự nhiên.

    Phương Đông là một vùng đất rộng lớn, có điều kiện tự nhiên hết sức

    đa dạng và phong phú. Địa hình với nhiều dãy núi, cao nguyên đồ sộ và

    những đồng bằng ruộng lớn khí hậu giữa các vùng miền rất khác nhau, nhưng

    đặc điểm chung là nóng ấm với nhiệt độ cao, số giờ nắng lớn và lượng mưa

    dồi dào. Đây cũng là khu vực chảy qua của rất nhiều các dòng sông lớn như

    Trưởng Giang, Hoàng Hà, Ấn, Hằng,… đã bồi đắp nên những đồng bằng

    châu thổ hết sức màu mỡ. Trong khi đó phương Tây là vùng đất giáp biển,

    bao gồm nhiều bán đảo, đảo và quần đảo. Khí hậu có sự phân mùa ro rệt, có

    một mùa đông lạnh giá có băng tuyết rơi. Đồng bằng khá rộng lớn nhưng chủ

    yếu có nguồn gốc hình thành từ băng hà, vì vậy không màu mỡ bằng đồng

    bằng ở phương Đông.

    Điều kiện tự nhiên khác nhau đã qui định các hoạt động sản xuất khác

    nhau của dân cư phương Đông và phương Tây. Phương Đông và những đồng

    bằng màu mỡ và khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi phát triển nông

    nghiệp, chủ yếu là trồng trọt. Trong khi đó, ở phương Tây, chăn nuôi, thủ

    công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là hàng hải là nghề chính Kinh tế

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    8

    nông nghiệp buộc con người phải định cư, gắn liền với ruộng vườn. Còn kinh

    tế thủ công nghiệp, thương nghiệp và chăn nuôi cho phép con người có thể

    nay đây mai đó. Chính vì vậy, dẫn đến tâm lí của người phương Đông luôn

    muốn sống hoà hợp với tự nhiên. Ngược lại, người phương Tây luôn có tâm lí

    làm chủ tự nhiên, muốn chinh phục tự nhiên và khám phá những vùng đất

    mới.

    2.1.2.Về kinh tế – xã hội.

    Ở phương Đông là thời kì chuyển biến từ chế độ chiến hữu nô lệ sang

    chế độ phong kiến. Kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình công xả nông thôn

    và phương thức sản xuất kinh tế – xã hội châu Á tồn tại từ rất sớm. Trong xã

    hội, sự phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Hình thức sở hữu ruộng đất và

    những biến động mạnh trong kết cấu giai tầng xã hội đã đẩy mâu thuẫn xã hội

    phát triển gay gắt. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực đã đẩy các

    nước phương Đông cổ đại vào những cuộc chiến tranh khốc liệy triền miên,

    tiêu biểu là ở Trung Quốc. Đây là những biến động tất yếu của thời kì lịch sử

    đang trong giia đoạn đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ gia trưởng chuyển sang xã

    hội phong kiến. Trong tình hình đó, một loạt học thuyết chính trị – xã hội và

    triết học đã xuất hiện và hầu hết giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị xã

    hội. Điêu này trở thành nét đặc trưng chủ yếu của triết học Trung Quốc cổ

    đại. Vì vậy, triết học Trung Quốc cổ đại còn có tên gọi khác là triết học chính

    trị. Mặt khác, nét nổi bật trong văn hoá phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ, là

    thường mang dấu ấn sâu đậm về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh và có các

    yếu tố thần bí. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại thường được thể hiện dưới hình

    thứuc tôn giáo và những tư tưởng tôn giáo cũng chứa đựng trong triết học.

    Triết học quan tâm nhiều đến vấn đề tâm linh va giải thoát con người trong

    lĩnh vực, tinh thần, tư tưởng. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại được coi là triết

    học tôn giáo.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    9

    Còn Thống trị ở phương Tây cổ đại là phương thức sản xuất chiến hữu

    nô lệ cao hơn, đầy đủ hơn phương Đông. Đây là giai đoạn có sự phân chia hết

    sức sạch ròi giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong xã hội. Nhu cầu

    thực tiễn của nền kinh tế chủ nô, nhất là nhu cầu phát triển thương mại và

    hàng hải đã quyết định sự phát triển những tri thức về thiên văn, khí tượng,

    toán học, vật lí học. Những tri thức này ở trạng thái sơ khai được trình bày

    trong hệ thống triết học tư nhiên của các nhà triết học cổ đại phương Tây. Các

    nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên. Khoa học lúc đó chưa

    phân ngành, nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lí học, thiên văn học,

    … Triết học phương Tây cổ đại ngay từ khi ra đời đã gắn với khoa học tự

    nhiên. Đây là cơ sở thuận lợi để triết học phương Tây cổ đại đi sâu giải quyết

    những vấn đề bản thể luận và nhận thức luận triết học. Vì vậy triết học

    phương Tây cổ đại, tiêu biểu là triết học Hy Lạp, còn được gọi là triết học tự

    nhiên.

    * Tóm lại:

    Sự khác biệt về tự nhiên, kinh tế – xã hội đã qui định những đặc điểm

    riêng biệt trong triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại. Điều

    đó lí giải tại sao, dù hình thành và phát triển cùng một thời kì, cùng tuần theo

    những qui luật chung nhưng người ta lại đặt cho các địa diện của triết học

    phương Tây và triết học phương Tây cổ đại những tên gọi khác nhau: Triết

    học Trung Quốc- triết học Chính trị- triết học Ấn Độ- triết học tôn giáo, triết

    học Hy Lạp- triết học tự nhiên. Sự khác biệt này chính là nguồn gốc sâu sa

    của những điểm khác nhau trong triết học phương Đông và triết học phương

    Tây cổ đại.

    2.2. Đối tượng và qui mô

    2.2.1. Đối tượng

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    10

    Từ khi ra đời, triết học đã tồn tại va phát triển cùng với sự phát triển

    của lịch sử loài người. Dù đa dạng về quan điểm, phong phú về các trào lưu

    nhưng triết học đều thống nhất bao gồm hai phần: triết lý bản thế (sự giải

    thích về thế giới) và triết lý nhân sinh (quan điểm, tư tưởng về con người,

    cuộc sống va hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống). Như vậy, các

    nhà triết học thời cổ đại đều quan tâm nghiên cứu các vấn đề cơ bản như: bản

    nguyên thế giới, vấn đề chính trị – xã hội và đạo đức,… Tuy nhiên, mỗi một

    nền triết học lại quan tâm đến một vấn đề nổi trội nào đó.

    Ở phương Đông cổ đại, đối tượng của triết học chủ yếu là những vấn đề

    chính trị, đạo đức, xã hội và tôn giáo. Trong đó, lấy xã hội, cá nhân làm gốc là

    tâm điểm để nhìn xung quanh. Do vậy, xu hướng là hướng nội, lấy trong để

    giải thích ngoài, hay còn gọi là đi từ ngọn xuống gốc, từ nhân sinh quan, vấn

    đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận.

    Chính vì vậy, các hệ thống triết học Trung Quốc cổ đại thường được

    thể hiện dưới dạng các học thuyết chính trị – xã hội. Mặc dù các triết gia Trun

    Quốc cổ đại cũng có những lí giải khá sâu sắc về những vấn đề bản thể luận

    như: quan diểm về “đạo” của Lão Tử, học thuyết Âm Duowng, ngũ hành…

    Trong quan niệm của Lão Tử, đạo hiểu như là bản quyền của thế giới, là cội

    nguồn sinh ra vũ trụ trời đất vạn vật. Đó là lực lượng vật chất vô cùng rộng

    lớn, vận động không ngừng. Từ đó mà sinh ra trời đất, con người, vạn vật. Và

    vạn vật luôn ở trong quá trình sinh thành, biến đổi và tiêu vòng. Theo học

    thuyết Âm – Dương thì hai thế lực Âm và Dương là khởi nguyên của mọi

    hình thành, biến hoá vạn vật trong vũ trụ. Âm – Dương vừa đối lập vừa gắn

    kết và luôn vận động không ngừng, dẫn đến sự sự biến đổi tàn lụi, tiêu vong,

    sinh trưởng,… của vạn vật. Hay học thuyết ngũ hành thì cho rằng: Kim, Mộc,

    Thuỷ, Hoả, Thổ là năm yếu tố vật chất mang tính khởi nguyên của thế giới va

    luôn ở trạng thái động… Các lí giải này đều phản ánh thế giới quan duy vật tự

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    11

    phát và tính biến chứng sơ khai về thế giới. Nhưng mối quan tâm chủ yếu của

    họ vẫn la việc lí giải những vấn đề mà thực tiễn xã hội đặt ra như: giải thích

    nguyên nhân của xã hội loại, xâu dựng một xã hội lý tưởng, tìm ra con đường

    để trị nước.

    Tư tưởng về xã hội lý tưởng điển hình là tư tưởng về một xã hội đại

    đồng của khổng Tử. Đặc trưng cơ bản của xã hội này la thái bình ổn định, có

    trật tự kỷ cương, mọi người được chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều la của

    chung. Đó la xã hội có đời sống vật chất đầy đủ, có quan hệ người với người

    tốt đẹp; là xã hội có giáo dục, mọi người trong xã hội được giáo hoá. Ông cho

    răng, muốn có được xã hội ấy, phải lấy giáo dục làm cốt yếu. Chỉ cần lấy

    hiếu, để lam gốc, từ một nhà nhân hậu, làm cho cả nước nhân hậu. Xã hội mà

    Khổng Tử mong muốn là xã hội của quá khứ, một xã hội có nền tảng kinh tế

    của nó đã thay đổi chế độ công hữu với phép tính điền của nhà thu không còn

    giá trị thực tế nữa, trong khi đó, chế độ tư hữu ngày càng phát triển. Những

    lời răn dạy của Khổng Tử không còn hiệu quả trong đời sống, trở thành

    chướng ngại cho sự phát triển.

    Về đường lối trị nước, ở Trung Quốc cổ đại có nhiều thuyết về cai trị

    đất nước, song có hai thuyết lớn hơn cả là thuyết nhân trị và thuyết pháp trị.

    Thuyết nhân trị phát sinh từ học phái Nho giáo được hiểu là sự cai trị

    đất nước đặt trên cơ sở bản thân nhà cầm quyền. Thuyết nhân trị còn được

    hiểu là cách cai trị, theo đó, nhà cầm quyền phải lấy đạo đức mà giáo hoá, dẫn

    dắt dân chúng chứ không phải dùng đến cưỡng chế, trừng phạt. Vai trò của

    đạo đức theo Nho giáo là phương tiện chủ yếu để cai trị đất nước; là điều kiện

    quan trọng để hình thành và hoàn thiện con người, góp phần củng cố và duy

    trì trật tự xã hội. Biện pháp cơ bản để thực hiện nhân trị, là chính danh, lễ, vai

    trò tài đức của người cầm quyền và vai trò của dân với ý nghĩa là gốc, là nền

    tảng của chính trị.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    12

    Thuyết pháp trị chủ trương lấy pháp luật làm căn bản trong việc cai trị.

    Những người theo học thuyết này cho rằng, bản tính con người là yếu kém, dễ

    sai lầm nên phải dựa vào pháp luật. Khác với thuyết nhân trị, pháp trị chủ

    trương nhà cầm quyền không phải chú trọng nhiều đến việc tu thân mà cốt là

    đặt ra luật pháp cho rõ ràng và ban bố cho mọi người cũng biết để tuân theo

    nghiêm chỉnh.

    Cùng xác định đối tượng chủ yếu là những vấn đề chính trị, đạo đức,

    xã hội và tôn giáo, triết học Ấn Độ cổ đại đã tập trung vào lí giải vấn đề

    then chốt nhất, cơ bản nhất, là bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc

    nỗi khổ của con người và con đường cách thức giải thoát cho con người

    khỏi bề khổ cuộc đời. Để đạt tới giải thoát, con người phải dày công tu

    luyện hành động đạo đức theo giới luật, tu luyện trí tuệ, trực giác thực

    nghiệm tâm linh, chiêm nghiệm nội tâm lâu dài. Đạt tới sự giải thoát, vượt

    ra khỏi sự ràng buộc của thế tục, hoàn toàn tự do, tự tại.

    Khác với tư tưởng triết học ở phương Đông cổ đại, vấn đề bản nguyên

    thế giới luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các hệ thống triết học phương

    Tây từ trước tới nay, đặc biệt là triết học Hy Lạp cổ đại. Ngay từ khi mới ra

    đời, triết học Hy Lạp cổ đại đã rất quan tâm đến việc đi sâu giải quyết những

    vấn đề bản thể luận (giải thích nguồn gốc, ban chất, cấu trúc của thế giới) và

    nhận thức luận triết học (khả năng nhận thức thế giới của con người), đồng

    thời có những điểm khác với các nền triết học khác cùng thời.

    Quan điểm về bản nguyên đầu tiên là cái đơn nhất được hình thành ở

    trường phái Milê. Các đại biểu của trường phái này đều coi bản nguyên của

    thế giới là một cái đơn nhất: nước (Talét), không khí (Anaximen), Qpeirôn

    (Anaxinmanđrơ). Cơ sở đều hình thành quan điểm của họ là sựt thống nhất

    vật chất. Khởi nguyên đầu tiên đó được xem xét dưới dạng một cái đơn nhất

    và với tư cách là một sự vật hoàn toàn cụ thể.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    13

    Quan điểm bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đặc thù đã xuất hiện

    trong trường phái “các nhà triết học tự nhiên thế kỷ V trước Công nguyên”.

    Anaxago cho rằng bản nguyên đầu tiên của thế giới là những phần nhỏ bé,

    siêu cảm giác không nhìn thấy được của nước, đất, khí, lửa, gọi là mầm sống,

    là hạt giống của muôn vật. Những hạt giống ấy có những kết hợp khác nhau

    tạo thành mọi vật đang tồn tại. Động lực quyết định sự kết hợp và tách biệt

    của các hạt giống là Nuxơ (trí tuệ vũ trụ). Êmpêđôclơ cho rằng khởi nguyên

    thế giới vật chất là một số yếu tố xác định, có chất lượng khác nhau. Đó chính

    là đất, nước, lửa và không khí. Những yếu tố đó luôn vận động, nguyên nhân

    của sự vận động là do sự tác động qua lại của hai lực “tình yêu” và “hận thù”.

    Quan điểm bản nguyên la cái phổ biến xuất hiện trong trường phái

    nguyên tử luận (thế kỷ V – IV trước Công nguyên) Đênôcrit thừa nhận

    nguyên tử (tồn tại) và chân không (không tồn tại) là những bản nguyên thế

    giới luôn đối lập nhau. Nguyên tử là một yếu tố vật chất có tính quy định và

    tính tích cực nội tại, luôn vận động trong chân không vô tận. Nguyên tử vận

    động va chạm vào nhau, đẩy nhau rồi xoắn lấy nhau, tan hợp, hợp tan theo

    những trình tự nhất định. Vận động của từng nguyên tử trong chân không tuân

    theo quy luật khách quan định hình nên một vũ trị sinh động và biến hoá.

    * Tóm lại:

    Đối tượng của triết học phương Đông cổ đại chủ yếu là xã hội, chính

    trị, đạo đức và tôn giáo, trong đó lấ con người, xã hội làm tâm điểm để nhìn

    xung quanh. Vì vậy, nếu như triết học Ấn Độ cổ đại luôn lí giải và thực hành

    những vấn đề nhân sinh quan ấy dưới góc độ tâm lính tôn giáo nhằm đạt tới

    sự giải thoát thì triết học Trung Quốc cổ đại lại giải đáp những vấn đề thực

    tiễn xã hội đặt ra bằng các học thuyết chính trị – xã hội. Việc quá tập trung

    chú ý đến những vấn đề giải thoát, đạo làm người mà ít chú ý đến những vấn

    đề triết học tự nhiên đã là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    14

    thức luận và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của người phương Đông cổ

    đại.

    Trong khi đó, đối tượng của triết học phương Tây cổ đại rất rộng lớn,

    bao gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư duy, mà gốc là tự nhiên. Việc các nhà

    triết học Hy Lạp cổ đại có xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề bản thể

    luận và nhận thức luận được lí giải bởi sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự

    nhiên. Các nhà triết học cũng đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên. Khoa

    học lúc đó chưa phân ngành, nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lí

    học, thiên văn học,… khác với các nhà triết học phương Đông cổ đại thường

    là chính trị, nhà giáo dục,.. Sự gắn liền triết học với khoa học tự nhiên của

    triết học Hy Lạp cổ đại chính là nguồn gốc sự khác biệt trong đối tượng hai

    nền triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại.

    2.2.2. Qui mô

    Ở phương Đông cổ đại, những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới

    dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác. Cái

    này lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có

    những triết gia với những tác phẩm triết học độc lập. Nói chung, triết học

    phương Đông cổ đại thường ẩn giấu đằng sau các khoa học khác như triết học

    Trung Hoa đan xen với chính trị lý luận, triết học Ấn Độ lại đan xen với tôn

    giáo và nghệ thuật.

    Còn ở phương Tây cổ đại, ngay từ thời kỳ đầu, triết học đã là một khoa

    học độc lập. Thậm trí các khoa học khác lại thường ẩn giấu đằng sau triết học.

    Ta bắt gặp những kiến thức về khoa học tự nhiên trong các học thuyết triết

    học của các nhà triết học tự nhiên như Hêraclit, Ta let, Pitago, Đêmocrit,…

    * Tóm lại:

    Sự khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội, bối cảnh lịch sử, xuất thân

    của các nhà triết học và đối tượng của triết học đã dẫn đến sự khôgn giống

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    15

    nhau trong qui mô phản ánh của các nền triết học: Phương Đông và phương

    Tây cổ đại cùng phương thức biểu hiện của nó.

    2.3. Tư tưởng về nhận thức

    Vấn đề về nhận thức được các nhà triết học cổ đại cả phương Đông

    lẫn phương Tây đều rất quan tâm. Mặc dù còn ở trình độ tư duy lạc hậu

    nhưng tư tưởng về nhận thức của các triết gia cổ đại cũng có những tiến bộ

    nhất định. Bàn về vấn đề này, mỗi triết gia lại có những quan điểm riêng.

    Các nhà triết học phương Đông thường đề cao tư duy trực giác nhưng

    ngược lại, các nhà triết học phương Tây cổ đại lại đề cao tư duy lý tính.

    Đây cũng là một trong những điểm khác nhau căn bản giữa triết học

    phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại.

    Ở phương Đông cổ đại, trình độ tư duy trừu tượng của con người đã

    được đánh giá khá cao so với thời đó, đặc biệt khi kí giải các vấn đề bản thể

    luận nhận thức luận, lôgíc, về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, Tuy

    nhiên, triết học phương Đông cổ đại thường đề cao tư duy trực giác, đẩy được

    coi là phương thức tư duy đặc thù của người Trung Quốc trong một thời kỳ

    lịch sử lâu dai. Theo nghĩa chữ Hán, trực là thẳng, giác là hiểu biết, trực giác

    có nghĩa là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm, bản chất của sự vật,

    hiện tượn. Mức độ thấp của trực giác gần với giác quan thứ sáu, ví như lần

    đầu tiên gặp một người nào đó, chúng ta thường có những linh tinh cảm nhận

    đầu tiên. Như vậy, trực giác đạt đến cái mà tư duy lý tính, phân tích, mổ xẻ

    không bao giờ đạt. Nó là phương thức tư duy phù hợp với đối tượng vận

    động. Trong triết học phương Đông cổ đại, hầu hết các nhà tư tưởng (đặc biệt

    là các nhà tư tưởng Trung Quốc) đều sử dụng phương thức tư duy trực giác để

    tìm ra chân lí về thế giới, vạn vật và về con người, cuộc đời. Phương thức tư

    duy này đặc biệt coi trọng chữ “tâm”, coi “tâm” là gốc rễ của nhân thức, lấy

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    16

    “tâm” để bao quát sự vật. Điều này được biểu hiện trong tư tưởng về nhận

    thức của Mặc Tử, Tuân Tử,…

    Trong tư tưởng về nhận thức của Mặc Tử, ông coi trọng kinh nghiệm

    cảm giác, để cao vai trò của nhận thức cảm giác trong quá trình nhận thức của

    con người. Ông cho rằng phàm cái gì mà lỗ tai con mắt không cảm nhận thấy

    là không có. Ông đưa ra học thuyết “Tam biểu” nổi tiếng. Trong đó, ông chủ

    trương lời nói muốn chính xác tất phải có ba biểu: Có cái gốc của nó, có cái

    nguồn của nó, có cái dụng của nó.

    Cùng với quan điểm này, Tuân Tử cũng cho rằng quá trình nhận thứuc

    của con người trước hết bắt đầu từ kinh nghiệm cảm quan do các giác quan

    đưa lại. Mỗi giác quan đều có những tính riêng biệt, phản ánh một mặt hiện

    tượng nào đó của sự vật bên ngoài. Do vậy, muốn nhận thức đúng, sâu sắc

    còn cẩn phải dựa vào một “khí quan đặc biệt” là tư duy (ở đây Tuân Tử cho là

    “Tâm”). Ông cho rằng, chỉ có qua sự duy lí của tư duy thì mới có thể phân

    biệt hoặc phán đoán đúng được tính chất của sự vật do các cơ quan cảm giác

    phản ánh, nhưng hoạt động của tư duy (Tâm) cũng phải lấy sự hoạt động của

    các cơ quan cảm giác làm cơ sở.

    Trình độ tư duy trừu tượng của người Trung Quốc cổ đại được đánh giá

    cao trong việc xây dựng các khái niệm phạm trù triết học. Các triết gia Trung

    Quốc cổ đại tập trung xây dựng và lí giải các cặp phạm trù như: “Danh Thức”, “Tâm – Vật”, “Lý – Khí” bàn đến lôgic trong khái niệm nhưng mới ở

    trình độ tư duy thấp.

    Mặc dù phương thức tư duy trực giác có những ưu điểm như giữ được

    cái tổng thể của sự vật, hiện tượng phù hợp với cả các đối tượng vận động

    không ngừng mà tư duy phân tích mổ xẻ không đạt đến những mặt khác, điều

    đó lại tiềm tàng những nhược điểm. Mặt hạn chế của phương pháp tư duy trực

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    17

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    18

    quá trình nhận thức mà không hoặc ít thấy được vai trò của cảm giác, của

    nhận thức cảm tính.

    Việc đề cao tối đa phương thức tư duy lí tính cũng tồn tại những mặt

    hạn chế. Đó là việc các nhà triết học có xu hướng cố lập hoá, cách lý hoá làm

    mất đi tính tổng thể của sự vật, hiện tượng. Mặt khác mọi vật đều luôn vận

    động và biến đổi không ngừng VI Lênin cho rằng, chúng ta không thể biểu

    hiện đo lường, hình dung sự vận động mà không cắt đứt tính liên tục của nó,

    không tách rời, không giết chết cái gì đang sống. Điều này có nghĩa, việc quá

    đề cao tư duy duy lí, phân tích mổ xẻ của các nhà triết học phương Tây cổ đại

    là nguồn gốc sâu sa của tư duy siêu hình.

    Một điểm khác nhau trong tư tưởng về nhận thức giữa hai nền triết học

    phương Đông và phương Tây cổ đại là triết học phương Tây có xu hướng tách

    chủ thể với khách thể để nhận thức khách quan còn triết học phương Đông lại

    cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà vào nhau (đặt

    cùng trong một hệ quy chiếu) thì nhận thức sẽ dễ dang.

    * Tóm lại:

    Điểm khác nhau cơ bản về tư tưởng nhận thức của hai nền triết học

    phương Đông và phương Tây cổ đại là triết học phương Tây cổ đại ngã về

    tư duy duy lí, phân tích mổ xẻ còn triết học phương Đông cổ đại thì ngã

    về dung tư duy trực giác.

    Hai phương thức này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời

    mà bổ sung cho nhau. Vì nếu không có phân tích, mổ xẻ thì làm sao hiểu

    được đối tượng. Nhưng nếu cho nó là duy vật tuyệt đối thì sẽ phá vỡ tính tổng

    thể của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, cho nên trong khi nhận thức về sự vật, hiện

    tượng, phải kết hợp cả hai phương thức tư duy này.

    2.4. Tư tưởng biện chứng:

    Trong vấn đề về phương pháp luận, khi trình bày những quan điểm của

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    19

    mình, các triết gia phương Đông cổ đại thiên về tư duy biện chứng là phần

    lớn. Ngược lại, do ảnh hưởng của tự nhiên phát triển, đặc biệt là lĩnh vực cơ

    học, các nhà triết học phương Tây cổ đại lại thiên về tư duy siêu hình.

    Ở phương Đông cổ đại, tư tưởng biện chứng được thể hiện rõ nhất

    trong quan niệm của các triét gia về bản thể luận.

    Trong triết học Trung Quốc cổ đại, tư tưởng biện chứng được thể hiện

    rõ nhất ở phạm trù “biến dịch”. Biến dịch theo quan điểm chung của triết học

    Trung Quốc cổ đại la trời đất, vạn vật luôn luôn vận động và biến đổi.

    Nguyên nhân của sự vận động,biến đổi là do trời đất, vạn vật vuừa đồng nhất,

    vừa mâu thuẫn với nhau: Trời và đất, nước và lửa, âm và dương, trời và

    người, đạo và lý, thể chất và tinh thần, chân lý và sai lầm… Lão Tử cho rằng

    “trong vạn vật không vật nào mà không cõng âm và bồng dương”. Vương An

    Thạch trong học thuyết Bản thể nguyên khí của mình cho rằng mâu thuẫn nội,

    ngoại của Ngũ hành là nguyên nhân cơ bản và vô cùng tận sự biến hoá của

    vạn vật. Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động và biến đổi theo hai qui luật: qui

    luật bình quân và qui luật phản phục luật bình quân la luôn giữ cho sự vật

    được thẳng bằng theo một trật tự điều hoà tự nhiên, không có cái gì thái quá,

    bất cập. Qui luật phản phục là sự phát triển đến cực điểm thì chuyên quay trở

    lại phương hướng cũ. Quan điểm về biến dịch của vũ trụ là phép biện chứng

    tư phát về thế giới khách quan. Phép biện chứng nay còn nhiều hạn chế như:

    đơn giản hoà sự phát triển, có biến hoa nhưng không phát triển, không xuất

    hiện cái mới, biến hoá của vũ trụ có giới hạn, bí đóng khung trong hai cực.

    Tư tưởng biện chứng cũng thể hiện rõ trong triết học Phật giáo nguyên

    thuỷ – một trường phái triết học điển hình của triết học Ấn Độ cổ đại. Trong

    lý duyên khởi và lý vô ngã, vô thường của thế giới quan Phật giáo thể hiện

    rất rõ tư tưởng biện chứng. Mọi vật đều được cấu tạo bởi yếu tố vật chất (sắc)

    và tinh thần (danh). Theo thuyết vô thường, danh và sắc chỉ hội tụ lại với

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    20

    nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác. Bản chất sự

    tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục, không thể tìm ra nguyên

    nhân đầu tiên, cũng không có kết quả cuối cùng (vô – thuỷ, vô – chung),

    không có gì là tồn tại vĩnh bằng, bất biến, mọi vật đều biến đổi liên tục (vạn

    pháp vô thường). Theo quan điểm vô thường, vô ngã, thế giới sự vật hiện

    tượng luôn ở trong một chu trình biến hoá không ngừng là: sinh – trụ – dị diệt (hoặc thành – trụ – hoại – không), ở con người là sinh – lão – bệnh – tử. Đó

    là quá trình biến hoá theo quy luật nhân quả mãi mãi. Lý thuyết duyên khởi

    của Phật giáo đã giải thích thực hất mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả

    tron sự vận động, biến hoá của thế giới. Cái nhân nhờ cái duyên mới nảy sinh

    ra quả, quả lại do duyên mà tạo thành nhân khác, nhân khai lại nhờ duyên mà

    tạo thành quả mới. Quá trình này nối tiếp nhau vô cùng vô tận. Duyên chính

    là điều kiện trong mối quan hệ tương tác đó. Như vậy, tư tưởng bản thể luận

    trong triết học Phật giáo có tính chất nhị nguyên nhưng chứa đựng những yếu

    tố biện chứng sâu sắc.

    Trong khi đó, triết học phương Tây cổ đại khi bàn đến các vấn đề của

    triết học đã bộc lộ tư duy siêu hình do ảnh hưởng của khoa học tự nhiên gắn

    liền với triết học khoa học lúc đó chưa phân ngành, nhà triết học đồng thời

    cũng là nhà toán học, vật lí học, thiên văn học,… Tiêu biểu nhất đó là phép

    biện chứng “phủ định” của trương phái Êlê.

    Với chủ trương vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong

    được thể hiện sâu sắc trong các học thuyết của Pacmêniit và Dênôn. Vấn đề

    lớn trong triết học Pacmênit là quan hệ giữa tồn tại và hư vô, tồn tại và tư duy,

    vận động và đứng im. Tư tưởng triết học của Pacmênit được thể hiện ở ba

    luận điểm: coi vận động, biến đổi là hư ảo, bác bỏ khái niệm không gian rỗng

    thuần tuý, coi tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như quá trình, vừa như

    kết quả. Tư duy là tư duy chỉ khi nào có vật thể và vật thể hiện hữu chĩ khi

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Điện Và Đàn Organ/ Keyboard
  • Sự Khác Nhau Giữa Cổng Lan Và Cổng Wan
  • Sự Khác Biệt Giữa Mạng Lan, Man Và Wan Là Gì ?
  • Mạng Lan Là Gì? Sự Khác Biệt Chính Giữa Lan, Man Và Wan
  • “mục Đích” Và “mục Tiêu”
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100