Đề Xuất 2/2023 # Sử Dụng Bản Đô Tư Duy Trong Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Thcs # Top 10 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Sử Dụng Bản Đô Tư Duy Trong Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Thcs # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sử Dụng Bản Đô Tư Duy Trong Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Thcs mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Vai trò của bản đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học

Bản đồ tư duy ( BĐTD) là hình thức ghi chép, sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. BĐTD- một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình hoạ giữa sự kết hợp giữa các từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, đường nét phù hợp với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.

Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng ( Các nhánh)- BĐTD là công cụ đồ hoạ nối các hình ảnh có liên hệ với nhau, vì vậy có thể sử dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hoá kiến thức sau mỗi chương…

BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ động, tích cực. Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, một số học sinh có xu hướng không thích học môn Ngữ văn hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặc trưng môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Một số em học tập chăm chỉ nhưng thành tích họch tập chưa cao. Các em thường học bài nào biết bài nấy, học phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thồng kiến thức, liên kết kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau. Do đó, việc sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.

BĐTD gíp học sinh học tập tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc HS vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, các em được tự do chọn màu sắc ( xanh, đỏ, tím, vàng…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong..), các em tự ” sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý, trân trọng ” tác phẩm” của mình.

BĐTD giúp HS ghi chép rất hiệu quả. Do đặc điểm của BĐTD nên người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép hiệu quả.

BĐTD có thẻ sử dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các trương hiện nay. Có thể thít kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy. Với những trường có điều kiện công nghệ thông tin tốt, có thể cài đặt phần mềm Mindmap cho GV, HS sử dụng, bằng cách vào trang wed chúng tôi gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ Mindmap, ta có thể tải về miễn phí ConceptDraw MINMAD 5 professional, việc sử dụng phần mềm này khá đơn giản.

2. Một số hình thức ứng dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ quá trình dạy học

2.1. Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:

Ví dụ:

Khi học bài ” So sánh” ( Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ GV cho từ khoá ” So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cáhc đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiế lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.

( Sơ đồ minh hoạ)

Ví dụ:

( Sơ đồ minh hoạ)

– Học sinh tự có thể sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa… hoặc để tư duy một vấn đề mới. qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.

– Học sinh trực tiếp làm viêc với máy tính, sử dụng phần mềm Mindmap, phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập.

3. Một số biện pháp ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS Xương Lâm

3.1. Nâng cao nhận thức của GV và HS về vai trò của BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học

Nhà trường đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để tuyên truyền, giới thiệu cho giáo viên về vai trò, tác dụng của BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Từ đó giáo viên nâng cao nhận thức và tuyên truyền, phổ biến tới học sinh theo môn học của mình.

3.2. Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học.

– Quán triệt quan điểm chỉ đạo về đổi mới phương pháp dạy học;

– Nắm vững cấu trúc chương trình, SGK mới;

– Nắm vững nội dung đổi mới phương phápdạy học;

– Tích cức dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm với đòng nghiệp;

– Tham dự sinh hoạt chuyên môn cụm, tổ đầy đủ, hiệu quả.

3.3. Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sử dụng BĐTD cho giáo viên

Người giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Do đó muốn ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp hiệu quả thì người giáo viên phải có kiến thức và kĩ năng sử dụng BĐT tốt.

Vì vậy, ngay từ ban đầu nhà trường đã rất coi trọng việc tập huấn chuyên môn cho giáo viên. Cử cán bộ cốt cán có năng lực chuyên môn vững, có kiến thức về công nghệ thông tin đi dự hội thảo, học hỏi kiến thức, kĩ năng về ứng dụng BĐTD để về hướng dẫn cho giáo viên trong trường.

4. Kết quả ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Xương Lâm

Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở trường THCS Xương Lâm đã bước đầu có những kết quả khả quan. Giáo viên đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều giáo viên đã biết sử dụng BĐTĐ để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn, Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng BĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số HS trung bình đã biết dùng BĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản.

– Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học Tiếng Việt.

* Trong công tác quản lí của hiệu trưởng:

– Hiệu trưởng phải là người gương mẫu, đi đầu trong đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH). Tổ chức, hướng dẫn giáo viên tích cực đổi mới PPDH. Chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện phục vụ công tác đổi mới PPDH.

– Hiệu trưởng phải biết đánh giá đúng năng lực, trình độ của từng giáo viên trong trường để động viên, khen thưởng kịp thời đối với giáo viên biết đổi mới PPDH tích cực, hiệu quả.

* Tổ chuyên môn:

– Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cốt cán về đổi mới PPDH.

– Tích cực dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm, tổ chức sinh hoạt chuyên môn đúng kế hoạch;

– Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chuyên môn;

– Đánh giá, xếp loại giáo viên đúng năng lực, trình độ và đề xuất khen thưởng kịp thời những giáo viên tích cực trong đổi mới PPDH.

Chuyên Đề Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Ở Trường Thpt

CHUYÊN ĐỀ: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở BẬC THPT.Người báo cáo: Nguyễn Văn Hòa Đơn vị: THPT Lê Quảng Chí

Đến nay, chúng ta cũng đã đi qua được một chặng đường của việc đổi mới phương pháp dạy học ở bậc THPT. Chúng ta đã gặt hái được thành tựu đáng khích lệ, nhưng cũng còn gặp không ít khó khăn, trở ngại. Đặc biệt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông vẫn luôn là vấn đề thời sự nóng hổi, thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới trong xã hội.Chúng ta đã biết học văn là học làm người, dạy văn góp phần hình thành nhân cách, bồi dưỡng, làm đẹp tâm hồn con người. Thế nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, của khoa học, công nghệ thông tin thì việc học văn ngày càng đáng buồn, trở thành nổi bức xúc của toàn xã hội. Theo thống kê của các nhà giáo dục Việt Nam, trong những năm gần đây, chất lượng học môn văn của HS THPT ngày càng giảm sút. Môn văn đang mất dần vị thế vốn có của nó. Tình trạng HS không còn hứng thú với việc học văn đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nhà trường phổ thông hiện nay. Hệ quả là, các kì thi tốt nghiệp, tuyển sinh Đại học, cao đẳng, bài thi môn văn đạt điểm 8,9,10 rất ít; bài thi có điểm trung bình chiếm đa số, có rất nhiều bài đạt điểm 0. Trong đó, có nhiều bài văn của HS khiến cho người chấm dở khóc, dở cười vì những sai sót quá cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, suy diễn tùy tiện, cảm tính…Những ngày gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt đưa tin về tình hình đăng kí dự thi Đại học, cao đẳng của thí sinh với số lượng hồ sơ thi khối A, B áp đảo, một số trường chỉ có 1 – 2 em dự thi khối C mà lòng xao xuyến buồn.Thực trạng trên đã cho thấy tình hình dạy học môn văn trong nhà trường THPT đang ở mức báo động, đòi hỏi các nhà quản lí giáo dục, các thầy cô giáo dạy môn văn phải đưa ra những giải pháp hữu hiệu, thiết thực, thích hợp hơn nữa để đổi mới quy trình dạy học môn văn hiện nay.Có thể khẳng định, trong những năm qua, cùng với xu thế chung của thời đại, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Nhiều hội thảo, nhiều chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn được tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau trong phạm vi cả nước. Rất nhiều phương pháp dạy học mới được đề xuất, thử nghiệm. Mỗi GV giảng dạy môn Ngữ văn đều ý thức được quan điểm dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm; làm cho HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo; làm cho HS suy nghĩ nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn, hợp tác học tập với nhau nhiều hơn, bày tỏ ý kiến của mình nhiều hơn. Còn GV chỉ là người cố vấn, hướng dẫn, tổ chức hoạt động chiếm lĩnh tri thức của HS. Vậy nhưng, “căn bệnh” chán học văn của HS vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm, thậm chí ngày càng trầm trọng hơn.Có nhiều nguyên nhân để lí giải hiện tượng trên, nhưng chung quy lại có mấy nguyên nhân chủ yếu sau.GV mặc dầu đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, mới ở trong quá trình tìm tòi thử nghiệm nên chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Một số GV vẫn còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều. GV chủ động cung cấp kiến thức cho HS, áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới HS. Nhiều GV chưa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của HS cũng như chỉ ra cho người học con đường tích cực, chủ động để thu nhận kiến thức. Giờ học văn vì thế chưa thu hút sự chú ý của HS.Hơn nữa, không ít GV chưa được trang bị kĩ càng, đồng bộ quan điểm và lí luận dạy học văn mới. Do đó GV phải tự lần dò, tìm tòi, tự học, tự làm dẫn đến còn mơ hồ trước lí luận của phương pháp dạy học.Ngoài ra sự thiếu thốn về phương tiện, thiết bị dạy học như: tranh ảnh, máy chiếu, dụng cụ nghe nhìn, tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học… ở nhiều trường học cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy học của cả thầy và trò. Đó là chưa kể đến nguyên nhân đời sống khó khăn của người GV trong cơn “bão giá” cũng làm cho họ

Đổi Mới Ppdh Môn Thể Dục Ở Các Trường Thcs Tình Khánh Hoà

1. Đặt vấn đề

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác phát triển con người toàn diện. Giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao (TDTT) giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển con người toàn diện có đạo đức, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, có đầy đủ sức khỏe và nâng cao trình độ văn hóa thể chất dân tộc.

Trong những năm qua, giáo dục nói chung, giáo dục thể chất nói riêng ở nước ta có nhiều chuyển biến tích cực và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đọan công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục. Mục tiêu, nhiệm vụ của các bộ môn, trong đó có bộ môn Thể Dục cũng đã có những đổi mới dẫn đến đổi mới nội dung và phương pháp dạy học.

2. Nội dung              

2.1. Cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH môn thể dục

2.1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ bộ môn thể dục đã thay đổi đòi hỏi phải đổi mới PPDH

Chương trình thể dục trước đây đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ trong đó có hai mục tiêu cơ bản là:

– Truyền thụ kiến thức, kỹ năng cơ bản các môn học TDTT.

– Rèn luyện thể lực, góp phần củng cố, nâng cao sức khỏe cho học sinh.

Trong đó mục tiêu truyền thụ kiến thức, kỹ năng là trọng tâm. Rèn luyện thể lực chỉ là nhiệm vụ thứ yếu. Vì thế, trong quá trình lên lớp, mọi họat động diễn ra đều tập trung vào việc truyền thụ kiến thức, củng cố nâng cao kiến thức kỹ năng. Thời gian dành cho việc luyện tập nâng cao thể lực quá ít, lượng vận động quá nhẹ chưa đủ để làm biến chuyển thể lực của người tập. Kết quả học tập của học sinh thấp, bài tập ít có tác dụng rèn luyện thể lực cho học sinh. Tới nay, hai mục tiêu này phải được coi trọng như nhau. Hai mục tiêu này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Một trong các đặc trưng cơ bản của môn thể dục là thực hành, là luyện tập, học đi đôi với hành. Thông qua luyện tập để hình thành, củng cố, nâng cao kĩ năng. Luyện tập là hoạt động cơ bản của dạy học thể dục.

Trong quá trình luyện tập với các bài, các động tác khác nhau, với lượng vận động hợp lý sẽ có tác dụng, ảnh hưởng không nhỏ tới việc rèn luyện thể lực cho học sinh . Khi các em được luyện tập thì các kỹ thuật, kỹ năng, động tác cũng được cũng cố, nâng cao.

Việc học tập kỹ thuật của học sinh là một quá trình đòi hỏi phải có thời gian. Thời gian nhiều hay ít tùy thuộc vào động tác, bài tập khó hay dễ và phải luyện tập với số lần cần thiết thì kỹ thuật, kỹ năng mới được hình thành, mới có tác dụng rèn luyện thể lực, nâng cao sức khỏe. Như vậy, muốn có nhiều thời gian cho học sinh luyện tập, rèn luyện kỹ năng, rèn luyện thể lực thì nhất thiết phải đổi mới PPDH.

2.1.2. Người giáo viên là yếu tố quyết định trong việc đổi mới PPDH

Trong mấy năm gần đây, đội ngũ giáo viên thể dục của trường ngày càng được nâng cao về mặt chất lượng. Các giáo viên đa số có trình độ đại học. Hàng năm, đa số giáo viên đều được dự các lớp tập huấn chuyên môn. Về số lượng, hiện nay các trường đã có đủ giáo viên đảm bảo cho việc giảng dạy trong toàn trường.

Với số lượng và chất lượng giáo viên hiện nay là cơ sở chủ yếu, yếu tố quan trọng trong việc đổi mới PPDH.

2.1.3. Cơ sở vật chất, sân tập, trang thiết bị đồ dùng phục vụ dạy học thể dục ở trường là điều kiện cần có cho việc đổi mới PPDH

Mặc dù trong mấy năm gần đây, sân tập, trang thiết bị, dụng cụ dùng cho giảng dạy, luyện tập từng bước được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đổi mới PPDH thể dục ở nhà trường. Tuy vậy, so với nhu cầu chuyên môn theo chương trình của Bộ GD-ĐT, thì thầy dạy và trò tập vẫn còn thiếu sân bãi, dụng cụ rất nhiều cụ thể là ở các môn thể thao tự chọn.

Chính sự thiếu thốn này, đòi hỏi giáo viên phải đổi mới PPDH, cải tiến phương pháp để lên lớp, sắp xếp các nội dung của một tiết học nhằm sử dụng tối đa sân tập, trang thiết bị, dụng cụ hiện có để tổ chức họat động dạy – học.

2.2. Hiện trạng việc dạy học môn thể dục hiện nay ở các trường THCS tỉnh Khánh Hoà

– Điều kiện về sân bãi tập luyện, trang thiết bị dụng cụ còn thiếu rất nhiều nên rất khó khăn cho việc đổi mới PPDH.

– Chương trình thể dục trước đây với mục tiêu kiến thức là mục tiêu quan trọng nhất. Điều này, phù hợp với mục tiêu của nhiều môn học ở các trường trung học trên toàn quốc. Xuất phát từ mục tiêu đó, giáo viên khi lên lớp đã giảng giải, phân tích các động tác một cách tỉ mỉ. Điều này rất cần thiết, nhưng vì sử dụng thời gian quá nhiều để giảng giải, phân tích nên học sinh không có nhiều thời gian để luyện tập, mà khi đã luyện tập ít thì việc hình thành kỹ thuật, rèn luyện kỹ năng, rèn luyện thể lực cũng chưa đạt yêu cầu.

Mặc khác, xuất phát từ những yếu tố khách quan lẫn chủ quan, nên chương trình thể dục còn cứng nhắc chưa đáp ứng được sở thích của học sinh. Ở những nước tiên tiến trên thế giới, khi học thể dục học sinh sẽ được tùy ý chọn môn thể thao mà mình yêu thích.

– Trong quá trình lên lớp, vẫn còn giáo viên thực hiện các bước lên lớp một cách cứng nhắc, tuần tự đi từ bước này sang bước khác, làm cho giờ học nhàm chán, nặng nề. Chưa kết hợp và giải quyết hài hòa giữa các bước lên lớp.

– Các hình thức lên lớp thì đơn điệu, phần lớn giáo viên chỉ sử dụng phương pháp dòng chảy.

– Khâu tổ chức chưa tính toán hết, nên trong giờ học mất nhiều thời gian tập hợp cũng như luân chuyển đội hình làm ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian luyện tập của học sinh.

– Chưa tận dụng hết những dụng cụ và điều kiện sân tập để tổ chức cho học sinh luyện tập.

– Cách đánh giá xếp loại kết quả học tập của học sinh còn những điều chưa hợp lý và chính xác đặc biệt đối với học sinh các lớp chọn.

– Một bộ phận nhỏ học sinh chưa thấy rõ tầm quan trọng của việc học môn thể dục. Với những hiện trạng trên, làm cho chất lượng giờ dạy chưa thật đạt yêu cầu. Thực tế và mục tiêu còn có một khoảng cách cần được khắc phục nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu rèn luyện kỹ năng và rèn luyện thể lực, góp phần nâng cao sức khỏe cho học sinh.

2.3. Một số giải pháp đổi mới PPDH môn thể dục ở các trường THCS tỉnh Khánh Hoà

Đổi mới PPDH là một yêu cầu khách quan của bộ môn. Đổi mới PPDH không phải là gạt bỏ, thay thế PPDH hiện có mà vận dụng một cách sáng tạo các phương pháp hiện có để đạt mục tiêu của môn học. Riêng môn thể dục không chỉ đổi mới về phương pháp mà còn phải đổi mới về cách sắp xếp nội dung một tiết học, đổi mới về tổ chức lên lớp… nghĩa là phải đổi mới toàn diện ở mọi hoạt động trên lớp.

2.3.1. Đổi mới quan điểm dạy học, lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học

– Hướng dẫn học sinh tham khảo, đọc tài liệu phân tích kỹ thuật động tác, luyện tập ở nhà.

– Cho học sinh thường xuyên tham gia kiểm tra, tự kiểm tra, tự đánh giá.

– Khuyến khích các em tự do sáng tạo trong tư duy.

2.3.2. Đổi mới nội dung, chương trình dạy học

– Khung chương trình đã được Bộ GD-ĐT qui định cụ thể, giáo viên nên tăng cường thêm hoặc hàng năm thay đổi những môn thể thao tự chọn mà học sinh ham thích. Hướng về lâu dài nên cho học sinh có quyền tùy ý chọn môn TDTT mà mình yêu thích.

2.3.3. Đổi mới hệ thống PPDH

– Khi giáo viên sử dụng nhóm phương pháp dùng lời nói (phương pháp giảng giải, phát vấn, đàm thoại, kể chuyện, mệnh lệnh) để truyền thụ kiến thức cho học sinh:

+ Nếu dạy động tác mới, giáo viên cần nói ngắn gọn, dễ hiểu, dùng thuật ngữ chính xác.

+ Khi phân tích kỹ thuật động tác tránh dài dòng mà cần xoáy vào trọng tâm, vào những yếu lĩnh kỹ thuật quan trọng.

+ Các động tác bổ trợ không nhất thiết phải phân tích mà chỉ cần làm mẫu và tổ chức cho học sinh tập luyện ngay.

+ Trong thời gian học sinh nghỉ ngơi tích cực giữa 2 lần tập, giáo viên có thể phát vấn, kể chuyện, trình bày ngắn gọn một vấn đề nào đó… nhằm cung cấp thêm thông tin và gây hưng phấn cho học sinh.

– Khi giáo viên sử dụng nhóm phương pháp trực quan (làm mẫu, cho xem tranh ảnh, biểu đồ, phim….):

+ Chú ý đến vị trí làm mẫu, chọn hướng làm mẫu để học sinh có thể nhìn rõ, nhìn thấy biên độ, góc độ động tác.

+ Làm mẫu phải chính xác, làm mẫu ít nhất 2-3 lần trước khi phân tích, giảng giải kỹ thuât.

+ Tăng cường sử dụng tranh ảnh, biểu đồ… giúp cho học sinh nắm được kỹ thuật một cách nhanh hơn mà không tốn thời gian và có thể tự so sánh giữa động tác của mình với tranh ảnh kỹ thuật.  

– Sắp xếp nội dung một cách hợp lý:                                                

+ Mỗi buổi học (thường 2 tiết ) nên có 2 đến 3 nội dung.

+ Kết hợp ôn tập, học mới, tập luyện, kiểm tra không nhất thiết phải thành một mục riêng.

+ Luân chuyển giữa các nội dung một cách hợp lý.

– Áp dụng hình thức lên lớp một cách linh hoạt:

+ Mạnh dạn áp dụng các phương pháp, các hình thức lên lớp như: dòng chảy, phân nhóm, phân nhóm xoay vòng. Tuỳ theo từng bài mà giáo viên áp dụng phương pháp, hình thức cho linh hoạt.

+ Mạnh dạn sử dụng phương pháp trò chơi, thi đấu….

2.3.4. Đổi mới cách thức đánh giá, hình thức thi

-  Giáo viên kiểm tra đánh giá nên lồng ghép đánh giá cả ý thức thái độ trong quá trình học tập của học sinh.

– Tiến hành nhiều hình thức kiểm tra, thi: Tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp, sử dụng đề mở… Khi kiểm tra thực hành nên kiểm tra cả thành tích lẫn kỹ thuật thực hiện động tác.

– Có thang điểm (ở nội dung thực hành) phù hợp cho từng đối tượng, trình độ, sức khỏe học sinh.

3. Một số yêu cầu nhằm thực hiện đổi mới PPDH môn thể dục ở các trường THCS tỉnh Khánh Hoà

3.1. Đối với nhà trường

–  Các cấp lãnh đạo cần quan tâm, đầu tư hơn nữa đối với bộ môn thể dục.

– Tăng cường đầu tư sân bãi, trang thiết bị cho bộ môn. Đây là một khâu rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình đổi mới PPDH:

+ Mỗi năm học xây dựng, làm mới một loại sân tập cần thiết như sân cầu lông, đá cầu…vv

+ Cải tạo và nâng cấp các sân tập có sẳn.

– Hàng năm phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường tổ chức các hoạt động thi đấu thể thao cho học sinh toàn trường tham gia thi đấu.

3.2. Đối với giáo viên

– Thường xuyên học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ đáp ứng mọi yêu cầu đòi hỏi của việc đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy – học bộ môn. Phải dự giờ, trao đổi kinh nghiệm, tham khảo các bài giảng của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm nâng cao nghiệp vụ sư phạm.

– Nâng cao chất lượng bài soạn.

- Giọng nói, mệnh lệnh điều hành luyện tập phải rõ ràng, mạch lạc, nhanh gọn. Trang phục, tác phong nghiêm túc.

3.3. Đối với học sinh

– Phải xác định được tầm quan trọng của môn học.

– Phải phát huy tính tự giác tích cực trong học tập, phát huy năng lực cá nhân trong hoạt động TDTT, trong tự nghiên cứu, tự luyện tập thêm ở nhà…

– Khi lên lớp nhất thiết phải mặc đúng trang phục TDTT.

– Khuyến khích các em tham gia các hoạt động TDTT ở ngoài trường trong khi nhà trường chưa đáp ứng hết nhu cầu luyện tập của các em.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

[2] Chính phủ (2015), Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đê án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội (2018), Chương trình giáo dục phổ thông môn giáo dục thể chất.

[4] Chương trình giáo dục thể chất trường THCS Yersin – Nha Trang (2018).

[5] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2016), Xu thế phát triển chương trình giáo dục phổ thông trên thế giới, NXB Giáo dục Việt Nam.

Th.S Nguyễn Hữu Tường

Đổi Mới, Sáng Tạo Trong Dạy Và Học Môn Ngữ Văn

Những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học được xem là một phương châm quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Cũng vì thế xuất hiện rất nhiều phương pháp dạy học mới.

   Những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học được xem là một phương châm quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Cũng vì thế xuất hiện rất nhiều phương pháp dạy học mới. Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung trong đó có môn Ngữ văn thì không có sự hạ thấp vai trò của giáo viên mà ngược lại giáo viên chính là người tổ chức, thiết kế, điều hành giờ học.

   Nhìn vào thực tế bộ môn Ngữ văn hiện nay, chúng ta thấy học sinh dường như ít mặn mà với môn học. Có lần TS Chu Văn Sơn- giảng viên trường ĐHSP Hà Nội, một nhà giáo đầy tâm huyết với việc dạy Văn nói về vấn đề học sinh chán học môn Ngữ văn. Theo thầy Chu Văn Sơn, chưa bao giờ học sinh chán môn Văn như hiện nay. Nếu như Văn không phải môn bắt buộc thi tốt nghiệp, có thể số học sinh lựa chọn còn ít hơn Sử. Cũng theo thầy Chu Văn Sơn, hiện nay chúng ta đang sống trong tình trạng dạy và học Văn đầy nghịch lý. Chưa bao giờ người dạy Văn Việt Nam được trang bị nhiều kiến thức, phương pháp, được sự hỗ trợ bởi những phương tiện tối tân, đặc biệt là những phương tiện gắn liền với công nghệ thông tin như bây giờ. Đáng ra với điều kiện đó, chất lượng học Văn phải cao hơn, học trò yêu Văn hơn. Nhưng trên thực tế lại không như chúng ta mong muốn.

        Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học nhằm phát huy năng lực của học sinh đặt ra như một nhu cầu tất yếu cho giải pháp nâng cao chất lượng môn Ngữ văn. Với mong muốn cải tiến phương pháp để hiệu quả giảng dạy được tốt hơn, chúng tôi nhận thấy cần tích cực hơn nữa trong việc vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại, một trong những phương pháp tổ chức dạy học được áp dụng là dạy học theo dự án.

Đó là hình thức dạy học mà người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm cá nhân hoặc một nhóm theo yêu cầu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập. Để tiến hành dạy học bộ môn Ngữ văn theo phương pháp dự án, chúng ta có thể triển khai các bước sau:

– Xác định nội dung kiến thức có thể hình thành dự án.

– Thiết lập dự án ( sao cho phù hợp với nội dung, với trình độ nhận thức và khả năng thực hiện của người học.)

– Giao nhiệm vụ ( phân từng nhóm, giáo nhiệm vụ cho mỗi nhóm, yêu cầu về thời gian, tiêu chí đánh giá cụ thể.)

– Thực hiện dự án ( học sinh thực hiện dự án, giáo viên hướng dẫn, đôn đốc và giúp đỡ khi cần thiết)

– Trình bày sản phẩm ( các nhóm báo cáo kêt quả, sản phẩm)

     Các vấn đề quen thuộc về tìm hiểu tác giả, tác phẩm, tóm tắt cốt truyện là những nhiệm vụ đơn giản, học sinh hầu như không có khó khăn. Nên khi giao nhiệm vụ này chủ yếu là rèn kỹ năng thuyết trình và cung cấp thông tin bằng nhiều hình thức: vẽ trang, dùng phim minh họa, đóng kịch, làm thơ, trình chiếu tư liệu hay tạo hình ảnh, phông chữ đẹp trên powerpoint…

      Vấn đề quan trọng nhất của việc dạy học theo dự án là vai trò của giáo viên trong việc xác định bản chất bài học, đưa ra tình huống có vấn đề, phán đoán khó khăn của học sinh, tổ chức các hoạt động trong giờ học chú trọng việc tương tác giữa người học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên để có biện pháp tháo gỡ khó khăn, giải quyết vấn đề đã đặt ra trong dự án.

   Thực tế, phương pháp dạy học theo dự án đã thực sự giúp giờ học văn sôi nổi, học sinh tích cực. Tuy nhiên vấn đề thời gian cho tiết học và hệ thống kiến thức để đảm bảo cho việc hoàn thành các bài thi lại là một trở ngại lớn. Chúng tôi đã và đang tìm cách để khắc phục khó khăn này. Trước mắt, chúng tôi thấy có thể kết hợp các phương pháp khác nhằm nâng hiệu quả giờ lên lớp như dạy học theo bản đồ tư duy. Bản đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ động, tích cực, hệ thống được kiến thức nhanh, khắc phục hạn chế phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Một số em học tập chăm chỉ  có thể vẽ nhiều bản đồ tư duy nhỏ cho một vấn đề trong bài học, hoặc liên hệ với phần trước, biết hệ thống kiến thức, liên kết kiến thức với nhau, từ đó biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau. Do đó, việc sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được phương pháp tự học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.

    Kế hoạch dạy học theo dự án yêu cầu cả giáo viên và học sinh đều phải chủ động, sáng tạo, phát hiện, tìm tòi những vấn đề hay, những biện pháp phù hợp, tích cực tương tác để trao đổi, phản biện từ đó tìm ra chân lý và cũng là cách hữu hiệu để phát triển năng lực tư duy, tạo sự hấp dẫn và thú vị và quan trọng là  lấy lại vị trí của môn văn học trong trái tim học sinh.

                                                                Tổ Ngữ văn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sử Dụng Bản Đô Tư Duy Trong Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Thcs trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!